Những tuần tiếp theo, dì Thu và tôi không nói với nhau lời nào. Dượng cũng không nói chuyện với tôi, dù cả hai, bằng những cái chau mày và qua cử chỉ đều ngụ ý rằng chuyện gì sẽ xảy ra nếu tôi lơ là việc nhà hay không nghe theo những luật lệ của họ. Sau trận đòn của dượng, cả bà cũng trở nên âm thầm lặng lẽ hơn. Hầu hết thời gian bà quanh quẩn trong bếp, trong nhà kho hay chỉ ngồi ở ngoài với tẩu thuốc của mình, nhìn về những cái ao nước, đám cây cối và lầm bầm nói với mấy con vật. Bà đang ở đây nhưng như không có ở đây. Tôi thực sự ghen tị với bà.
Những vết thương trên cơ thể tôi lành khá nhanh, nhưng trái tim tôi thì vẫn chưa. Tôi cứ tua đi tua lại cảnh của ngày hôm đó trong đầu, liệu ngày hôm đó tôi có thể làm gì khác để tôi – và cả bà nữa – tránh được cơn bạo tàn của dượng Al. Điều trực tiếp dẫn đến trận đòn là dì Thu buộc tội tôi làm chết đám cây của dì và điều này không hề đúng. Nhưng những lời chống chế của tôi – và sự bênh vực của bà ngoại – chỉ làm cơn giận vô lý và sự căm ghét mà dì chôn giấu bấy lâu nay trào ra, và giờ thì tôi hiểu rằng cơn giận và sự căm ghét này là nhắm vào Mẹ tôi.
Dì tôi tức giận Mẹ vì Mẹ đã chết đi.
Dì nghĩ rằng Mẹ tôi muốn chết sao? Rằng Mẹ tôi cố ý chết để cuộc đời dì phải khổ sở sao? Liệu dì có giận dữ với Mẹ tôi vì Mẹ tôi đã hạnh phúc không – hạnh phúc trong cuộc sống hôn nhân ngắn ngủi của Mẹ trong khi dì chán chường với chuyện tình yêu và cảm thấy buộc phải cưới một người mà dì không yêu, không muốn cưới, để chu cấp cho dì, cho đứa con không cha, người mẹ già của dì, và hơn hết là đám cháu mồ côi dì không cần tới? Tôi nhận ra rằng tôi không bao giờ hiểu hết được những điều dì nghĩ về Mẹ tôi, và cũng không thể làm gì để có thể thay đổi cách dì nghĩ về tôi, anh Quang và em Thủy. Dì đổ lỗi cho sự tồn tại của chúng tôi trên đời này. Khi dì nhẫn tâm tát hết cái này đến cái kia vào hai bên má tôi, dì đang tát Mẹ tôi, chị gái của dì, chứ không phải tôi. Không phải vì tôi. Chưa bao giờ là vì tôi cả. Và vì không phải là do tôi nên tôi không thể làm gì để cứu vãn.
Vị cứu tinh của tôi trong những giờ khắc cùng cực đó là anh Quang và Thủy. Anh Quang khắc tên tôi trong giờ học khắc gỗ của anh hai chữ Bích Vân – như để nhắc cho tôi nhớ rằng tôi không phải lúc nào cũng là Sissy. Anh còn mua cho tôi một chuỗi tràng hạt và bảo tôi luôn mang theo bên cạnh để bảo vệ mình, và tôi đã làm thế.
Thủy là một vấn đề khác. Nhiệm vụ của em nhẹ nhàng hơn tôi, nên chúng tôi có nhiều thời gian để nói chuyện. Và tôi biết được rằng tôi không phải là người duy nhất bị dượng Al chú ý tới. Vì em có nhiều thời gian chơi cùng Bubba và cả dượng lẫn dì đều rất cưng chiều “hoàng tử bé” của mình nên em được họ chiếu cố đến. Tuy nhiên, theo thời gian và vì giờ tôi ít khi tham gia vào trò trốn tìm nên dượng bắt đầu chú ý hơn đến Thủy. Dù em ít khi làm dượng nổi giận hay bị đòn, em nói đôi khi dượng đối xử với em theo cái cách không đúng đắn với cương vị là cha, là chú hay là ông chủ đi chăng nữa. Em quá ngượng nên không thể kể cho tôi nghe chi tiết, nhưng tôi nhanh chóng hiểu ra em đang nói đến điều gì. Dượng đã chọn em để chơi cái trò đụng chạm và cù léc bệnh hoạn của mình – điều mà những tháng gần đây tôi thường trốn đi mất hoặc bị cho ra rìa. Nhưng như thế là quá đủ. Đầu tiên là tôi, giờ lại đến em gái tôi. Đây là giọt nước làm tràn ly.
Tôi bảo Thủy chúng ta phải làm gì đó – ngay bây giờ.
Lựa lúc dì Thu dễ gần hơn bình thường, Thủy và tôi đứng trước mặt dì, nắm tay nhau, và tôi nói với dì rằng tôi có một chuyện cực kỳ quan trọng muốn nói với dì. Dì nhìn chúng tôi đầy nghi hoặc và tiếp tục gấp quần áo, nhưng nói “Được rồi, nói đi.”
Tôi kể với dì.
“Láo toét.” Đó là những gì dì Thu nói. Dì nói một cách cứng rắn nhưng không hét lên. Dì cũng không giơ tay lên để đánh tôi. Rõ ràng là dì muốn chuyện kết thúc ngay tại đó trước khi dượng Al bước vào, một mối nguy mà không ai trong chúng tôi – kể cả dì Thu muốn nhận.
May mắn là lúc đó cậu Hải và mợ Nga đang sống với chúng tôi. Cậu Hải tình cờ đang ở gần mái hiên, chuẩn bị hành trang để lên đường. Cậu nghe dì Thu nói tôi “Láo toét” nên đến xem thử chuyện gì. Dì Thu vẫn còn trong phòng và lặng lẽ ngó lơ chúng tôi, tôi kể với cậu những gì đã kể với dì. Cậu chịu lắng nghe hết câu chuyện và mặt cậu tối sầm lại khi nghe chi tiết. Khi tôi kể xong, dượng Al đi vào bếp.
Bằng một tràng những lời lớn tiếng bằng tiếng Việt, cậu Hải nghiêm nghị bảo dượng Al ngừng ngay chuyện đó. Dượng Al, không nói được tiếng chúng tôi, nên không hiểu gì cả, và dì Thu không định dịch cho dượng. Dù vậy, qua ngữ điệu và cử chỉ, dượng cũng hiểu được ý cậu Hải là gì.
Dượng lẩm bẩm điều gì đó với dì Thu và dì gật đầu, rồi dượng quay đi. Dì quay qua tôi và nói, “Al muốn tụi bây đi khỏi nhà ngay hôm nay. Ngay lúc này. Đi dọn đồ đạc của tụi bây đi.”
Đây là để phạt chúng tôi sao? “Được thôi,” tôi nói. “Đó chính xác là điều cháu muốn. Và Thủy cũng sẽ đi với cháu.”
“Dẫn nó theo,” dì Thu khịt mũi và quay lại với công việc của mình. “Đỡ phải nuôi thêm một đứa nữa.”
Cậu Hải định tranh luận với dì Thu nhưng rồi ngừng lại. Cậu đủ trải đời để hiểu cậu sẽ không thể nào dùng lý lẽ để làm dượng Al thay đổi, và hiểu rằng để hai đứa con gái chúng tôi ở Trại Cá lúc này trong khi cậu đã biết chuyện sẽ làm cậu cũng như đồng phạm trong việc chúng tôi bị lạm dụng.
Tất cả chúng tôi cùng đi về căn nhà của cậu, và cậu giải thích tình hình với mợ Nga. Tôi những nghĩ mợ sẽ cho chúng tôi một cái ôm của một người mẹ hay ít nhất là những lời cảm thông, nhưng mợ chỉ nhìn chúng tôi với ánh nhìn trống rỗng. Có lẽ là mợ xấu hổ hoặc ngại ngùng, hay chỉ lo lắng rằng sự việc này sẽ phá vỡ mối làm ăn thuận tiện với dì Thu và dượng Al, người đã cho mợ ở nhờ khi cậu Hải đi biển. Dù vậy, mợ chỉ quay đi, lấy giấy và bút chì viết địa chỉ mới của bác Chiêu ở Sài Gòn.
“Cháu sẽ sống được với bác Chiêu và bồ của bác, Mai, đúng không?” cậu Hải hỏi.
Tôi nói được, hi vọng là tôi may mắn. Bác Chiêu giờ đã trở thành người tốt hơn khi không còn ở chung với bác Quế, dù vậy bác vẫn còn chút gì đó không thể trông mong được. Cô Mai là một người phụ nữ thành thị từ trong ra ngoài với những suy nghĩ riêng về mọi chuyện nhưng cô luôn rất thân thiện với chúng tôi. Là em trai của bác Chiêu và là người họ hàng chúng tôi quý mến nhất, tôi nghĩ cậu Hải sẽ không đưa chúng tôi vào chỗ nguy hiểm.
Chiều hôm đó, Thủy và tôi gói gém mấy thứ của chúng tôi và đi khỏi Trại Cá trước cả bữa tối. Tôi đã mười bốn tuổi và Thủy mười ba, nhưng nhìn bề ngoài, chúng tôi là hai phụ nữ trẻ đầy cương quyết về một nhiệm vụ. Tuy nhiên, bên trong chúng tôi biết rằng thế giới của chúng tôi đã đảo lộn. Suốt chặng đường lên Sài Gòn, Thủy nén khóc và tôi cũng cố gắng thể hiện vẻ mặt kiên cường, dù bên trong tôi cảm thấy vô cùng bất an. Chúng tôi xuống xe đò, vẫn còn cố gắng để không thể hiện cảm xúc thật của mình: hai đứa trẻ mồ côi đang bỏ nhà đi.
* * *
Vài tiếng sau, chúng tôi gõ cửa căn nhà lá bác Chiêu thuê. Bác đang ở nhà, còn cô Mai đã ra ngoài. Chúng tôi kể cho bác nghe vắn tắt câu chuyện (thêm một người lớn nữa không có vẻ ngạc nhiên), và bác chỉ cho chúng tôi chỗ để cất đồ và chỗ để ngủ. Con trai của bác – anh Ngọc – vẫn đang sống cùng những người công nhân khác ở Trại Cá nhưng con gái bác – Liên, người làm bạn với tôi nhiều năm trước – và hai đứa con nhỏ hơn Đức và Thắng đang sống với bác Quế trong một tình trạng rõ ràng là còn tồi tệ hơn tôi. Ở đây, chúng tôi là những đứa nhỏ duy nhất trong nhà. Chúng tôi tự tắm táp và ăn gì đó trong khi bác Chiêu lo nghĩ về hướng đi tiếp theo.
“Thực tình là bác muốn giúp mấy đứa nhưng chuyện này không phụ thuộc hết vào bác. Bác phải nói với cô Mai cái đã. Có thể cô sẽ không chịu để hai đứa sống chung nhà. Hai đứa biết là nhà bác cũng không rộng rãi gì. Và chủ nhà – bác phải nói với ổng để xem thử ổng tính thêm bao nhiêu khi có thêm người ở. Rồi bác phải nói với cậu Hải. Đây là một sự thay đổi lớn cho tất cả mọi người. Thôi hai đứa đi ngủ đi. Sáng hôm sau chúng ta sẽ bàn thêm.”
Chúng tôi làm theo lời bác và sáng sớm hôm sau thấy mợ Nga và mấy đứa con mợ. Mợ và cậu Hải nghĩ rằng không khí ở Trại Cá không còn phù hợp để ở nên họ cũng chuyển đi – đúng thời điểm cậu Hải có chuyến hành trình mới. Mợ Nga và các con sẽ trở về quê mợ ở Trà Ôn để sống với mẹ ruột của mợ. Họ sẽ được chăm lo đàng hoàng, nhưng trước tiên mợ muốn đến xem chúng tôi ổn không.
Trong khi mợ Nga nói về kế hoạch của mình thì cô Mai đi vào. Khuya hôm trước, khi cô trở về nhà thì chúng tôi đã đi ngủ nên không biết cô nghĩ sao về tình hình này. Chúng tôi không cần phải chờ lâu để biết.
“Trà Ôn!” Cô Mai reo lên, rất nhiệt tình. “Đó là một nơi tuyệt vời cho Thủy, em nghĩ đúng không? Chỗ của tụi chị không đủ cho cả hai đứa ở. Vân lớn hơn, chị nghĩ chị có thể nhờ con bé việc này việc kia, còn Thủy sẽ ổn hơn khi sống với bọn em.”
“Em cũng không biết,” mợ Nga nói. “Chị em nó cũng muốn ở với nhau…”
Mợ và cô kì kèo với nhau như hai người nông dân đang rao bán heo, rồi thỏa thuận cũng chốt. Trong khi họ nói chuyện, tôi thấy mặt Thủy không vui nên dẫn em ra một bên.
“Nghe này, chị biết em muốn ở chung với chị, nhưng chúng ta không thể có mọi thứ được. Chúng ta phải chấp nhận những gì chúng ta có mà thôi. Ít nhất thì mình cũng rời khỏi dì dượng. Mợ Nga là một người tốt, và em cũng thích mấy đứa con của mợ. Chị sẽ tìm việc làm, và sau khi kiếm được tiền, chị sẽ đến đón em. Chúng ta có thể tự sống trong thành phố, được không?” Mắt Thủy đầy nước mắt, nhưng cuối cùng em cũng gật đầu. Về phần tôi, tôi cố nén chặt nỗi đau trong lòng mình và không cho nước mắt chảy ra.
Tôi biết kế hoạch của tôi chỉ là những mong ước xa vời, nhưng nó cho hai chúng tôi hi vọng và giúp thuyết phục em Thủy ra đi với gia đình mà chúng tôi tin tưởng. Giờ thì những gì tôi phải làm là cố gắng để câu chuyện cổ tích của mình thành sự thật.
* * *
Đêm đầu tiên ở một mình nhà bác Chiêu, tôi nằm trằn trọc cả đêm, thi thoảng âm thầm khóc, và lắng nghe tiếng bom đạn vọng lại từ xa xa. Tôi mệt lả và vẫn còn sốc, tôi cần phải ngủ nhưng đầu óc tôi tỉnh như sáo. Buổi sáng hôm đó, giờ như thể hàng thế kỷ trước, tôi vẫn còn ở chung với bà ngoại và anh em tôi, còn tối nay, tôi đang ở trong nhà người lạ, tôi cảm thấy không được đón chào và không biết từ đây về sau cuộc đời mình sẽ như thế nào. Làm sao tôi có thể giải thích mọi điều với bác Chiêu? Liệu tôi có phải kể với bác lý do vì sao Thủy và tôi rời khỏi dì Thu và Trại Cá không? Có lẽ tốt nhất là chờ cho đến khi bác hỏi tới. (Bác không bao giờ hỏi, cả cô Mai cũng vậy.) Có rất nhiều thứ phải nghĩ tới!
Lúc Thủy và tôi vừa mới đến thì tôi đang rất buồn nên không để ý gì xung quanh, nhưng nghĩ đi nghĩ lại, tôi thấy rằng “cái bè cứu sinh” của tôi từ Trại Cá thật sự là một “cái bè” hơn là một nơi để bắt đầu một đời sống mới. Tôi cảm thấy thật tuyệt vọng và cô đơn.
Bác Chiêu thuê một căn phòng khiêm tốn trong căn nhà bốn phòng với kiến trúc dành cho người thu nhập thấp – khung tre với vách lá. Ông chủ nhà lớn tuổi và vợ ông, cùng người cháu trai, sống trong một căn phòng cạnh lối vào. Họ đã cho thuê hai căn phòng tiếp theo phía sau phòng ông, và sử dụng phòng thứ tư – nằm trên sông – như một nhà bếp và phòng tắm kết hợp. Bác Chiêu và cô Mai ở căn phòng thứ ba, phòng ngủ cuối cùng bên cạnh khu vực chung nên tất cả những người ở đây phải đi ngang qua phòng họ trên một lối đi nhỏ để đến chỗ nấu nướng hay vào nhà vệ sinh, vì vậy, họ không có nhiều sự riêng tư. Cặp thuê phòng còn lại cũng đi làm nên tôi hiếm khi thấy họ. Chủ nhà cho phép khách khứa ở lại qua đêm nhưng thêm một người ở nữa (một cô gái sắp trưởng thành) làm tất cả mọi người căng thẳng – thêm người nấu nướng, thêm điện nước tiêu thụ, thêm người chia sẻ phòng tắm, thêm tiếng ồn – và đó có nghĩa là tiền nhà tăng. Bác Chiêu xin đặt thêm cái giường nữa rồi để sát bức tường cạnh lối đi. Bác nói với chủ nhà rằng tôi rất ngoan và trầm tính, tôi đến Sài Gòn để học ở một trường tốt hơn. Tôi không biết người chủ nhà có tin bác hay không nhưng việc bác Chiêu là thành viên của lực lượng cảnh sát quốc gia không phải là không hữu ích.
Một ngày, sau khi tôi ngủ dậy, tắm rửa và ăn sáng (bác Chiêu đã đi làm và cô Mai vẫn còn ngủ sau bức rèm vây quanh giường họ), người cháu trai của chủ nhà đến phòng, lịch sự giới thiệu về mình và đề nghị giúp tôi tìm trường. Trước khi bác Chiêu đi, bác có nói rằng người cháu là “một chàng trai tốt” nên tôi quyết định tin tưởng anh ta, vì tôi cũng chẳng có kế hoạch nào khác. Chúng tôi đến vài ngôi trường gần đó nhưng mấy nơi đó trông có vẻ giống những nhà tù cũ, rồi cuối cùng tôi chọn trường trung học Sơn Hà, một trường công nhìn được nhất. Đó cũng là trường gần nhà bác Chiêu đang thuê, và khi mà đêm hôm trước tôi nghe nhiều tiếng súng vọng lại thì việc trường gần nhà hẳn là điều tốt.
Vài ngày sau, tôi tự nhập học vào lớp Tám. Dù đó là trường công và tôi không có giấy khai sinh, căn cước, hay học bạ, nhưng họ vẫn chấp nhận tôi mà không tra hỏi và nói là tôi có thể đến lớp vào ngày hôm sau. Trên đường về nhà, tôi ghé lại một hiệu sách địa phương và dùng ít tiền dành dụm mua một cái bì để đựng viết và hồ sơ (cái bì đầu tiên tôi có được), một quyển vở, vài cây bút chì, và một lọ mực tím – màu ưa thích của những cô gái tuổi teen sành điệu vì tôi hi vọng mình có thể gây ấn tượng với đám đông. Đa số học sinh trường Sơn Hà mặc đồng phục của trường công lập: con trai mặc áo sơ mi với quần đen hoặc xanh, còn con gái thì mặc áo dài trắng với quần đen hoặc trắng. Tôi không muốn tiêu tiền vào quần áo nên chỉ mặc áo dài cũ hồi học ở trường dòng, may là vẫn mặc vừa. Nỗi lo lớn nhất của tôi là tiền bạc. Bác Chiêu rất tốt bụng, nhưng cô Mai lại là người nắm giữ chi tiêu. Cô không có việc làm cố định ngoài việc chơi hụi với bạn bè và hàng xóm. Trò này rất may rủi, nhưng cô thấy vui và thỉnh thoảng kiếm được tiền dù tiền kiếm được có thể có hoặc không bù được cho những lần thua. Tôi không biết sự chào đón của cô khi nào sẽ chấm dứt và chắc chắn là tôi không muốn sống ngoài đường hoặc phải vào viện mồ côi chút nào. Tôi cũng đã hứa với em Thủy một ngày nào đó sẽ đi đón em, và khi đó sẽ tốn nhiều tiền. Tôi phải tìm việc làm.
Sau một tháng học ở trường, tôi nghĩ là tôi đã tìm ra cơ hội. Hồi còn ở Nhà Lá ở Phú Nhuận, lúc dì Thu có một thời gian ngắn bán đá bào, dì có một khách hàng thường xuyên tên Loan, chị khá xinh và thân thiện, lớn hơn tôi vài tuổi, lúc nào chị cũng chào tôi với một cái ôm, thậm chí còn mua đồ cho tôi nữa. Bà cũng rất quý chị nên cho phép chị dẫn tôi đi chợ và bao tôi ăn trưa trong một quán gần đó. Giờ tôi nhớ lại chị vì khi đó chị nói rằng chị sống ở quận Bà Chiểu, nơi hiện thời bác Chiêu và cô Mai đang ở. Tôi không hiểu vì sao tên và khuôn mặt chị Loan lại hiện ra trong đầu tôi ngay lúc này – dù gì thì cũng đã tám năm, nhiều chuyện đã xảy ra – nhưng tôi xem điều này như dấu hiệu thiên thần hộ mệnh, có lẽ là Mẹ tôi, đang phù hộ cho tôi. Không nhụt chí bởi việc phải đi tìm một người tôi đã gần như quên mất ở một khu đông đúc như thế này, tôi bắt đầu gõ những cánh cửa. Và thiên thần hộ mệnh đang ở bên tôi.
Lần theo những manh mối trong cả tuần, tôi tìm ra chị Loan, chị đang sống cùng nhiều cô gái trẻ nữa ở một căn nhà lụp xụp trong một khu rất nghèo. Một cô gái ra mở cửa khi nghe tiếng gõ cửa của tôi.
“Có người nào ở Bà Chiểu tên Loan ở đây không ạ?”
Cô gái đang nhìn tôi từ trên xuống dưới trang điểm rất dày, rồi thấy rằng tôi chỉ là một con nhóc và không phải là một mối đe dọa nên mời tôi vào. “Có. Loan đang ở đây. Nó ở kia kìa.” Chị chỉ về một cô gái trẻ đang ngồi thêu bên cái bàn nhỏ. Dù chị mặc đồ đẹp, trang điểm và đeo trang sức, Loan trông vẫn y như những gì tôi nhớ về chị.
“Chị Loan, em nè, em là Vân, cháu dì Thu!.” Rồi tôi nhớ có lẽ chị chỉ nhớ tên gốc của tôi, nên tôi nói thêm, “Ý em là Hiền. Cháu của dì Thu. Chị nhớ không? Em thường trông coi bé Hoàng khi dì Thu bán đá bào ở trước nhà.”
Chị Loan nhìn tôi một cách thận trọng. Được rồi, tôi hiểu rồi – Sài Gòn đang là vùng chiến, bạn cần phải đề phòng nhưng thôi nào, chúng tôi là những người bạn cũ, thân như chị em vậy.
“Chị không nhớ em à?” tôi hỏi mà không thể tin được. Tôi cảm thấy hụt hẫng. Dù đang sống trong một chỗ tồi tàn nhưng rõ ràng là trông chị rất ổn – quần áo đẹp, trang sức, trang điểm, tóc tai hợp mốt. Nếu ai đó có thể giới thiệu cho tôi một việc làm tốt thì người đó rõ ràng là chị. Tôi bắt đầu kể về những trang thay đổi những năm tôi và chị không gặp nhau nhanh nhất có thể và rồi tôi thấy mặt chị bắt đầu giãn ra. “Vậy,” cuối cùng tôi nói, “chị là thợ may à? Việc này kiếm được nhiều tiền lắm. Chị có cần em phụ không?”
“Em Hiền, em sẽ không muốn làm cái việc chị đang làm để kiếm sống đâu,” chị nói một cách thờ ơ. “Đây chỉ là công việc ban ngày của chị. Chị kiếm tiền chính vào ban đêm, và em không thể làm được việc này bằng cách ngồi trên một cái ghế.”
Tôi liếc nhìn những cô gái khác, nhưng không ai nhìn vào mắt tôi mà đang bận đọc báo, giũa móng tay hoặc uống trà và lặng lẽ nói chuyện với nhau.
“Hãy nghe lời chị và đi ra khỏi đây,” Loan nói. “Trở lại trường đi. Có rất nhiều thứ em có thể làm với cuộc đời mình, nhưng đây không phải là việc như thế.”
Tôi rất giỏi Toán nên tôi sớm hiểu ra vấn đề và đi về nhà.
Hết tuần này đến tháng khác công việc hằng ngày của tôi vẫn như thế. Ban ngày được chia ra giữa trường học và tìm việc làm – một cuộc tìm kiếm trên diện rộng làm tôi phải đi quanh thành phố. Còn ban đêm hầu như đêm nào tôi cũng cố gắng làm mình trở nên nhỏ bé trong một căn phòng còn không đủ rộng cho hai người ở, nhưng nếu sự hiện diện của tôi làm mối quan hệ của bác Chiêu và cô Mai có gì không ổn thì họ cũng không thể hiện ra. Tôi thường giúp cô Mai nấu ăn và dọn dẹp sau khi ăn xong để trả ơn (ít nhất là chút nào đó) khi cô cho phép tôi ở cùng. Nhưng cô Mai muốn tự mình nấu ăn, với tôi thì điều này ổn thôi vì cô nấu rất ngon. Món duy nhất cô để tôi nấu, canh cá nấu cà thì vị rặt miền Bắc so với cô, nhưng ít nhất lý do cô không cho tôi nấu nướng cũng không phải vì cô cho tôi là “đứa mồ côi ngu ngốc.” Chỉ đơn giản là thức ăn quá đắt đỏ nên không thể đánh liều với khả năng nấu nướng hạn chế của tôi, và cô Mai cũng không hào hứng gì việc dành thời gian ra để dạy tôi.
Một ngày nọ, tôi vô tình làm cháy một tà áo dài phía sau khi đang ủi đồ bằng bàn ủi than. Tôi không biết làm cách nào để sửa lỗi và rất hoảng sợ vì tôi đã làm hư cái áo. Nhờ trước đây nhìn bà ngoại và mợ Nga, tôi cũng biết đôi chút về khâu vá nhưng tôi đang rất lo không biết nó sẽ trông như thế nào. Thật là xấu hổ nếu phải đến trường với một cái lỗ trên áo hoặc một miếng vá vụng về. Tôi nhớ bà ngoại đã nhiều lần dạy tôi rằng nghèo cho sạch rách cho thơm, nghèo không phải là cái cớ để ăn bận bẩn thỉu hay cẩu thả, và phải luôn chăm chút bề ngoài của mình. Vì thế, tôi đến chợ để nhìn ngó, xem thử có nảy ra được sáng kiến nào để sửa cái áo hay không. Tại một cửa hàng, tôi tìm ra những mảnh vải thêu được trưng bày trong một cái hộp bằng kính. Tôi nảy ra ý tưởng, thế là tôi trả giá để mua mảnh vá hình một con voi màu xám và hồng – cái duy nhất tôi có thể mua với ngân sách hạn hẹp của mình. Tôi khâu mảnh vải vừa khít lên vết cháy, và dù trông nó hơi ngốc nghếch nhưng tôi cũng khá hài lòng với kết quả. Bạn bè ở trường nghĩ tôi làm vậy để trang trí, và chẳng bao lâu sau, vài đứa con gái còn thêu mảnh vải lên áo dài của chúng. Tôi chưa bao giờ nghĩ mình là một người dẫn đầu xu hướng, và chuyện này rất có ý nghĩa đối với tôi bởi vì trong thế giới của một đứa mồ côi thì sự tôn trọng và việc được chấp nhận là điều gì đó rất khó có được.
Những vụ đấu súng vẫn diễn ra vào ban đêm, đôi lúc chúng tôi bắt đầu nghe những tiếng đì đùng ngay giữa ban ngày, thỉnh thoảng kèm thêm một tiếng ầm của pháo binh. Chúng tôi chẳng có hầm trú cũng không có chỗ trú ẩn công cộng kế bên nên chỉ bịt tai lại hoặc nói lớn hơn. Bác Chiêu là một cảnh sát, và nếu bác không có vẻ lo lắng thì tôi nghĩ rằng tôi cũng nên bình tĩnh. Tôi chưa bao giờ cảm nhận được từ những người lớn xung quanh – gồm cả các giáo viên – rằng mọi việc sẽ khác hơn so với những gì tôi đã trải qua trong suốt cuộc đời mình. Những biểu hiện âu lo đang càng ngày càng tăng cao và lan khắp Sài Gòn trong suốt thời gian tôi đi tìm việc, nhưng dường như sự lo âu không ngăn được bất cứ ai khỏi công việc thường ngày của họ, nên tôi cũng không lo về những chuyện đó.
* * *
Mùa thu năm 1974, tôi nhận được một lá thư từ em Thủy. Tôi không nghe được tin tức gì về em kể từ khi tiễn em đi cùng mợ Nga và các con của mợ tại bến xe Sài Gòn, nên tôi mở phong bì với nỗi trông mong nhưng cũng đầy lo lắng. Những điều đọc được làm tôi sốc và buồn khổ ghê gớm.
Sau vài lời chia sẻ ấm áp (gia đình mợ Nga đối xử với em khá ổn dù Thủy bị buộc phải đưa toàn bộ tiền để dành của mình cho chị gái của mợ Nga để phụ trong gia đình), em nói em đang trông mong tôi đến đón em và ước ao được sống cùng nhau. Em còn gặp nhiều rắc rối ở trường:
Một ngày nọ, giáo viên tiếng Pháp đã đánh em vì mặc đồ ướt đi học. Thầy thậm chí còn không hỏi em lý do, cũng không cho em giải thích. Thầy phạt em bằng cách dùng thước khẽ tay em, làm bàn tay trái của em đỏ lừ lên. Sau đó em nói với thầy rằng em chỉ có hai bộ đồng phục và em đã giặt cả hai bộ buổi sáng hôm trước ngày đi học nhưng không có bộ nào kịp khô vì trời mưa nhiều. Em không muốn nghỉ học nên mới quyết định mặc đồ ướt.
Em nói thầy giáo dạy tiếng Pháp đó đã báo với giáo viên Văn việc em vi phạm nội quy, có lẽ là để chắc rằng em sẽ bị phạt một lần nữa hoặc cũng có thể không. Dù sao đi nữa thì thầy giáo Văn cũng thể hiện sự thông cảm cho một đứa mồ côi và mời em về nhà thầy ăn trưa, vợ thầy đã lục tủ đồ và cho em mấy bộ đồ cũ để em không phải lặp lại chuyện mặc đồ ướt đi học nữa. Một thời gian sau, thầy còn cho em tiền, nói là để “thưởng cho việc học tốt,” dù Thủy chưa bao giờ nghe thấy trường có làm vậy và điểm số của em tới giờ vẫn rất tệ. Tuy rất biết ơn lòng tốt của thầy nhưng em biết thầy làm vậy chỉ vì lòng thương hại, và điều này làm em cảm thấy còn tồi tệ hơn. Rõ ràng là cả hai chúng tôi đều thừa hưởng sự cứng nhắc này từ bà ngoại.
Thư của em Thủy tiếp tục mô tả nhiều hơn về cuộc sống của em ở Trà Ôn.
Mợ Nga và con của mợ sống ở một chái nhà, được xây như nhà bác Chiêu, còn mẹ và chị gái của mợ sống ở phía còn lại. Nhà bếp và khu vực tắm rửa được dựng trên những cây sào bắt qua sông, dù vậy em Thủy không được phép dùng chúng. Thay vào đó, theo như em viết trong thư, em bị buộc phải tắm rửa ở bờ sông, và điều này đối với một đứa tuổi teen thì thật là đáng xấu hổ.
May mắn là em gặp một bạn ở trường tên Thy. Bạn cũng là hàng xóm ở kế bên nhà. Khi nào ba mẹ bạn đi vắng, bạn cho em tắm ở nhà bạn. Em rất vui và rất biết ơn vì lòng tốt của bạn và vì được kết bạn với bạn.
Nhưng đó chưa phải là điều tồi tệ nhất. Dù em không còn đối mặt với mối nguy từ dượng Al nhưng sự an toàn của em gái tôi bị đe dọa bằng những cách khác. Cuộc chiến tại Trà Ôn còn ở gần em hơn chúng tôi.
Sống ở dưới quê rất đáng sợ. Vào ban đêm, khi em nằm trên giường ngủ, em nghe thấy người ta ở ngoài xa xa đang khóc than cho người thân của họ. Em rất sợ phải ở một mình trên giường. Mỗi đêm, em nghe thấy người ta đánh nhau, bắn nhau và nghe thấy những tiếng nổ lớn. Em nghĩ rằng người ta tìm thấy xác người thân của mình ở sông và mang về nhà để chôn cất. Một đêm nọ, em rất mắc tiểu và em thấy bóng ai đó ở phòng sau. Em biết nếu vào nhà sau để tiểu thì em sẽ gặp rắc rối, nên em buộc mình phải đi tiểu ở bờ sông. Em nghe tiếng súng nổ ở đâu đó rất gần và cảm thấy đạn vừa lướt qua tóc mình. Em rất sợ và đã ngã gục xuống, không nhúc nhích nổi. Em nghĩ rằng mình đã chết rồi. Nhưng một lúc sau, em đứng dậy và chạy nhanh thật nhanh về nhà rồi nhảy tót lên giường, trốn trong mền và run lẩy bẩy vì sợ. Em mừng rằng mình chưa chết.
… Em rất buồn vì cô đơn và rất nhớ chị. Em không thể đợi được cho đến lúc chị kiếm được tiền và đến đón em. Em rất muốn ở với chị, chị ơi. Em rất buồn vì chị em mình không ở cùng nhau.
Thôi trời tối rồi, em phải chuẩn bị đi ngủ. Em không được phép dùng đèn dầu nhiều. Xin chị đừng quên em. Đừng quên viết cho em nghen.
Em gái yêu quý của chị
Thủy
Tôi bật khóc. Tôi đã nghĩ rằng bằng cách để em đi với mợ Nga, như cô Mai muốn, em sẽ an toàn hơn và vui vẻ hơn, nhưng điều này không hề xảy ra. Tôi đã đẩy em vào một tình cảnh gần như là địa ngục của trẻ mồ côi và đẩy em đứng trước miệng hùm, chẳng khá hơn khi chúng tôi ở Nhà Gạch hồi Tết năm đó. Tôi cảm thấy mình đã làm Mẹ thất vọng và linh hồn của Mẹ – thiên thần hộ mệnh đang dõi theo tôi – vì lý do gì đó đã bỏ rơi em gái tôi. Chỉ có một việc tôi phải làm. Vì tôi không thể chăm lo cho em, ít nhất tôi phải đưa em trở lại với bà ngoại, mặc kệ những mối nguy có thể kèm theo. Cách duy nhất tôi có thể chắc chắn rằng mình không đẩy em Thủy vào cảnh tránh vỏ dưa gặp vỏ dừa là tôi sẽ tự mình trở lại Trại Cá và đảm bảo rằng nơi đó đã an toàn trở lại.
* * *
Vào tháng Mười, tôi đón xe đò từ Sài Gòn đến Trại Cá để thăm bà ngoại và để lấy chiếc xe đạp của mình – món quà quý giá của anh Quang mà tôi đã phải bỏ lại vì cùng em Thủy vội vã ra đi. May mắn là lúc tôi đến, cả dượng Al và dì Thu đều đã đi giao hàng nên bà ngoại ra mở cổng. Trông bà ốm hơn và đi lại chậm chạp hơn lần cuối tôi gặp bà, nhưng tôi cũng không nghĩ điều này lạ lùng gì lắm. Như những người khác trong nhà, dượng Al và dì Thu vắt kiệt sức bà nhưng vẫn không bằng cách bà bắt bản thân mình phải lao động. Bình thường, bà thích hút thuốc trong yên bình và tận hưởng buổi chiều thoải mái, nhưng trong những lúc nhàn rỗi khác, bà lại tự giao cho mình làm việc này việc kia, chỉ để khiến mình bận rộn. Dù vậy, năm tháng đã cho thấy rằng dù bà muốn làm nhưng sức lực bà lại muốn được nghỉ ngơi.
Chúng tôi nhanh chóng bước vào phòng bà để những người khác ở trại không thấy tôi và báo lại với dì dượng. Bà ngoại nói dì Thu có vẻ nguôi ngoai về chuyện của Mẹ, ít nhất là lúc này, thêm nữa, tôi và Thủy cũng không ở gần để nhắc cho dì về Mẹ. Sau khi tôi kể cho bà nghe tình cảnh của Thủy ở Trà Ôn, bà ngoại đồng ý rằng, ít nhất nếu không phải vì đi trốn cuộc chiến đang đến gần thì để bà chăm lo cho Thủy sẽ tốt hơn. Bà lấy ra một cuộn tiền từ dưới nệm và đưa hết cho tôi, cùng với chiếc nhẫn kim cương mắt hổ dượng Al đã tặng bà vào dịp Giáng Sinh năm ngoái. “Đây, cháu cầm lấy để đi đường và đưa em Thủy về cho bà. Chiếc nhẫn để phòng khi người ta không dùng tới tiền nữa. Nhớ giữ cho cẩn thận.”
Tôi không thể hiểu được lại có lúc những người bình thường – người bán hàng, tài xế taxi, viên chức chính phủ, công nhân, thậm chí là cảnh sát và lính tráng – lại không cần tiền giấy; nhưng có lẽ bà biết điều gì đó mà tôi không biết được. Tôi cảm ơn bà rồi nhét nó vào dưới áo.
“Thôi cháu đi đi.” Bà liếc quanh. “Cháu nên đi trước khi tụi nó về nhà.”
Tôi ra sau hè để lấy xe đạp và thấy anh Quang đang làm việc bên một ao cá. Anh ngước lên nhìn tôi, tôi vẫy tay với anh, nhưng anh chỉ cúi đầu và tiếp tục làm việc.
“Anh Quang bị sao vậy bà?” tôi hỏi bà, thật sự rất ngạc nhiên.
Bà chỉ nhún vai. “Nó cứ như vậy kể từ khi tụi cháu bỏ đi. Bà không nghĩ là nó biết chuyện. Nếu nó biết, có lẽ nó cảm thấy buồn vì không bảo vệ được em mình. Nó có thể làm gì được chứ? Nó chỉ là một thằng con trai. Hãy cố gắng đưa Thủy về đến đây an toàn. Mọi việc còn lại cứ để cho bà.”
* * *
Tháng tiếp theo, tôi nói bác Chiêu rằng tôi cần đi Trà Ôn để đón Thủy về lại Trại Cá, rằng tôi đã hỏi bà ngoại về chuyện này và tôi đã có đủ tiền để đi đường. Tôi chỉ cần được hướng dẫn.
Hành trình gồm ba tiếng ngồi xe đò từ Sài Gòn đến thành phố Cần Thơ, rồi một cuộc hành trình khác khoảng nửa tiếng đến nhà Thủy ở Trà Ôn. Tôi đến vào giờ cơm trưa và Thủy đón tôi với những giọt nước mắt hạnh phúc. Tôi nói rằng tôi đến để đưa em về nhà, tạm thời không đề cập đến chuyện trở về Trại Cá và về với bà ngoại, nhưng chúng tôi sẽ có nhiều thời gian để nói về chuyện này. Khi ấy nếu bắt đầu về thì đã quá trễ nên chiều hôm đó, chúng tôi đi chào người giáo viên đã giúp đỡ em và đến thăm nhà người bạn thân của em, Thy, đang sống kế bên. Mợ Nga, dù lúc nào cũng dễ chịu và lịch sự, có vẻ không vui không buồn về chuyện Thủy rời đi. Tôi nghĩ mẹ của mợ Nga, người đứng đầu gia đình, và chị của mợ rất vui khi em đi. Thủy và tôi cùng ở lại đó đêm cuối trên cái giường nhỏ của em, rồi rời đi vào sáng sớm hôm sau để về Trại Cá. Tôi trấn an em rằng mọi chuyện đã trở nên tốt hơn. Thủy rất buồn vì tôi không cùng ở lại, nhưng tôi thật sự nghĩ rằng em đã quá sợ vì bị bao vây bởi chiến trận và quá buồn vì danh hiệu mồ côi hạng hai, nên rất vui khi trở về với những gương mặt quen thuộc, dù nơi đó có nhiều chuyện không vui.
Mấy tiếng sau chúng tôi về lại Trại Cá, tôi theo em đến cổng chính và bà ngoại đang chào đón chúng tôi ở đó. Tôi thấy dượng Al và dì Thu trong nhà, nên tôi bỏ ý định tìm gặp anh Quang. Khi tôi trở về với cái giường nhỏ của mình tại nhà bác Chiêu và cô Mai ở Sài Gòn thì đã gần nửa đêm, và những màn pháo đêm ở rìa Đô thành đã bắt đầu rồi.
* * *
Nếu mọi việc biến chuyển ở Trà Ôn thì nó cũng biến chuyển ở Sài Gòn, nhưng chậm chạp hơn, như một chứng bệnh ban đầu thể hiện qua những cơn đau nhức, rồi mới đến những trận sốt, rồi chết. Một trong những thay đổi nhỏ đó xảy ra trên đường phố Sài Gòn, nơi chưa bao giờ an toàn trước những kẻ trộm cướp, móc túi và gần đây còn trở nên tồi tệ hơn bởi những dòng người tị nạn từ miền quê lũ lượt tràn về.
Tôi đang đạp xe đi học vui vẻ tận hưởng khí trời mát mẻ của một ngày mùa mưa nhưng không có mưa, trên con đường bụi bặm và đông đúc. Đột nhiên, một thằng bé và cha nó đạp lên trước xe tôi. Thằng nhỏ đang cười khúc khích rất vui. Điều này làm tôi nhớ lại những kỷ niệm tôi đã từng có với Ba vào những năm 1964.

Trước khi Ba đi làm nhiệm vụ ở Hồng Ngự, tự nhiên Ba lại muốn gặp mặt toàn bộ gia đình bên nội. Các gia đình tụ họp lại tại nhà chú Thành, gồm cả bác Thơi, con cái của bác và chúng tôi. Để mừng cuộc đoàn tụ của gia đình họ Nguyễn, chúng tôi đã thuê thợ chụp một bức ảnh tập thể, và trong bữa tiệc, Ba nói rằng giữa thời chiến, tất cả chúng tôi sẽ nhận ra cuộc sống không chỉ quý giá mà mỗi phút giây đều có thể trở thành những giây phút cuối cùng của cuộc đời. Như mọi lần, Mẹ xua đi nỗi lo của Ba và nói đó là chỉ là sự hồi hộp trước chuyến đi thôi chứ không có gì đâu, những người khác cũng đồng tình với Mẹ. Mẹ ở lại nhà với Thủy và bà ngoại để nấu nướng cho bữa tiệc. Chúng tôi đi chụp hình, anh Quang cùng gia đình bác Thơi đi taxi còn tôi nhảy lên sau xe đạp của Ba. Chú Thành chở thím Lan và con gái út của họ – Hà – sau xe đạp của chú và đạp xe cạnh chúng tôi. Khi chiếc taxi rời bánh, chú và Ba bắt đầu nhấn pê-đan đạp nhanh để đuổi theo. Ba cười và nói tôi vịn chặt. Rồi Ba cúi rạp người về phía trước và la lên “Đua xem ai đến trước nào!”
Khi Ba đang thong thả đạp xe đến trước vỉa hè của tiệm thì nghe chú Thành la lên từ phía sau: “Anh Tỉnh – dừng lại, dừng lại! Dép của Hiền bị kẹt vào bánh xe rồi – chân nó đang chảy máu!”
Ba ngừng ngay lập tức và quay lại nhìn tôi, rồi nhìn xuống chân tôi. Chiếc dép xăng-đan bên trái của tôi kẹt trong căm xe và mắt cá chân đang chảy máu. Tôi đã rất phấn khởi vì được ở gần Ba nên không để ý mình bị kẹt chân.
Ba ẵm tôi vào tiệm chụp hình để thím Lan lau vết thương cho tôi. Người thợ chụp cho tôi một trái chuối để tôi nín khóc. Trong vài giây, tất cả chúng tôi tập trung trước đèn của chú, và máy ảnh kêu lên cái “tách” làm ngưng đọng lại tai nạn nhỏ của tôi với trái chuối đã ăn hết một nửa, và ngưng đọng lại khoảnh khắc mà tôi không bao giờ quên được.

Đột nhiên, tôi nghe thấy tiếng một cô gái ở phía sau mình.
“Chị ơi, chị – dừng lại! Quay lại mau!” một em gái nhỏ hơn tôi vài tuổi đang cố đạp xe nhanh để đuổi theo tôi.
Tôi ngừng đạp và chống một chân xuống đất. “Chuyện gì vậy em?” tôi hỏi.
“Có người vừa mới lấy cái gì đó từ sau xe của chị.” Em chỉ vào cái giỏ nhỏ ở phía yên sau nơi tôi thường cột lại bằng một sợi dây chằng. Vở của tôi vẫn còn đây, nhưng cái bì hồ sơ đã biến mất, cùng với bút viết và toàn bộ tiền bên trong. Ôi không không. Tim tôi chùng lại. Tôi nhìn quanh quất vào dòng người trên đường nhưng không thấy ai khả nghi.
“Em đã la lên cảnh báo chị nãy giờ. Chị không nghe thấy à?”
Tôi lắc đầu. “Trông hắn như thế nào?” tôi hỏi cứ như thể mình có thể lấy lại bì hồ sơ của mình.
“Em không biết. Đó là một người đàn ông. Thôi em đi đây kẻo trễ.” Em gái đạp xe về phía một trường tiểu học cách đó vài dãy nhà.

Đáng đời tôi chưa! Tôi đã tự hào mình là một đứa khôn lanh lõi đời nhưng lại để bị móc túi như vậy – trong lúc đang đạp xe nữa chứ! Thật không thể tha thứ được. Chuyện gì đang xảy ra thế này? Vấn đề không phải bì hồ sơ hay mấy cây viết, mà là tiền, toàn bộ số tiền tôi đã cất trong đó và mang theo vì sợ những người lạ trong căn nhà bác Chiêu. Giờ thì mất hết rồi. Tôi đã tính mua lốp xe đạp nhưng giờ thì khỏi phải bàn nữa rồi. Và tôi cũng không có bút viết để làm bài tập!
Sau giờ học, tôi kể cho bác Chiêu nghe chuyện xui rủi này.
“Không phải lỗi của cháu đâu,” bác nói. “Tình hình dạo này rối ren lắm. Chắc thằng đó biết cháu cất tiền trong đó. Cả thành phố này đang thay đổi. Có quá nhiều người lạ. Không còn ai biết được hàng xóm của mình là ai nữa. Chúng ta phải canh chừng cho nhau thôi.”
Lúc đó, người cháu trai tốt bụng của chủ nhà thò đầu vào cửa nhà tôi và nói: “Đừng lo Vân à. Anh có một cái bút Pilot cũ, anh sẽ cho em mượn. Nhưng em phải giữ gìn cẩn thận nhé, giờ thì cái gì người ta cũng lấy được hết.”
Ngày hôm sau, trước khi bác Chiêu đi trực, bác nhìn quanh để đảm bảo rằng cô Mai không để ý rồi giúi ít tiền vào tay tôi. “Đây cháu. Giờ cháu lớn rồi, khi ra đường phải có ít tiền dằn túi.”
Tôi thật sự rất vui khi có tiền.
“Nhưng cô Mai…”
“Những gì cô không biết sẽ không làm cô phiền lòng đâu.” Bác Chiêu mỉm cười. “Sau giờ làm, bác thường chạy xe ôm một, hai tiếng để kiếm thêm chút này chút kia rồi cũng dành dụm được một ít. Nhưng đây là bí mật của bác cháu mình nhé! Cháu nhớ cất tiền cẩn thận.”
Rồi bác lao đi làm còn tôi thì thấy mắt mình cay cay. Bác Chiêu là một người tốt – thích pha trò, thậm chí là với đám con nít tụi tôi, nhưng bác chưa bao giờ thể hiện mình là người tình cảm hay có trách nhiệm về bất cứ chuyện gì. Đây là lần đầu tiên trong một thời gian dài tôi cảm thấy được quan tâm chăm sóc, đặc biệt là từ một thành viên trong nhà. Bác chưa bao giờ đánh tôi hay to tiếng với tôi, và giờ thì món quà đặc biệt của bác cùng với những lời này… đó là một khoảnh khắc mà tôi không bao giờ quên.
Rồi tôi đi thay lốp xe và mua một cây bút mới, trả lại cây Pilot cho anh hàng xóm. Nhưng tôi cũng nhận được thứ khác, và thứ này đáng giá hơn cả tiền trong nhiều tuần và nhiều tháng tới.
* * *
Trường Trung học Cơ sở Sơn Hà là một ngôi trường thân thiện. Không biết có phải vì nhiều gia đình tìm nơi chốn nương tựa lũ lượt đổ về Sài Gòn đang khát khao sự an toàn hay bởi vì những học sinh lớn đã biết chúng phải giúp đỡ nhau hay không, tôi không biết, nhưng không ai để ý chuyện tôi là một đứa mồ côi. Một trong những người thân thiện và nhiệt tình giúp đỡ tôi là Phương. Bạn cao hơn tôi một chút và già dặn hơn tuổi, bạn làm tôi nhớ tới bạn cũ của tôi – Thơm, từ mùa hè rồi tôi chưa gặp lại bạn. Nhà Phương có một cửa hàng mặt tiền ở chợ gần trường chúng tôi, điều này có nghĩa là họ tương đối khá giả. Vì nhà bác Chiêu thường đông đúc, tôi rất vui khi Phương rủ tôi cùng chơi sau giờ học.
Tôi phát hiện ra Phương là một người có nhiều kinh nghiệm và rất để ý đến bọn con trai. Dường như bạn biết được gia thế và tính cách của tất cả học sinh nam trong lớp chúng tôi và vô tư tán tỉnh khi giáo viên không để ý. Bạn có một người anh họ tên An, và anh này nói rằng anh thích tôi từ cái lần tôi đến chơi ở tiệm của ba mẹ bạn. Tôi nghĩ bạn muốn chơi trò ông mai bà mối, vì hơn một lần bạn hỏi tôi có thích anh không.
“Mình không biết,” tôi nói, hơi đỏ mặt. “Tụi mình chỉ mới học lớp Tám thôi mà. Bạn không nghĩ rằng tuổi này quá nhỏ để nghĩ đến chuyện trai gái hay sao?”
“Bọn con trai tuổi nào cũng nghiêm túc cả,” bạn nháy mắt. “Thôi mà – ít nhất thì bạn cũng có đôi lời cảm nghĩ về anh An chứ.”
“Ôi trời, ảnh có vẻ quá lớn so với mình. Ảnh bao nhiêu tuổi vậy?”
“Hai mươi ba.”
“Hai mươi ba á!” tôi suýt sặc nước trà. “Lớn hơn mình tới tám tuổi!”
“Thì sao?”
“Vì sao một người con trai tuổi ảnh lại muốn hẹn hò với một đứa học lớp Tám? Có vẻ như không phù hợp lắm.”
Phương hút ly nước ngọt của bạn nghe rột rột. “Đừng lo chuyện đó. Ảnh là anh họ mình. Mình rành ảnh lắm. Ảnh không phải kiểu lập dị hay hám gái đâu. Ảnh cũng ngầu lắm đó nha. Ngoài ra, bạn viết tên ảnh suốt khi ghi tên của bạn đó thôi.”
“Là sao?”
“Thì mỗi khi bạn viết chữ Vân, bạn bắt đầu bằng chữ V và kết thúc bằng chứ An đúng không? Thôi mà. Đó là ý trời đấy. Bạn sẽ gặp ảnh lần nữa chứ. Nếu bạn không chịu gặp ảnh, ảnh sẽ lằng nhằng mình hoài cho coi.”
Tôi thoáng nghĩ về cơn cảm nắng hồi trước của mình, mối tình đơn phương mà tôi ảo tưởng với anh chàng sĩ quan đẹp trai người Việt, người đã sống vài tháng ở Trại Cá. Anh còn lớn hơn anh An, nhưng chỉ hơn một chút. Bà và mợ Nga đã nói với tôi về chuyện yêu đương trai gái vào lần đầu tiên tôi có kinh, nhưng họ lại để ngỏ nhiều thông tin mà giờ đây tôi đột nhiên cảm thấy thật liên quan. Những xúc cảm trong tôi muốn nói có, nhưng trí óc tôi lại bảo rằng không. Cuối cùng tôi lại để cho số phận định đoạt.
Vài ngày sau đó, lúc tôi vừa tan học, tôi rất ngạc nhiên khi thấy anh An trước cổng trường. Tôi vờ như không thấy anh, nhưng anh lại chạy tới, đi bên cạnh tôi.
“Chào Vân,” anh vui vẻ bắt chuyện. “Anh vừa nói chuyện với Phương về em. Em đi uống gì với anh nhé. Anh hứa sẽ không lâu đâu. Có một quán nước ở cuối đường này thôi. Em đi với anh nhé.”
Tôi đột nhiên nhận thấy cả chục cặp mắt đang nhìn mình. Dù Phương có nhiều tính tốt nhưng bạn cũng khá nhiều chuyện, nên hẳn là nhiều đứa con gái khác đang tự hỏi không biết tôi sẽ trả lời sao với tình huống này đây. Tôi tự hỏi không biết Phương đã nói gì với anh mà khiến anh tỏ ra tự tin vui vẻ đến vậy. Mọi chuyện đến quá nhanh làm tôi ngợp, nhưng chuyện tiếp theo mà tôi biết là chúng tôi đang đứng trước một quầy nước ở góc đường. Anh kêu hai ly nước mía và chúng tôi ngồi dưới một gốc phượng.
“Anh cứ hỏi Phương về em miết nhưng nó không chịu nói gì nhiều,” anh An nói.
“Phương cũng không nói gì về anh cho em biết cả,” tôi đáp lại, “trừ chuyện anh là anh họ của nó.”
Anh cười. “Cũng đúng thôi. Ừ thì anh đang làm việc cho ba mẹ, nhà có một công ty giao nhận. Thật ra anh làm hầu hết mọi chuyện và kiếm được rất khá. Ba mẹ anh cứ hỏi khi nào thì anh lấy vợ còn anh thì cứ trả lời “Khi con tìm được người con thương đã!.” Đến giờ thì anh chưa may mắn lắm.”
Tôi không thích cách câu chuyện bị lái đi nên cố đổi đề tài.
“Ờ thì gia đình rất quan trọng.”
“Anh biết. Phương nói em sống với bác và trước đây thì sống với dì và chồng của dì. Nó nói em chăm lo cho em gái mình và học rất giỏi. Nó còn nói ở trường ai cũng mến em. Liệu em có trách gì anh không nếu anh cũng mến em?”
Ôi trời, tới rồi. “Anh này,” tôi nói, “Em phải về nhà nấu cơm. Như anh nói thì gia đình của em trông đợi rất nhiều vào em. Em không muốn họ phải thất vọng. Cảm ơn anh đã mời nước nhé.”
Tôi để anh bắt tay mình, rồi nhanh chóng lủi vào đám đông. Thật mừng là anh An không đợi tôi ở cổng trường nữa, hoặc theo tôi biết thì anh cũng không cố liên lạc với tôi. Thật ra, người duy nhất cứ khơi lại chuyện này là Phương vì bạn không thể nào tin được tôi lại không chịu hẹn hò với một anh chàng điển trai và tử tế như vậy. “Này, nếu bạn cưới ảnh thì ảnh sẽ chăm lo cho bạn,” Phương nói, “Chẳng phải đó là điều bạn muốn sao?”
“Điều mình muốn là học xong và kiếm một việc làm tốt. Mình không có thời giờ để nghĩ đến chuyện trai gái.” Tất nhiên là tôi đúng, dù có lẽ đã viện sai lý do. Tôi chưa bao giờ nghĩ mình là một người nhút nhát nhưng trường đời đã dạy tôi rằng nhảy vào những điều mình chưa sẵn sàng chắc chắn sẽ không mang lại kết quả gì tốt đẹp. Tôi không chê gì anh An cả. Có Chúa chứng giám, Ba tôi lớn hơn Mẹ tôi những mười hai tuổi khi họ kết hôn, nhưng họ là những con người khác, sống ở một thời đại khác. So với thời đó thì thế giới này – thế giới của tôi – đã thay đổi rất nhiều và đang thay đổi rất nhanh. Tôi cần có sự ổn định trong cuộc sống chứ không muốn chuốc thêm rắc rối. Cuối cùng Phương cũng không buồn nhắc lại, dù tình bạn của chúng tôi cũng bị ảnh hưởng ít nhiều. Tôi nghĩ theo cách nào đó thì bạn cũng như Liên, đứa học trò cá biệt ở trường cũ của tôi. Bạn không muốn có bạn bè mà muốn có những người nghe theo bạn và có cùng sở thích với bạn. Chỉ là người đó không phải tôi mà thôi.
* * *
Giáng Sinh năm 1974, Sài Gòn chứng kiến nhiều sự biến đổi kỳ lạ hơn. Người Mỹ – lính Mỹ, nhà thầu, công nhân viên chức và công nhân – đã từng hiện diện ở khắp mọi nơi từ vỉa hè cho tới lòng đường, giờ thì càng lúc càng ít. Những quán bar, nhà hàng và những tụ điểm vui chơi ưa thích của họ giờ hoặc là đóng cửa, hoặc là dành cho người bản địa. Những tiếng máy bay ù ù vọng lại từ xa xa từng là âm thanh nghe thoải mái như tiếng sóng vỗ, nay hầu như biến mất. Những chiếc máy bay vẫn bay ra bay vào Tân Sơn Nhất nay chỉ còn là những máy bay thương mại. Bom đạn và pháo vẫn còn ầm ầm nổ trong đêm, nhưng những trận bom có vẻ bắt đầu sớm hơn và kéo dài hơn, thường là tới tận sáng. Dù vậy, bạn cũng không bao giờ biết được điều gì đang xảy ra qua thái độ của người trong nhà, giáo viên hay những đứa học trò trong trường. Chúng tôi đang ở trong cái kén ấm áp của riêng mình, và mọi người đang sợ sệt, không dám hé nhìn ra ngoài.
Đợt lễ đó tôi ở với bác Chiêu và cô Mai. Không như những mùa Giáng Sinh ở với dượng Al, tôi đi lễ nhà thờ với đám bạn cùng trường chứ không đi với gia đình, ở Nhà thờ Đức Bà – nhà thờ lớn nhất Sài Gòn, phỏng theo Notre Dame ở Pháp. Một lần nữa, tôi lại cảm thấy đơn côi trong thế giới to lớn này. Hầu hết toàn bộ thời gian không đến trường, tôi đến nhà bạn học hoặc đi tìm việc làm. Cô Mai có gia đình riêng của cô còn bác Chiêu thì làm thay ca cho những đồng nghiệp nghỉ phép và chạy xe ôm. Theo cách nào đó thì tôi cho rằng việc này rất tuyệt – không có tiếng chửi mắng, những lời hăm dọa hay những trò chơi bệnh hoạn, cũng không có những trận đòn hay công việc nhà để đãi khách. Nói cách khác, khi người ta phải làm quá nhiều để đem đến không khí lễ lạt cho mọi thứ xung quanh, thì nghỉ lễ cũng chẳng khác nào đang làm việc. Tôi nhớ Thủy, anh Quang, bà ngoại, và Bubba – chàng “hoàng tử bé” đã trở thành em trai của tôi. Tôi muốn gặp họ, nhưng việc này không đơn thuần là một tiếng ngồi xe. Tôi có thể xin bác Chiêu tiền vé xe nhưng không muốn chạm mặt dượng Al hay dì Thu. Tôi được tự do muốn đi đâu thì đi, về lúc nào thì về nhưng tôi không thấy vui vẻ gì trong sự tự do của mình.
Một phần của rắc rối này là cô Mai. Lúc đầu học kỳ thì cô khá ổn, thậm chí còn rất ủng hộ tôi, và chúng tôi đã tìm ra cách để sống chung mà không dẫm vào chân nhau. Nhưng đến cuối mùa Giáng Sinh thì rõ ràng là bất cứ điều gì tôi làm cũng khiến cô khó chịu. Cô còn bực mình hơn khi tôi ở với bác Chiêu, người đã thực sự trở thành cha đỡ đầu của tôi. Có lẽ là vì giờ tôi đã là thiếu nữ rồi, và dù tôi là cháu của bác nhưng không người phụ nữ nào muốn người đàn ông của mình quan tâm chú ý đến người khác. Cũng có thể cô biết được những cuốc chạy xe ôm sau giờ làm của bác đa phần phục vụ gái điếm, vì những cô này thích cảnh sát lái xe ôm cho họ. Tôi không nghĩ bác Chiêu ham thích những người phụ nữ đó, nhưng bác không cho cô Mai biết số tiền thực sự bác kiếm được, nói chi đến những món tiền nho nhỏ bác thường giúi cho tôi. Hơn hết, cô Mai đang mang trong mình đứa con đầu lòng của họ, một sự tiến triển khiến bác Chiêu rất vui còn cô Mai thì ủ ê, hay nghi ngờ và ghen tuông. Với không khí đáng sợ trong toàn thành phố, đây không phải là thời gian phù hợp để bắt đầu một gia đình, và cô Mai đang rất lo lắng cho tương lai của họ.
Nói gì thì nói, mọi chuyện xảy ra có vẻ làm tôi cách xa gia đình bác Chiêu hơn là xích lại gần. Tôi lần khần không muốn về nhà sau khi tan trường nên hay đi chơi với bạn bè như Phương, đi uống nước, học nhóm, đến thư viện, nhà sách, thỉnh thoảng một mình đi mọi con đường để tìm những tấm biển “Cần người giúp việc,” hỏi xin một công việc. Không ai muốn thuê một người ở tuổi tôi, đặc biệt là con gái, và đặc biệt hơn nữa là khi cả thành phố đầy rẫy thanh niên, cả nam lẫn nữ, với những cặp mắt láo liên, ăn bận nghèo khổ, và bước đi đầy ngụ ý. Đa số họ không có phương tiện sinh sống gì nhưng không ai chịu cảnh đói khát. Họ khỏe mạnh như lính tráng, và tôi hiếm khi nào thấy họ ẵm theo con cái hay đi cùng ba mẹ già – điều này khá lạ đối với phụ nữ Việt dù cho ở bất kỳ độ tuổi nào. Một lần nọ, một nhóm những người trên đường phố bẩn thỉu với ánh mắt sắc lạnh đi ngang qua cửa kính của một cửa hàng mặt tiền nơi tôi đang phỏng vấn thì người chủ tiệm kéo rèm lại. “Đồ xâm lược,” ông ta lẩm bẩm, “Đồ…..” Và không nói gì nhiều hơn. Rõ ràng với bộ đồng phục của trường công lập thì tôi không bị ai hoài nghi, nhưng tôi cũng không có việc làm – điều này không mới mẻ gì – và tôi bắt đầu giữ thêm khoảng cách giữa mình và những người mới đến đó khi tôi ra phố mỗi ngày.
Với sự quan sát của mình, tôi không thấy được điều gì có thể dự báo cho những chuyện sắp xảy ra, không có gì rõ rệt đối với một cô nhỏ học lớp Tám. Lúc đó tôi không biết được mình đang khám phá Sài Gòn – Paris của châu Á – vào những ngày cuối cùng của nó. Nhưng những người khác thì biết. Tôi nhớ mình đã thấy nhiều nam, nữ thanh niên với vẻ mặt háo hức, mắt họ chưa bao giờ nhìn tôi, và trông họ không hợp với lối sống nhộn nhịp của thành phố. Có thể hơn nửa số những người trẻ đó là Việt Cộng, họ đang chờ đợi điều mà tôi không biết được. Còn những người khác mà tôi biết chắc là những người bị quân đội của chúng tôi bỏ rơi, đang mong mỏi tìm kiếm một lối thoát. Đúng vậy, họ đã biết.
Tôi còn thấy những người vô gia cư, đàn ông, đàn bà, trẻ em lang thang khắp phố, và đói khổ. Nhìn thấy họ giúp tôi biết ơn cuộc sống mà tôi đang có. Tôi không có ba, không có mẹ, nhưng tôi vẫn có một mái nhà. Tôi không phải là họ.
Đầu năm 1975, trước Tết, bác Chiêu nói bác hay tin cậu Hải đang nhập viện tại Tổng Y viện Cộng hòa để khám một chứng bệnh chưa bộc lộ ra nhưng có thể làm cậu bị bãi khỏi Hải quân. Triệu chứng của cậu rất nghiêm trọng – tay cậu run rẩy không kiểm soát được vì bị tổn thương thần kinh, có thể từ hóa chất, có thể từ bệnh tật, nhưng dù trường hợp nào đi nữa thì cậu cũng không thể đảm nhiệm những nhiệm vụ sắp tới. Việc này làm tôi lo cho cậu lắm nên tôi ghé thăm cậu liền. Cậu rất ngạc nhiên và cũng rất vui khi thấy tôi, và với cậu, tôi vui thích khi cảm thấy mình như một cô bé nhưng những hành động của người bệnh chung phòng cậu cho thấy rằng tôi cũng không còn nhỏ nữa.
“Này em gái,” một người lính bị băng bó gọi với lại từ giường bên, “Khi nào anh ra khỏi đây, anh với em đi coi phim nhé?”
Cậu Hải nạt anh ta. “Cẩn thận miệng mồm đấy, anh bạn! Cậu đang nói chuyện với cháu của tôi đấy!”
Những người lính bị ốm hay bị thương khác cười lớn, và tôi cũng cười, hứa với chàng trai đó nếu anh nhanh chóng hồi phục, tôi sẽ chấp nhận lời mời của anh. Tất nhiên đây chỉ là chuyện đùa vui, thậm chí cậu Hải còn cười chuyện này nữa mà. Tất cả những người lính trong phòng bệnh này ở đây vì những lý do rất nghiêm trọng, và nửa số sẽ không bao giờ rời khỏi đây. Chẳng bao lâu sau, người ta cho biết cậu Hải bị bệnh Parkinson[10], và dù cậu được xuất viện – điều đó khiến cậu trở thành một trong “những người may mắn” – nhưng cậu không bao giờ là cậu như trước đây nữa.
Cuối tháng Hai, sau một cái Tết căng thẳng nhưng đơn điệu, cô Mai và tôi có trận chiến đầu tiên. Tôi từ trường về nhà và phát hiện ra ai đó đã đụng vào đồ đạc của mình làm quần áo bị xới tung lên. Ngay lập tức tôi nghi ngờ cặp vợ chồng sống kế bên, hoặc thậm chí là “anh chàng cháu trai tốt bụng” đang sống với chủ nhà. Tôi học được từ bà ngoại rằng, đôi lúc những hành động tử tế cũng chỉ là một chiêu để sống sót. Mối lo chính của tôi là cái nhẫn mắt hổ của bà ngoại mà tôi đã cuộn vào một cái váy cũ. Tiền thì tôi có thể mang theo trong cái bì hồ sơ và giữ bên mình, còn cái nhẫn quá lớn nên tôi không đeo vừa, và nếu tôi có đeo vừa đi nữa thì cái nhẫn kim cương hẳn sẽ thu hút nhiều sự chú ý không cần thiết. Ai đó đã khám phá ra nơi cất giấu của tôi và cái nhẫn đã biến mất. Lúc đó, cô Mai bước vào phòng với giỏ quần áo giặt là.
“Cô có lấy cái nhẫn của cháu không?” tôi hỏi thẳng. Cô không chối, chỉ nhìn qua chỗ khác và bắt đầu gấp quần áo trên giường của họ.
“Vì sao cô lấy nó?”
“Mày là ai mà tra khảo tao?” cô nói nhát gừng. “Lý do duy nhất mày được ở đây là nhờ có tao và lòng tốt của tao. Nếu không nhờ tao thì mày đã ở ngoài đường rồi.”
Khi nhìn cô gấp quần áo, tôi thấy cái nhẫn của bà trên tay cô.
“Vậy cái đó là gì?” tôi chỉ vào tay cô.
Cô giơ tay lên, nhìn vào viên đá, rồi quay lại với công việc đang làm. “Đây là đồ tao mượn. Tao cần đeo nó khi ra ngoài. Mọi người sẽ đặt cược nhiều tiền vào mày nếu mày có dáng vẻ của người chiến thắng. Tao sẽ trả lại thôi.”
“Lẽ ra cô nên hỏi cháu trước. Cái đó là của bà ngoại, và bà giao nó cho cháu. Cô không có quyền lấy nó.”
“Đây là nhà tao và tao muốn làm gì thì làm. Nếu mày không thích thì mày có thể đi khỏi đây.”
Chuyện này không dẫn tới đâu hết, tôi cũng không thể hạ gục cô để lấy nó, nên tôi quyết định chờ thời cơ. Tôi nghĩ đến chuyện sẽ nói với bác Chiêu nhưng rồi tôi nhận ra chuyện này cũng vô ích. Bác là cảnh sát, đúng vậy, nhưng bác cũng đã nhiều lần lách luật, và dù gì đi nữa cô Mai cũng là bồ của bác và sắp làm mẹ của đứa con của bác. Tôi cũng không cần biết bác sẽ về phe nào, ngay cả khi bác đứng về phía tôi, tôi sẽ có lại món đồ phòng khi khẩn cấp trong những lúc tiền không còn là vua nữa.
Ngày hôm sau, tôi về nhà sớm và trả đũa, tôi lục tung ngăn kéo, ví tiền và những chỗ bí mật của cô Mai, những nơi tôi biết cô sẽ cất giữ đồ quý giá. Không may là cô cũng về sớm và bắt gặp tôi ngay tại trận.
“Quá đủ rồi!” cô tuyên bố. “Đi ra khỏi nhà tao!”
Cái nhẫn vẫn còn trên tay cô, và tôi biết rằng nó sẽ ở đó mãi mãi. Tôi không những đã rút đi cây cầu cuối cùng nối giữa tôi và cô mà tôi còn đốt cháy nó. Tôi đến chỗ cái giường nhỏ của mình, nhét số đồ đạc ít ỏi của mình vào cái túi vải bố đã theo tôi qua bao nhiêu đợt bỏ nhà đi. Tôi muốn ngẩng cao đầu mà đi ra khỏi chỗ này ngay lập tức, dù không tiền không bạc, không có một kế hoạch nào, và không có một chỗ để đi.
“Thôi, đừng ủy mị như vậy,” cô Mai nói với giọng lạnh lùng. “Mày có thể đi vào sáng mai, sau khi tạm biệt bác Chiêu của mày.”
Tối đó, bác Chiêu làm việc rất khuya, chắc chắn là đang cố kiếm chút tiền từ việc chạy xe ôm cho đến khi đường phố trở nên quá nguy hiểm. Tôi không muốn dành cả đêm để ngó cô Mai nên tôi đi ngủ sớm, trùm mền kín đầu để khỏi nghe những bài hát từ chiếc radio của người hàng xóm. Tôi bắt đầu khóc, rồi ngừng. Tôi không muốn cô nghe thấy và tự mãn với chiến thắng của mình. Tôi đang lo sợ, và cũng rất quyết tâm. Tôi sẽ không trở lại Trại Cá. Nếu không tìm được nơi để ở, tôi sẽ sống trên đường, tìm việc làm và tồn tại. Dù vậy, tôi cũng khóc thêm một chút, khóc âm thầm lặng lẽ. Tôi cảm thấy mình không còn nơi để quay lại, không còn chốn an toàn để ở, không gia đình. Nếu tôi cần có một thiên thần hộ mệnh thì đó là ngay lúc này đây.
Giọng của Mẹ đến với tôi trong bóng tối, Mẹ vỗ về tôi, và cho tôi sức mạnh.
Mục đích của con là sống, dù trong một căn nhà hay ngoài đường phố. Nhiệm vụ của con là sống, dù giàu sang hay nghèo đói. Công việc của con là phụng sự Chúa, dù lúc trồng lúa hay khi bán rau. Con sẽ sống bởi vì con là một người con gái và là một người chị, và ngôi mộ không phải là mục đích của con.
Đột nhiên, cái nhẫn không còn quan trọng nữa. Cô Mai không còn quan trọng nữa. Tương lai không còn quan trọng nữa. Điều quan trọng là tôi đang nằm trên chiếu và sự bình yên lan tỏa trong tôi cứ như thể tôi đang được ngủ trong lòng Mẹ.
* * *
Sáng hôm sau, tôi để túi đồ trên giường và đi học. Giờ giải lao đầu tiên, tôi kể cho Phương biết chuyện tôi sẽ không sống ở nhà bác Chiêu nữa, và có thể tôi sẽ phải sống ngoài đường. Lần này, Phương trở nên thực tế hẳn và bạn cho tôi những lời khuyên rất hữu ích. Bạn nói “Chờ ở đây” rồi đến chỗ thầy giám thị. Thầy đã lớn tuổi, ít nhất là bằng tuổi Ba tôi, và trông giống một người ông hơn là một thầy giáo. Thầy cho tôi cảm giác thầy là người thực tế, từng trải và rất quan tâm đến đám học trò tụi tôi. Tôi chỉ gặp thầy một lần để bàn với thầy về những kỳ thi cuối cùng của lớp Mười một, đây là chìa khóa để có thể tốt nghiệp trung học bất kể điểm số hằng ngày của bạn có tốt như thế nào đi nữa. Tôi rất hay lo lắng vu vơ về những kỳ thi đó, không biết có lý do gì không. Những kỳ thi đó không có trong tương lai của tôi.
Vài phút sau, Phương quay lại với thầy giám thị, nói rằng bạn đã kể vắn tắt tình cảnh của tôi và thầy có cách giúp tôi.
“Đừng lo lắng,” thầy nói. “Em là một học sinh giỏi và chăm chỉ, đường phố không phải là nơi dành cho em. Em có thể đến sống với thầy và gia đình thầy, nếu mọi chuyện suôn sẻ, thầy sẽ làm giấy tờ nhận nuôi em để em không phải lo về những chuyện như vậy nữa.”
Lời thầy như một cái phao cứu hộ được thả xuống cho một người sắp chết đuối, nhưng vì có nhiều kinh nghiệm chuyện nhận nuôi nên tôi không chắc đây là một ý kiến hay. Cho đến lúc này (ngoại trừ bà ngoại), cuộc đời tôi có nhiều người giám hộ nói một đằng nhưng làm một nẻo, thường là vì chuyện tiền bạc. Nhưng tôi đã khốn cùng và sợ rằng nếu tôi từ chối thầy (và vì là giám thị nên thầy đã thấy những chuyện này nhiều lần), Phương lại khơi lại chuyện anh An và có thể tôi sẽ trở thành cô dâu ở tuổi thiếu niên – hiện giờ, tôi đã tới đường cùng nên có khả năng sẽ làm vậy. Vì thế, tôi thử đến sống cùng gia đình thầy giám thị.
Sau buổi học, tôi về lấy đồ, không nán lại lâu để chào bác Chiêu. Rồi tôi quay trở lại trường với hành lý được cột sau xe và đi theo thầy giám thị về nhà thầy. Chiều xuống và bóng tối tràn về, mọi người trong nhà thầy về nhà, thầy giới thiệu tôi với họ khi họ vào nhà. Vợ thầy là người mực thước và thân thiện, làm tôi liên tưởng đến mợ Nga. Hai người con trai của thầy trạc tuổi anh An, ngay từ ban đầu đã nói rõ rằng tôi không có chỗ trong gia đình họ – không phải là một khởi đầu tốt đẹp. Cuộc thảo luận sôi nổi giữa ba cha con trở thành một màn cãi vã, rồi hai người con nhảy lên xe máy và phóng đi. Tôi không nói lời nào cả. Con gái của thầy, chị nhỏ hơn các anh của mình một chút, đã nhìn tôi một cách thương hại nhưng cũng không đứng về phe nào hết. Sau khi hai người con trai đi khỏi, bốn người còn lại im lặng chuẩn bị bữa tối. Bụng tôi còn đang chộn rộn vì lo lắng nên tôi hầu như không nuốt nổi thứ gì, hi vọng rằng việc tôi ăn ít không làm những người chủ nhà cho rằng tôi không biết ơn họ.
Sau bữa tối, tôi phụ lau dọn, người con gái chỉ tôi chỗ ngủ. Chúng tôi lên cầu thang, tới một tầng gác mái, nơi có những thanh xà và những miếng bìa phẳng làm mái. Nền nhà là hai tấm gỗ lớn, hay kêu cót két mỗi khi tôi bước đi, tôi không biết bên dưới đó là gì. Cuối phòng là một căn phòng nhỏ với bệ thờ Phật, nơi cả gia đình thỉnh thoảng tụ tập lên đây để thắp nhang, cúng kiếng và cầu nguyện tổ tiên. Ngay lập tức tôi nghĩ đến Trúc, và trong khi một phần trong tôi cảm thấy dễ chịu, phần còn lại co rúm lại, mệt mỏi và buồn nôn. Thức ăn cũ để đầy trên bàn thờ (thường thì nó được thay mới mỗi ngày để bọ và gián chuột không bu tới – người con gái nói rằng hôm nay chị chưa thay đồ cúng mới), và mùi nhang thơm đến chóng mặt, lan tỏa khắp nơi. Chị đưa tôi một cái mền và nói tôi có thể chọn bất cứ chỗ nào để để đồ đạc và nằm ngủ. Mệt mỏi và lo lắng không nói nên lời, tôi chọn một chỗ mà tôi nghĩ Phật không nhìn tôi, và nằm xuống như người lính khi ra trận.
Vậy cớ sự là như thế này đây, tôi nghĩ. Từng đêm một, ngày qua ngày. Tôi sẽ sống. Tôi sẽ sống sót. Ngôi mộ không phải là mục đích của tôi.
Sáng sớm hôm sau, ngày 4 tháng 3 năm 1975, tôi dậy sớm sau một đêm say giấc và nói với thầy giám thị rằng tôi sẽ nghỉ học hôm đó để về thăm bà ngoại và báo cho bà hay chỗ tôi đang ở. Tôi nhờ thầy viết giúp tôi lá thư mà trong bữa ăn tối hôm trước thầy có nói tôi sẽ cần đến: như là, tôi sống ở nhà thầy hoàn toàn tự nguyện, không phải bị dụ dỗ hay bị ép buộc, và rằng tôi muốn gia đình thầy nhận nuôi tôi. Thầy nói được rồi, bức thư sẽ sẵn sàng cho tôi ký ngay khi tôi trở lại, thầy chúc tôi đi bình an. Tôi vẫy tay chào tạm biệt thầy và vợ thầy như thể tôi đã trở thành con gái của họ, rồi đạp nhanh đến trạm xe cứ như bị ma đuổi. Tôi cảm thấy thoải mái hơn khi biết rằng tôi có một cái phao cứu sinh, nhưng tôi lại lo sợ phải ngủ thêm một đêm trước đôi mắt mở trừng trừng của Phật. Tôi muốn được thư thả đầu óc và lắng nghe lời khuyên của bà.
Tôi đến trạm xe đò vừa kịp lúc xe trờ tới, anh lơ giúp tôi khiêng xe đạp lên xe. Xe chạy thẳng đến Đa Minh, nhưng nếu không có xe đạp, tôi sẽ phải đi bộ rất xa mới tới Trại Cá nên mới mang xe đạp theo. Cuối cùng xe dừng ở bên đường, gần ngã tư Tam Hiệp, tôi xuống xe. Bên kia đường lộ là một tháp nước lớn ngay lối vào khu công nghiệp Bình Đa. Nó làm tôi nhớ đến Con Quái Vật xưa kia của tôi khi còn ở đồn điền, tôi khúc khích cười khi nghĩ đến chuyện đó. Tôi dắt xe đạp băng qua xa lộ giữa dòng xe cộ tấp nập, khi đến giữa đường, tôi phải nâng cao chiếc xe đạp qua con lươn. Tôi nhớ lại chặng đường dài tôi đã trải qua cái ngày quan trọng khi tôi đánh bại Con Quái Vật với cái bóng ghê sợ của nó và…
Tiếng còi xe vang lên chói tai và chiếc xe tải không biết từ đâu xuất hiện. Cả thế giới đổ ập vào tôi, và tôi rơi vào vòng tay của một thiên thần trầm lặng. Người bay với tôi xuyên qua không khí và nhẹ nhàng đặt tôi xuống vệ đường nhiều cỏ dại. Tôi nhận ra người – người là một trong hai thiên thần tôi đã gặp bên trên mái nhà của chúng tôi ở Phú Nhuận hồi tôi bốn tuổi. Người thật đẹp và dịu dàng! Người cười với tôi, và tôi cười với người. Rồi, cuối cùng, tôi có một giấc ngủ ngon.
* * *
Một khe ánh sáng trở nên sáng hơn và những tiếng nói vang lên xung quanh tôi.
Tôi không biết. Trông có vẻ trầm trọng. Giờ thì sao? Được rồi, cho ống truyền nước chảy nhanh hơn. Cô bé nói gì thế? Tôi cho rằng cô nói điều gì đó. Lạy Chúa tôi, làm sao cô bé có thể sống được sau tai nạn đó? Có lẽ phải cưa bỏ cái chân. Chúng tôi cần miếng băng gạc khác…
Từ từ, vẫn không thể thấy gì ngoài ánh đèn pin mà bác sĩ đang rọi vào mắt tôi, những hình ảnh bắt đầu được hình thành. Người ta đang đứng trước mặt tôi, che bóng bầu trời xanh bên trên. Giờ thì tôi đang ở trên một chiếc xe lam, nằm ngay đơ. Giờ thì tôi đang nằm trên giường – không phải, trên một chiếc xe đẩy trong một căn sảnh. Có vẻ như đã rất lâu. Nhiều người đi ngang qua tôi. Nhiều tiếng ồn. Tôi giơ tay lên để sờ má vì nó nhức buốt và đau rát, nhưng chỉ sờ thấy một cái lỗ nhầy nhụa. Tôi nuốt hơi nhưng cảm giác như đang nuốt cát sỏi. Ai đó đã sơn sơn đỏ lên tay tôi. Ai đó đang nói đùa! Tôi ngủ trở lại.
Giờ thì khe sáng biến mất, tôi thấy vài người mặc áo trắng nói chuyện bằng giọng rầm rì bên giường của tôi. Một người phụ nữ mặc áo trắng đang dùng khăn chặm vào mặt tôi, cơn đau làm tôi muốn ngất lịm. Cô dừng lại. Tôi nghĩ là tốt hơn hết nên tập trung nghe xem hai người đàn ông với vẻ mặt lo lắng đang nói gì.
Miệng dập nát. Mất máu, mất răng và xương. Không còn mấy mô sót lại chỗ bắp chân đó. Có ai biết cô bé là ai không? Rồi, lại một Jane Doe[11] nữa. Tốt nhất là nên canh chừng cô bé. Cố gắng làm cô bé dễ chịu hơn.
Dễ chịu sao?
Một gương mặt nữa cúi xuống nhìn tôi. Tôi nhận ra đó là xã trưởng của Đa Minh, một vị khách quen của Trại Cá và là một người bạn của dượng Al. Tôi cố nói nhưng không thốt nên lời. Vị xã trưởng quay sang người phụ nữ với cái bì hồ sơ. “Tôi biết cô nhỏ này. Ba nó có một trại cá trê ngay bên ngoài xa lộ. Một người Mỹ với mấy đứa con gái. Đây là đứa lớn. Tên nó là Sissy hay Sissu hay đại loại như thế. Tôi sẽ báo cho ba mẹ nó biết.”
Rồi ai đó nắm lấy chân tôi, rồi đèn tắt trong một lúc lâu thật là lâu.
* * *
Thực tại quay trở lại, nhưng chỉ như một vị khách với những chuyến ghé thăm ngắn ngủi. Một trong những người ghé thăm sớm nhất là dượng Al và dì Thu, có lẽ là trong đêm đầu tiên tôi ở nhà thương nhưng cũng có thể một, hai ngày sau đó. Ngoài việc nhớ mang máng là thấy vẻ mặt nghiêm trọng của họ, tôi không thể nhớ được họ đã nói gì hay tôi có nói gì với họ hay không. Thời gian không có ý nghĩa gì với tôi ngoại trừ những đợt uống thuốc giảm đau, tiêm thuốc, những đợt y tá tới để rửa chân trái của tôi bằng Mercurochrome[12] khiến tôi thấy đau rát như bị hàng triệu con ong đốt. Tôi bắt đầu nhận ra người bác sĩ lúc nào cũng cười một nụ cười chiếu lệ mỗi khi đến giường tôi. “Không bị gãy xương. Không bị nhiễm trùng. Đúng là kỳ tích!” là điệp khúc quen thuộc của ông ta, thỉnh thoảng những bác sĩ khác đi theo để dòm cái đứa người không ra người, ngợm không ra ngợm là tôi cũng có cùng ý kiến.
Cuối cùng, tôi cũng khỏe hơn, vị bác sĩ cũng đã biết rõ bệnh tình của tôi nên cho tôi biết sự thật.
“Tin hay không thì tùy nhưng em rất may mắn,” ông ta nói, nhìn vào biểu đồ của tôi. “Em bị dập nhiều chỗ và bị tụ máu – những triệu chứng chúng tôi thường thấy ở những tai nạn như vậy, nhưng không bị gãy xương, không tổn thương nội tạng, đây là một điều may mắn. Em bị mất nhiều cơ ở bắp chân trái, nhưng nếu em đừng để bị nhiễm trùng thì chỗ đó sẽ lành lại và hoạt động bình thường, dù vậy em có thể bị một số vấn đề ở lưng khi lớn lên. Hàm trên và hàm dưới bên trái bị thương nặng, và răng cửa hàm trên gần như bị gãy hết, vài cái ở hàm dưới bị mẻ và bể, nên em không được ăn thức ăn đặc trong một thời gian. Chúng tôi sẽ trị thương và cố định lại hàm nhưng ở đây không có đủ thiết bị để phẫu thuật chỉnh hình, nên ba mẹ em phải thu xếp phần này. Họ nói họ sẽ trả tiền để em ở phòng riêng nhưng ở đây không có phòng riêng. Đây là nhà thương công và bệnh nhân được xếp nằm chung phòng. Tuy nhiên, tôi sẽ báo y tá chắn riêng giường em để em có chút không gian riêng. Em sẽ không thể ngồi dậy hay nói chuyện trong khoảng một, hai tuần, nên em phải nằm lại đây một thời gian nữa.” Ông ta đứng dậy, chuẩn bị rời đi, rồi quay lại. “Sau khi bộ khung cố định hàm được tháo khỏi mặt em, tôi khuyên em nên tránh xa cái gương. Rồi em cũng sẽ quen với diện mạo của mình – chúng tôi có nhiều ca bị thương ở chiến trường phải bị cắt bỏ một phần thân thể và tất cả bọn họ cũng đã quen – nhưng em sẽ bị sốc khi lần đầu tiên nhìn thấy mình. Tốt nhất là cứ từ từ.” Những lời nói thẳng của ông rất khó nghe, nhưng cho đến hôm nay, khi nhớ lại, tôi nghĩ ông là người tử tế khi thông báo những lời kinh khủng đó với một đứa con gái mười lăm tuổi.
Từng ngày một. Từng đêm một. Tôi sẽ sống sót. Ngôi mộ không phải là mục đích của tôi.
Tôi không kể với bất cứ ai về cú bay xuyên không khí và được thiên thần của tôi nhẹ nhàng đặt xuống đất.
Sau thông báo đúng và đủ của người bác sĩ về tình trạng của mình, tôi nghỉ ngơi và bắt đầu tập làm quen với nhịp điệu ồn ào của nhà thương. Tôi cũng cố gắng để quen với ý tưởng tránh xa những cái gương, như loài ma cà rồng. Từng người từng người, bạn bè tôi ở trường và gia đình tôi ở Trại Cá – gồm cả dượng Al và dì Thu, nhưng vì lý do gì đó mà không có bà ngoại và em Thủy – đến thăm tôi, nhưng họ không ở lại lâu. Họ không có vẻ sốc, chỉ buồn mà thôi. Một vị khách bất ngờ đến thăm là mẹ của người tài xế xe tải đã tông tôi. Bà đến hầu như mỗi ngày, rửa ráy cho tôi, chải đầu tôi, xoa bóp lưng và vai tôi, và giúp tôi nghiêng người khi y tá bận rộn. Tôi nghĩ bà ấy là một người tốt và có thể là một người theo đạo Phật ngoan đạo cố gắng tích đức để có nghiệp tốt. Bà rất tốt bụng và chăm lo tôi rất chu đáo, nhưng cuối cùng tôi cũng biết được rằng bà có động cơ khác.
“Con trai bác là người tốt,” một ngày kia bà nói khi đang chăm sóc tôi. “Nó cảm thấy rất buồn vì vụ tai nạn. Nó là một tài xế cẩn thận và chưa bao giờ gây ra một tai nạn nào cả! Nếu chuyện tồi tệ hơn thì sẽ kinh khủng lắm – cháu biết đấy, như là rắc rối với cảnh sát hay luật sư hay những chuyện tương tự vậy. Chuyện không đáng để phải như vậy, đúng không cháu? Không đáng chút nào sau những gì cháu đã trải qua.”
Bà là người tốt, nhưng rõ ràng là bà quá hoảng sợ và cho rằng tôi hoặc Ba Mẹ tôi sẽ kiện con bà hoặc công ty sở hữu chiếc xe tải đó. Bà còn nói thêm gia đình họ nghèo lắm, việc làm của con trai bà là nguồn thu nhập duy nhất trong gia đình. Nếu anh ta bị thu bằng lái, tất cả bọn họ sẽ phải sống ngoài đường. Chúng ta không nên làm cho chuyện tồi tệ hơn. Đó là một tình huống buồn cười và vì tôi không thể nói được với cái hàm bị băng bó, tôi chỉ có thể gật đầu – là đồng cảm hay đồng ý thì bà ấy phải tự mình quyết định lấy.
Trong quyển nhật kí nhỏ tôi viết trong suốt những ngày ở nhà thương, ngày 11 tháng 3 năm 1975, tôi đã viết về một cuộc thăm viếng của một người bệnh khác tên Thảo, chị đã kể cho tôi nghe chuyện của chị. Em trai chị đang chơi diều và để diều vướng vào cột điện trước nhà. Từ ban công, chị dùng chổi để gỡ diều ra và bị điện giật, chị bị bỏng nặng. Dù vậy, chị vẫn rất vui vẻ, tràn đầy lạc quan, luôn mỉm cười và cố gắng làm tôi vui. Mẹ của chị ngày nào cũng vào để lau vết thương cho chị, và hứa rằng họ sẽ đưa chị đến Pháp để phẫu thuật thẩm mỹ. Tôi rất mến chị Thảo – chị rất can đảm và tôi biết rằng chị còn đau đớn hơn tôi rất nhiều. Cả hai chúng tôi ra viện cùng một ngày – ngày 24 tháng 3 năm 1975 lúc 12 giờ 25 phút chiều. Chị cho tôi địa chỉ, nhưng ít ngày nữa thôi, cuộc đời tôi sẽ thay đổi rất lớn – lại thêm một lần nữa – nên tôi không bao giờ gặp lại chị.
Cuối cùng thì tôi cũng được tháo băng để vết thương tự lành, dù tôi có ý định nhìn mình trong gương nhưng tôi vẫn nghe lời bác sĩ… Tôi ra viện với rất nhiều thuốc và một tờ giấy chỉ dẫn của bác sĩ, toàn viết bằng tiếng Pháp. Cái băng gạc được tháo khỏi hàm của tôi, đó là một điều vừa may vừa không may. Tôi chỉ có thể uống canh, môi tôi và vết khâu đau rát khi dùng ống hút nên lúc nào tôi cũng đói. Nhưng y tá đã kiên quyết căn dặn: thực hiện chậm rãi, không được nói quá nhiều, không được nhai, trở lại nhà thương ngay lập tức khi có dấu hiệu chảy máu ở bất cứ đâu. Mẹ của người tài xế cho tôi tiền taxi như một món quà chia tay, kèm theo bài giảng cuối cùng về sự tha thứ, nên tôi coi như vụ này kết thúc. Khi tôi bước đi khổ sở ra khỏi nhà thương – một mình – tôi đi ngang qua một đoàn người dài như bất tận với những vết thương mới toanh đang chống nạng hoặc gậy, trên những cuộn chiếu, trên xe đẩy hoặc trên những xe đẩy hàng, và nhiều người nằm băng ca hay trên xe băng. Có điều gì đó rất tồi tệ đã xảy ra hoặc đang xảy ra – trong một tháng tôi ở nhà thương, nhưng mọi người không nói về điều đó. Đây là lần duy nhất tôi thấy mừng vì mình không thể hỏi được.
Với số tiền mẹ người tài xế cho tôi, tôi cũng không đủ trả taxi, vì vậy tôi đón xe lam và nói người tài xế chở tôi về Trại Cá – ông ấy biết rõ đó là đâu. Vì sao tôi lại trở về đó mà không về lại nhà của thầy giám thị, tôi không thể nói được, ngoại trừ tôi rất nhớ anh tôi, em tôi, bà ngoại tôi và tôi cũng cho rằng mình sẽ hồi phục sớm sau rặng tre tách biệt với thế giới bên ngoài của dượng Al. Tôi cũng sợ khi để Phương và những bạn bè khác ở trường Sơn Hà thấy tôi trong tình trạng này, và điều này, theo tôi thấy, có thể sẽ là vĩnh viễn. Là một nàng Lọ Lem không được bà tiên giúp đỡ đã đủ tồi tệ rồi, giờ thì tôi lại trở thành thằng gù Quasimodo[13].
Khi tôi đến Trại Cá, cổng để mở nên tôi bước vào. Cả gia đình đang ở nhà, và mọi người đón chào tôi như một người chị em lưu lạc từ lâu, và thực tế thì đúng như vậy, ngoại trừ dượng Al và dì Thu. Sự lạnh lùng của họ ngay lập tức cho tôi biết rằng tôi không được chào đón, nhưng tôi cảm thấy mình không còn nơi nào nữa để về nên không quan tâm đến thái độ của họ. Anh Quang vui khi gặp lại tôi, còn em Thủy ôm lấy tôi, nước mắt đầm đìa và không chịu rời tôi nửa bước. Bà ngoại phủi bụi và lau mồ hôi quanh vết thương của tôi, bảo Thủy thu dọn chỗ trong phòng em cho tôi ngủ, và cất số thuốc tôi mang về nhà. Tôi cũng nói với dì Thu tôi sẽ ở lại cho đến khi tôi khỏe trở lại. Nhiều người làm khác ở Trại Cá mà không phải bạn của tôi, như anh Ngọc, tiếp tục giữ khoảng cách với tôi, như dì dượng bảo.
Tối đó, chúng tôi có một bữa tối ấm cúng trong phòng khách (dượng Al và dì Thu ăn riêng trong phòng ăn). Anh Quang làm tôi cảm thấy bớt ghê sợ mình khi anh trêu tôi lúc tôi ăn cháo loãng bằng bên miệng phải của mình. Ông Ba là người đầu tiên chống đối lại sự tẩy chay của chủ và bảo rằng nếu tôi ăn hết số tôm băm mà ông làm, chỗ cơ ở bắp chân trái của tôi sẽ nhanh chóng hồi phục. Và mọi sự theo chiều hướng này trong ba tuần. Tôi khỏe hơn, nói tốt hơn và có thể làm người khác hiểu được lời tôi nói. Dù vậy dượng Al và dì Thu vẫn xa lánh tôi cũng như tôi xa lánh họ. Cả hai người đều mong rằng tôi sẽ rời khỏi khi bà ngoại nói rằng tôi đã khỏe trở lại.
Khi đang dưỡng bệnh, bác Chiêu đến với túi đồ của tôi, bác đã lấy từ nhà thầy giám thị. Rất may là bác cảm thấy khá thoải mái về mọi chuyện – Đúng là bác Chiêu! – và tôi nhận ra rằng tôi yêu mến đức tính này của bác biết chừng nào. Bác nói rằng khi tôi không về nhà sau cuộc cãi vã với cô Mai, bác đến trường tôi và hay tin tôi đã dọn đến nhà của một trong những người trong trường và đừng lo lắng, tôi đang ở một chỗ tử tế. Không yên lòng với điều này, bác Chiêu tìm ra thầy giám thị và nói chuyện với thầy, một phần để xem thử thầy là người như thế nào, phần cũng muốn gặp tôi. Khi thầy giám thị nói tôi đi thăm bà ngoại ở Đa Minh chưa về, bác Chiêu rất lo lắng và liên lạc với bà, rồi mọi việc bắt đầu từ đó. Tất cả mọi người đổ xô đi tìm tôi, họ kiểm tra các nhà thương và cả đồn cảnh sát, rồi cuối cùng một người bạn của dượng Al, ông xã trưởng đã xác minh tôi là một trong những Jane Doe ở một nhà thương công. Bác Chiêu xin lỗi tôi vì tôi phải ra đi và phải ở nhà của thầy giám thị. Tôi cảm ơn bác đã giúp tôi, đã hiểu cho tôi và đã mang đồ đạc của tôi về Trại Cá. Nhờ bác, tôi sẽ không phải trở lại Sài Gòn để tự mình lấy đồ từ tầng gác mái thờ Phật và trường Trung học Sơn Hà. Nếu tôi muốn bắt đầu một chương mới trong cuộc đời mình, thì ít nhất tôi muốn bắt đầu với một trang trắng, và tôi có thể chọn một con đường tránh xa dượng Al và dì Thu ở bất cứ hướng nào. Tôi cầu xin Chúa, Đức mẹ Maria và thiên thần hộ mệnh tiếp tục đưa đường dẫn lối cho tôi, giúp tôi tháo gỡ những rắc rối mà tôi đang vướng vào.
Giữa tháng Tư năm 1975, môi của tôi đã lành và có thể húp canh bình thường. Những vết thương hở phía trong miệng, ngoài má và trên mũi đã khép lại để tôi đủ can đảm nhìn mình trong gương. Phần lợi ở hàm trên đã đủ cứng cáp để tôi có thể ăn một ít tôm băm của ông Ba thay vì húp nó. Cuối cùng tôi cũng nạp đủ protein cần có để hồi phục. Hơn hết thảy, như ông Ba hứa, cái lỗ toang hoác to đùng ở bắp chân trái của tôi đã bắt đầu căng phồng trở lại như một quả bóng – không phải do nhiễm trùng, điều mà các bác sĩ và y tá lo sợ nhất, mà do phần cơ đã bắt đầu góp phần vào cân nặng ít ỏi của tôi. Tôi chưa thể đạp xe, và có Chúa biết là tôi sẽ không thể trở thành một chiến binh, nhưng bằng cách nào đó, tôi biết Ba sẽ tự hào về tôi dù Ba đang ở bất cứ nơi đâu. Tôi đã sống, và một lần nữa tôi cảm ơn thiên thần hộ mệnh của mình.