Dịch giả: Hoàng Phương

Phải Sống

Lượt đọc: 352 | 0 Đánh giá: 0/10 Sao
★★★★★★★★★★
★★★★★★★★★★
« Lùi Tiến »
Chương 7
TÌM TRĂNG NƠI ĐÁY NƯỚC – 1968

❊ ❊ ❊

Dì Thu gặp không ít rắc rối khi lo thủ tục giấy tờ nhận nuôi chúng tôi. Dì đã nhận được giấy khai sinh mới cho Thủy và tôi với những cái tên thành thị. Nhân viên hành chánh tại tòa Đô chánh Sài Gòn chuyên đảm nhiệm những việc này nghĩ rằng mọi việc có thể kết thúc tại đây. Chú ta giới thiệu dì với viên thư ký, người này tỏ ra cảm thông hơn, đặc biệt khi chú ta biết được dì Thu, giống như bà ngoại tôi, không biết chữ. Dì không có chút ý niệm gì về những thủ tục quan liêu rắc rối này.

“Hay chị nhận mình là mẹ ruột của đám trẻ chị nhận nuôi?” chú đề nghị, “Ba đứa lớn không còn cha mẹ, còn đứa nhỏ là con chị. Chị cứ chọn đại ngày sinh nào đó hợp với tuổi của chúng, thế là xong.”

Đây là một lời đề nghị có lý. Rồi nhiều giấy tờ được đưa ra, được điền vào và ký tên – và chuyện này lại sinh thêm một lần thay tên đổi họ nữa, lần thứ ba trong cuộc đời non trẻ của tôi. Vì tôi biết đọc còn dì Thu thì không nên tôi xem xét các giấy tờ khai sinh khi dì mang đến Quy Nhơn. Những giấy tờ này chứng nhận ba mẹ của tôi giờ là ông Alvin Ambrose Strauss và bà Đỗ Thị Hiền Huệ, theo đúng kế hoạch. Tên của tôi trở thành “Thị Bích Vân Strauss,” nghe giống một nhà soạn nhạc châu Âu, nhưng ít nhất tôi vẫn giữ lại phần lớn cái tên thành thị của mình. Em Hoàng trở thành “Văn Hoàng Strauss,” vì thế mọi người trong gia đình vẫn nhận ra nhau. Dượng Al vẫn tiếp tục gọi chúng tôi là Sissy và Bubba. Vì lý do nào đó, dù dì Thu đã chính thức là mẹ của chúng tôi, tên của dượng Al không xuất hiện trong giấy khai sinh của em Thủy và anh Quang. Đừng hỏi tôi vì sao lại thế.

* * *

Quy Nhơn là một miền quê đẹp đẽ nằm bên rìa căn cứ không quân lớn của Mỹ, nơi dượng Al làm việc. Chúng tôi sống trong căn hộ nhỏ sát vách một gia đình người Việt giàu có. Dù nhà nhỏ nhưng mỗi người vẫn có nhiều không gian hơn so với Nhà Gạch, bày trí theo phong cách phương Tây, có điện nước trong nhà, đồ đạc chắc chắn và một căn bếp tươm tất. Dì Thu không để phí giây nào và giao ngay nhiệm vụ cho tôi là chăm lo cho em Hoàng. Điều đó có nghĩa là tôi không được đến trường, và chuyện này vừa đáng buồn vừa đáng ngạc nhiên. Tôi vẫn nghĩ vì bà và dì đã gặp nhiều rắc rối khi không biết chữ, hẳn dì sẽ muốn thế hệ “chị em phụ nữ” tiếp theo sẽ khác đi, nhưng đó không phải là cách dì nghĩ. Giờ dì đã có chồng – một ông chồng Mỹ giàu có (chúng tôi nghĩ tất cả người Mỹ đều giàu) – nên dì quay về với truyền thống. Cách truyền thống gồm cả việc làm mẹ hiền và đây là lý do dì đưa ra để nghỉ việc. Nhưng thời gian sớm chứng minh rằng cái phần làm mẹ hiền sớm bị gạch bỏ khỏi kịch bản. Thực tế là, ngoài việc nhớ trường lớp, tôi không quản ngại những việc dì giao. Tôi đã coi Hoàng như em trai của mình và nếu tôi là người chăm sóc chính cho em, ít nhất tôi đã biết phải làm gì.

Bình thường, Bubba là cậu bé bụ bẫm và dễ tính, nhưng em cũng có những cái tật khiến người khác khó chịu. Điều tôi nhớ rõ nhất và thấy khó chịu nhất về Bubba là em có thói quen đi bô đúng vào giờ cơm, mà em lại không chịu rời chỗ ăn để vào nhà xí. Em đòi phải ngồi tại đó, bên cạnh bàn ăn, cho đến khi đi bô xong.

Dù việc này nghe gớm chết được nhưng dì Thu và dượng Al lại chịu, thậm chí còn cho là dễ thương. Sau khi Bubba hoàn tất nghi thức đi bô giữa bữa ăn, việc dọn dẹp sẽ là của tôi. Thật kỳ lạ là người ta lại có thể quen với việc này. Vì dì Thu và dượng Al rất tốt và đối đãi với tôi không tệ, tôi cũng chẳng phàn nàn gì. Nhiệm vụ của tôi khá nhẹ nhàng. Tôi có thêm ít quần áo để mặc. Tôi không bị đói, không ai bắn tôi, nhưng tôi rất đơn độc. Tuy nhiên, tôi biết rằng mình may mắn hơn rất nhiều so với những đứa trẻ mồ côi khác ở Việt Nam lúc bấy giờ.

Trong vài tháng tới, chúng tôi tiếp đón rất nhiều dạng khách khứa từ căn cứ, và tôi được biết thêm về dượng Al. Dượng là kỹ sư vùng và là giám sát bảo trì cho quân đội Việt và quân đội Mỹ ở địa phương, một công việc quan trọng và lương cao đòi hỏi dượng phải di chuyển nhiều. Dượng luôn có xe hơi và trực thăng khi cần đến, và một lần, dượng còn cho chúng tôi leo lên một chiếc Chinook (chiếc trực thăng lớn của quân đội Mỹ có hai động cơ). Chuyến đi cho tôi cái nhìn đầu tiên về quê hương của mình từ trên cao, một cảnh tượng tôi không thể tin được! Tôi còn biết rằng dượng già hơn dì tôi rất rất nhiều – hơn 20 tuổi. Dượng có con riêng – đã trưởng thành từ cuộc hôn nhân trước ở Mỹ, trong đó có một người con trai tên Eddie trạc tuổi dì Thu. Tôi biết tất cả những điều này khi vợ của Eddie gửi cho chúng tôi một thùng chất đầy đồ của Mỹ, gồm quần áo mới cho hai đứa chúng tôi. Khi cái thùng được giao tới, tôi là người duy nhất trong nhà đọc được thư.

Dù tôi rất nhớ gia đình tôi ở Nhà Gạch, tôi kết bạn với con gái chủ nhà, một cô gái xinh xắn lớn hơn tôi vài tuổi. Chúng tôi thường đi chợ cùng nhau, cố gắng phớt lờ đám con trai (khi họ nhìn chúng tôi) và cùng làm nhiều chuyện của con gái như chải đầu cho nhau, mua bán quần áo. Đặc biệt hơn cả, bạn mới của tôi là một học sinh rất thích đi học và thường chia sẻ niềm đam mê đọc sách với tôi.

Một trong những tình yêu lớn nhất của chị là nhà thơ nổi tiểng Hàn Mặc Tử, anh qua đời vì bệnh phong khi chưa tới 30 tuổi. Tác phẩm của anh xuất hiện trong làng thơ Việt suốt những năm 1920 – 1930 với giọng thơ của một chàng trai thất tình mắc phải căn bệnh không có thuốc chữa. Chúng tôi đã từng đến thăm mộ của anh ở gần đó. Cuộc đời ngắn ngủi của anh, cũng như tôi, điểm xuyết nhiều mất mát. Anh yêu một cô gái, nhưng lại không thể sống để cưới cô. Anh hy vọng được gặp lại cô trong một kiếp khác, và rất nhiều bài thơ của anh phản ánh điều này – số phận và hy vọng chất chứa nhiều khao khát không thể thỏa mãn. Tôi mê mẩn những tác phẩm của anh, mê vẻ đẹp trong từng lời thơ. Thơ của anh đã nói lên sự đau khổ, nỗi buồn và mất mát của tôi. Những khổ thơ chảy tràn ra như nước tưới trên bông hoa khô héo. Tôi và chị thường đọc lớn thơ của anh, lời thơ mang nhiều ý nghĩa hơn những bài hát chúng tôi nghe trên đài.

Một trong những đoạn thơ tôi thích nhất là:

Ai mua trăng tôi bán trăng cho

Trăng nằm im trên cành liễu đợi chờ

Ai mua trăng tôi bán trăng cho

Chẳng bán tình duyên ước hẹn hò

Những lời thơ này cũng như những dòng thơ khác nói lên những đau khổ trong cuộc đời tôi, sự đơn độc tôi cảm thấy dù đang trong một gia đình lớn, một thành phố lớn, nơi mọi người đang lo về mọi thứ trừ tôi ra. Những điều quan trọng nhất của tôi đều đã sớm mất đi trước khi tôi biết đến.

Giữa mùa hè năm 1968, dượng Al đã thu xếp mọi việc ổn thỏa và sau nhiều bàn tính, chuẩn bị dời gia đình đến Philippines. Điểm đến của chúng tôi là San Pedro Cutud, một ngôi làng nhỏ có một nhà thờ Công giáo cũ. Nhà thờ này và buổi biểu diễn hằng năm tái hiện lại những vở Khổ Hình của Chúa[3] là điểm duy nhất thu hút du khách du lịch địa phương. Ngôi làng này gần một thị trấn lớn hơn, San Fernando, cách thủ đô Manila khoảng 100 cây số về phía tây bắc, và thị trấn này nằm kế căn cứ không quân Clark, một trong những trạm quân sự lớn nhất của Mỹ ở khu vực Thái Bình Dương. Tôi biết dượng Al mong muốn tìm một nơi an toàn hơn để ở, nhưng tôi lại không hiểu sao dượng lại cố tránh vỏ dưa để chọn phải vỏ dừa, trong khi tất cả bạn bè, họ hàng của dì Thu đang ở Việt Nam, còn dượng có một công việc tốt lương cao để đảm bảo tương lai trước mắt. Nhưng “người cha trên danh nghĩa” của tôi lại đang đuổi theo giấc mơ ấp ủ từ lâu. Nhiều thập kỷ trước, lúc còn phục vụ cho Hải quân Mỹ, dượng Al từng là đầu bếp trên tàu và đang tiến lên vị trí bếp trưởng. Dượng nấu ăn ngon, biết quản lý nhân viên và biết cách giao tiếp thân tình với người lạ – một kỹ năng quan trọng cho bất cứ ai trong ngành quản lý nhà hàng khách sạn. Dượng đang có kế hoạch mở một nhà hàng hạng sang và kiếm nhiều tiền.

Và thế là chúng tôi lên đường – ông bà Strauss cùng hai đứa con của họ, Sissy và Bubba.

Dù đây là lần đầu tiên tôi rời khỏi Việt Nam, nhưng Philippines không làm tôi mấy ngạc nhiên. Người ở đây vẫn trông giống như người châu Á, đủ để tôi cảm thấy như đang ở nhà (dù không tài nào hiểu nổi ngôn ngữ của họ), địa hình đồi núi và nhiều cây xanh, khá giống Việt Nam. Thành phố và làng mạc tập trung quanh khu vực hạ lưu dẫn đến những đồng bằng không khác gì những cánh đồng ở miền Nam. Điều thực sự làm tôi ngạc nhiên (ngoài sự sạch sẽ của các thành phố, ít nhất là so với Sài Gòn) là sự xa hoa của ngôi nhà mà dượng Al đã thuê. Trong khuôn viên hàng ngàn mét vuông, ngôi nhà là phiên bản Tây Ban Nha khi so với đồn điền kiểu Pháp ở Bình Dương, với ban công lớn, hàng hiên rộng, những căn phòng với nội thất trang nhã để ngủ, ăn uống và giải trí, và căn bếp xứng tầm với một khách sạn lớn. Khi chúng tôi còn chưa dọn đồ ra thì dì Thu giới thiệu một người quản gia và một người giúp việc toàn thời gian, sống ngay trong nhà. Rõ ràng là dượng thấy việc không để dì Thu động tay động chân vào bất cứ chuyện gì là quan trọng. Cứ như thể chúng tôi đổi chỗ với chủ đồn điền người Pháp và người vợ xinh đẹp của ông ta, còn những người Philippines nghèo khổ này là Chiêu và Quế của riêng chúng tôi. Thật không thể tin được! Từ lúc này, mọi việc trở nên tốt đẹp hơn bao giờ hết.

Trong khi dì Thu không mấy quan tâm đến việc học của tôi, dượng Al lại muốn cho tôi đi học, còn tôi thấy chuyện này tốt thôi. Chủ yếu, dượng muốn tôi học tiếng Anh vì tiếng Việt của dượng gần như không tồn tại, thậm chí vợ dượng cũng phải giao tiếp với dượng bằng mấy câu tiếng bồi đơn giản và rất nhiều chỉ trỏ, quơ quào. Dượng tập trung hầu hết thời gian cho việc kinh doanh mới với một nhà hàng đẹp nhưng không có lời mà dượng mua lại có lẽ vì được giá. Dượng đổi tên nó thành “Albert’s” và tút tát lại theo phong cách Tây phương, phục vụ ẩm thực Mỹ, Trung Hoa và Philippines – dựa theo quốc tịch của các nhân viên và khẩu vị của các khách hàng mà dượng muốn thu hút từ tận thủ đô Manila.

Vào ngày đầu tiên đến trường, dì Thu – theo giấy tờ thì giờ là “mẹ” tôi – dúi một tờ một đô vào túi áo tôi.

“Dì không biết một đô thì đổi được bao nhiêu tiền Philippines,” dì nói, “nhưng chắc cũng đủ để cháu ăn trưa và quà vặt.”

Hóa ra, đồng đô-la Mỹ của tôi không chỉ đủ, mà còn làm tôi trở nên cực kỳ nổi tiếng trong số các học sinh và giáo viên, và họ rất sẵn lòng đổi tiền cho tôi. Tôi mang mấy đồng pesos chưa dùng đến về cho dì Thu, và dì rất vui vì cái khiếu kinh doanh từ hồi còn ở Việt Nam của tôi vẫn còn. Tôi tiếp tục làm dì hài lòng với đống đồng pesos ngày càng nhiều, cho đến khi dì đi chợ và biết được tỉ giá đổi tiền. Dù vậy, cứ mỗi sáng, dì cho tôi một đồng đô-la, và mỗi ngày, tôi lại có thêm những người bạn mới, mua kẹo, kem từ hàng quán ở sân trường, rồi chỉ lên đồi về phía ngôi nhà mới to lớn của mình, hứa hẹn rằng ngày nào đó tôi sẽ mời tất cả họ đến dùng bữa và được người hầu riêng phục vụ tận răng. Thật tình thì tôi không hiểu vì sao “người Bắc” ở đất nước tôi lại ghét giới tư bản như vậy. Tiền không làm cho cuộc sống hoàn hảo nhưng nó chắn chắn làm những chuyện không tốt có phần bớt xấu hơn.

Rời sân chơi, mọi chuyện không được suôn sẻ cho lắm. Môn tiếng Anh chưa bao giờ dễ dàng mà quy tắc nào cũng có ngoại lệ. Tiếng Tagalog của người Philippines cũng chẳng dễ hơn, nhưng ít nhất tôi có thể thực hành với đầu bếp và nhân viên phục vụ ở nhà hàng. Dì Thu và Bubba, lúc này đã gần ba tuổi, lúc nào cũng ở đó. Tôi âm thầm ghen tị với họ. Việt Nam là một từ xấu xa đối với rất nhiều người ngoài đất nước của tôi, và không có ai – thầy cô, bạn học, giới chính quyền, hoặc những người xung quanh – thể hiện nỗ lực nhỏ nào để giúp tôi hoặc cảm thông cho những vấn đề của một kẻ nhập cư như tôi. Có vẻ như chỉ trong một đêm, tôi đã biến từ cô học trò giỏi giang ở trường dòng thành “con bé ngoại quốc” không biết bất cứ thứ gì từ máy nướng bánh mì đến bánh tortilla[4]. Nhờ có mấy đồng đô-la được dì phát đều đặn, tôi mới không trở thành một kẻ lạc loài. Giờ thì tôi có thể thấy được vì sao bà và dì Thu lại trọng một tấm chồng tốt hơn thú vui sách vở. Ngôn từ và hình ảnh có ý nghĩa gì khi bị phủ trùm trong lịch sử và văn hóa của người khác? Những gì tôi muốn bây giờ là được chơi mỗi ngày vài tiếng với Bubba, đưa thực đơn và mỉm cười lịch sự với khách hàng trong chiếc áo dài kiểu con gái thành thị.

Sau một tháng học ở trường, tôi bỏ học. Lạ là dượng chẳng quan tâm lắm đến chuyện này, miễn là tôi tiếp tục học tiếng Anh từ người giúp việc trong nhà, người trong làng và người ở nhà hàng. Như ở trường, tôi đều phải học mỗi ngày và phải rèn luyện khả năng kinh doanh của mình nữa.

Dượng bắt đầu kết nạp tôi vào đội ngũ ở nhà hàng. Tôi không tiếp khách, cũng không phục vụ bàn, mà phải đóng dấu tên của nhà hàng lên đầu thẻ gọi món được in sẵn, chất đồ lên kệ bếp và dưới quầy tính tiền. Nhà hàng có thể chứa khoảng 40 khách với 10 cái bàn phủ khăn trắng. Tôi thật sự thích ánh sáng rọi vào từ những ô cửa kính trang trí mặt trước nhà hàng. Những lúc vắng khách tôi thường đứng nghe cô phục vụ người Trung Quốc phàn nàn về cách bố trí rất không hợp phong thủy của nhà hàng nhưng tôi lại thấy lối đi thẳng tắp từ cửa sau ra cửa trước thuận tiện cho việc đưa đồ ăn từ nhà bếp lên đến tận cái bàn xa nhất ở cửa trước. Trong góc khuất là một nhà vệ sinh kiểu châu Âu ở một bên và phòng nghỉ cho nhân viên ở bên còn lại. Có hẳn một gian nhà bên ngoài để rửa chén dĩa, xoong nồi, còn việc giặt giũ sẽ được thực hiện ở sân sau gần cái tủ lạnh lớn, sau đó là cái chuồng nhốt gà vịt. Đối với tôi, nhìn chung, đây là một nơi đẹp. Và không lâu sau, dân địa phương và người ở những nơi khác cũng có cùng quan điểm với tôi, bao gồm người ở căn cứ không quân Clark, họ bắt đầu lũ lượt kéo đến để thưởng thức đồ ăn ngon, thêm nữa, họ thích ý tưởng một người Mỹ vừa điều hành chuyện kinh doanh vừa đứng đón tiếp khách.

Đứng đầu các nhân viên đa quốc tịch của dượng Al là một đầu bếp người Philippines, ông điều hành căn bếp với chỉ một phụ tá. Dì Thu, tuy không xa lạ gì chuyện phải nấu cho nhiều người cùng một lúc, cũng phải thán phục tài của ông ấy khi ông có thể nấu ra những món ăn ngon cực kỳ dù cho nhà hàng đông như thế nào đi nữa. Trong những lúc cao điểm, dượng Al thường xung phong giúp một tay nhưng người đầu bếp thường đuổi dượng ra, tuyên bố rõ là chủ phải trả lương còn đầu bếp phải nấu ăn, chấm hết. Người quản gia kiêm tài xế khoảng hai mươi mấy tuổi cũng tham gia vào, chuẩn bị thức ăn và cho thức ăn vào đĩa nhưng không bao giờ nấu. Tôi được phép đứng xem khi làm xong nhiệm vụ của mình, và người đầu bếp có vẻ yêu quý tôi. Ông vừa nấu, vừa giải thích cho tôi biết cách nấu, và khi nhân viên ăn bữa ăn trong ca làm, ông thường nấu một món truyền thống Philippines gọi là pancit cho tôi (gồm thịt, rau và mì xào).

Khi đứng trong một “căn bếp gia đình,” tôi lại nhớ bà, anh Quang, và em Thủy hơn nữa. Dù xung quanh tôi ngập tràn những thứ mới mẻ, những gương mặt mới, nhưng họ luôn xuất hiện trong tâm trí tôi.

Một trong những gương mặt mới là em gái hàng xóm tên Alice, tên gọi ngắn của Alicia. Em nhỏ hơn tôi một hai tuổi gì đó, mắt xanh với suối tóc vàng gần như màu bạch kim. Em thân thiện và tò mò, và em đã bắt chuyện với tôi trước, khi em đứng bên ngoài cổng căn biệt thự của chúng tôi, nơi em đã chờ đợi, có lẽ rất mỏi mòn để có bạn cùng chơi, giống như mấy đứa trẻ khác trong cộng đồng nhập cư gần như bị cô lập này. Tôi đang trông coi Bubba thì em mời chúng tôi đến nhà, và anh của Alice hình như cũng rất thèm có bạn để trò chuyện. Chúng tôi xin phép dì Thu sang nhà bạn hàng xóm chơi, và từ đó, chúng tôi bắt đầu một thói quen kéo dài suốt thời gian sống ở Philippines – Allice gọi chúng tôi ở cổng và chúng tôi ở lại nhà em cả ngày, căn nhà em ít nhất cũng to như nhà chúng tôi vậy. Đây cũng là cơ hội tuyệt vời để tôi thực hành “thứ tiếng Anh bếp núc” của mình, còn Alice (và mẹ em) trở thành những người nghe và những giáo viên rất kiên nhẫn.

Chuyến viếng thăm đầu tiên của chúng tôi bắt đầu bằng việc giới thiệu với mẹ em – một quý cô người Mỹ hiện đại, kiểu người tôi chưa từng gặp lại sau những buổi chúng tôi tiếp đãi đồng nghiệp của dượng Al ở Quy Nhơn. Cô cho chúng tôi uống sữa và ăn bánh quy, rồi Alice lôi chúng tôi lên lầu để khoe phòng ngủ của mình, phòng của anh trai, và “phòng đồ chơi” – một phòng dành hẳn để chứa đồ chơi. Thật ra, tôi thường nhìn thấy những căn phòng lộn xộn hồi còn ở Việt Nam – hầu hết là những căn nhà lá hoặc những ngôi nhà xi măng, nơi có những người nhặt nhôm nhựa nhồi nhét những đồ rác rưởi mà họ nhặt được từ bãi rác này đến thùng rác khác để bán lại hay để đổi chác – nhưng tôi chưa bao giờ thấy một căn phòng nào chứa đầy đồ chơi, và đầy ắp đến nỗi Alice phải gạt đồ sang một bên để có lối cho tôi bước đến những thứ hấp dẫn nhất: một con ngựa gỗ bập bênh, một căn nhà búp bê lớn rộng đến nỗi tôi có thể ngủ trong đó, và một cái hộp gỗ đổ tràn ra nhiều thứ khác như chiếc rương cất kho báu của cướp biển.

Nhưng đồ chơi tuyệt vời nhất (tôi hẳn đã không gọi như thế nếu Alice không cho là thế) là một cái máy may với đầy đủ chức năng mà thậm chí bà ngoại cũng mong ước có được. Cái máy may này màu hồng và vàng với hộp chỉ bằng nhựa và chỉ đủ lớn để may quần áo búp bê – Alice có hẳn một tủ đầy đồ em đã may và em lôi ra cho tôi xem. Em hỏi tôi có muốn may gì đó với cái máy may tuyệt vời của mình không, tôi trả lời “Có, có, có chứ!” và đó là cách chúng tôi chơi hàng giờ trong những lần tôi đến. Cũng may cho Bubba là anh trai của Alice cũng có rất nhiều đồ chơi, và nếu mẹ của Alice không đếm đầu người trước khi chúng tôi về nhà thì Bubba đã lạc trong đám gạch xếp hình và thú nhồi bông.

Một khuôn mặt mới nữa là một sĩ quan Không quân Mỹ sống với chúng tôi một thời gian. Chú là khách hàng thường xuyên của nhà hàng, và tôi nghĩ dượng quen chú hồi còn ở Việt Nam. Tên chú là Ben, và khi chú dọn đến ở trong căn phòng dành cho khách, chú mang theo một bức chân dung khổng lồ hình một người phụ nữ Việt Nam rất đẹp, tóc dài, mặc áo dài màu xanh dương. Đây hẳn là người đã từng rất gần gũi với chú Ben. Thỉnh thoảng, chú nói chuyện với bức hình – trình độ tiếng Việt của chú rất dở còn khả năng tiếng Anh của tôi thì có hạn nên tôi không hiểu được ý nghĩa của những màn độc thoại đó. Có lẽ chỉ vài tuần sau khi chú chuyển đến đây, chú có kể với tôi rằng cô là người phụ nữ mà ngày nào đó, khi trở lại Việt Nam, chú sẽ cưới làm vợ. Ít nhất là theo quan điểm của tôi, chú Ben giữ danh tiếng của những người lính Mỹ sạch sẽ, bằng cách luôn đối xử tốt với tôi và luôn là vị khách ý tứ, biết quan tâm.

Nói tóm lại, tất cả chúng tôi đều yên ổn trong cuộc sống mới, có lẽ ngoại trừ Bubba, như những đứa nhỏ khác, cần nhiều thời gian hơn để thích nghi và thi thoảng để lại dấu vết của sự không thoải mái này. Từ khi đến ở biệt thự, chúng tôi ngủ cùng nhau trên cùng một giường, dù rằng trong nhà có giường đôi và, có Chúa chứng giám, vẫn còn nhiều phòng để chúng tôi ngủ riêng. Nhưng tôi là gương mặt thân quen nhất của em và từ khi nghỉ học, tôi tiếp tục công việc bảo mẫu của mình. Thường thì em là một đứa trẻ vui vẻ nhưng lại dễ bất an khi bị bỏ lại một mình, vì vậy nên chúng tôi càng gần gũi nhau và tôi gợi cho em nhớ về Việt Nam thì em càng thích.

Một lần nọ, chẳng bao lâu sau khi chúng tôi dọn đến, tôi bị đánh thức lúc nửa đêm bởi cảm giác ẩm ướt ấm nóng dưới lưng. Thường thì Bubba không phải là một đứa đái dầm, nhưng có thể những sự thay đổi làm em như vậy. Tôi rất bực nhưng đó không phải là lần đầu tiên hay là lần cuối cùng tôi thức dậy lúc nửa đêm để đóng vai một người mẹ. Tôi lau người cho hai chúng tôi, thay quần áo và đặt Bubba nằm trên cái giường còn lại. Em ngủ say như chết khi vừa đặt lưng lên tấm nệm sạch. May cho em! Tôi đã thay tấm trải giường dơ nhưng nệm vẫn còn ướt nên tôi leo qua giường em để ngủ tiếp. Sáng hôm sau, khi tôi kể cho dì Thu nghe, dì giận dữ cáo buộc là tôi đã đái dầm trên giường (chúng tôi đã ngủ trên giường của tôi) lại còn đổ lỗi cho “hoàng tử” bé bỏng của dì. Khi dì quay qua Bubba hỏi ai đã đái dầm, em phụng phịu và chỉ tôi. Dì Thu giơ hai tay lên và tát tôi một cái đau điếng vào đầu. Khi dì kéo tấm nệm ướt ra khỏi giường tôi, Bubba khúc khích che miệng cười, rồi chạy mất. Tôi biết đây là trận chiến dù đấu kiểu nào tôi cũng thua nên tôi im lặng và giúp dì Thu kéo tấm nệm xuống nhà cho người giúp việc giặt. Sau việc này, tôi luôn đặt em nằm trên giường của em, dù vậy nhiều đêm, em chờ cho tôi ngủ rồi qua nằm cạnh tôi, kiểu của gia đình Việt Nam. Sẽ có nhiều tập đái dầm nữa tiếp diễn nhưng những lần sau chúng tôi tự mình xử lí mà không nói với dì Thu.

* * *

Tháng 12 năm 1968, khi tôi khoảng tám tuổi, Bubba và tôi trải qua “Giáng Sinh Mỹ” đầu tiên – và đó là một trải nghiệm đẹp đẽ.

Dượng Al đã thuê thợ mộc làm một cái thiệp Giáng Sinh khổng lồ (ít nhất ngang một mét rưỡi, dài một mét), thuê họa sĩ vẽ Bubba và tôi đang đứng kế bên cây thông ở bên trong. Rồi dượng treo tấm thiệp lên mái nhà hàng và chiếu đèn pha vào. Cùng với tấm thiệp là một cây thông thật trưng bên trong nhà hàng, được trang trí và giăng đèn theo kiểu truyền thống, tạo thành khung cảnh lễ hội tưng bừng rất đáng nhớ. Dưới gốc cây, dượng đặt những gói quà cho mỗi nhân viên – mỗi món quà có một tấm thiệp cùng tiền thưởng bên trong và một hộp sô-cô-la để họ cùng ăn với gia đình. Hẳn là trong số nhân viên cũng có một vài người theo đạo Phật nhưng tất cả mọi người đều rất vui vẻ với món quà này.

Ở nhà, chúng tôi trang trí một cây thông khác, lớn hơn cây ở nhà hàng, và cùng mở quà trong buổi sáng ngày Giáng Sinh. Bubba nhận được cái máy cày đồ chơi rất lớn giống chiếc mà em đã chơi muốn mòn ở nhà Alice. Tôi nhận được bộ đồ nấu ăn nhỏ – nồi, chảo nấu nướng cỡ trẻ em và các đồ dùng theo phong cách phương Tây mà tôi ao ước có được từ khi sống tại Nhà Gạch. Tôi không nhớ dượng Al tặng gì cho dì Thu nhưng từ những lời xuýt xoa trầm trồ của dì, tôi đoán chắc là quần áo đẹp hoặc trang sức đắt tiền. Dượng Al là một ông già Noel hào phóng, và rõ ràng là dượng muốn Giáng Sinh kiểu Mỹ đầu tiên của chúng tôi thật đáng nhớ.

Khi kỳ lễ kết thúc, dượng dời tấm thiệp về sân sau nhà chúng tôi và để nó ở đó như vật trang trí bãi cỏ. Khi ăn sáng, chúng tôi thường ngắm nhìn nó từ cửa sổ và chơi chung quanh nó hầu như cả buổi chiều cho đến khi mưa nắng làm tróc lớp sơn vẽ khuôn mặt của chúng tôi và làm mấy miếng gỗ sút ra. Dù không còn dùng nữa nhưng tôi nghĩ tấm thiệp đó là một điều tuyệt vời.

Tất nhiên, không có gì kéo dài mãi mãi, và hạnh phúc có thể biến thành nỗi khổ đau chỉ trong một chớp mắt.

* * *

Vào mùa hè năm 1969, nhà hàng của dượng Al trở thành tâm điểm của khu vực San Fernando. Những yếu nhân từ những huyện lị gần đó thường xuyên đến nhà hàng Albert’s để dùng bữa với khách khứa, bạn bè và thuộc cấp. Thị trưởng của San Pedro coi đó là chốn quen thuộc để qua lại, làm ăn, hứa hẹn, hay làm bất cứ những điều mà các chính khách hay làm. Dượng Al không hẳn là bạn bè của ông ta, cũng không phải là người quan tâm đến chính trị, nhưng ngài thị trưởng thường đến cùng đoàn tùy tùng, và những người thường lại hay theo sau chỉ để xem người nổi tiếng.

Một buổi tối, khi dì Thu đang dò sổ đặt chỗ, còn Bubba và tôi thì lẩn quẩn ở sau quầy (Bubba nằm trên sàn để chơi còn tôi đóng dấu), ông thị trưởng và bạn bè của ông đi vào và ngồi vào mấy cái bàn. Họ ngồi ở những vị trí quen thuộc bên phải lối vào trước mấy cửa sổ bằng kính để những người bầu cho họ có thể vẫy tay chào khi đi qua. Nhanh như chớp, một chiếc xe hơi dừng lại, đậu trái phép trước nhà hàng, mấy gã đàn ông mà chúng tôi chưa thấy bao giờ nhảy ra, mặt mũi đằng đằng sát khí. Chúng xông vào trong, lôi ra những khẩu tiểu liên, không nói không rằng xả súng vào ông thị trưởng và bạn bè của ông. Dượng Al, đang đứng gần khu phục vụ liền nhảy qua quầy, kéo dì Thu và hai đứa tôi nằm sát nền, dùng thân mình che chắn cho chúng tôi. Những tràn súng nổ ra đinh tai nhức óc. Nằm bên dưới người dượng, mùi mồ hôi của dượng cùng nỗi sợ hãi của chúng tôi làm tôi nhớ đến chuyện ở Hồng Ngự, nhưng tôi vẫn bình tĩnh và mở to mắt. Cũng nhanh như lúc bắt đầu, trận xả súng kết thúc, đám người đó chạy ra ngoài, leo lên xe, phóng đi khỏi.

Im lặng, rồi có tiếng rên rỉ và tiếng kính vỡ. Bàn ghế bắt đầu dịch chuyển khi những người còn sống lồm ngồm bò dậy từ chỗ nấp.

Tôi lén nhìn qua mặt quầy, qua màn khói tím của thuốc súng để nhìn máu bắn tung tóe, lỗ đạn và cảnh tàn sát quá đỗi quen thuộc. Tôi cảm thấy như thể mình đang bò ra khỏi căn hầm ở Hồng Ngự một lần nữa, hay đứng trước cửa Nhà Gạch buổi sáng ngày Tết Mậu Thân. Mọi thứ đều hỗn độn. Người bị thương đang than khóc, còn người chết đang làm những gì người chết luôn làm… nằm im trên vũng máu của mình. Một con sóng dữ nữa.

Dượng Al lập tức tập trung nhân viên lại, kiểm tra thiệt hại rồi cố gắng giúp đỡ những khách bị thương trong khi một người hầu bàn gọi cảnh sát. Ông thị trưởng và bạn bè đều chết cả, họ nằm vất vưởng trên ghế hoặc nằm một đống trên bàn; vài người sụp xuống một cách kỳ cục trên nền khi dượng Al cố giúp họ, mớ hỗn độn thịt và da người như những người lính ở Hồng Ngự hoặc những nạn nhân trước cửa nhà chúng tôi vào Tết năm đó. Tôi đã hy vọng tôi sẽ không bao giờ nhìn thấy cảnh tượng này nữa – một đứa con nít chín tuổi với “ba ngôi sao chiến trận” xứng đáng được nghỉ ngơi – nhưng số phận lại có ý khác. Chuyện khủng khiếp nhất trong những chuyện khủng khiếp là khi bạn nhận ra điều đó thì nó đã trở nên quen thuộc, như một người bạn cũ.

Sau vài phút mà như hàng tiếng đồng hồ, xe cảnh sát bao vây nhà hàng, ánh đèn xanh nháy sáng, rồi những người mặc cảnh phục lũ lượt ập vào nhà hàng, lăm le súng ống trên tay. Khi chắc chắn trận chiến đã kết thúc, họ bắt đầu nhiệm vụ, nhưng không ai được phép rời khỏi cho đến khi thẩm vấn xong và chuyên gia chụp ảnh, chuyên viên kỹ thuật xong việc, rồi những cái xác được kéo đi. Dì Thu và hai đứa tôi về nhà lúc nửa đêm, còn dượng Al thì phải đến sáng mới về tới, sau khi lo toan mọi việc. Dượng phải đóng cửa nhà hàng ít nhất là cho đến khi cuộc điều tra kết thúc. Thám tử nói có thể mất cả tháng.

Suốt thời gian đó, dượng Al sửa chữa lại bên trong và lên kế hoạch cho ngày khai trương lại, nhưng chuyện này không thể xảy ra. Dì Thu dậm chân dậm cẳng, tuyên bố rằng dì không muốn tránh cuộc chiến này để rước vào cuộc chiến khác. Dì và dượng tranh cãi liệu việc kinh doanh có thể nào an toàn ở một đất nước thối nát như ở đây không. Đúng vậy, Việt Nam cũng tồi tệ, dì nói, nhưng ít nhất ở đó chúng tôi còn có sự hỗ trợ của một gia đình lớn, và có họ hàng làm việc trong sở cảnh sát cùng các lực lượng quân đội vũ trang. Như đám chuột nhắt trong rừng, chúng tôi biết cách tìm thấy những nơi nhỏ và đào sâu để trốn tránh kẻ thù rình rập.

Cuối cùng, dượng Al từ bỏ giấc mơ của mình, dượng thông báo với chủ biệt thự và rao bán Albert’s. Khi người mua còn nhìn tới ngó lui và đám môi giới còn kèo nài thì dượng Al đã nhận việc với công ty Pacific Architect and Engineering, một công ty Mỹ có trụ sở tại Los Angeles nhưng vận hành khắp thế giới. Không phải bởi tình cờ mà theo nguyện vọng của dượng Al và đòi hỏi của dì Thu, công việc đầu tiên của dượng là giám sát kỹ thuật ở Nha Trang, một làng ven biển ở Việt Nam. Tôi không buồn khi phải rời Philippines. Tôi biết tôi sẽ nhớ Alice và căn nhà đẹp của mình, nhưng dù có chiến tranh hay điều gì khác, Việt Nam vẫn là cuộc sống của tôi. Ít nhất là ở đó, tôi được sống với bà ngoại, anh trai và em gái tôi.

Phương Nam phát hành - NXB Phụ Nữ 7/2017
Nguồn: Việt Nam Thư Quan
Được bạn: Ct.Ly đưa lên
vào ngày: 17 tháng 8 năm 2026

« Lùi Tiến »

💬 Thảo luận

Chưa có bình luận nào — hãy là người đầu tiên chia sẻ cảm nhận của bạn!

Đăng nhập để tham gia bình luận.