Thần Pan Vĩ Đại

Lượt đọc: 5 | 0 Đánh giá: 0/10 Sao
★★★★★★★★★★
★★★★★★★★★★
« Lùi Tiến »
Vụ Tự Vẫn Tại West End

❊ ❊ ❊

Lãnh chúa Argentine là một nhân vật vô cùng được yêu mến trong giới thượng lưu London. Năm đôi mươi, ông từng là một kẻ nghèo túng, dẫu mang họ của một dòng dõi hiển hang nhưng lại buộc phải tự kiếm sống bằng mọi cách có thể. Ngay cả những tay cho nặng lãi liều lĩnh nhất cũng chẳng đời nào dám trao cho ông dăm chục bảng với hy vọng một ngày kia ông sẽ đổi họ lấy tước hiệu và sự nghèo khó lấy một gia tài kếch xù. Cha ông vốn ở gần chốn ơn mưa móc nên còn giữ được một bổng lộc của gia tộc, ngặt nỗi người con trai dù có thụ phong linh mục đi chăng nữa thì e rằng cũng chẳng vơ vét nổi ngần ấy, hơn nữa bản thân anh ta lại chẳng hề tha thiết gì với đường tu hành. Thế là ông đành bước ra đời với thứ áo giáp chẳng lấy gì làm kiên cố: chiếc áo cử nhân và sự khôn ngoan của đứa cháu nội một dòng thứ, vậy mà với chừng ấy vốn liếng, ông vẫn xoay sở để chiến đấu một trận ra trò với cuộc đời. Đến tuổi hai mươi lăm, chàng thanh niên Charles Aubernon vẫn thấy mình là kẻ phải chật vật tranh đấu với thế gian, dẫu rằng trong số bảy người đứng trước ông và những vị trí cao sang của dòng họ lúc bấy giờ, nay chỉ còn lại ba người. Ba người này dẫu sao cũng là những “mạng sống bền bỉ”, nhưng nào đã chắc gì miễn nhiễm trước ngọn giáo tăm tối của xứ Zulu hay cơn sốt thương hàn. Thế là vào một buổi sáng nọ, Aubernon tỉnh giấc và bỗng thấy mình đã trở thành Lãnh chúa Argentine, một người đàn ông tuổi ba mươi từng nếm trải mọi gian truân của tồn tại và đã chiến thắng. Hoàn cảnh ấy khiến ông vô cùng thích thú, và ông tự nhủ sự giàu sang sẽ phải mang lại cho ông niềm vui sướng chẳng kém gì cảnh nghèo khó thuở nào. Sau một hồi suy tính, Argentine đi đến kết luận rằng ăn uống, nếu được xem như một bộ môn nghệ thuật tinh tế, có lẽ là niềm vui thú hấp dẫn nhất dành cho nhân loại lầm lạc; thế là những bữa tiệc của ông bắt đầu nổi danh khắp London, và một lời mời dự tiệc tại gia của ông trở thành niềm khao khát thèm thuồng của bao người. Trải qua mười năm tước vị và yến tiệc, Argentine vẫn từ chối việc trở nên mệt mỏi, vẫn kiên quyết tận hưởng cuộc sống, và bằng một thứ sức lan truyền nào đó, ông được công nhận là nguồn cội mang lại niềm vui cho kẻ khác, nói ngắn gọn là một người bạn đồng hành tuyệt vời nhất. Vì thế, cái chết đột ngột và bi thảm của ông đã gây nên một chấn động sâu sắc và rộng khắp. Người ta hầu như không thể tin nổi, dẫu cho tờ báo đang phơi bày trước mắt và tiếng rao “Cái chết bí ẩn của một nhà quý tộc” đang vang vọng từ ngoài phố. Nhưng đoạn tin ngắn ngủi vẫn rành rành ở đó: “Lãnh chúa Argentine được người hầu phòng phát hiện đã chết vào sáng nay trong hoàn cảnh đầy đau buồn. Người ta khẳng định không còn nghi ngờ gì nữa rằng vị lãnh chúa đã tự vẫn, dẫu không thể tìm ra động cơ nào cho hành động ấy. Vị quý tộc quá cố vốn rất nổi tiếng trong xã hội, và rất được mến mộ bởi thái độ hòa nhã cùng lòng hiếu khách xa hoa. Người kế vị ông là,” v.v., v.v.

Qua từng chút một, các chi tiết dần hé lộ, nhưng vụ việc vẫn mãi là một ẩn số. Nhân chứng chính trong cuộc điều tra là người hầu phòng của người quá cố; anh ta khai rằng vào đêm trước khi qua đời, Lãnh chúa Argentine đã dùng bữa tối với một phu nhân có vai vế, người mà danh tính đã bị giấu nhẹm trên các mặt báo. Khoảng mười một giờ, Lãnh chúa Argentine đã trở về và thông báo với gia nhân rằng anh ta sẽ không cần đến sự phục vụ của ông cho đến sáng hôm sau. Ít lâu sau, người hầu phòng có việc đi ngang qua sảnh lớn và lấy làm kinh ngạc khi thấy ông chủ đang lặng lẽ tự mở cửa chính để bước ra ngoài. Ông đã cởi bộ âu phục dự tiệc, mặc một chiếc áo khoác kiểu Norfolk cùng quần lửng, và đội chiếc mũ phớt nâu vành nhỏ. Người hầu phòng không có lý do gì để nghĩ rằng Lãnh chúa Argentine đã nhìn thấy mình, và dẫu ông chủ hiếm khi thức khuya, anh ta cũng chẳng bận tâm mấy đến chuyện ấy cho đến sáng hôm sau, khi gõ cửa phòng ngủ vào lúc tám giờ kém mười lăm như thường lệ. Anh không nhận được lời đáp, và sau khi gõ hai ba tiếng, anh đẩy cửa bước vào để rồi chứng kiến thi thể Lãnh chúa Argentine đang ngả gập người về phía trước một góc từ chân giường. Anh phát hiện ông chủ đã buộc chặt một sợi dây thừng vào một trong những trụ giường ngắn, rồi thắt thành một nút thắt lỏng tròng quanh cổ, chắc hẳn vị bất hạnh nọ đã kiên quyết lao người về phía trước để chết trong sự ngạt thở chậm chạp. Ông mặc bộ trang phục nhẹ nhàng mà người hầu phòng từng thấy khi ông ra ngoài, và vị bác sĩ được triệu tới đã tuyên bố sự sống đã tắt từ hơn bốn tiếng trước. Mọi giấy tờ, thư từ và những thứ tương tự đều nằm gọn gàng ngăn nắp, và chẳng có gì được tìm thấy dẫu chỉ gợi ý mập mờ nhất đến bất kỳ vụ bê bối nào, dù lớn hay nhỏ. Lời khai kết thúc tại đó; chẳng thể khám phá thêm điều gì nữa. Một vài người từng có mặt trong bữa tiệc tối mà Lãnh chúa Argentine tham dự, và đối với tất cả bọn họ, ông vẫn tỏ ra vui vẻ, hòa nhã như mọi khi. Quả thực, người hầu phòng có nói anh thấy ông chủ hình như hơi phấn khích lúc trở về, nhưng lại thú nhận rằng sự thay đổi trong phong thái ấy là vô cùng nhỏ nhặt, hầu như chẳng đáng chú ý là bao. Việc tìm kiếm một manh mối dường như trở thành vô vọng, và giả thuyết cho rằng Lãnh chúa Argentine bất ngờ bị cơn bạo bệnh cuồng tín tự sát tấn công đã được số đông chấp nhận.

Thế nhưng, sự việc lại diễn ra hoàn toàn khác khi chỉ trong vòng ba tuần, thêm ba quý tộc nữa — một người mang tước hiệu, và hai người kia có địa vị vững vàng cùng tài sản sung túc — lại lần lượt kết liễu đời mình một cách thê thảm theo một phương thức gần như y hệt. Lãnh chúa Swanleigh được tìm thấy vào một buổi sáng trong phòng thay đồ, treo lơ lửng trên chiếc móc gắn vào tường, còn ông Collier-Stuart và ông Herries cũng chọn cái chết giống như Lãnh chúa Argentine. Chẳng có lấy một lời giải thích trong cả hai trường hợp; chỉ vài sự thật trần trụi: một người sống vào buổi tối, và một cỗ thi thể với khuôn mặt sưng phồng đen đúa vào buổi sáng. Cảnh sát từng buộc phải thừa nhận sự bất lực của mình trong việc vây bắt hay giải thích những vụ án mạng nhơ nhuốc ở Whitechapel; nhưng trước những vụ tự vẫn rợn ngợp ở Piccadilly và Mayfair, họ hoàn toàn câm lặng, bởi ngay cả thứ hung ác đẫn độ từng được dùng làm lời giải thích cho các tội ác ở vùng East End cũng chẳng thể áp dụng được ở West End. Mỗi một người đàn ông từng quyết định tự chấm dứt sự sống bằng cái chết đầy tra tấn nhục nhã ấy đều giàu có, thành đạt, bề ngoài trông có vẻ say mê cuộc đời, và chẳng có cuộc điều tra sắc bén nào có thể moi ra dù chỉ là cái bóng của một động cơ ẩn giấu trong bất kỳ vụ việc nào. Bầu không khí bao trùm một nỗi kinh hoàng, và người ta nhìn vào mặt nhau mỗi khi gặp gỡ, ai nấy thầm tự hỏi liệu kẻ tiếp theo có phải là nạn nhân của thảm kịch vô danh thứ năm hay không. Các nhà báo luồn lôi vô vọng qua những cuốn sổ tay tìm kiếm tư liệu để chắp vá nên những bài viết hồi tưởng; và tờ báo buổi sáng được mở ra ở bao ngôi nhà với một cảm giác nơm nớp lo sợ; chẳng ai biết khi nào hay ở đâu đòn giáng tiếp theo sẽ đổ xuống.

Chẳng bao lâu sau chuỗi sự kiện khủng khiếp cuối cùng ấy, Austin đến thăm ông Villiers. Anh tò mò muốn biết liệu Villiers đã thành công trong việc dò ra bất kỳ manh mối mới nào về bà Herbert hay chưa, thông qua Clarke hoặc các nguồn tin khác, và anh cất lời hỏi ngay sau khi vừa ngồi xuống.

"Không," Villiers đáp, "tôi có viết thư cho Clarke, nhưng hắn vẫn một mực ngậm tăm, và tôi đã thử qua các ngả khác nhưng chẳng thu lại kết quả gì. Tôi không tài nào tìm ra Helen Vaughan đã trôi dạt về đâu sau khi rời khỏi phố Paul, nhưng tôi nghĩ chắc hẳn ả đã ra nước ngoài. Mà nói thật với anh nhé Austin, vài tuần nay tôi chẳng để tâm mấy đến chuyện đó nữa; tôi quen thân với tội nghiệp Herries, và cái chết kinh hoàng của anh ấy là một cú sốc lớn đối với tôi, thực sự là một cú sốc lớn."

"Tôi hoàn toàn hiểu được điều đó," Austin trầm giọng đáp, "anh biết đấy Argentine là bạn của tôi. Nếu tôi nhớ không lầm, chúng ta đã nhắc đến anh ấy vào cái ngày anh đến phòng tôi."

"Đúng vậy; nhân câu chuyện về ngôi nhà ở phố Ashley, ngôi nhà của bà Beaumont. Anh đã nói gì đó về việc Argentine dùng bữa ở đó."

"Chính xác. Dĩ nhiên anh thừa biết đó là nơi Argentine đã dự tiệc vào đêm trước ngày — trước ngày anh ấy qua đời."

"Không, tôi chưa hề nghe về chuyện đó."

"Ồ, có chứ; cái tên ấy đã được giấu nhẹm trên báo chí để bảo vệ danh tiếng cho bà Beaumont. Argentine là một sủng thần của bà ta, và người ta đồn rằng bà ta đã suy sụp khủng khiếp trong suốt một thời gian dài sau đó."

Một vẻ mặt kỳ lạ thoáng hiện trên gương mặt Villiers; anh có vẻ lưỡng lự không biết có nên nói tiếp hay không. Austin lại cất lời.

"Tôi chưa từng trải qua cảm giác kinh hoàng nhường ấy cho đến khi đọc bài tường thuật về cái chết của Argentine. Lúc bấy giờ tôi chẳng tài nào hiểu nổi, và đến giờ vẫn vậy. Tôi quen biết rõ về anh ấy, và điều đó hoàn toàn vượt quá tầm hiểu biết của tôi về lý do quái quỷ nào có thể khiến anh ấy — hay bất kỳ kẻ nào khác tính cho cùng — lại đi đến quyết định trong một tâm trí lạnh lùng để chết theo một cách thê thảm đến thế. Anh thừa biết người ta ở London hay đơm đặt bôi nhọ thanh danh của nhau ra sao đấy, anh có thể đoan chắc rằng bất kỳ xó xỉnh bê bối hay bộ xương giấu kín nào cũng đã bị lôi ra ánh sáng trong một vụ việc thế này; thế nhưng chẳng có chuyện nào như vậy xảy ra cả. Còn về cái giả thuyết cuồng bệnh, điều đó tất nhiên rất tiện lợi cho bồi thẩm đoàn của viên pháp y, nhưng ai ai cũng rõ đó chỉ là những lời nhảm nhí. Bệnh cuồng sát tự vẫn nào phải bệnh đậu mùa."

Austin chìm vào sự im lặng u ám. Villiers cũng ngồi lặng thinh, dõi theo người bạn của mình. Vẻ lưỡng lự vẫn thoáng qua trên gương mặt anh; anh có vẻ như đang cân nhắc những suy nghĩ trong đầu, và những mối bận tâm mà anh đang giải quyết vẫn khiến anh giữ im lặng. Austin cố xua đi ký ức về những thảm kịch tuyệt vọng và rắc rối hệt như mê cung của Daedalus, rồi bắt đầu cất giọng dửng dưng bàn về những biến cố và cuộc phiêu lưu dễ chịu hơn trong mùa hội hè.

"Bà Beaumont đó," anh nói, "người mà chúng ta vừa nhắc đến ấy, thực sự là một thành công lớn; bà ta gần như càn quét cả London. Tối nọ tôi có dịp gặp bà ấy ở nhà Fulham; quả là một người phụ nữ đáng chú ý."

"Anh từng gặp bà Beaumont rồi sao?"

"Vâng; xung quanh bà ta vây quanh cả một triều đình nhỏ. Người ta hẳn sẽ gọi bà ấy là rất xinh đẹp, thế nhưng ẩn chứa trong gương mặt ấy lại là thứ gì đó khiến tôi không sao ưa nổi. Các đường nét thì tuyệt mỹ, nhưng biểu cảm lại kỳ lạ làm sao. Và suốt khoảng thời gian tôi ngắm nhìn bà ấy, cũng như lúc sau này trên đường về nhà, tôi cứ mang một cảm giác kỳ lạ rằng chính cái biểu cảm ấy lại có phần quen thuộc với tôi theo một cách nào đó."

"Chắc anh từng thấy bà ta ở đường The Row rồi."

"Không, tôi dám chắc chưa từng đặt mắt lên người phụ nữ ấy trước đây; chính điều đó mới gây khó hiểu. Và theo trí nhớ tốt nhất của tôi, tôi chưa từng thấy ai giống bà ta cả; thứ tôi cảm nhận được là một dạng ký ức mờ mịt xa xăm, mơ hồ nhưng dai dẳng. Cảm giác duy nhất mà tôi có thể đem ra so sánh chính là thứ cảm xúc kỳ quặc đôi khi ta gặp trong một giấc mơ, khi những thành phố kỳ ảo, những vùng đất kỳ diệu và những nhân vật bóng ma bỗng trở nên quen thuộc và gần gũi."

Villiers gật đầu và lơ đễnh đảo mắt nhìn quanh căn phòng, có lẽ đang tìm kiếm thứ gì đó để lái chuyển câu chuyện. Ánh mắt anh rơi vào một chiếc rương cổ, có đôi chút giống chiếc rương mà trong đó món di vật kỳ lạ của người họa sĩ từng ẩn giấu dưới lớp huy hiệu Gothic.

"Anh đã viết thư cho vị bác sĩ về tội nghiệp Meyrick chưa?" anh hỏi.

"Rồi; tôi viết thư hỏi xin mọi chi tiết cụ thể về cơn bệnh và cái chết của anh ấy. Tôi chẳng mong nhận được hồi âm trong vòng ba tuần hay một tháng nữa. Tôi nghĩ thà cứ tiện thể dò hỏi xem Meyrick có quen một người phụ nữ Anh nào tên là Herbert hay không, và nếu có thì vị bác sĩ ấy có thể cung cấp cho tôi chút thông tin nào về ả không. Nhưng rất có thể Meyrick đã chạm trán ả ở New York, hoặc Mexico, hay San Francisco; tôi hoàn toàn mù tịt về quy mô hay hướng di chuyển trong những chuyến đi của anh ta."

"Ừ, và cũng rất có thể người phụ nữ ấy mang nhiều hơn một cái tên."

"Chính xác. Ước gì lúc đó tôi nhớ ra việc mượn anh bức chân dung của ả mà anh đang giữ. Tôi đã có thể kẹp nó vào bức thư gửi bác sĩ Matthews."

"Thì anh hoàn toàn có thể làm thế; tôi lại chẳng nghĩ ra điều đó. Giờ chúng ta gửi cũng được mà. Lắng nghe kìa! Lũ nhóc ngoài kia đang rao cái gì thế?"

Trong lúc hai người đang trò chuyện, thứ âm thanh hỗn độn của tiếng gào thét cứ lớn dần lên. Tiếng động cất lên từ phía đông rồi lan tràn dọc theo đại lộ Piccadilly, tiến sát lại gần hơn và gần hơn nữa, tựa như một dòng thác âm thanh cuồn cuộn; dâng tràn qua những con đường vốn dĩ yên tĩnh, biến mọi ô cửa sổ thành khung tranh để lộ những khuôn mặt đầy tò mò hoặc kích động. Tiếng la hét và giọng nói dội vang lên dọc theo con phố tĩnh lặng nơi Villiers ở, ngày một rõ mồn một khi chúng tiến đến, và ngay khi Villiers vừa dứt lời, một câu trả lời đã vọng lên từ mặt đường:

"Những nỗi kinh hoàng ở West End; Lại thêm một vụ tự vẫn kinh hoàng; Chi tiết toàn tập!"

Austin lao bổ xuống cầu thang, mua một tờ báo và đọc lớn đoạn tin cho Villiers nghe giữa lúc tiếng huyên náo ngoài phố lúc chìm lúc nổi. Cửa sổ đang mở tung và bầu không khí như tràn ngập tiếng động cùng nỗi sợ hãi.

"Lại thêm một quý nhân ngã gục làm nạn nhân cho căn bệnh dịch tự vẫn khủng khiếp vốn hoành hành ở West End suốt tháng qua. Ông Sidney Crashaw, ngụ tại Stoke House, Fulham, và King’s Pomeroy, Devon, đã được tìm thấy sau một hồi lâu tìm kiếm trong tình trạng đã treo cổ chết trên cành cây ở khu vườn nhà mình vào lúc một giờ trưa nay. Vị quá cố đã dùng bữa tối tối qua tại câu lạc bộ Carlton và trông vẫn mạnh khỏe, vui vẻ như mọi khi. Ông rời câu lạc bộ vào khoảng mười giờ, và ít lâu sau người ta trông thấy ông đang thảnh thơi dạo bước lên phố St. James’s. Sau thời điểm đó, tung tích của ông không tài nào dò ra được. Ngay khi phát hiện thi thể, lực lượng y tế đã lập tức được triệu tập, nhưng rõ ràng sự sống đã tắt từ lâu. Theo những gì được biết, ông Crashaw không hề gặp phải bất kỳ rắc rối hay nỗi lo âu nào. Cần phải nhắc lại rằng, vụ tự vẫn đau đớn này là trường hợp thứ năm tính trong vòng một tháng qua. Giới chức trách tại Scotland Yard vẫn hoàn toàn bất lực trong việc đưa ra bất kỳ lời giải thích nào cho những sự kiện kinh hoàng này."

Austin đặt tờ báo xuống trong nỗi kinh hoàng câm lặng.

"Tôi sẽ rời London vào ngày mai," anh nói, "đây là một thành phố của những cơn ác mộng. Mọi chuyện thật hãi hùng làm sao, Villiers!"

Ông Villiers đang ngồi cạnh cửa sổ, lặng lẽ phóng tầm mắt ra đường phố. Anh đã lắng nghe bản tin báo chí một cách chăm chú, và vẻ lưỡng lự ban nãy giờ đây đã hoàn toàn biến mất khỏi gương mặt anh.

"Đợi một lát đã, Austin," anh đáp lời, "tôi đã quyết định sẽ hé lộ một chút chuyện nhỏ xảy ra vào đêm qua. Tôi nhớ bản tin có nêu Crashaw được nhìn thấy còn sống lần cuối ở phố St. James’s vào khoảng chừng sau mười giờ đúng không?"

"Ừ, tôi nghĩ vậy. Để tôi xem lại lần nữa. Đúng thế, anh hoàn toàn đúng."

"Chính xác. Vậy thì, ít ra tôi đang ở vị thế có thể bác bỏ lời tuyên bố đó. Người ta còn nhìn thấy Crashaw sau thời điểm ấy; thậm chí là muộn hơn rất nhiều."

"Sao anh lại biết?"

"Bởi vì bản thân tôi tình cờ nhìn thấy Crashaw vào khoảng hai giờ sáng nay."

"Anh nhìn thấy Crashaw ư? Chính anh á, Villiers?"

"Đúng vậy, tôi thấy anh ta hoàn toàn rõ mồn một; thực ra giữa chúng tôi chỉ cách nhau có vài bước chân."

"Lạy Chúa tôi, anh thấy anh ta ở đâu cơ chứ?"

"Cách đây chẳng bao xa. Tôi thấy anh ta ở phố Ashley. Anh ta vừa bước ra khỏi một ngôi nhà."

"Anh có để ý đó là ngôi nhà nào không?"

"Có. Đó là nhà của bà Beaumont."

"Villiers! Hãy suy nghĩ xem anh đang nói gì thế; chắc chắn phải có sự nhầm lẫn nào rồi. Sao Crashaw lại có thể có mặt trong nhà bà Beaumont vào lúc hai giờ sáng cơ chứ? Chắc chắn, chắc chắn là anh đang mơ ngủ rồi, Villiers; anh từ trước đến nay vốn hay mộng tưởng mà."

"Không; tôi tỉnh táo chán. Cho dù tôi có đang mơ mộng như anh nói đi nữa, thì những gì tôi chứng kiến cũng đủ để đánh thức tôi một cách triệt để rồi."

"Những gì anh thấy ư? Anh đã thấy gì? Có điều gì kỳ lạ ở Crashaw chăng? Nhưng tôi không tài nào tin nổi; điều đó là bất khả."

"Được thôi, nếu anh muốn, tôi sẽ kể cho anh nghe những gì tôi đã thấy, hoặc nếu anh thích thì là những gì tôi nghĩ mình đã thấy, và anh có thể tự mình phán xét."

"Rất sẵn lòng, Villiers."

Tiếng ồn ào và huyên náo ngoài phố đã lắng xuống, dẫu thỉnh thoảng tiếng gào thét vẫn vọng lại từ phía xa, và sự tĩnh lặng đặc quánh, nặng nề tựa như khoảng không yên ả sau một trận động đất hay cơn bão lớn. Villiers quay người khỏi khung cửa sổ và cất lời.

"Tối qua tôi có mặt ở một ngôi nhà gần Regent’s Park, và khi ra về, tôi bỗng hứng chí đi bộ về nhà thay vì bắt xe ngựa. Đêm hôm ấy trời khá quang đãng, dễ chịu, và chỉ sau vài phút, đường sá gần như chỉ thuộc về một mình tôi. Thật là một cảm giác kỳ lạ, Austin, khi ở một mình giữa lòng London về đêm, những ngọn đèn đường kéo dài xa tắp đến tận chân trời, sự tĩnh mịch chết chóc, rồi đôi khi là tiếng xe ngựa phi nước đại lộc cộc trên những viên đá cuội, cùng những tia lửaéT bừng lên dưới móng guốc ngựa. Tôi rảo bước khá nhanh, bởi tôi cảm thấy hơi mỏi mệt khi phải lang thang đêm hôm, và khi đồng hồ điểm hai giờ, tôi rẽ vào phố Ashley, mà anh biết đấy, nằm trên đường về nhà tôi. Nơi đó còn yên tĩnh hơn bao giờ hết, đèn đường thưa thớt hơn; nói chung là tối tăm và ảm đạm hệt như một khu rừng mùa đông. Tôi vừa đi được khoảng nửa chiều dài con phố thì nghe thấy tiếng cửa đóng lại rất khẽ, và dĩ nhiên tôi ngước lên để xem kẻ nào lại lang thang ngoài đường vào một giờ ngặt nghèo như thế. Tình cờ thay, có một ngọn đèn đường nằm ngay sát ngôi nhà đang nhắc đến, và tôi thấy một người đàn ông đang đứng trên bậc thềm. Anh ta vừa đóng cửa lại và mặt hướng về phía tôi, và tôi nhận ra ngay Crashaw. Tôi chưa từng nói chuyện với anh ta lần nào, nhưng tôi vẫn thường bắt gặp anh ta, và tôi quả quyết rằng mình không hề nhìn nhầm người. Tôi nhìn xoáy vào mặt anh ta trong khoảnh khắc, rồi — tôi xin thú nhận sự thật — tôi cắm cổ chạy thục mạng và cứ thế chạy một mạch cho đến khi về tới tận cửa nhà mình."

"Tại sao chứ?"

"Tại sao ư? Bởi vì máu trong người tôi như đông đặc lại khi nhìn thấy gương mặt gã đàn ông đó. Tôi chưa bao giờ dám nghĩ một sự pha trộn ma quỷ của muôn vàn dục vọng lại có thể bừng lên đáng sợ trong đôi mắt của bất kỳ sinh linh nào; suýt chút nữa tôi đã ngất đi khi nhìn vào đó. Tôi biết mình đã nhìn vào đôi mắt của một linh hồn sa đọa, Austin ạ, lớp vỏ bên ngoài của kẻ đó vẫn còn nguyên vẹn, nhưng toàn bộ địa ngục đã nằm gọn bên trong. Dục vọng cuồng nộ, lòng căm thù tựa ngọn lửa thiêu đốt, sự mất sạch mọi hy vọng và nỗi kinh hoàng tựa hồ đang thét gào xé rách màn đêm dẫu hàm răng anh ta nghiến chặt; cùng với màu đen kịt tuyệt vọng tột cùng. Tôi chắc chắn rằng anh ta không nhìn thấy tôi; anh ta chẳng thấy thứ gì mà anh hay tôi có thể thấy được, nhưng thứ mà anh ta trông thấy thì tôi cầu mong chúng ta sẽ chẳng bao giờ phải thấy. Tôi không rõ anh ta qua đời lúc nào; đoán chừng là một tiếng, hoặc có lẽ hai tiếng sau, nhưng vào khoảnh khắc tôi bước qua phố Ashley và nghe tiếng cửa đóng lại ấy, con người đó đã không còn thuộc về thế giới này nữa; đó là gương mặt của một con quỷ dữ mà tôi vừa đặt mắt nhìn vào."

Căn phòng chìm vào một khoảng lặng khi Villiers dứt lời. Ánh sáng đang dần tắt lụi, và toàn bộ sự huyên náo của một tiếng đồng hồ trước đã hoàn toàn im bặt. Austin đã cúi gằm đầu khi câu chuyện kết thúc, bàn tay che kín đôi mắt.

"Ý nghĩa của chuyện này là sao chứ?" cuối cùng anh cất lời.

"Ai mà biết được, Austin, ai mà biết được cơ chứ? Quả là một câu chuyện đen tối, nhưng tôi nghĩ tốt hơn hết chúng ta nên giữ lấy cho riêng mình, ít nhất là vào lúc này. Để tôi xem bản thân có thể dò la được chút gì về ngôi nhà đó thông qua các mối quan hệ thông tin kín đáo hay không, và nếu phát hiện ra điều gì, tôi sẽ báo cho anh."

Nguồn: Việt Nam Thư Quán dịch từ Project Gutenberg
Được bạn: Mọt Sách đưa lên
vào ngày: 22 tháng 10 năm 2026

« Lùi Tiến »

💬 Thảo luận

Chưa có bình luận nào — hãy là người đầu tiên chia sẻ cảm nhận của bạn!

Đăng nhập để tham gia bình luận.