Thời Nắng Lịm

Lượt đọc: 96 | 0 Đánh giá: 0/10 Sao
★★★★★★★★★★
★★★★★★★★★★
« Lùi Tiến »
NĂM 2001

❊ ❊ ❊

Anh đánh được một giấc ngon lành. Anh muốn nói để Marion biết. Anh nghĩ bụng, cô ấy lại đúng, nhưng nói cho cùng, cũng chả biết cô ấy đúng chỗ nào, vả lại chắc cô ấy còn đang ngủ, anh thôi, không muốn quấy. Anh xoay người lần nữa, về phía Marion, cảm thấy hài lòng vì có cô ở đây. Có điều, lúc anh mở mắt nhìn thì nửa bên kia chiếc giường đôi rộng mênh mông lại trống không.

Anh lôi chiếc gối chưa ai đụng tới về phía mình, vò nhàu nó.

Ít gì đêm qua anh cũng không đổ mồ hôi, không bị sốt, mình mẩy không thấy đau chỗ nào, chẳng thấy buồn nôn. Anh đã kịp tìm hiểu các triệu chứng trong một quán Internet, tất cả đều có vẻ không rõ ràng, không đặc trưng như họ viết trong đó. Nhưng, sự thật không thể chối cãi là, các hạch bạch huyết cánh tay phải anh đang lần lần sờ tới, vẫn còn sưng tấy lên đây.

Anh lôi Ohropax nhét lỗ tai ra. Tự dưng nổi cơn hứng vớ vẩn, anh nhét hai cục nút tai xuống dưới chiếc gối không ai dùng vừa bị anh vò nát kia. Anh trở dậy, rời khỏi giường.

Anh ngó ra xem mấy con chó còn đó không (à, vẫn còn).

Anh đánh răng. Gần đây, đọc trên Internet thấy nói người mắc u lympho không Hodgkin (Non-Hodgkin lymphoma) rất nhạy đối với các bệnh lây nhiễm nên anh chỉ dùng nước khoáng đánh răng. Rồi, như bài cầu nguyện buổi sáng, đoạn viết về tuổi thọ anh đọc thấy trên Internet hiện ra từng câu từng chữ trong đầu anh đang nửa tỉnh nửa mê:

Tính chung cho bệnh nhân mắc các chứng u không Hodgkin, hiện nay, tỷ lệ đàn ông sống được thêm năm năm là 62 phần trăm, tỷ lệ phụ nữ là 66 phần trăm. Đây là các chỉ số trung bình, trong đó tính đến cả bệnh nhân sống thêm được mười năm hoặc lâu hơn. Bởi vậy, việc dùng số liệu này để dự đoán tuổi thọ cho từng bệnh nhân riêng lẻ là không có giá trị. Khả năng kéo dài tuổi thọ sẽ tăng lên, nếu bệnh nhân biết cách giữ gìn sức khỏe.

Anh theo cầu thang máy từ tầng năm xuống tầng trệt. Dạo này anh ăn sáng trong khách sạn. Thay cho món cháo đặc nhiều mỡ đáng ngờ ở quán cà phê đối diện, hiện giờ anh tự làm món musli, trộn từ sữa chua, nhiều hoa quả cùng các loại cốm ngũ cốc khác nhau, đã rang chín hoặc tẩm đường, bày sẵn ở đây. Thậm chí có cả bánh mì nâu, gần giống như trong một khách sạn ở châu Âu vậy. Alexander lấy mỗi thứ một ít, dứt khoát ăn.

Anh ngồi bên cửa sổ rộng. Lúc sau thì hai cô gái người Thụy Sĩ đến. Anh quen họ trong khách sạn. Anh cũng chẳng rõ có thật muốn họ đến ngồi cùng không, nhưng trước khi anh trả lời được câu hỏi đó thì sự thể đã ngã ngũ rồi. Ba ngày quen biết sơ sơ, chẳng chút hứa hẹn nào ấy, dường như cũng đã đủ làm nảy sinh các mối liên hệ với nhau thì phải.

Vả lại, chẳng chê hai cô vào đâu được. Hai cô tên Kati và Nadja. Cả hai đều chưa đến ba mươi. Cùng đi dép xỏ ngón. Và đang lúc chu du thiên hạ. Thì ra họ đã ở châu Phi hai tháng, sau đến Brasil, Argentina, Đất Lửa, Chile, Peru, Ecuador vân vân. Hiện họ đã ở Mexico City một tuần, “Đê-Ef ”, như họ nói với vẻ thành thạo, đâu đó trên đường du ngoạn họ còn học tiếng. Từ DF họ sẽ đi xe buýt đến Oaxaca, từ đó đi tiếp đến San Cristobal de las Casas hoặc Palenque (thứ tự trước sau thế nào anh chẳng nhớ rõ), nói tóm lại, xong Mexico họ sẽ bay đến Sydney rồi đáp minibus, như hai cô khoe, làm “náo loạn” miền Đông Nam Úc châu - hay Tây Bắc nhỉ? - sau đó đi New Zealand xem chim kiwi, rồi sau cùng sẽ sang Bangkok để từ đó trở lại châu Âu, nếu không hứng lên nhảy sang thăm đồng bằng sông Mekong một chuyến như quyển hướng dẫn du lịch Backpacker mách họ.

Hai người có quyển cẩm nang du lịch Round-the-world Backpacker chứa đựng đủ hết các thông tin. Sáng nào hai cô cũng dùng cuốn cẩm nang này vạch chương trình chuyến đi tới. Hôm qua họ thăm vườn hoa Chapultepec và Bảo tàng dân tộc học. Alexander chịu nghe hai cô thuyết phục mà cùng đi với họ, bởi vì, như sách Backpacker quả quyết, Bảo tàng dân tộc học ở Mexico City nằm trong số các bảo tàng tốt nhất thế giới, hay có thể cũng là vì anh cảm thấy vừa bị hai cô thu hút vừa bị họ làm cho chán ngán.

Thì đã bảo chẳng chê hai cô vào đâu được mà lại. Kati, người đầu tiên đang đến gần bàn anh ngồi, là một nhân vật dễ thương và thông minh. Ở khách sạn này chắc ai cũng sẽ bảo cô đẹp, nếu không tính đến nụ cười trắng nhởn, để hở hơi nhiều lợi hoặc đôi ống chân, lạy Chúa, hơi cong, cạo sạch lông và bôi dầu bóng loáng thò ra dưới chiếc váy xòe màu nâu kia.

- Hello, Kati nói, rồi ngồi xuống phía bên tay trái anh, bên chiếc bàn vuông trải khăn trắng.

Giọng cô nói to và đúng lúc chào Alexander cô mở mắt ra. Ngang trán, cô buộc mái tóc xoăn đen, mới gội, bằng một dải băng trắng, trông như băng giữ vệ sinh, để lúc ăn sáng, tóc khỏi xõa xuống mặt. Kem chống nắng cô dùng hơi nhiều, vẫn chưa thấm hết, và cứ trông lớp vảy mỏng tang ở cuối sống mũi thì đủ biết cô quên bôi kem ở khoảng giữa cặp lông mày tỉa.

- Thế nào, hôm nay đi đâu đấy? Alexander hỏi, song lại hơi giật mình, anh hỏi thế không khéo các cô tưởng hôm nay anh cũng muốn đi theo họ.

- Chắc là đến bảo tàng Frida Kahlo[1], Kati đáp. Anh đến đấy chưa?

- Chưa, Alexander đáp, cố tỏ ra vẻ thờ ơ.

- Hình như Trotsky[2] cũng ở gần đâu đấy, Kati nói.

Nadja đến bên bàn. Nadja nhỏ hơn, nói chung mọi thứ đều “ít hơn” bạn cô, răng không trắng bằng, nhưng chắc là răng thật, màu tóc cũng ít rõ rệt hơn. Chiếc áo cộc màu tím, cổ xẻ sâu, cô khoác trên người bằng một hệ thống dây nhợ lằng nhằng tựa dây trói tù. Trông đập ngay vào mắt như thế, nhưng không hiểu sao cô cứ mờ mờ làm sao, len lén đi lại, rón rén lách người giữa các hàng ghế dãy bàn, tiếng chào từ miệng cô cất lên chỉ to hơn hơi thở chút ít và ánh mắt cứ lướt lướt qua người Alexander.

Khó mà biết đó là vì thô lỗ hay vụng trộm. Anh hơi ngạc nhiên nghe Nadja bảo cô học khoa truyền thông. Ngoài ra cô còn học Đức học, tâm lý học, Ấn Độ học và chút ít thanh nhạc (đó chính là điều anh không hiểu), trong khi Kati “chỉ” học luật, chính trị học và quản lý du lịch thôi, hay đúng hơn là đã từng học.

- Cậu nghĩ thế nào, hôm nay mình đi Frida Kahlo chứ? Kati hỏi Nadja.

Nadja nhún vai, cũng là để xốc bộ dây đeo áo lúc nào cũng chỉ chực tuột ra.

- Trotsky cũng ở gần đâu đấy, Kati giảng giải.

- Trotsky à? Nadja chúm môi.

Kati như chợt nhớ ra:

- Trotsky cũng là cộng sản. Như bà nội anh ấy.

Thật không may là Alexander đã kể hai cô nghe về bà Charlotte. Khi nghe kể ông bà anh từng là đảng viên cộng sản, Kati bình bằng một tiếng “Ô” vô thưởng vô phạt, như thể cô vô tình bước nhầm vào một toa-lét đang có người vậy. Song bây giờ cô lại thấy thú vị:

- Có khi họ quen nhau cũng nên ấy chứ, nhỉ?

- Không đâu, Alexander đáp.

Lẽ ra bây giờ anh có thể kể các cô nghe về ông Wilhelm. Về những lời đồn đại xung quanh các hoạt động tình báo của ông. Ông bao giờ cũng bác đi, nhưng đồng thời cũng lại làm thiên hạ bán tín bán nghi. Chẳng hạn, mỗi khi nhắc đến Trotsky, ông lại giữ vẻ mặt như thể ông có gì đó đáng giấu giếm thật, mặc dù chắc chắn là ông đặt chân lên đất Mexico chỉ trước khi Trotsky bị ám sát ít lâu, nếu không phải là mãi sau đó. Thế nhưng, đến cả chuyện này cũng chẳng biết thật giả thế nào. Lẽ ra anh cũng có thể kể chuyện anh, vâng chính anh đây, từng gặp kẻ mưu sát Trotsky bằng da bằng thịt trong nhà ông bà anh. Buồn cười một nỗi là chuyện cũng đúng thế thật, mặc dù mãi hai chục năm sau cuộc viếng thăm CHDC Đức của tay họa sĩ Mexico tên Alfaro Siqueiros[3] ấy, anh mới biết tay này không phải chỉ vì “nghệ thuật tranh đấu” và “những đóng góp cho sự nghiệp của giai cấp công nhân” của gã mà phải ngồi tù ở Mexico. Gã ngồi tù vì dùng súng liên thanh toan giết Trotsky, mặc dù trong vụ này, chẳng rõ thế quái nào mà đã lọt được vào giữa phòng ngủ Trotsky rồi, gã vẫn bắn trượt.

Chuyện đó lẽ ra anh có thể kể, nhưng anh không nói gì. Anh đi lấy thêm bánh, cà phê và thêm quả trứng ăn sáng. Khi quay lại bàn anh nhận ra hai cô đã bàn xong lịch trình hôm nay, nên không hỏi nữa. Anh không hỏi, hai cô kia cũng không hỏi gì anh. Khiến anh hơi hơi tự ái. Rồi lại thấy bực mình vì đã tự ái.

Một tiếng sau anh đã ngồi trong tàu điện ngầm. Cứ như anh tính thì hôm nay phải là Chủ nhật, nhưng chẳng thấy sự yên tĩnh của ngày Chủ nhật đâu: Tàu điện ngầm thậm chí có vẻ còn đông hơn mọi ngày, người ta có vẻ hân hoan thế nào, có người đã diện quần áo màu mè lại còn mang theo cờ Mexico trên tay. Chủ nhật nào ở Mexico cũng thế này sao? Anh phải chuyển một lần tàu đến ga Indios Verdes, ở đó, bên rìa một bến xe khổng lồ là một chiếc xe buýt ọp ẹp, phía trước cắm lá cờ to quá cỡ và tấm biển viết tay: Teotihuacán.

Ông tài chờ khách lên đầy xe. Rồi, lúc xe đã lăn bánh trên đường, một thanh niên trẻ lần qua các dãy ghế thu của mỗi hành khách ba mươi peso mà không xuất vé.

Xe chạy qua vùng ngoại ô hay phía ngoài ngoại ô. So với vùng này, khu phố bọn trẻ lột tiền của anh có thể gọi là khu nhà giàu được. Nhà cửa ở đây trông như ụ tổ kiến, hoặc hộp giấy xám xếp bên nhau. Dây thép gai chăng dọc tuyến đường chính, không rõ để ngăn người vào hay người ra.

Đường xa hơn anh tưởng. Song anh tưởng thế nào mới được chứ? Xe đang chạy qua một vùng đất giống như thảo nguyên. Xương rồng mọc lác đác. Túi ni-lông nhiều màu mắc trên các bụi xương rồng. Rác văn minh mà lại.

Anh nhớ lại bức ảnh trắng đen bé tí chụp bà nội anh đứng trước Kim tự tháp Mặt trời ở Teotihuacán. Thật ra, hầu như chẳng nhận ra gì trong ảnh. Ảnh chụp cây xương rồng, hình như thế, bà nội anh đứng bên cạnh, quần áo sáng màu, váy trắng, áo cài sát cổ rất gia giáo, nền nếp, có nét gì từa tựa người đàn bà da trắng trong phim King Kong và, phía sau bà, lù lù hình bóng đen sì của kim tự tháp. Hồi ấy, khi nghe bà kể về đô thành bị bỏ hoang có kim tự tháp nằm ở giữa, anh đã hình dung thành phố này như đường phố anh sáng sáng vẫn đi nhà trẻ, vắng tanh, tối om om và những cột đèn khí vẫn còn cháy. Người đàn ông gầy gò, sáng sớm hay chiều tối vẫn đạp xe qua Neuendorf, dùng cây sào có móc ở đầu để tắt hoặc thắp đèn khí ấy dường như giống vị thần nhỏ bé và xấu xí nhảy từ kim tự tháp vào lửa để biến thành mặt trời treo trên mặt đất.

Anh mừng vì anh đi có một mình. Hôm qua ở viện bảo tàng anh thấy chật chội quá. Chắc anh không chịu nổi viện bảo tàng, kể cả viện bảo tàng thú vị nhất thế giới cũng không. Có lẽ đã đến lúc phải thừa nhận điều đó chăng? Đám đông khách tham quan, vật trưng bày, cảnh chen chúc hỗn độn làm anh ngột ngạt. Anh chẳng biết anh có nên khâm phục sự kiên nhẫn của hai cô gái Thụy Sĩ không. Theo gương hai cô, anh cũng mượn tai nghe thuyết minh đeo được một lúc để cố nghe các thông tin lẫn lời hướng dẫn, nhưng rồi bực bội tắt đi, để suốt hai tiếng liền hoàn toàn vô định len lỏi lạc lõng giữa vô số vật trưng bày và khách tham quan. Thậm chí việc thấy mình đột ngột đứng trước tấm lịch bằng đá đồ sộ và sừng sững của người Aztek anh từng thấy khắc hình trên khuy măng sét bằng bạc của ông Wilhelm cũng không làm anh phấn chấn hơn chút nào.

Sau đấy ba người ngồi nghỉ gần cả tiếng đống hồ trong công viên Chapultepec. Alexander chọn một chiếc ghế băng để ngồi, còn hai cô - lúc ở trong viện bảo tàng làm anh tức điên người vì cứ thì thầm rúc rích với nhau về chuyện gì đó - giờ đã ngả người xuống ngay bãi cỏ bên cạnh và nhắm mắt ngủ ngon lành. Lúc họ sau đó ngồi uống cà phê trong quán, Alexander định lái câu chuyện lần nữa sang viện bảo tàng, cốt chỉ để hai cô, nhưng trước hết để cả chính mình, thấy rằng mọi thứ nhìn thấy hay nghe được trong viện bảo tàng chẳng còn lưu lại gì trong đầu, rằng chỉ trong vòng hai chục phút là cùng - anh cầm chắc như thế - mọi thứ sẽ tan biến như làn gió nhẹ lướt qua mà thôi. Thế nhưng câu hỏi anh chợt nghĩ ra, liệu người Aztek có tin vào sự tồn tại của thiên đường hay không, thì hai cô trả lời khá rành rọt: người Aztek, theo như máy thuyết minh, tin rằng có thiên đường, và những người chết trận, người hiến sinh trên ban thờ hoặc trẻ con, như Kati bảo, sẽ được lên thiên đường. Hay như Nadja cãi, đàn bà chết trong lúc ở cữ?

Câu chuyện thiên đường dần dần chuyển thành chuyện về cái giống và khác trong quan niệm về cõi bên kia, và rồi về những nét chung riêng giữa các tôn giáo nói chung. Hóa ra, Kati và Nadja không những ít nhiều am hiểu gần như mọi tôn giáo trên thế giới, mà chính họ còn theo hay từng theo nhiều tôn giáo nữa kia. Kati từng sống hàng tuần liền trong một nhà tu của đạo Hindu. Ở Thụy Sĩ, cô tham dự đều đặn một lớp học về Phật giáo Tây Tạng; nhưng trong túi xắc cô cũng luôn mang bức tranh Đức Mẹ Đồng trinh; còn Nadja thì sùng kính Đạt Lai Lạt Ma, ở Haiti cô theo học vu thuật voodoo, ngoài ra, cô học cả phép tu Tantra của Ấn, cô tin vào khả năng chữa bệnh của đá núi và, cũng như Kati, cô tự coi mình rất có thể là biệt phái viên của một nền văn minh ngoài trái đất nào đấy.

Điều đáng ngạc nhiên là ở chỗ, Alexander nghĩ bụng, hai cô xem mọi chuyện đó sao dễ dàng thế, chắp nối mọi sự sao nhẹ nhàng, tự nhiên thế, giáo phái toàn cầu mới ấy sao lâng lâng thông thoáng, như một bức tranh phác họa bằng thuốc nước vậy. Và, trong khi ngồi trong xe buýt đến Teotihuacán, anh nhớ lại cuộc chạm trán khó nhọc, điên rồ và dữ dằn của chính mình với dạo ấy, vào cái mùa đông giữa hai thế kỷ, khi mọi thứ đều tan nát và chim trời, nói thật không ngoa, rơi từ trên trời xuống đất. Anh gắng nhớ lại giây phút nó - ừ, thật ra nó là cái gì nhỉ? - chạm vào anh, quay nhìn về phía anh, hay chỉ là đánh tiếng với anh? Anh không còn biết nữa. Giây phút ấy tuột khỏi ký ức tự lúc nào. Anh chỉ còn nhớ đến lúc trước và lúc sau. Anh nhớ anh đã nằm ròng rã hàng bao nhiêu ngày (tính ngày thôi ư?) trên sàn một căn phòng ọp ẹp nào đó để bất lực chờ các cơn đau cắn xé từ trong ra, anh nhớ đến bóng tối, đến xương chậu nhức nhối. Và anh cũng nhớ đến cái sau đó, đến cảm giác được giải thoát, được khai sáng, anh nhớ đến cái buổi sáng anh xách hộp tro ấm ra sân sau, đứng đó và ngước nhìn lên nhìn thấy nó, bên trên ấy, trong những nhánh cây dương đen sì.

Quá trình hóa học trong cơ thể chăng? Cơn điên khùng cực độ ư? Hay giây phút khai sáng? Sau đấy anh đi lang thang hàng ngày liền trên đường phố với nụ cười của kẻ u mê trên mặt, cột điện hoen gỉ nào đối với anh cũng như một kỳ quan, cảnh tượng những toa tàu màu vàng chạy xành xạch dọc đường tàu trên cao ở đại lộ Schonhauser làm anh hân hoan hạnh phúc và trong ánh mắt những đứa trẻ không chút ngượng ngùng nhìn thẳng vào khuôn mặt cười cợt của anh, anh đã nhiều lần nhìn thấy nó, cái mà anh - người được giáo dục cách nhìn đời vô thần - không tìm được lời để gọi.

Phải chăng tội lỗi của anh nằm ở sự ngạo mạn? Phải chăng là vì anh thật sự nghĩ anh đã miễn dịch với mọi thứ? Hay là vì anh cố tình lờ đi, không thèm để ý đến nó nữa? Phải chăng nó đòi anh phải hối cải? Phải chăng anh phải học cách đón nhận thông điệp đó? Và gọi tên nó, một cách thanh thản như hai cô người Thụy Sĩ kia?

Bãi đậu xe ở ngoại vi thành Teotihuacán nhiều xe con, xe buýt hơn Alexander tưởng, nhiều hơn là anh lo ngại. Khách đến thăm đi thành từng đợt qua các hàng bán quà lưu niệm để đến lối vào. Vé vào cửa. Nóng nực. Bụi bặm. Dòng khách du lịch chậm rãi diễu qua Đường Người Chết, trục giao thông chính của thành phố xưa kia. Đường phố có bậc thang, vì người Aztek xưa không biết đến xe có bánh. Bởi vậy trên đường phố chính rộng rãi và lát đá tảng cho đến tận giờ vẫn không có xe cộ chạy. Ngay cả những người bán quà lưu niệm đứng đầy bên phải bên trái con phố dưới nắng chiếu chói chang đều phải mang vác sò hàng hóa nhỏ nhoi của họ đến đây, bày bán trên những chiếc bàn xếp đơn sơ, quàng trên người hoặc xếp trên những chiếc khay mang trước bụng.

Một người bán rong bắt chuyện với Alexander, bám theo anh một lát. Người đàn ông tạng bé nhỏ, không còn trẻ nữa. Móng tay anh ta đen sì, y hệt mấy con rùa đẽo từ đá thủy tinh núi lửa anh ta chào bán. Đây là thứ đá xưa kia dùng để làm dao cho các giáo sĩ moi tim từ lồng ngực người sống nộp mạng cúng thần. Alexander cầm con rùa lên tay, không phải để ngắm nghía, để thử xem cái cảm giác chạm vào đá thủy tinh núi lửa nó ra sao thì đúng hơn. Người đàn ông lải nhải, cam đoan tự tay khắc con rùa ấy, rồi tự giảm giá, từ năm chục xuống bốn chục peso, ngang bốn đô-la. Alexander trả tiền, mua con rùa.

Lát sau anh đã đứng trước Kim tự tháp Mặt trời, chắc hẳn phải gần đúng nơi bà nội anh đã đứng sáu mươi năm về trước và tự hỏi, không biết anh muốn gì ở đây. Chẳng lẽ anh đần độn đến mức hy vọng trên đỉnh tháp kia không có ai? Để anh có thể đứng, dù chỉ trong giây lát, một mình với tảng đá? Anh chẳng biết nữa. Anh đứng sững ra đó nhìn tòa kim tự tháp. Anh nắm gọn mu con rùa đá trong lòng bàn tay như nắm chuôi dao. Rồi, trước khi sự vô vọng kịp làm anh nản lòng, anh xăm xăm bước tới. Trước mắt anh loang loáng hai chiếc giày dã ngoại màu nâu, chiếc này bám đầy bụi, chiếc kia sạch hơn... Hai trăm bốn mươi tám bậc cả thảy để lên đến đỉnh ngọn kim tự tháp lớn thứ ba thế giới này. Hình như anh đã đọc vậy đâu đó trong quyển cẩm nang du lịch Backpacker thì phải. Anh chỉ nhẩm đếm chiếc giày sạch. Anh phải cố bằng được để không bỏ cuộc giữa chừng. Ít nhất là thế! Thế nhưng, các bậc thang do dân da đỏ xây nên rõ ràng đã vi phạm mọi định chuẩn công nghiệp của Đức. Anh cảm thấy anh đã tham lam quá. Anh biết cái gì đang xảy ra trong cơ thể anh, đến lúc nào đó nồng độ muối axit lactic sẽ tăng lên trong cơ bắp. Bắp đùi sẽ mỗi lúc một đau nhức, mỗi lúc một rệu rã. Anh cố chống lại sự mệt mỏi ấy, như thể anh có thể đánh lừa chính cơ bắp anh vậy. Bước chân anh chậm dần. Tim anh đập hối hả, dội thình thịch lên đầu. Phổi có vẻ không còn đủ dung tích nữa. Anh đã đếm được chín mươi sáu lần chiếc giày sạch, song khi cơn ho nổi lên thì anh đành chịu thua, ngồi bệt xuống.

Hai tay ôm đầu, anh ngồi nhìn những tảng đá vuông vắn xám xịt, rỗ lỗ chỗ, được xếp làm thành bậc thang. Những người lúc nãy anh bỏ lại sau bây giờ đang vòng bên trái bên phải để vượt lên. Các bà các cô phần lớn mang dép xỏ ngón. Một người mang giày đế phẳng, một người khác giày cao gót đỏ. Rồi lại dép xỏ ngón, hai đôi hùng hổ đi về phía anh, một đôi màu đen, đôi kia màu tím...

Đôi màu đen dừng lại, đôi ống chân hơi cong, trơn tru nhẵn nhụi, bôi dầu bóng loáng.

- Anh khỏe thật đấy, Kati cất tiếng nói.

- Tôi tưởng các cô định đến chỗ Trotsky kia mà, Alexander ngạc nhiên.

- Đông quá, Kati đáp. Hôm nay quốc khánh.

Hai cô, thậm chí cả Nadja, tỏ ra mừng rỡ vì bất ngờ gặp anh ở đây. Chắc hai cô đều nghĩ anh sẽ đi cùng lên đỉnh tháp, cho nên khi biết anh không đi theo họ, mới đầu hai cô ngỡ ngàng, thậm chí hơi ngượng ngùng, sau lại tỏ ra hơi lo lắng.

- Anh mệt à, có chuyện gì vậy?

- Không, không có gì đâu, Alexander đáp. Tôi ngồi chờ ở đây.

Anh ngồi lại trên bậc thang, nhìn ngó xung quanh. Nhìn mọi người vòng sang hai bên, tránh chỗ anh ngồi để leo lên tiếp. Người đội mũ lưỡi trai mềm, người đội mũ sombrero mới mua, người mặc quần cộc. Người đeo ba-lô và máy ảnh, người mập mạp mặc áo phông, người bò bằng cả tay lẫn chân, người mồ hôi mổ kê nhễ nhại, người dắt theo trẻ con tay cầm cờ Mexico nho nhỏ (Quốc khánh mà!), đàn ông mang dây chuyền vàng, ông già chống gậy, người nói tiếng Mỹ rất to, người chẳng biết mô tả thế nào cho đúng, người trẻ tuổi mặt mũi nhợt nhạt, râu đã hai ba ngày chưa cạo, đàn ông da nâu mặc áo màu mè, một người phụ nữ quàng khăn, một anh thanh niên trẻ tóc xoăn tay cầm quả dứa, một nhóm đàn ông Nhật mặc com-lê, các cô gái trẻ mảnh mai mặc áo ngắn hở bụng, các cô gái béo nẫn, cũng mặc áo ngắn hở bụng. Họ leo, họ bò, họ loạng choạng, họ xăm xăm, họ lò cò, họ trườn lên chỗ đó, trên đỉnh tháp Teotihuacán ấy, nơi người sẽ hóa thành Thần, rồi lại đi xuống, bộ dạng bên ngoài trông chả khác gì so với trước.

- Thế nào? Alexander hỏi.

- Kinh thật, Kati đáp. Khung cảnh thật ghê.

Cả ba cùng đi xuống. Họ đi đến hết Đường Người Chết. Nadja đọc to từ cuốn cẩm nang Backpacker (tóm tắt, bằng tiếng Anh, đó là câu chuyện về vị thần đã hiến sinh để biến thành mặt trời của thế giới thứ năm). Trong một quán hàng lưu niệm lớn ở lối ra, cô mua một cái mặt nạ làm bằng đá thủy tinh núi lửa, màu đen, trông vẻ gớm ghiếc, vì nó làm cô nhớ đến mặt nạ voodoo ở Haiti.

Kati mua sợi dây chuyền đá thủy tinh núi lửa đeo cổ, rất hợp với mái tóc sẫm màu của cô.

Ở đây họ cũng chào bán rùa làm từ đá thủy tinh núi lửa. Cố để hai cô không thấy, Alexander lén đặt con rùa của anh vào giữa đám rùa đá bày la liệt cả trăm con trên mặt quầy tại lối ra vào.

Chỗ này, mỗi con giá hai mươi nhăm peso.

[1] Frida Kahlo de Rivera (1907-1954), nữ họa sĩ Mexico, nổi tiếng với các chân dung tự họa.

[2] Trotsky bị ám sát tháng 8 năm 1940 tại Mexico, sau này ngôi nhà ông sống ở đó từ năm 1936 trở thành viện bảo tàng.

[3] David Alfaro Siqueiros (1896-1974), họa sĩ người Mexico, là người ám sát hụt Trotsky tháng 5 năm 1940.

Hoàng Đăng Lãnh dịch
Nguồn: tve-4u
Được bạn: Mọt Sách đưa lên
vào ngày: 22 tháng 8 năm 2026

« Lùi Tiến »

💬 Thảo luận

Chưa có bình luận nào — hãy là người đầu tiên chia sẻ cảm nhận của bạn!

Đăng nhập để tham gia bình luận.