Thời Nắng Lịm

Lượt đọc: 58 | 0 Đánh giá: 0/10 Sao
★★★★★★★★★★
★★★★★★★★★★
« Lùi Tiến »
NĂM 2001

❊ ❊ ❊

Anh nằm liệt như chết hai ngày liền trên bộ ghế xô-pha bọc da. Rồi anh trở dậy, xả vòi hoa sen để tắm, giội nước xối xả và kỳ cọ thật lâu, như để gột rửa cho kỳ hết bụi bặm còn sót lại của nhà thương trên da thịt. Xong xuôi đâu đấy, anh lên xe chạy về Neuendorf.

Như thường lệ, anh lái xe chạy theo tuyến xa lộ A115. Ngó nghiêng, liếc trời nhìn đất xem có gì thay đổi không. Hừ, có gì thay đổi không nhỉ?

Xe cộ trông có vẻ sạch sẽ tinh tươm hơn thì phải. Sạch hơn ư? Có vẻ màu mè hơn thế nào đó thì mới đúng. Mà cũng ngớ ngẩn hơn.

Trời xanh trong. Thế thôi, chứ thế nào nữa.

Mùa thu đang lặng lẽ, lén lút luồn về, vẩy nhẹ lên cây cối những đốm vàng nho nhỏ làm dấu. Thì cũng giữa tháng Chín rồi còn gì. Và, nếu anh xuất viện hôm thứ Bảy thì hôm nay phải là thứ Ba rồi. Nhưng, là ngày bao nhiêu trong tháng... thì từ mấy bữa nay đến giờ anh chẳng còn biết nữa.

Mới đây, Neuendorf đã có lối rẽ riêng từ xa lộ xuống. Với Alexander, “mới đây” vẫn có nghĩa là sau Bước ngoặt[1]. Rời xa lộ là đâm ngay xuống phố Thälmann (phố này, tên vẫn còn nguyên thế[2]). Mặt phố rải nhựa phẳng lì, hai bên vỉa hè có lối lát gạch đỏ dành cho xe đạp. Nhà cửa vừa mới tân trang lại, được cách nhiệt theo một tiêu chuẩn nào đấy của Liên minh châu Âu. Số nhà mới xây trông cứ như bể bơi công cộng có mái che: thiên hạ gọi đấy là vi-la thành thị.

Song, chỉ cần rẽ trái, rồi đi chừng trăm thước theo con đường rải đá ngoằn ngoèo trước khi lại rẽ sang trái lần nữa thì, đúng chỗ này, tại một phố hẹp với hai hàng bồ đề hai bên, thời gian dường như đã ngừng trôi. Vỉa hè lát đá, gồ ghề vì rễ cây trồi lên. Hàng rào xiêu vẹo, mục nát, bọ cánh lửa bám đầy. Nằm sâu trong các góc vườn cỏ dại mọc cao, lấp ló nhiều khung cửa sổ im lìm của những biệt thự bỏ không mà vấn đề hoàn sản đang bị tranh cãi tại một văn phòng luật sư ở phương trời xa xôi nào đó.

Một trong số ít nhà ở đây còn có người ở là nhà số bảy, phố Am Fuchsbau. Mái nhà phủ rêu. Mặt tường phía trước nứt nẻ. Bụi cây cơm cháy mọc chạm mái hiên. Và cây táo, mà xưa ông Kurt, bố anh, bao giờ cũng tự tay tỉa tót, nay thả sức đâm nhánh trổ cành, lung tung xòe cả.

Túi nhựa cách nhiệt dùng để đựng thức ăn của hãng “Thức ăn trên bốn bánh xe” đã thấy móc treo trên hàng rào. Anh nhìn thấy rõ phía ngoài túi ghi rành rọt dòng chữ: thứ Ba. Alexander gỡ túi xuống rồi bước vào sân.

Tuy có mang chìa khóa theo, anh vẫn bấm chuông. Thử xem ông Kurt có ra mở không. Thật ra có thử cũng vô ích, bởi anh biết, bố anh sẽ chẳng ra mở đâu. Thế nhưng, anh nghe tiếng kẹt quen thuộc của cánh cửa thông ra hành lang, và ghé ngó qua cánh cửa sổ con con, anh thấy ông Kurt hiện ra, như một bóng ma trong cảnh tranh tối tranh sáng ở phòng ngoài.

- Bố mở cửa cho con, Alexander nói to.

Ông Kurt bước tới gần, nhìn thao láo.

- Bố mở đi.

Nhưng ông Kurt vẫn đứng trơ, không động đậy.

Alexander mở khóa, bước vào, ôm lấy bố, mặc dù đã từ lâu rồi anh khó chịu mỗi khi ôm bố như thế. Ông Kurt rất hôi. Mùi hôi hám của tuổi già, xông ra từ các tế bào sâu thăm thẳm. Có tắm rửa, có đánh răng, súc miệng kỹ, ông vẫn hôi.

- Bố nhận ra con không? Alexander hỏi.

- Ừ, ông Kurt nói.

Mồm ông già bết đầy mứt mận. Người hộ lý phiên sáng nay chắc lại vội chuồn rồi. Áo len ông mặc, cúc cài lệch, dép đi trong nhà, ông xỏ mỗi một chiếc.

Alexander hâm thức ăn cho bố. Đóng cầu chì, bật lò vi sóng. Ông Kurt đứng cạnh, nhìn chăm chú.

- Bố đói bụng không? Alexander hỏi.

- Ừ, ông Kurt đáp.

- Lúc nào bố cũng kêu đói.

- Ừ, ông Kurt nói.

Hôm nay có món xúp thịt kho, ăn với bắp cải tím xào (từ ngày ông Kurt suýt chết vì nghẹn miếng thịt bò to, các món thịt đều phải thái miếng nhỏ). Alexander pha cà phê, rồi lấy đĩa thịt từ lò vi sóng ra, đặt lên khay nhựa cho bố.

- Bố ăn đi, anh nói.

- Ừ, ông Kurt đáp. Rồi ông bắt đầu ăn. Một lúc khá lâu chỉ nghe tiếng ông Kurt nhai tóp tép. Alexander vừa nhấp nhấp tách cà phê còn rất nóng, vừa nhìn bố ăn. Lát sau, anh bảo:

- Nĩa bố cầm ngược rồi.

Ông Kurt ngừng nhai, như nghĩ ngợi. Rồi lại ăn, loaỵ hoay dùng chuôi nĩa đẩy miếng thịt kho ra đầu mũi dao.

- Nĩa bố cầm ngược rồi, Alexander lại nói.

Anh nói đều đều, không lên giọng, thử xem bố anh phản ứng thế nào. Chẳng có tí phản ứng nào. Tuyệt nhiên không. Không biết cái gì đang diễn ra trong đầu bố nhỉ? Trong khoảng không gian hộp sọ bao bọc khỏi thế giới bên ngoài kia, ít gì, chắc vẫn còn chứa đựng một thứ Tôi nào đó! Không biết bố nghĩ gì, cảm giác thế nào, lúc ông đi đi lại lại trong phòng nhỉ? Hay sáng sáng, những lúc ông ngồi bên bàn viết và, theo lời chị giúp việc kể, nhìn trân trân hàng giờ vào tờ báo mở rộng trước mặt, thì ông nghĩ ngợi những gì? Mà có nghĩ ngợi gì không cơ chứ? Không nói không rằng được, thì nghĩ ngợi làm sao?

Rốt cuộc ông Kurt cũng cắm được mũi dao vào miếng thịt, và với vẻ mặt thèm thuồng, ông run run toan đưa miếng thịt lên miệng. Nhưng miếng thịt tuột rơi trở lại xuống đĩa. Ông lại loay hoay, thử lần nữa, từ đầu.

Đúng thật trớ trêu, Alexander nghĩ bụng. Sự suy sụp của bố anh lại bắt đầu chính từ tiếng nói. Ông Kurt, nhà hùng biện nổi tiếng, người dẫn chuyện tài ba ngày nào ấy. Thật khó mà quên cảnh bố anh ngồi ghế bành. Vâng, ghế bành ông Kurt! Mọi người xung quanh nhìn như dán mắt vào miệng ông, vị giáo sư lừng danh, mỗi khi ông cất tiếng kể những mẩu giai thoại nho nhỏ trong đời mình. Cũng buồn cười, chuyện gì ông kể cũng thành giai thoại. Bất kể chuyện gì - đến cả chuyện ông suýt bỏ xác trong trại giam - bao giờ cũng mang một kết cục khôi hài, bao giờ cũng thành chuyện đùa hóm hỉnh. Ờ, đã có dạo như thế. Xưa lắm rồi. Câu cuối cùng ông Kurt còn nói gãy gọn được là câu: tôi mất tiếng mất rồi. Kể cũng khá. So với ngày nay thì đúng là một màn diễn tuyệt vời. Thế nhưng, đã hai năm rồi còn gì: tôi mất tiếng mất rồi... và, ai nấy đều tưởng, ừ thì thế, ông ấy chỉ mất tiếng thôi, còn thì vẫn tỉnh táo khỏe mạnh như thường. Cười cười, gật gật, nhíu mày, nhăn mặt... để góp chuyện. Ông làm bộ, nhưng rất khéo. Hiếm lắm mới lộ tẩy ông lẫn, như đổ rượu vang vào cà phê chẳng hạn. Hay như đôi khi, ông đứng ngẩn ra đấy, ngơ ngơ ngác ngác cầm cái nút chai trong tay, ngẫm nghĩ mãi, rồi rốt cuộc, nhét nó vào tủ sách.

Đến khổ, dùng dao nĩa, từ nãy đến giờ mà ông Kurt chỉ ăn được mỗi một miếng thịt kho. Giờ thì ông buông hết dao nĩa ra, dùng cả năm ngón tay mà bốc. Rồi thoáng ngừng, ngước mắt len lén nhìn lên Alexander, như đứa trẻ nghịch ngợm muốn thử xem bố mẹ sẽ nói gì, đoạn nhét miếng thịt vào mồm. Thêm miếng nữa. Rồi nhai.

Và, vừa nhai ông vừa giơ mấy ngón tay bê bết nước thịt lên, như để thề thốt vậy.

- Giá mà bố biết, Alexander nói.

Ông Kurt lặng yên. Ít gì ông cũng vừa tìm được cách giải quyết chỗ thịt kho. Nhét vào miệng. Nhai. Nước thịt chảy thành vệt dưới cằm.

Đã từ lâu rồi, ông Kurt hoàn toàn không làm được gì nữa. Không cất tiếng nói được nữa, không tự đánh răng được nữa. Đến cả lau đít cũng chẳng được, ông ngồi được lên cầu để đi ngoài đã là mừng lắm rồi. Việc duy nhất ông còn làm được, một việc được thôi thúc từ nội tâm, một việc ông thực sự quan tâm và thực hiện với chút khéo léo còn sót lại, là ăn. Tiếp nhận dinh dưỡng. Ông ăn không phải để hưởng thụ. Cũng không phải vì ngon miệng (các đầu dây thần kinh vị giác của ông, Alexander cầm chắc, đã liệt hết cả rồi, do hàng chục năm hút tẩu nặng). Ông ăn để sống sót. Ăn = sống, Alexander tự nhủ, là công thức bố thuộc từ trại lao công. Thuộc lòng, thuộc nhớ đời. Cái lối nhét thịt tham lam nhồm nhoàm vào miệng kia không phải cái gì khác hơn là lòng ham sống. Đấy là ham muốn cuối cùng còn lại trong con người ông, khiến ông còn lay lắt sống; là thứ khiến cơ thể ông tiếp tục thoi thóp, là thứ khiến tim mạch ông, tuy rệu rã, vẫn vận hành, thậm chí, như mọi người nơm nớp lo, sẽ còn vận hành khá lâu nữa là khác. Ông Kurt sống dai hơn mọi người, dai hơn bà Irina. Và, bây giờ, không chừng sẽ dai hơn cả anh nữa cũng nên.

Nước thịt đọng thành giọt trên cằm ông Kurt. Alexander cố nén, để không bật dậy xé giấy ăn miết lên mặt bố, dằn thật đau, cho bõ ghét.

Giọt nước thịt to dần, run rẩy rơi xuống.

Phải hôm qua không nhỉ? Hay hôm nay? Thì một lúc nào đó trong hai ngày qua, lúc còn nằm bẹp trên chiếc xô-pha bọc da (không cựa quậy, chẳng rõ tại sao, cố không để da mình chạm vào lớp da trâu bọc ghế), trong đầu anh đã nảy ra ý nghĩ: hay là giết quách lão già đi. Mà cũng không phải là ý nghĩ thoáng qua nữa. Anh tính toán đủ kiểu: áp gối lên mặt hay, để gây án mạng hoàn hảo hơn, cho ăn miếng thịt bò thật dai. Như miếng thịt nướng bố nghẹn suýt chết dạo nào.

Và lần ấy, lúc ông Kurt mặt mày xanh ngoét hướng về phía anh, loạng choạng rồi bất tỉnh ngã gục xuống mặt đường, nếu Alexander không theo bản năng kịp nhanh tay lật người ông nằm nghiêng khiến miếng thịt to nhai đã nhão văng ra từ họng ông cùng bộ răng giả, thì có lẽ ông Kurt chẳng còn sống trên đời này và Alexander đỡ thêm lần nữa (ít gì cũng là một lần) phải đắn đo như bây giờ.

- Bố có biết con vừa đi vắng một dạo không?

Ông Kurt giờ đã chuyển sang món bắp cải tím. Từ ít lâu nay, ông giở lại thói quen con trẻ, ăn lần lượt từng món, hết thịt, đến rau, rồi khoai tây. Đến lạ, bây giờ ông lại cầm nĩa ở tay, đúng chiều là khác. Xúc rau đưa lên miệng.

Alexander hỏi lần nữa:

- Bố có biết con vừa đi vắng một dạo không?

- Ừ, ông Kurt đáp.

- Thật à, bố biết thật à? Thế bao nhiêu lâu nào, một tuần, hay một năm?

- Ừ, ông Kurt đáp.

Bố vừa nói gì nhỉ, một năm à?[3]

- Một năm à?

- Ừ, ông Kurt đáp.

Alexander cười. Đúng là anh có cảm tưởng một năm đã trôi qua thật. Như bắt đầu một cuộc đời khác vậy, sau khi cuộc đời kia kết thúc bằng một câu nói vô thưởng vô phạt:

- Tôi thử chuyển anh sang bên phố Fröbel.

Gọn lỏn có thế.

- Phố Fröbel ư?

- Vâng, sang bệnh viện.

Mãi tới phòng ngoài anh mới sực nghĩ ra, phải hỏi cô y tá xem: thế có nghĩa là anh phải mang quần áo ngủ và bàn chải đánh răng theo chứ gì. Và cô y tá lại vào phòng bác sĩ để hỏi, thế có nghĩa là bệnh nhân phải mang quần áo ngủ và bàn chải đánh răng theo phải không ạ. Rồi ông bác sĩ bảo cô ta, phải, có nghĩa là bệnh nhân phải mang quần áo ngủ và bàn chải đánh răng theo. Độc có thế.

Bốn tuần liền. Hai mươi bảy thầy trò bác sĩ cả thảy (anh đã nhẩm đếm). Y học hiện đại mà lại.

Tay trợ lý, dáng dấp như cậu học sinh trung học mới tốt nghiệp, tiếp anh trong gian phòng nhập viện hết sức kỳ quặc - từ phía sau tấm bình phong có tiếng rên khe khẽ của một bệnh nhân nặng nào đó vọng ra - và giải thích anh nghe cơ sở của công việc chẩn đoán. Gã bác sĩ có mái tóc đuôi ngựa (một gã trông cũng dễ mến) bảo anh, vận động viên chạy marathon không mắc bệnh hiểm nghèo bao giờ. Bà bác sĩ X-quang trước khi khám còn hỏi, ở tuổi anh, anh còn ý định có con không. Ông bác sĩ phẫu thuật mang cái tên Fleischhauer, kẻ băm thịt. Và, tất nhiên, bác sĩ trưởng Koch mặt rỗ, trông giống nhạc trưởng người Áo Karajan.

Và hai mươi hai người khác.

Còn vài chục kỹ thuật viên phòng xét nghiệm nữa, những người hút máu anh đầy ống nghiệm, gom nước tiểu anh chán chê, lật đi lật lại mô tế bào của anh dưới kính hiển vi hay quay nó trong máy ly tâm nào đấy. Làm tất cả những thứ đó, chỉ để rút ra một kết luận nghèo nàn, thậm chí đáng hổ thẹn mà bác sĩ Koch buông gọn bằng mấy tiếng:

- Không mổ được đâu!

Lão bảo vậy. Bằng cái giọng kin kít của lão. Với gương mặt rỗ. Với mái tóc kiểu Karajan. Không mổ được đâu, lão bảo thế, rồi ngả lưng ra sau và lắc lư hết phía trước lại phía sau trên chiếc ghế xoay. Và, mắt kính lão lấp lóe lấp lóe theo nhịp lắc lư ấy.

Ông Kurt giờ đã xong chỗ rau. Chuyển sang khoai tây, ăn suông. Alexander biết chuyện gì sẽ xảy ra (nếu anh không rót ngay cho bố cốc nước). Không uống kèm nước, khoai sẽ mắc lại trong họng ông Kurt, khiến ông nấc hộc một tiếng thật to, to đến mức tưởng ruột gan sẽ ộc hết ra ngay vậy. Có lẽ, dùng khoai tây cũng làm ông Kurt tắc thở được.

Alexander vội đứng dậy, rót nước đầy cốc.

Thật nực cười, còn ông Kurt thì mổ được: ba phần tư dạ dày ông đã bị cắt bỏ. Thế mà, với phần còn lại, ông ăn như thể dạ dày được bồi thêm ba phần. Bất kể dọn món gì ra, ông đều vét sạch. Cả hồi trước, bao giờ bố cũng ăn sạch đĩa như thế, Alexander nghĩ bụng. Bất kể món nào bà Irina dọn ra cho ông cũng vậy. Ông ăn hết rồi cất tiếng khen - ngon tuyệt! Lúc nào cũng một lời khen ấy, lúc nào cũng “cảm ơn”, cũng “ngon tuyệt”. Và, nhiều năm sau này, khi bà Irina đã mất và thỉnh thoảng anh có dịp làm cơm cho bố ăn, anh mới thật thấm thía những lời “Cảm ơn!”, “Ngon tuyệt!” muôn thuở ấy đã hành hạ mẹ anh, đã làm bà khổ sở đến mức nào. Thế nhưng, chẳng ai trách ông Kurt được điều gì. Đúng là ông chẳng bao giờ đòi hỏi ai, đến bà Irina ông cũng chẳng đòi phải nấu ông ăn. Không ai nấu ông ăn thì ông ra hiệu, hoặc làm miếng bánh mì phết bơ là đủ. Có ai nấu ông ăn, ông ăn rồi cảm tạ tử tế. Đoạn ông ngủ trưa. Rồi ông đi dạo. Sau đó ông ngồi soạn đống thư từ. Chê ông thế nào bây giờ? Chẳng chê được gì sất. Thế mới khổ.

Ông Kurt dùng ngón tay chấm chấm mấy mẩu khoai vụn còn sót. Alexander chìa khăn giấy cho bố; ông già cũng đưa khăn lên lau miệng thật, lau xong gấp lại cẩn thận và đặt xuống bên cạnh đĩa.

- Bố ơi, Alexander nói. Con vừa phải nằm viện đấy.

Ông Kurt lắc lắc đầu. Alexander nắm lấy khuỷu tay bố và thử nói to lần nữa.

- Con, anh chỉ tay vào ngực mình, vừa-phải-nằm-viện! Bố hiểu không?

- Ừ, ông Kurt nói, rồi đứng dậy.

- Kìa bố, con chưa nói hết, Alexander nói.

Nhưng ông Kurt vẫn không nói năng gì. Ông thất thểu đi vào phòng ngủ, chân vẫn xỏ độc một chiếc dép đi trong nhà. Đoạn ông tụt quần xuống. Ngoảnh lại nhìn Alexander với vẻ chờ đợi.

- Bố muốn nghỉ trưa à?

- Ừ, ông Kurt đáp.

- Thôi được, thì ta thay tã vậy nhé.

Ông Kurt lết vào buồng tắm. Alexander đã tưởng bố hiểu anh nói gì, thế nhưng trong buồng tắm, ông Kurt tụt quần lót xuống rồi cứ thế đứng đái thành cầu vồng xuống nền nhà.

- Bố làm cái gì thế!

Ông Kurt có vẻ hốt hoảng, nhưng không dừng được nữa rồi.

Alexander tắm táp cho bố, đỡ ông nằm lên giường và lau nền buồng tắm xong thì tách cà phê đã nguội tanh. Anh nhìn đồng hồ: mới hai giờ chiều. Sớm lắm cũng phải bảy giờ mới đến phiên trực tối của cánh y vụ. Anh đắn đo trong chốc lát, nghĩ bụng hay cứ đút túi hai bảy ngàn trong két bạc xây ốp vào tường kia rồi lẳng lặng biến đi. Song lại thôi, để chờ đã. Anh muốn mở két lấy tiền trước mặt bố anh; và, dù biết có nói cũng chẳng tích sự gì, anh vẫn muốn kể rõ ngọn ngành với bố, để nghe ông “Ừ” một tiếng - dù “Ừ” là tiếng duy nhất bố anh còn nói được.

Alexander cầm tách cà phê đi vào phòng khách. Làm gì bây giờ? Làm gì giết thời gian nhỉ? Anh lại thấy bực mình, vì đã để mình bị cuốn vào nhịp sinh hoạt hằng ngày của bố anh. Và nỗi bực này, muốn hay không muốn, còn cộng thêm cả nỗi bực dọc đã thành cố hữu về căn phòng này. Chỉ có điều bây giờ, sau bốn tuần không đến đây, nỗi bực dọc dường như tăng hơn nữa thì phải: rèm cửa xanh, giấy dán tường xanh, tất tật đều xanh. Chỉ vì màu xanh da trời là màu người tình cuối cùng của bố anh ưa thích... Rõ vớ vẩn, vào tuổi bảy tám. Vừa chôn bà Irina được nửa năm xuống lòng đất... Thậm chí cả khăn giấy, lẫn nến, cũng xanh nốt!

Cả năm giời hai người quấn quýt nhau như lũ học trò mới lớn. Gửi thư tình cho nhau, tặng quà gói giấy màu xanh cho nhau. Nhưng rồi ả nhân tình chắc nhận thấy ông Kurt bắt đầu sinh dở người, bèn biến mất. Còn lại là cỗ quan tài xanh này, như Alexander vẫn nói. Một thế giới màu xanh lạnh lẽo, từ nay không còn ai trú ngụ.

Còn mỗi góc đặt bàn ăn là như cũ. Thực ra, cũng chẳng hẳn thế... Mặc dù ông Kurt không động đến lớp gỗ quý ốp tường - dạo trước, đấy là niềm kiêu hãnh của bà Irina! Gỗ ốp tường thứ thiệt mà lại! Cả bộ sưu tập hầm bà rằng (nói theo thứ tiếng Đức trọ trẹ của bà Irina) cũng còn đấy, chỉ có điều...! Mỗi lần sửa sang nhà cửa, ông Kurt lại cho tháo gỡ toàn bộ những thứ đồ vật lưu niệm hay quà tặng dồn tích bao năm được treo móc lung tung lộn xộn đầy mặt tường ấy xuống, lau chùi sạch sẽ, chọn những thứ “quan trọng nhất” (theo ý ông) rồi treo trở lại theo “thứ tự tùy tiện” (cũng theo ý ông vậy). Mỗi khi làm như thế, ông gắng sử dụng “hợp lý” mấy lỗ đinh có sẵn. Theo quan điểm mỹ học thỏa hiệp của ông. Bức vách trông cũng có thế thật.

Thanh đoản kiếm do Gojkovic, tay diễn viên chuyên thủ vai thủ lĩnh bộ lạc trong các phim người da đỏ của hãng DEFA ấy (không phải vừa nhé!), tặng bà Irina giờ treo ở đâu? Và, đâu là chiếc đĩa Cuba các đồng chí ở nhà máy Karl Marx trao tặng ông Wilhelm nhân sinh nhật cụ tròn chín chục? Nghe đâu lúc ấy ông Wilhelm lôi ngay ví, rút ra một tờ một trăm mác bỏ lên đĩa; chẳng là cụ tưởng người ta đòi đóng tiền Quỹ đoàn kết nhân dân...

Treo đâu chả được, Alexander nghĩ bụng. Toàn đồ linh tinh... Toàn đồ vật thôi chứ gì. Với ai đó, sau này có kế chân anh đến đây, thì chúng cũng chỉ là đống đồ đáng vứt đi mà thói.

Anh rời sang phòng làm việc của bố anh ở phía bên kia phòng khách (phía mà Alexander thấy đẹp hơn).

Ở đây khác phòng khách. Bên ấy bố anh đảo lộn hết cả lên, bao nhiêu đồ gỗ bà Irina sắm trước đây ông đem thay hết. Cái tủ kính cũ đẹp là thế, ông thay bằng cái tủ gỗ ép chán mớ đời; đến cả cái bàn con con, dù chân đã long lay nhưng vẫn đẹp tuyệt vời mẹ anh dùng làm bàn điện thoại từ xưa, ông cũng vứt nốt. Và cái làm Alexander giận nhất, là thậm chí chiếc đồng hồ treo tường ông cũng quẳng đâu mất; chiếc đồng hồ quả lắc cũ kỹ mà thân mật ấy, cứ nửa tiếng một lại lên tiếng rù rù, như thể để nhắc rằng nó vẫn nhớ trách nhiệm báo giờ của nó, cho dù hộp chứa quả lắc không còn nữa; nó gốc gác vốn là chiếc đồng hồ tủ đứng, bà Irina theo mốt, lôi nó từ trong tủ đem treo lên tường; đến tận giờ Alexander vẫn nhớ ngày anh với bà Irina đi chở cái tủ đồng hồ ấy về nhà, mẹ anh đã nài nỉ mãi, toan nói để bà chủ chiếc đồng hồ hiểu cái tủ thừa, không cần đến nữa, mà không xong; rốt cuộc hai mẹ con đành nhờ hàng xóm góp tay chất cái tủ to đùng lên xe rồi chở đi cho bà yên tâm; cái tủ to đến mức thò hẳn ra khỏi thùng xe khiến chiếc Trabbi[4] lúc chạy suýt mất cả thăng bằng. Ừ, khác với phòng khách đã bị thay đổi hoàn toàn ấy, trong phòng ông Kurt mọi thứ vẫn như cũ, nguyên vẹn đến ghê người.

Chiếc bàn giấy vẫn kê xéo bên cửa sổ - bốn chục năm ròng, mỗi lần tân trang, dọn dẹp phòng ốc xong, bốn chân bàn lại được kê đúng vào vết chân cũ trên nền thảm. Chiếc ghế bành kềnh càng trong góc cũng thế, nơi ông Kurt từng khoanh tay ngồi khom lưng kể chuyện vui. Cả tủ sách kiểu “tường Thụy Điển” (sao gọi là tường Thụy Điển nhỉ?) cũng không chút suy chuyển. Sách xếp nặng làm các ngăn sách cong hẳn xuống; chỗ này chỗ kia ông Kurt gá thêm vài tấm gỗ, màu gỗ đôi khi không hợp lắm, nhưng trật tự chung không hề thay đổi - như một bản sao lưu cuối cùng của bộ não ông Kurt vậy: đây là loạt sách tra cứu thỉnh thoảng Alexander cũng dùng đến (xong để lại chỗ cũ nhé!), kia là sách về cách mạng Nga, tiếp theo, xếp thành hàng dài là bộ Lenin toàn tập màu hung hung đỏ và bên trái, cạnh Lenin, ở ngăn tủ cuối, nằm dưới ngăn để cặp giấy dày cộp dán dòng chữ nghiêm khắc GIẤY TỜ RIÊNG, vẫn còn bàn cờ bằng gỗ ọp ẹp, gập đôi lại được, với những quân cờ do một tù nhân vô danh ở trại gulag nào đó đẽo gọt tự bao giờ.

Không kể sách mới xếp vào, thứ độc nhất bốn chục năm qua góp thêm vào đây là đôi thứ trong số quà lưu niệm nhiều vô kể do ông bà nội anh mang từ Mexico về dạo nào. Ông bà vừa mất, số đồ đạc này liền bị bán tống bán tháo hoặc đem biếu xén vội vã, chỉ còn lại đôi thứ mà ông Kurt, vì một lẽ khó hiểu nào đấy, không muốn vứt đi, nhưng cũng không dám mang ra bày giữa đống “hầm bà rằng” ở góc phòng khách; bảo vì thiếu chỗ, nhưng thực ra là vì bà Irina ghét cay ghét đắng mọi thứ từ nhà bố mẹ chồng đưa sang. Rốt cuộc, ông Kurt “tạm thời” xếp chúng lên tủ sách Thụy Điển và chúng cứ thế “tạm thời” nằm tại đó đến tận giờ: con cá mập con nhồi bông có lớp da sần sùi từng làm Alexander hồi nhỏ mê mẩn, giờ bị ông Kurt dùng dây gói quà treo lên một thanh ngang của giá sách; cái mặt nạ gớm ghiếc của dân Aztek vẫn nằm chỏng chơ trong tủ kính, cạnh vô số chai rượu mạnh nhỏ tí, và cái vỏ ốc lạ, to đùng, màu hồng hồng mà ông Wilhelm không biết bằng cách nào lắp được chiếc bóng đèn điện vào bên trong, cũng nằm đấy, không cắm điện, ở ngăn tủ dưới.

Anh chợt nghĩ đến Markus, con trai anh, và hình dung Markus đang loanh quanh trong nhà này, mũ áo phông trùm đầu, nhét tai nghe. Hai năm trước, anh trông thấy nó như thế lần cuối. Anh tưởng tượng Markus đứng trước tủ sách của ông Kurt và dùng mũi giày đá đá nhẹ vào mấy ngăn phía dưới; chắc nó sẽ lơ đãng lật qua lật lại những đồ đạc suốt bốn mươi năm dồn chất tại đây và thầm tính xem dùng làm gì hay đem bán được bao nhiêu. Chắc chẳng ai mua Lenin cho nó; bàn cờ gỗ gập đôi kia may lắm được vài đồng. Duy có con cá mập con nhồi bông và vỏ ốc hồng khổng lồ có thể sẽ làm nó thích và lôi về bày ở nhà mình, chẳng buồn biết mấy thứ ấy ở đâu ra.

Anh thoáng nghĩ, hay cầm con ốc đi rồi ném nó trở lại biển về nơi chốn cũ. Nhưng rồi anh lại nghĩ, làm thế có vẻ giống cảnh trong một bộ phim truyền hình rẻ tiền và nhạt nhẽo, nên thôi.

Anh ghé ngồi xuống bên bàn giấy và mở cánh cửa ngăn bàn bên trái ra. Ở ngăn giữa, tít phía trong cùng, trong hộp giấy ảnh ORWO cũ mèm, chiếc chìa khóa mở két bạc đã nằm suốt bốn chục năm nay, lẫn giữa số tuýp keo dán lổn ngổn. Giờ nó vẫn nằm đấy (trong đầu Alexander bỗng thoáng một ý nghĩ vớ vẩn là chiếc chìa khóa có khi đã tự dưng biến đâu mất, khiến dự định của anh cũng sẽ tiêu tan nốt).

Anh cẩn thận nhét chìa khóa vào túi, như thể lo bây giờ vẫn còn kẻ nào giật nó khỏi tay anh, rồi nhấp một hớp cà phê nguội.

Đến lạ, sao chiếc bàn làm việc ông Kurt ngồi lại nhỏ thế. Bên chiếc bàn con này ông Kurt đã viết các công trình đời ông. Ông đã ngồi ở đây, trong một tư thế khó chấp nhận về mặt y khoa, trên chiếc ghế tồi tệ hết mức về phương diện công thái học, hút thuốc lá tẩu, uống thứ cà phê phin chua loét và bằng phương pháp bốn-ngón-rưỡi gõ như nện búa lên máy chữ. Tách-tách-tách-tách, bố đang làm việc đấy! Mỗi ngày bảy trang, là mức “chuẩn” ông đặt ra, song cũng có khi, đến bữa ăn trưa ông đã tuyên bố: hôm nay mười hai trang nhá! Hoặc mười lăm! Cứ như thế, ông gõ đầy một loạt các ngăn trên “tường Thụy Điển”, rộng một thước, cao ba thước rưỡi, rặt một thứ ấy; chả thế mà ông được mệnh danh là “một trong những sử gia có năng suất lao động cao nhất CHDC Đức”. Và, nếu lôi tất tật các bài đăng báo hay tạp chí cùng các tham luận in trong vô số tuyển tập ra, rồi xếp thành hàng bên mười, mười hai hay mười bốn cuốn sách ông Kurt đã cho xuất bản, thì toàn bộ công trình của ông cũng phải chiếm hết bề ngang giá sách, ngang ngửa bộ Lenin toàn tập chứ không ít. Chà, những một thước khoa học! Để đạt tới bề dày một thước khoa học ấy, ông Kurt đã lao tâm khổ tứ suốt ba chục năm, đã hành hạ gia đình ông suốt ba chục năm. Để có được bề dày ấy, bà Irina đã phải nấu ăn, giặt quần giũ áo cho ông; ông Kurt được thưởng huy chương, tặng bằng khen, hay bị cấp trên quở mắng, thậm chí có lần bị Đảng cảnh cáo đều là vì bề dày một thước khoa học ấy; cũng vì nó mà ông phải mặc cả đi mặc cả lại với bọn nhà xuất bản muôn đời thiếu giấy in để đòi tăng bằng được số bản ấn hành, phải nhiều lần tranh đấu bảo vệ cách hành văn hay tên sách ông đặt, có lúc thua, có lúc nhờ mánh khóe, hay chây lì, mà thắng được đôi phần. Thế mà bây giờ, tất tật, tất tật đều thành đống GIẤY LỘN cả.

Alexander đã nghĩ như thế. Anh đã tưởng, ít nhất anh cũng được hưởng phần đắc thắng sau Bước ngoặt. Mọi thứ, anh tưởng vậy, thế là xong. Cái gọi là nghiên cứu khoa học, chỉ đúng nửa vời và cũng chỉ chứa đôi phần tâm huyết mà bố anh đã mổ cò về lịch sử phong trào công nhân Đức ấy, Alexander đinh ninh, chắc chắn sẽ bị cuốn phăng đi trong Bước ngoặt và sẽ không còn dấu vết gì từ cái gọi là công trình của bố anh sót lại nữa.

Nhưng rồi ông Kurt lại lần nữa ngồi xuống chiếc ghế tồi tệ nọ, để tuy già đã ngót tám mươi, vẫn vụng trộm mổ cò nốt cuốn sách cuối cùng của đời ông. Và mặc dù cuốn sách không vang dội thế giới - một cuốn như thế hai chục năm trước, trong đó một người cộng sản Đức thuật lại những năm tháng chịu tù đày ở trại gulag, rất có thể đã vang dội thế giới rồi đấy (song hồi đó ông Kurt hèn, không dám viết những chuyện ấy ra) - vâng, dù cuốn sách không làm rung chuyển thế giới, muốn hay không, nó vẫn là một cuốn quan trọng, một cuốn độc đáo, một cuốn “để đời”, một cuốn mà Alexander đã viết không nên và nay chắc cũng không viết được nữa.

Anh có muốn viết không? Chẳng phải anh vẫn bảo đó sao, anh bị sân khấu thu hút, chính vì sân khấu chứa đựng cái gì đó không lâu bền? Hừ, không lâu bền - nghe cũng hay hay; nếu người ta không bị ung thư.

Muỗi nhảy múa loạn xạ dưới ánh nắng, ông Kurt vẫn ngủ say - thế mà thiên hạ cứ bảo người già ít ngủ. Alexander tự nhủ, phải tìm chỗ ngả lưng, chợp mắt một lát.

Anh vừa định rời khỏi phòng thì dòng chữ GIẤY TỜ RIÊNG trên gáy cặp giấy đập vào mắt anh; cái cặp làm anh tò mò từ lâu nhưng chưa dám mở bao giờ, mặc dù hồi trẻ, đến xem trộm tập ảnh chụp các cảnh ái ân của bố anh, anh còn chẳng ngại, mãi đến khi ông Kurt cho lắp ổ khóa khóa chặt cửa tủ mới thôi.

Anh lôi cặp giấy xuống: trong đấy toàn những mảnh giấy ghi chép linh tinh. Các bản sao giấy tờ, trên cùng là tập thư từ, viết bằng mực tím, như trước đây nhiều năm ở Nga người ta vẫn viết.

“Ira vô cùng yêu quý!” (1954)

Alexander lật tiếp... Rõ đúng kiểu bố anh. Đến thư tình ông cũng viết cẩn thận cả hai mặt, chữ viết cực kỳ nắn nót, trang nào trang nấy kín chữ, hàng cách hàng đều đặn đến tận cuối thư, không bao giờ phải co dòng hay phải viết thêm ra lề... Không biết lão làm thế nào để được như thế? Lại thêm bấy nhiêu lối xưng hô mỹ miều, bóng bẩy đến chóng mặt ông trút lên bà Irina nữa chứ:

“Irina thân yêu, thân yêu, quý giá vô vàn của anh!” (1959)

“Mặt trời của anh, cuộc đời của anh ơi!” (1961)

“Người vợ thân yêu, người bạn đời, người nữ đồng chí của anh!” (1973)

Alexander nhét cặp giấy vào chỗ cũ rồi theo cầu thang lên phòng bà Irina. Anh buông người, ngả lưng xuống chiếc ghế xô-pha lớn phủ một thứ vải như lông gấu, tính chợp mắt một lát. Song lão bác sĩ mặt rỗ trông giống Karajan lại cứ hiện ra trước mắt anh, ngật ngà ngật ngưỡng trên chiếc ghế xoay, như con lật đật được lên dây cót. Mắt kính lấp la lấp lánh, giọng đều đều lặp đi lặp lại mỗi một câu... Thôi, được rồi đấy. Anh phải nghĩ sang cái gì khác mới được. Đã dứt khoát như thế rồi, không phải nghĩ ngợi lôi thôi, không phải thêm thắt gì nữa.

Anh lại mở mắt. Ngắm bầy thú nhồi bông xếp ngay ngắn trên thành ghế xô-pha, theo thứ tự do chị giúp việc định đoạt: con chó này, con nhím này, con thỏ bị sém một bên tai này...

Nhỡ họ nhầm, thì sao nhỉ!

Rõ vớ vẩn, anh nghĩ bụng, bà Irina cho đến cuối đời vẫn một mực nói phòng của con. Các con lên trên phòng của con mà ngủ, câu nói ấy tự dưng lại vang lên bên tai anh. Trong khi đó, khó hình dung được còn có căn phòng nào đáp ứng tốt hơn ước mơ thời con gái của bà, một ước mơ, dù muộn mằn, rốt cuộc cũng được toại nguyện: Cả bốn bức tường đều hồng một màu. Chiếc gương kiểu rococo, tuy bị hư hại chút ít, nhưng là thứ thiệt. Cạnh cửa sổ kê chiếc bàn đứng con con sơn trắng, nơi bà Irina có lần đứng tựa vào, lấy dáng trầm ngâm để chụp ảnh. Và mấy chiếc ghế con (dám cũng là kiểu rococo lắm) kê trong phòng, duyên dáng đến mức khó ai dám ngồi lên.

Mà đúng thế thật, mỗi khi thử nhớ đến mẹ trong căn phòng này, anh lại chỉ nhớ bà ở tư thế ngồi bệt dưới nền nhà, vừa mê mẩn một mình nghe giọng Vysotsky[5] rủ rỉ trong băng nhạc, vừa chìm dần cùng ly rượu vào cơn say.

Và kia là máy điện thoại, vẫn cái từ thời Cộng hòa Dân chủ Đức, xưa đặt ở tầng dưới. Vẫn chiếc máy bà từng thều thào không thành tiếng gọi anh:

- Sashenka. Con. Phải. Đến. Ngay.

Mấy tiếng ấy, từ miệng một bà mẹ người Nga, người từng hết sức hãnh diện vì trong đời chưa bao giờ nhờ vả con điều gì ấy:

- Sashenka. Con. Phải. Đến. Ngay.

Sau mỗi tiếng, thinh không lặng đi rất lâu, đến mức người nghe ở đầu dây kia đã toan đặt ống nghe, vì ngỡ đường dây bị đứt tự lúc nào.

Còn anh? Anh đã nói gì nhỉ?

- Mẹ thôi không uống thì con đến.

Anh đứng dậy, bước đến chiếc bàn đứng sơn trắng chứa khá nhiều ngăn kéo bí mật ở bên hông. Bà Irina mất rồi mọi người mới tìm thấy chỗ bà giấu rượu ở đây. Anh kéo ngăn ra, lục lọi tứ tung trong đó như con nghiện rồi thôi, lại buông người xuống ghế xô-pha. Chẳng còn chai nào ở đây nữa.

Hay lúc ấy anh bảo “say” nhỉ? Mẹ thôi không say thì con đến?

Hai tuần sau anh đánh xe đến Nhà tang lễ để lay mẹ dậy... Không phải thế, anh đến đấy vì còn phải làm xong mấy thứ giấy tờ gì đó. Nhưng, lúc đã ra ngoài phố, một ý nghĩ bỗng nảy ra và bám chặt lấy anh, anh chỉ cần nói với mẹ đôi lời là mẹ khắc thức dậy. Anh đi bách bộ mấy vòng quanh khu nhà, cố xua ý nghĩ ấy đi mà không được, đành bước vào trong, khăng khăng đòi nhìn mặt mẹ lần cuối, bất chấp lời người ta khuyên anh nên gìn giữ hình ảnh mẹ như khi bà “còn sống” thì hơn.

Rồi họ đẩy xe đưa bà vào. Họ kéo rèm. Anh đứng bên thi thể mẹ, được khâm liệm cẩu thả. Phải nhận là trông cũng giống mẹ anh đi (trừ khuôn mặt quá nhỏ và các nếp nhăn trông như nếp đàn gió trên môi bà). Anh đứng cạnh bà, nhưng không dám nói gì với bà trước mặt hai tay nhân viên nhà đòn dỏng tai đứng sát sạt sau tấm rèm, sát đến nỗi giày họ thò ra ở mép rèm phía dưới. Cũng để gọi là có làm cái gì đó, anh chạm vào tay mẹ - và cảm thấy ngay tay bà lạnh, lạnh như miếng thịt gà lấy từ tủ lạnh ra vậy.

Không, họ không nhầm. Họ có ảnh X-quang, cả chụp cắt lớp CT. Kết quả xét nghiệm, kết luận rõ ràng: U lympho không Hodgkin, loại u phát dần dần. Cho đến nay - cách nói rõ tế nhị (!) - chưa có biện pháp điều trị nào hiệu quả.

- Như thế, nếu tính năm, thì được bao nhiêu?

Và lão bác sĩ ấy xoay đi xoay lại mãi, lâu vô tận, trên chiếc ghế lão đang ngồi, với vẻ mặt như thể bất mãn lắm vì phải trả lời thứ câu hỏi như thế:

- Tôi không thể dự đoán cho anh được.

Và giọng lão nghe khò khè, như tiếng máy thở ôxy của ông già nằm trong góc phòng.

Mốc thời gian. Mười hai năm: Bước ngoặt. Thời gian lùi xa, không nắm bắt được nữa. Tuy thế, anh vẫn cố mường tượng xem, mười hai năm có nghĩa là bao nhiêu nhỉ.

Rõ ràng là mười hai năm trước Bước ngoặt đối với anh dài hơn mười hai năm sau Bước ngoặt rất nhiều. Năm 1977 - đúng là xa xưa lắm rồi! Nhưng năm 1989 lại khác, vụt một cái, qua một bến xe điện chứ mấy, thế mà bao nhiêu chuyện đã xảy ra, đúng không?

Anh đã bỏ đi, rồi quay về (mặc dù đất nước anh trở về đã biến mất). Anh xin được việc làm với lương bổng hậu hĩnh tại một tạp chí về võ thuật (rồi lại bỏ). Mắc nợ (rồi cũng trả được hết). Đã toan làm phim (thôi quên nó đi).

Bà Irina mất, đã sáu năm.

Anh đã dựng mươi mười hai vở kịch gì đó (ở toàn nhà hát hạng làng nhàng), từng đến Tây Ban Nha, Ý, Hà Lan, Mỹ, Thụy Điển, Ai Cập (nhưng Mexico thì chưa), ăn nằm với cả đống đàn bà (tên họ tuổi tác thế nào, anh chẳng nhớ nữa), rồi sau một dạo loăng quăng đây đó, lại dính vào một mối quan hệ có vẻ bền chặt...

Làm quen với Marion, đã ba năm.

Bây giờ nhìn lại, thấy cũng chẳng phải là gần lắm.

Anh chợt nhớ mình đã định báo cho cô ấy biết. Ít gì, cô cũng đã là người duy nhất vào viện thăm anh - mặc dù anh đã cấm cô đến thăm. Nhưng rồi anh cũng phải nhận là chuyến viếng thăm ấy chẳng đến nỗi nào. Không, cô ấy không quá ư lo lắng như anh e ngại, không tìm cách nói gì đó làm anh vui. Cũng không mang theo hoa hoét gì, mà là xa-lát cà chua. Làm sao cô ấy biết anh đang thèm cái gì nhỉ? Làm sao cô ấy biết anh sợ kinh người phải nhận hoa trong bệnh viện nhỉ?

Hay, hỏi khác đi: Tại sao anh không đủ sức yêu Marion? Già quá ư? Tại cô ấy ngang tuổi với anh. Hay tại hai ba dây tĩnh mạch xanh nhờ nhờ ở đùi cô ấy? Hay tại anh?

“Irina thân yêu vô vàn của anh!... Mặt trời của anh! Cuộc đời của anh ơi!”

Anh chưa bao giờ viết như thế cho người đàn bà nào. Viết như thế là viết theo lối cổ ư? Hay ông Kurt yêu bà Irina thật? Chẳng lẽ lão chó già thông thái rởm ấy, cỗ máy mang tên Kurt Umnitzer ấy, cũng biết yêu thật sao?

Ý nghĩ ấy nảy ra trong đầu làm anh bỗng buồn nôn, phải chồm ngay dậy.

Lúc anh lần cầu thang đi xuống, thì đã quá hai rưỡi một lát. Ông Kurt vẫn còn ngủ. Anh biết Marion lúc này đang bận trong vườn, gọi điện giờ còn sớm quá. Anh đành gọi phòng vé. Lúc đầu anh đã định ra thẳng sân bay, nhưng sau lại thôi, để gọi điện; họ nối điện thoại cho anh tới chỗ này chỗ kia, mãi mới nối được nơi cần hỏi. Song anh lại ngập ngừng khi nghe nói, anh có muốn đặt vé ngay cho chuyến bay ngày mai cũng không khó khăn gì. Với điều kiện anh có thẻ tín dụng.

Thẻ thì anh có.

- Ông định thế nào, đặt vé ngay hay không ạ, người đàn bà ở đầu dây kia hỏi bằng một giọng không phải không lịch sự, những đủ cho thấy bà không muốn nhùng nhằng mãi vì chuyện vớ vẩn như thế này.

- Vâng, tôi đặt ngay, anh đáp, rồi đọc số thẻ tín dụng.

Lúc anh đặt ống nghe xuống là 14 giờ 46 phút. Anh đứng yên giây lát trong cảnh nửa tối nửa sáng, đợi xem có cảm xúc gì dâng lên không. Chẳng thấy gì. Chỉ văng vẳng trong đầu giai điệu từ đĩa nhạc bằng nhựa cổ lỗ của bà nội Charlotte, cái đĩa khi chuyển nhà đã tuột khỏi tay anh, rơi xuống mặt đường, vỡ tan thành ngàn mảnh vụn:

México lindoy querido

Si muero lejos de ti...

Bài hát của “xương cá vàng”. Tiếp theo thế nào ấy nhỉ? Anh không nhớ nữa. Không biết còn tìm thấy đĩa ấy ở Mexico hay không? Sau những nửa thế kỷ?

Anh vào “cỗ quan tài xanh”, vơ mấy ly cà phê bẩn đem vào bếp. Đứng bên cửa sổ bếp một lúc, nhìn ra vườn. Như thể ít nhất cũng phải dành một giây phút nhớ đến bà ngoại, anh đưa mắt tìm cái chỗ giờ bị cỏ mọc cao che khuất, hồi xưa bà Nadya vẫn đứng khom lưng hàng giờ chăm đám dưa chuột của bà... Song, anh chẳng thấy ai. Bà Nadya biến mất tăm tự bao giờ.

Anh lôi thùng đồ nghề để trong góc bếp ra, xách vào phòng ông Kurt.

Trước hết, anh lấy hộp bàn cờ dựng phía bên trái Lenin khỏi tủ sách rồi mở ra. Đoạn anh mở tiếp cặp giấy mang dòng chữ GIẤY TỜ RIÊNG, lấy một tập trong đó nhét vào hộp bàn cờ vừa mở. Vào bếp, anh tìm một túi ni-lông màu trắng khá lớn nhét bàn cờ vào đó. Anh làm như máy, lặng lẽ, dứt khoát, như thể đã dự định từ lâu.

Tiền, anh nghĩ bụng, lát nữa cũng cho vào túi này.

Đoạn anh lục lọi trong thùng đồ nghề, vớ được chiếc đục gỗ đã cũ, thọc nó vào khe cửa tủ bị khóa ở gầm bàn. Nghe răng rắc, gỗ toác ra. Cứ tưởng dễ mở, hóa ra anh phải lôi hết các ngăn kéo một bên tủ ra thì tấm gỗ ngăn giữa mới chịu bục để anh mở nốt cánh cửa còn lại. Tranh ảnh cũ. Bộ bài với các quân bài in hình gợi dục. Băng video. Vài tạp chí cùng loại đó... Anh không nhầm, cái hộp nhựa dài màu đỏ đựng phim đèn chiếu đây rồi. Hồi trước, có mỗi một lần duy nhất anh mở trộm cái hộp này, giơ tấm phim đèn chiếu tốt nhất lên ánh sáng, nhận ra mẹ mình, quần áo nửa kín nửa hở, đang ở tư thế rất khêu gợi, liền hốt hoảng nhét vội vào chỗ cũ.

Anh vào buồng tắm lấy chiếc giỏ chứa quần áo bẩn rồi nhét toàn bộ số đồ đạc kia vào đấy.

Chiếc lò sưởi đốt than cuối cùng còn lại ở nhà này nằm trong phòng khách lớn. Từ đời nào đời nào đến giờ, chẳng ai ngó ngàng đến nó. Alexander lôi báo cũ cùng đôi tấm gỗ đứng chặn sách từ trên tủ sách Thụy Điển của ông Kurt xuống, lấy lọ dầu rán trong bếp lên phòng... Vò báo, nhúng vào dầu, rồi châm lửa...

Ông Kurt bỗng hiện ra giữa khung cửa. Vui vẻ. Tươi tỉnh. Đôi chân gầy khẳng khiu đâm xuống từ ống quần tã. Tóc dựng đứng, rối bời ngang dọc, hệt như nhánh cành trên cây táo ngoài sân. Ông tò mò tập tễnh bước đến gần.

- Con đốt chỗ ảnh của bố, Alexander nói.

- Ừ, ông Kurt đáp.

- Bố nghe con nói này, con sẽ đi xa. Bố hiểu không? Con đi xa, chưa biết bao lâu. Bố hiểu không?

- Ừ, ông Kurt nói.

- Vì thế con đốt đi, để không ai tìm thấy nữa.

Ông Kurt không tỏ vẻ gì ngạc nhiên. Ông ngồi xổm bên cái giỏ cạnh Alexander, ngó vào lò. Lửa bắt đầu bén và Alexander ném dần từng lá bài vào lửa. Xong đến ảnh, rồi chỗ tạp chí... Anh nghĩ bụng chốc nữa sẽ vứt mấy cuộn băng video vào thùng rác ngoài đường, nhưng số phim đèn chiếu thì phải đốt. Nhưng, cái hộp đâu rồi nhỉ?

Anh nhìn quanh: ông Kurt đang cầm cái hộp trên tay. Ông chìa nó cho anh.

- Sao hả bố? Bố đưa con làm gì? anh hỏi ông.

- Ừ, ông Kurt đáp.

- Bố biết cái gì đây không? anh gặng hỏi.

Ông Kurt căng óc nghĩ, xoa xoa tay lên hai bên thái dương, như hồi xưa, mỗi khi ông muốn tìm một từ nào đấy. Như thể xoa như thế điện sẽ lóe lên trong đầu ông, một xung điện cuối cùng.

Bỗng ông thốt lên:

- Irina.

Alexander lặng nhìn bố, nhìn sâu vào mắt ông. Đôi mắt ông xanh. Một màu xanh trong sáng, và trẻ trung. Quá trẻ trung, cho một gương mặt nhăn nheo như thế này.

Anh đón cái hộp từ tay bố, đập đập cho phim rơi ra. Vốc từng vốc, tung hết vào lửa. Số phim đèn chiếu cháy, vèo vèo, không thành tiếng.

Anh mặc quần áo cho bố, chải đầu, rồi cạo râu cho ông ở những chỗ cô y tá làm dịch vụ chăm người già để sót lại lởm chởm. Rồi pha cà phê (bằng máy, cho ông Kurt). Chẳng buồn hỏi xem bố muốn uống hay không. Sau đó là đến lúc đi dạo. Ông Kurt đã lon ton chạy ra cửa, như chú chó con quen lệ đòi dẫn đi chơi bằng được.

Hai bố con đi bách bộ dọc theo đường ra bưu điện của ông Kurt, như trước đây ông vẫn gọi, mặc dù đường đến bưu điện chỉ chiếm một đoạn rất ngắn trong quãng đường hằng ngày ông vẫn đi. Dẫu thế, lúc nào ông Kurt cũng nói to bố ra bưu điện tí nhá trước khi rời khỏi nhà. Sau này, đến lúc chẳng còn gì để mang ra bưu điện nữa, ông vẫn tiếp tục ra bưu điện. Chính nhờ cái thói máy móc ấy của ông mới có hai mươi bảy nghìn đồng mác nằm trong két bạc ngầm kia. Bởi vì, suốt một dạo dài ông Kurt vẫn nhớ mã số để rút tiền từ máy. Và vì chẳng còn gì để làm ở bưu điện, ông đành rút tiền vậy. Mỗi lần một ngàn mác. Song có một lần ông lấy hẳn tám nghìn nhét ví. Alexander phải lấy cho vào két, cho nên cũng chỉ một mình anh biết có số tiền nằm ở đó.

Hai người đi dọc phố Fuchsbau, ngang qua nhiều nhà hàng xóm mà trước đây ai anh cũng quen. Đây là nhà ông Horst Mählich, người suốt đời đinh ninh ông Wilhelm là điệp viên Xô-viết cỡ bự và đến lúc chết vẫn khăng khăng ông bị ám hại chứ không phải chết bình thường. Kia, nhà lão Bunke mật thám Stasi[6]. Sau Bước ngoặt lão còn trồng rau vài năm ở đây và lúc nào cũng ới qua hàng rào xởi lởi chào hỏi người qua đường. Rồi lão lặn mất tăm. Kia nhà ông thầy thể dục Schroter, kia nhà ông bác sĩ từ bên Tây sang và kia, ở cuối phố, nhà ông bà nội anh. Ngôi nhà đã được “hoàn sản”. Bây giờ ở đấy là người cháu gọi chủ nhà cũ bằng ông, vốn là một tay quốc xã hạng vừa, nhờ làm chủ xưởng sản xuất ống nhòm cho quân đội mà giàu lên. Kẻ kế thừa đã sửa sang ngôi nhà, quét vôi mới. Hiên nhà đồ sộ xây bằng đá tự nhiên, hồi trước do bị ông Wilhelm bồi quá nhiều bê-tông mà sập, nay được tân trang lại như cũ. Và toàn bộ hàng hiên bây giờ lắp kính, cửa sổ nào cũng được trang trí đủ thứ lạ mắt, khiến Alexander khó tin được chính anh từng ngồi ở đó với bà nội Charlotte hóng chuyện kể về xứ Mexico của bà.

Hai người rẽ vào phố Steinweg. Ông Kurt phì phò thở thành tiếng, đi gập cả người song vẫn bước đều. Chính ở đây, trên mặt đường nhựa phẳng lì, bọn anh từng trượt pa-tanh, từng lấy phấn vẽ đầy mặt phố. Đằng kia là cửa hàng thịt, nơi mẹ anh vẫn từng nhắm mắt mua ào mấy gói thịt được gói sẵn cho bà ở phòng trong. Kia vốn là Hiệu sách nhân dân, giờ thành đại lý du lịch. Tiếp theo là cửa hàng hàng tiêu dùng, gọi tắt là Konsum (sự thực chẳng dính dáng mấy đến hàng tiêu dùng); anh chỉ còn nhớ mang máng, hồi xưa lắm rồi, ở đây có bán sữa bằng tem phiếu.

Cuối cùng là bưu điện.

- Bưu điện đấy, bố ạ, Alexander nói.

- Ừ, ông Kurt đáp.

Rồi họ không nói gì thêm nữa.

Hai người trèo lên phía tháp nước trên đỉnh đồi. Đứng ở đây nhìn cảnh phía sông Havel rất đẹp. Hai bố con ngồi xuống chiếc ghế băng, lặng lẽ rất lâu nhìn nền trời đang nhuốm dần sắc đỏ.

[1] Khái niệm “Bước ngoặt” (Wende, hay còn được gọi là “cuộc cách mạng hòa bình”) dùng để chỉ quá trình biến đổi về chính trị xã hội diễn ra tại CHDC Đức vào các năm 1989-1990, dẫn tới thống nhất nước Đức vào tháng 10 năm 1990. (Mọi chú thích đều của người dịch)

[2] Ernst Thälmann (1886-1944), lãnh đạo đảng Cộng sản Đức trong thời kỳ Cộng hòa Weimar, sau bị Hitler biệt giam 11 năm trước khi đem xử bắn.

[3] “Ừ” tiếng Đức là “ja”; “một năm” là “jahr”.

[4] Tên gọi tắt xe Trabant

[5] Vladimir Semyonovich Vysotsky (1938-1980), diễn viên, ca sĩ nổi tiếng của Liên Xô trước đây.

[6] Viết tắt của Staassicherheit: an ninh quốc gia, là cơ quan mật vụ của CHDC Đức trước đây.

Hoàng Đăng Lãnh dịch
Nguồn: tve-4u
Được bạn: Mọt Sách đưa lên
vào ngày: 22 tháng 8 năm 2026

« Lùi Tiến »

💬 Thảo luận

Chưa có bình luận nào — hãy là người đầu tiên chia sẻ cảm nhận của bạn!

Đăng nhập để tham gia bình luận.