Cuối cùng, dượng Al và dì Thu cũng tìm được nơi mà họ hi vọng sẽ là Cõi Niết Bàn gần làng Đa Minh, một ấp ở phía tây Long Bình, cách Sài Gòn một giờ đi đường. Khu đất này trước đây thuộc sở hữu của linh mục Công giáo rộng hơn 20,000m2 và gần Quốc lộ 15. Dượng Al rất phấn khởi về địa điểm cuối cùng này, và nó cũng giải thích vì sao tất cả những ngôi nhà của chúng tôi đều gần đường lớn, ít nhất là tại Việt Nam. Theo dượng giải thích, nếu có biến, chúng tôi có thể nhanh chóng thoát khỏi khu vực này. Rõ ràng là dượng không tính tới chuyện những người khác nữa cũng sẽ chạy khỏi chiến trường, nhưng đó cũng chỉ là giả thuyết của dượng mà thôi.
Khu đất này nằm sau một trạm xăng, ba mặt được bao quanh bởi những bụi tre cao chót vót. Nơi đây có một ngôi nhà chính, một dãy nhà kho, chuồng trại, và chín ao cá nước ngọt. Nước từ con suối nhỏ được dẫn qua đường ống cống xuyên qua hàng rào tre, bờ đê, chảy vào mấy cái ao cá qua khung cửa lưới. Con suối có nước quanh năm và chảy ra sông Đồng Nai, với nguồn nước đều đặn, nhưng lâu lâu cũng bị ảnh hưởng bởi thủy triều từ biển Đông. Dượng Al có thể nuôi cá để cung cấp cho chợ và thu hút khách tham quan mà không cần dùng đến máy bơm hay những dụng cụ tốn kém khác. Đây cũng là giả thuyết của dượng. Dượng có kinh nghiệm với các loại máy móc thiết bị, lại một người có máu kinh doanh, nên tôi tin vào ý tưởng trại cá của dượng hơn là kế hoạch trốn tránh khi có biến.
Lợi ích của đất đai rộng lớn là những đàn gia súc, gia cầm thả vườn (vịt, gà, chim cút, và thậm chí là một đàn heo nhỏ) chạy xung quanh và nhiều loại cây ăn trái tươi tốt nhận nước tưới từ con suối như xoài, mít, mãng cầu, mận, ổi, vài giống chuối, và một bãi mía. Đất ở đây khá màu mỡ, thuận tiện cho việc trồng rau. Dần dần tôi cũng nghĩ rằng, nếu chúng tôi không phải chạy trốn chiến tranh thì có thể sống mãi ở đây, dựa vào cá, hoa màu chúng tôi tự trồng được. Nếu không ăn hết, chúng tôi có thể bán ngoài chợ, nhưng trong chuyện này bà ngoại có kinh nghiệm hơn tôi nhiều.
“Bà nghĩ chúng ta có thể bán những thứ dượng Al không dùng tới không?” tôi hỏi.
Bà thổi ra một luồng khói thuốc và đăm chiêu nhìn về phía đồn điền mới của chúng tôi. “Để bà xem,” bà nói, “Để bà xem.”
Ngôi nhà chỉ cách cổng chính một quãng ngắn. Nó khá tồi tàn nhưng chỉ trong vài tuần dọn về, dượng Al đã sửa lại. Thợ mộc của dượng là ông Phước, một người miền núi (người Mường) đã làm việc cho dượng Al ở Long Bình. Ông tết tóc thành một bím dài tới thắt lưng và luôn mặc đồ màu trắng – một sự lựa chọn kỳ lạ đối với một người lúc nào làm việc cũng lấm bẩn và dính đầy bụi cưa – nhưng rõ ràng đây là phép tắc trong tôn giáo của ông – đạo Cao Đài, đạo thờ Thần Một Mắt. Ông là người nghiêm túc và ít khi nào cười nên tôi tự đặt ra thách thức cho mình: làm ông cười, học nghề của ông và tìm hiểu thêm về tôn giáo của ông. Dượng Al không thích điều này vì dượng cho rằng tôi làm ông xao nhãng (hẳn đúng như vậy) nhưng sau một thời gian mang vác dụng cụ, tìm gỗ và đinh cho ông, ngoài chuyện hoàn thành tất cả công việc của mình trước, đội của tôi trở nên ăn ý và làm việc hiệu quả hơn. Ông dạy tôi rằng đạo Cao Đài là một trong những môn phái của đạo Phật, và ông cũng tin vào hầu hết những điều Trúc cho tôi biết: thờ cúng tổ tiên, không sát sinh, ăn chay và tuân theo việc thờ cúng. Tuy nhiên, không như người theo đạo Phật, ông cho rằng sát sinh dù với bất cứ lý do gì cũng bị cấm. Một lần, khi ông và vài người thợ địa phương đang ăn trưa, khi có người đập chết một con ruồi, ông Phước đã bật khóc. Ông nói với người thợ rằng mọi loài đều có quyền được sống và con người không được can thiệp. Đây là một suy nghĩ hay, nhưng tôi tự hỏi liệu ông có biết dượng Al đang có ý định gì với lũ cá đang bơi lội trong mấy cái ao không.
Khi công việc hoàn thành, căn nhà của chúng tôi trông rất mới. Dượng Al xây thêm phòng ăn riêng, nhìn ra một cái ao (hầu hết mọi gia đình Việt đều dùng bữa trong phòng chính của ngôi nhà), và một căn bếp hiện đại với nhiều tủ chén xung quanh bồn rửa và bếp. Dượng còn xây hai phòng ngủ mới: một phòng lớn cho dượng và dì, phòng còn lại rộng hơn (cho bà và lũ trẻ chúng tôi) được dượng ngăn thành khu con gái và khu con trai bằng một cái tủ lớn hai mặt để chúng tôi đựng quần áo. Nhưng hơn hết thảy là phòng tắm hiện đại trong nhà, và căn phòng này, cũng được xây như ở Long Bình, trở thành căn phòng được dùng nhiều nhất.
Sau vài tuần sống ở đây, tôi hiểu được vì sao dượng Al bỏ nhiều công sức để xây phòng ăn và bếp. Dượng vẫn còn nhớ nhà hàng của mình. Tuy dì Thu là một đầu bếp giỏi và tận tụy nhưng dượng Al mới là bếp trưởng, và dượng quyết tâm tập cho chúng tôi yêu thích thức ăn Mỹ. Mỗi khi dượng nấu pancake[7] cho bữa sáng, hamburgers và bánh mỳ kẹp xúc xích cho bữa tối thì chúng tôi luôn ăn trong phòng ăn. Điều này có vẻ kỳ lạ vì người Mỹ chỉ coi đó là “thức ăn đường phố,” nhưng đối với chúng tôi, đó là những món ăn ngoại quốc tuyệt vời. Thế nên chúng tôi chỉ im lặng ăn hết dĩa này đến dĩa khác. Khi dì Thu hay bà ngoại nấu những món truyền thống trong bữa cơm Việt, chúng tôi ăn ở gian nhà ngay bên ngoài cửa chính.
Ngôi nhà chính được sửa sang đẹp đẽ không phải là điều cuối cùng dượng Al muốn xây sửa trong đế chế mới của mình. Kết nối với căn phòng mới xây là lối đi đến hai căn nhà song lập, mỗi căn có thể được sử dụng riêng rẽ, tuy khá nhỏ nhưng cũng đủ cho một gia đình sinh sống. Lúc này, vì chúng tôi ở gần Đô thành hơn nên cậu Hải đưa mợ Nga và ba cô con gái đến sống trong một căn khi cậu phải qua nước Guam tập huấn trong một năm với Hải quân Mỹ. Căn còn lại, dượng Al cho một sỹ quan Không quân người Việt thuê, và tôi đã ngay lập tức xiêu ngang xiêu dọc anh.
Anh sỹ quan Không quân nhỏ hơn dì Thu vài tuổi, dù vậy theo tôi biết thì dì chưa bao giờ tán tỉnh anh và giữ mối quan hệ của họ ở mức công việc đơn thuần. Có lẽ do người đàn ông này “cắm” ở nhà chúng tôi như một vệ sĩ không chính thức. Dượng quen với chỉ huy của anh ở Biên Hòa, và họ cho rằng sự có mặt của một người miền Nam mặc quân phục, bằng cách nào đó, sẽ có thể giúp chúng tôi miễn nhiễm khỏi những quấy quá của Việt Cộng. Tôi không nghĩ rằng chuyện này hợp lý cho lắm – nói gì thì nói, tôi đã từng ngồi ở hàng ghế đầu trong hai trận đánh và biết rõ Việt Cộng không những không nao núng trước lính tráng miền Nam mà thực sự còn truy lùng họ nữa – tuy nhiên, trong trường hợp này, việc này có tác dụng. Suốt thời gian anh ở đây, đến căn cứ không quân vào sáng sớm và trở về nhà lúc tối mịt, chúng tôi không gặp bất cứ rắc rối nào.
Một trong những công việc của tôi là lau dọn phòng cho anh, và trong trường hợp này, tôi sẵn sàng thực hiện. Anh sống khá gọn gàng và ngăn nắp, nên căn nhà luôn luôn sạch boong. Tôi chỉ phải quét và lau nền nhà, phủi bụi kệ sách rồi mơ màng ngắm gương mặt đẹp trai của anh trong những bộ ảnh gia đình. Tôi không hứng thú lắm với những việc nhà khác mà tôi phải hoàn thành ngoài giờ học. Tôi luôn tự hỏi tại sao dì Thu không giao những việc này cho hai người ở được dì trả công, vì họ có thể hoàn thành nhanh hơn và tốt hơn tôi, hay thậm chí là giao cho em Thủy, vì chiều nào em cũng chỉ chơi đùa với Bubba. Nhiệm vụ của tôi bao gồm cả việc giặt đồ bằng tay, và thậm chí hỗ trợ trùng tu mấy cái ao khi dượng thiếu người. Khi tôi phàn nàn với dì, dì trả lời: “Những việc dì giao cho cháu là điều mà một cô gái phải biết trước khi kết hôn,” và chuyện là thế. Theo những gì mà dì Thu quan tâm thì tôi vẫn phải theo “con đường làm mẹ” chứ không phải “con đường học vấn,” mặc kệ những thành tích tôi đạt được khi mới ghi danh học lớp Năm tại một trường dòng khác gần đó – một trường dòng do các sơ điều hành trường cùng một trại trẻ mồ côi. Nếu tôi có ý định phá vỡ “con đường làm mẹ” thì tôi phải thể hiện bản thân mình cũng đáng giá ở một lĩnh vực khác. Đó là khi tôi học về trồng trọt.
* * *
Trước khi dượng Al mua lại Trại Cá, cha xứ và các giáo dân làm việc ở nơi này đã sống rất thanh đạm và đã cố hết sức nhưng họ không kiếm được bao nhiêu. Họ nuôi gia cầm, thu hoạch cây trái chủ yếu để dùng, cho cá ăn chất thải của con người – một điều bình thường ở những vùng quê, nhưng đây không phải cách để nuôi được những đàn cá béo tốt. Một trong những thay đổi dượng Al thực hiện đầu tiên là phá bỏ nhà xí kiểu châu Á trên mấy cái ao và thay bằng nhà vệ sinh kiểu Mỹ xây trên nền đất. Từ đó, lũ cá được ăn thức ăn gia súc và béo tốt hơn. Để bầy cá sinh sôi tốt hơn, chúng tôi cần nhiều thời gian. Trong lúc đó, dượng tập trung vào việc khiến cho đám gia súc sinh sôi nảy nở hơn.
Cách xa hai căn nhà nhỏ là khu trại với mười hai chuồng heo và ba nhà kho để cất dụng cụ và thức ăn chăn nuôi. Bà ngoại dựng lên một căn bếp nhỏ bên trong khu trại và một cái lớn hơn ở bên ngoài. Bà dùng căn bếp bên trong để hãm trà cho công nhân và gia đình. Với căn bếp bên ngoài, bà nấu hoa súng, cây chuối và bắp khô thành cám để cho heo ăn – vụ sinh lợi đầu tiên của dượng Al. Dượng không thích chuồng heo nằm trong khu chuồng trại nên cho xây những cái chuồng mới giữa hai cái hồ và giao anh Quang tắm heo mỗi ngày một lần. Nước sạch anh dùng để tắm heo được bơm từ giếng, còn nước dơ xả ra chảy vào một cái ao riêng. Thứ nước “xám đen” này sẽ được dùng để tưới vườn, còn tất cả nước sạch lấy từ giếng được dùng cho sinh hoạt trong nhà, đám heo hoặc đôi khi bơm nước cho cá. Đó là một hệ thống gọn gàng và hữu dụng.

Người thích mấy cái chuồng heo cũ là bác Chiêu, bác là vị khách đầu tiên đến thăm chúng tôi. Một trong những cái chuồng được cải hóa thành căn phòng ngủ nhỏ cho người làm vườn sống cùng chúng tôi – ông Ba, quê ông cũng ở Rạch Giá như chúng tôi, và ông rất mát tay trong việc làm vườn. Cô con gái xinh đẹp của ông, cô Mai thỉnh thoảng ghé qua ở đó cùng ông. Cô khá thân với gia đình tôi, cô may quần áo cho dì Thu, dạy tôi cách đo và cắt vải mà không cần mẫu. Một lần cô ghé chơi, bác Chiêu tình cờ tạt qua và ngay lập tức mê cô như điếu đổ. Họ bắt đầu hẹn hò, và sau đó, cả hai ghé chơi thường xuyên hơn. Vì con gái mình thường xuyên đến ở hơn, ông Ba tự bỏ tiền túi ra xây sửa một chuồng heo khác để cô có không gian riêng. Nhưng đó là nơi cô và bác Chiêu lấy làm chốn riêng tư của họ. Khi ông Ba phát giác, ông rất tức giận và hẳn là sẽ lấy cái xẻng xúc đất đập bác Chiêu một trận nếu bác không phải là anh trai của dì Thu. May mắn thay, bác Chiêu thuyết phục ông Ba là bác yêu cô Mai, hứa sẽ chăm lo cho cô, và bác thực sự làm thế. Một chiều nọ, họ cùng nhau lái chiếc mô-tô của bác đi, và chúng tôi hiếm khi gặp lại họ ở Trại Cá. Trừ phần liên quan đến chuồng heo ra thì tôi luôn nghĩ rằng đó là một câu chuyện đẹp.
Chuyện thường thấy trong những gia đình Việt: bác Chiêu muốn chúng tôi cho con trai bác một việc làm – và lần này tôi rất vui khi biết bác thành công. Anh họ Ngọc, bằng tuổi anh Quang, từng là bạn tâm giao với tôi trong suốt thời gian ở Nhà Lá. Khi công việc làm ăn mới của dượng Al bắt đầu khởi sắc, bác Chiêu ngỏ ý muốn dì Thu thuê con trai bác, anh Ngọc, để làm việc vặt trong nhà hoặc làm công thực sự, đổi lại chúng tôi cho anh ăn ở và trả một số tiền công nho nhỏ. Số tiền này rất quan trọng, bác nói, bởi vì mẹ của anh Ngọc – bác Quế đang rất trông mong vào sự phụ giúp của người con lớn, đặc biệt là để giúp cho người con gái của bác. Bác Quế là người bay bướm. Sau khi chia tay bác Chiêu, bác bắt đầu vận dụng kỹ năng này của mình và làm nghề “đi khách.” Chuyện này làm cả gia đình xấu hổ, đặc biệt là bác Chiêu vì bác là một cảnh sát, nhưng bác cũng không làm gì được. Bác Quế đẩy con mình tới ở với một người bà con họ hàng ở cách Trại Cá khoảng nửa tiếng đi đường và nì nài bác Chiêu tận dụng mối quan hệ tốt đẹp của bác với vợ chồng dì Thu để xin việc cho con trai họ. May cho anh Ngọc và tôi là bác đã làm vậy.
Như anh Quang, anh Ngọc làm việc rất chăm chỉ và hiếm khi nào than vãn, ngoại trừ một lần, anh thừa nhận là anh ghen tị vì chúng tôi được đến trường và có một người “ba” Mỹ rất đàng hoàng và giỏi giang, cho chúng tôi sự an toàn trong một thế giới bất an. Thật đáng buồn hơn nữa khi ba mẹ anh vẫn còn sống mà cuộc sống của anh vẫn nghèo khó và khổ sở, không như anh Quang, Thủy và tôi – những đứa trẻ mồ côi nhưng lại sống khá sung sướng. Anh nghĩ như vậy cũng có lý nhưng chuyện nào cũng có hai mặt cả. Dì Thu không phải là người làm điều thiện từ tâm, dì chia sẻ vận may của mình một cách khiên cưỡng đa phần chỉ vì nghĩa vụ với bà ngoại và với người chị quá cố của dì. Khi tôi hỏi dì vì sao dì không cho anh Ngọc đi học với chúng tôi, dì nạt lại: “Nó có ba mẹ nó. Nếu muốn thì ba mẹ nó tự lo chuyện ăn học cho nó.” Chấm hết. Từ đó trở đi, anh Ngọc được coi như một người làm công ở chung với chúng tôi, được trả công như đã hứa, được cho một manh chiếu để ngủ và một mái nhà để ở. Anh chưa bao giờ được mời ăn tối cùng hay được tham gia bất cứ những cuộc hội họp nào của gia đình.
Một lần, tôi xin phép dì Thu đi cùng anh Ngọc về nhà anh ở Bình Đa, một thị trấn nhỏ gần căn cứ quân sự Long Bình và thị trấn Tam Hiệp. Từ Bình Đa tới Trại Cá khoảng một tiếng đi bộ. Anh phải mang tiền về nhà cho mẹ, anh nói. Anh không nói gì nhiều về tình cảnh gia đình mình khi tôi hỏi, và tôi phải thuyết phục lắm anh mới cho tôi đi cùng.
Tối đó, anh Ngọc và chị Liên, em gái của anh, nấu ăn cho tôi. Điều đầu tiên tôi chú ý đến là một đứa trẻ mới, một cậu nhóc lai Mỹ tóc vàng tên Tuấn, rõ ràng là bác Quế đã sinh ra trong những năm qua. Tất nhiên bác không có ở nhà. Bác đã ra ngoài làm việc nên đám trẻ phải tự lo, rõ ràng họ đã quen với điều này. Họ không có điện đèn, không có nước trong nhà, và thậm chí là không có cả một cái đồng hồ. Họ đoán thời gian bằng bóng cây gậy gắn trên mặt đất. Họ sống nghèo khổ, rất giống với hồi chúng tôi sống cùng nhau với bà ngoại trong Nhà Lá ở Phú Nhuận. Tôi nhớ lại những ngày đó, khi tôi nhìn họ chuẩn bị bữa ăn. Hôm đó, họ không có đủ thức ăn cho khách nên anh Ngọc đến nhà bên để hỏi mượn ít gạo rẻ tiền, còn anh Đức ra cái ao ở sân sau để lấy con cá anh bắt được hồi sáng. Tôi giúp chị Liên và anh Thắng lặt rau muống để xào tỏi, ăn chung với cá và cơm. Tôi nói chuyện một chút với chị Liên khi chị xào rau. Lần cuối cùng tôi gặp họ là lúc tôi trở về từ Philippines năm 1969. Giờ thì tình cảnh của họ còn tồi tệ hơn hồi đó. Chị Liên kể rằng họ tự lo cho mình từ khi họ chuyển đến Bình Đa năm 1970. Các anh chị hiếm khi gặp mẹ hoặc ba, và tất nhiên không có ai được đến trường. Họ học cách sống dựa vào rẻo đất mẹ họ để lại. Sau bữa tối, anh Ngọc và tôi cùng im lặng đi bộ trở về Trại Cá. Tôi tự hỏi mà lòng nặng trĩu:
Điều gì tồi tệ hơn? Có ba mẹ qua đời hay ba mẹ còn sống mà không thèm quan tâm?
* * *
Đóng góp đầu tiên của tôi vào chuyện kinh doanh là sau khi dượng Al xây một cái chuồng để nhốt đám chim cút thả rông. Chuồng có sàn dốc cho trứng chim lăn xuống, như vậy sẽ dễ lấy trứng hơn. Khay thức ăn, bình nước và một lò ấp đặc biệt được làm riêng cho gia cầm đều được nhập từ Mỹ. Đàn chim bắt đầu tăng nhanh chóng lên khoảng trăm con. Chúng tôi ăn rất nhiều trứng cút (dượng rất thích muối trứng để ăn chơi), và thi thoảng cũng làm ít món với những con không đẻ được hoặc đem bán ở chợ. Việc của tôi là thu lượm trứng, cho gà ăn và dọn chuồng. Đây là việc ưu tiên hàng đầu của tôi, nhưng không rõ vì lý do gì, tôi cảm thấy việc này còn quan trọng hơn thế – đây là một cách để dượng Al thấy rằng tôi không phải chỉ là một đứa chỉ biết chờ lấy chồng, hay một cái giẻ lau, hoặc một thứ đồ chơi để dượng hau háu nhìn khi có hứng. Tuy nhiên, thỉnh thoảng thì việc dượng chú ý đến không mang lại lợi lộc gì, mà còn ngược lại.
Với nhiều đất trống, nhiều người vào ra, và nhiều thiên địch tự nhiên sống gần hồ nước, không tránh khỏi chuyện những con vật nhỏ biến mất. Khi điều này xảy ra với lũ gà và đám chim cút, dượng luôn đổ lỗi cho tôi – dù tôi là người báo việc mất chim hay gà. Dượng sẽ bảo tôi “cẩu thả” khi dọn chuồng và “đần độn” khi thu lượm trứng, bạt tai tôi để những lời của dượng thấm vào đầu. Việc này làm tôi buồn ghê gớm vì tôi đã cẩn thận hết mức để hi vọng rằng công sức của mình sẽ được ghi nhận và dượng sẽ coi trọng tôi hơn. Cuối cùng, tôi cố gắng hết sức để chứng minh rằng dượng đã sai nên quyết tâm dọn chuồng sạch đến nỗi chúng tôi có thể ngồi ăn trong đó. Lúc kiểm tra bên dưới chuồng, vì thấy có nhiều cỏ khô xung quanh đó, không kịp suy nghĩ gì nhiều, tôi đưa tay bốc cỏ ra. Đột nhiên, tôi cảm thấy tay mình trượt trên thứ gì đó lành lạnh, trơn trơn và dài như một cái vòi. Tôi nhảy ngược ra sau và một con rắn màu xám đen rất lớn từ từ trườn ra từ bóng tối, hướng về phía tôi. Vô cùng hoảng sợ và vẫn không suy nghĩ gì, tôi chụp lấy cái cuốc của ông Ba dựng kế bên chuồng và điên cuồng đập vào con rắn. Sau một hai phút bấn loạn, tôi ngừng lại, mồ hôi nhễ nhại, rồi chạy đi báo dượng Al. Dượng đi theo tôi đến chuồng, thấy con rắn giờ nát như tương, rồi nhìn cái cuốc của ông Ba, lúc này đã bị tôi làm cong. Dượng dùng cái cán gỗ chọc chọc xung quanh chuồng, xem xét mấy miếng gỗ bị sút ra và mấy cái lỗ ở hàng rào gà, rồi nói “Chắc là con rắn đã ở đó lâu rồi. Dượng sẽ lấy đồ để sửa lại chuồng.”
Dượng không hề xin lỗi vì đã tát tai và chửi bới tôi, nhưng dượng cũng không thay đổi nhiệm vụ của tôi. Nếu tôi học được gì từ sự kiện này thì đó là thường xuyên kiểm tra tất cả mọi thứ tôi chịu trách nhiệm, và nếu tôi có phải chọc khuấy gì đó trong đám cỏ cao thì nên chọc bằng một cây gậy.
* * *
Thử thách tiếp theo của tôi là lũ cá – kế sinh nhai của trang trại.
Ban đầu dượng Al có một tốp năm người, gồm cả anh Ngọc, để chăm nom mấy cái ao, thường là sẽ tháo nước ra, dọn bùn và cỏ ở cửa cống, và đảm bảo mọi thứ đâu ra đó. Tính tới mùa hè năm 1972, chúng tôi sống ở đây được một năm và đã bỏ nhiều công sức để sửa chữa, trang hoàng lại mọi thứ, dọn bùn trong ao cá và nới rộng không gian sống. Chúng tôi sắp thu quả ngọt.
Giờ thì trong vùng, ai cũng gọi dượng Al là “nông dân cá trê” vì loài cá này là nguồn lợi chính trong việc kinh doanh của chúng tôi. Những cái ao của chúng tôi cũng có các loại cá khác như cá rô phi, cá lóc và tôm nước ngọt. Ban đầu tôi nghĩ chúng tôi sẽ tự bắt cá và mang bán ở chợ Tân Mai hoặc chợ Biên Hòa, và điều này mới làm tôi thấy rằng mình có nhiều thứ phải học hỏi thêm, chẳng hạn như không suy nghĩ vụn vặt mà phải nghĩ lớn làm lớn như dượng Al. Dượng có kế hoạch biến nơi này thành một khu sinh thái và dượng đã làm được. Những người Mỹ, nhà thầu nước ngoài và người Việt địa phương đưa gia đình, vợ con, bồ bịch đến để nghỉ ngơi vui chơi sau những rặng tre lớn, giải trí bên ao và bắt cá để nấu bữa trưa hay bữa tối – họ có thể mang cá về hoặc chúng tôi phục vụ tại chỗ – họ có thể cùng con cái vui chơi tại “vườn thú nuôi” của chúng tôi. Dượng Al đã tính toán và ra giá thế này: một giá duy nhất – năm đô la mỗi lượt vào – để câu cá và nghỉ ngơi suốt một ngày, và đảm bảo rằng khi ra về khách sẽ có được hai ký cá trê nếu họ không câu được con nào.
Kể từ ngày khai trương, hầu hết khách tham quan thích cái ao lớn ở phía trước, bởi những bóng cây xung quanh cao hơn và có cái cầu nhỏ nối với nhà chính tạo thành một nơi lý tưởng để thư giãn. Trong khi dượng Al đóng vai chủ nhà của cái “Albert’s” mới này thì đám trẻ, phụ nữ và những người công nhân còn lại sẽ dọn dẹp, làm mang, phi-lê cá rồi đem nướng theo yêu cầu của khách. Thỉnh thoảng, chúng tôi nhúng những miếng phi-lê cá trê vào bột bắp trộn với bột mì, muối và tiêu, rồi chiên giòn và đưa ra cho khách dùng thử, tuy nhiên chỉ có người Mỹ mới thích những món như vậy. Những khi thời tiết xấu hoặc lúc những lời đồn đoán về chiến tranh làm thưa khách thì dượng và người phụ việc của dượng (thường là anh Quang, vì anh đã chứng tỏ mình là một tay sát cá) chài mỗi loại cá vài chục con và chở chúng đến những nhà ăn quân đội gần đó hoặc giao cho những nhà hàng địa phương đang cần cá tươi “bắt trong ngày.”
Trong việc kinh doanh này, em Thủy và tôi thường bán bánh mì kẹp, bia và nước ngọt từ gian bếp ngoài hiên còn anh Quang đảm bảo nguồn nguyên liệu cho chúng tôi và quét dọn xung quanh sau những cuộc dã ngoại, ngoài những nhiệm vụ khác của anh như cho heo ăn và vớt bèo trong ao. Em Bubba cũng tham gia vào, bằng cách theo sau anh Quang và giúp những phụ nữ nhát gan gắn trùng vào lưỡi câu hoặc mang đồ ra cho khách. Nhưng điều tuyệt vời nhất là dượng Al cho phép chúng tôi giữ lại nửa số tiền lời kiếm được, sau khi trừ chi phí tiền mua vật liệu. Ngoài ra, chúng tôi cũng được giữ lại tiền boa rồi cho vào một cái hũ, đến cuối ngày chúng tôi sẽ chia đều cho nhau. Những người Mỹ thường boa rất hậu. Anh Quang hay tiêu tiền vào chuyện cắt tóc, mua quần áo mới, và cuối cùng mua một chiếc xe đạp mới – phiên bản lộng lẫy hơn của chiếc xe anh dùng để chở tôi đến trường, và sau này anh mua cho tôi một chiếc xe cũ khi tôi biết đi xe đạp. Nhìn chung, đó là chuyện buôn bán tốt nhất của tôi kể từ thời bán kẹo M&M, và còn tốt đẹp hơn nhiều so với chuyện lau dọn nhà cửa và đánh nhau với rắn bằng một cái cuốc.
Bà ngoại cũng có máu kinh doanh. Cũng như khi bà buôn bán với người Mường ở Bình Dương và lúc bà tìm cách để có ít rau quả và cơm nước cho chúng tôi hồi còn ở Sài Gòn, vì vậy, bà thấy được cơ hội kiếm tiền ở những cây ăn quả quanh nhà. Bà chuyên vào chuối, chúng dễ trồng, dễ vận chuyển và dễ bán. Chiêu của bà là dùng lá chuối che những buồng chuối chín để chim không ăn mất. Với chiêu này, một lần nọ bà thu hoạch được một buồng chuối dài hơn hai mét đếm được 173 quả – quá lớn nên tất cả chúng tôi không nhấc nổi, nhưng là cách thể hiện rằng công sức của chúng tôi đã được đền đáp.

Chúng tôi khiêng nông sản của bà lên một xe đẩy đến chợ Tân Mai cách nhà gần một cây số. Tin hay không thì tùy nhưng tôi là người đẩy xe, vì tôi biết cách giữ thăng bằng và đẩy xe, nhờ việc giúp những người thợ đẩy xi-măng và những vật liệu khác quanh khu nhà. Ở chợ, bà thấy một chỗ trống trong những hàng bán và không ngượng ngùng rao chuối của “người nông dân cá trê” cho bất cứ ai đi ngang qua. Đến cuối ngày, khách thưa bớt, chúng tôi đem những nải còn lại đến từng quầy hàng. Bà bán giá sỉ, càng cuối ngày thì giá càng rẻ. Dù vậy, bà cũng là một người bán hàng khôn khéo, và chúng tôi luôn trở về nhà với cái xe đẩy trống trơn và một túi tiền đầy.
* * *
Trường học lại là một vấn đề khác. Nếu không nhờ có mợ Nga thì lũ trẻ chúng tôi sẽ chỉ giỏi chuyện lau dọn nhà cửa và làm việc nhà.
Từ ngày chúng tôi được nhận làm con nuôi và chuyển về ở cùng, dì Thu tiếp tục thể hiện sự thờ ơ với việc học hành, ít nhất là đối với lũ con gái chúng tôi. Chỉ khi mợ Nga tới ở trong một căn nhà nhỏ, thường xuyên gợi mở và nhắc nhở việc tất cả chúng tôi nên được đến trường. Cho đến lúc đó, tôi mới biết mợ Nga đã từng dạy tiểu học ở quê nhà của mợ ở Trà Ôn, và vì vậy mợ có thể trấn an dì Thu rằng những giấy tờ lộn xộn và những tờ khai sinh lúc này lúc kia của chúng tôi không hề làm khó chuyện đến trường. Cả bốn đứa chúng tôi đi cùng mợ và dì Thu đến phòng hiệu trưởng để tìm hiểu. Đúng như mợ Nga dự đoán, tuổi và bề ngoài của chúng tôi mới là thứ quan trọng. Bubba nhỏ nhất nhưng rất thông minh nên em được cho vào lớp Mẫu giáo. Em Thủy thì vào lớp Ba, và tôi (có lẽ là vì tôi cao so với tuổi) được đưa thẳng lên lớp Năm mà không cần học lớp Bốn. Anh Quang đã học xong tiểu học nên anh được chuyển sang trường Vĩnh Sang, một trường dòng trung học để học lớp Bảy. Nếu bạn muốn làm tốt trong một hệ thống, thì bạn sẽ được lợi hơn khi có sẵn người trong hệ thống đó. Trong trường hợp của chúng tôi, mợ Nga là người hậu thuẫn tuyệt vời giúp chúng tôi được tiếp tục trên con đường học vấn.
Giữa việc học buổi sáng và công việc ở Trại Cá vào buổi chiều, giờ rảnh của chúng tôi là sau bữa tối và đêm khuya. Tôi vẫn còn rất mê đọc sách. Tôi dùng hầu hết số tiền kiếm được từ việc làm ở quầy bán đồ ăn vặt và bán chuối để mua sách. Sách yêu thích của tôi là bộ sách Hoa Tím trong Tủ sách Tuổi Hoa, tuyển tập sách được viết bởi những tác giả Việt dành cho tuổi teen, và tiểu thuyết Quỳnh Dao. Dượng Al nghĩ việc đọc sách của tôi là chuyện phí thời gian. Mục tiêu của dượng khi cho tôi đi học là để học tiếng Anh, mà tôi vẫn còn rất dở tiếng Anh dù nhiều năm qua được tương tác với người Mỹ. Theo dượng, bất cứ cái gì tôi làm mà không phải là làm việc đều là sự lười nhác, hoặc thể hiện sự vô ơn và bất kính với dượng – người chủ gia đình. Lần đầu tiên dượng bắt gặp tôi đọc sách – sau khi tôi đã dọn bàn và rửa chén bát sau bữa tối – dượng giựt lấy quyển sách và mắng tôi bằng thứ tiếng nửa Việt nửa Anh, “Đi đi mau! Get to work!.” Tôi nhăn mặt, chuẩn bị tinh thần đón nhận một cái bạt tai. Tôi không cãi lại mà đi tìm anh Quang và bà ngoại, nếu bà và anh không đang làm gì thì thường ở ngoài và cả buổi chiều sẽ không thấy tăm hơi đâu cả.
Lần tiếp theo, tôi không được may mắn như vậy. Vì lý do gì đó nên Trại Cá đóng cửa, những người đàn ông và anh Quang đều ở ngoài để coi sóc mấy cái ao và công việc nhà thì đã xong hết, đến bữa tối tôi mới có việc để làm. Tôi tận dụng cơ hội này để ngấu nghiến vài chương sách. Không phải là một ý hay cho lắm.
Dượng Al đột nhiên sừng sững trước mặt tôi, nhanh tay giật lấy quyển sách và xé một nắm trang sách.
“Đi đi! Đi đi! Get to work! Now!”
Tôi lầm lũi đi khỏi như một con gián, nước mắt trào ra. Tôi thật sự không biết vì sao sự khó chịu ban đầu vì tôi đọc sách lại biến thành bạo lực. Tôi biết là dượng phải gánh vác nhiều trách nhiệm – một gia đình lớn phải chăm lo, một quỹ lương cho công nhân phải trả, hóa đơn các thứ, nhà cửa, vườn tược và vật nuôi phải coi ngó nhưng dượng còn có nhiều người phụ giúp dượng ngoài đôi tay yếu ớt của tôi kia mà. Có lẽ những cuộc đàm phán hòa bình ở Paris đang chuyển biến xấu, và chiến tranh đang vây hãm chúng tôi. Tôi không biết vì người lớn không bao giờ thảo luận về những chuyện đó trước mặt lũ con nít chúng tôi. Có lẽ dượng bực tức vì tôi đã có thể trốn tránh khỏi trò chơi trốn tìm bệnh hoạn của dượng! Tôi không biết! Những gì tôi biết là giờ đây dượng Al như một cái núi lửa đang chuyển động, tìm kiếm lý do để phun trào. Dù vậy, tôi cũng không bỏ cuộc vì sách là nơi giúp tôi lẩn tránh những điều tồi tệ, nhưng tốt nhất tôi nên giữ khoảng cách với dượng.
Từ đó trở đi, tôi chỉ đọc sách trong phòng tắm hoặc trong nhà vệ sinh, vì ngay cả dượng cũng phải tôn trọng sự riêng tư ở những khu vực này. Tôi còn tìm những nơi trong nhà mà tôi có thể trốn hoặc ít nhất có thể nhận thấy rắc rối đang đến gần. Vị trí lý tưởng nhất hóa ra là ở trên cái tủ lớn phân chia khu con trai và khu con gái trong phòng ngủ chúng tôi. Một cái gờ để trang trí ở bên trên có thể che giấu mọi thứ trên đó, đặc biệt là một cô nhóc tuổi teen gầy nhẵng. Tôi nhận ra rằng mình có thể ở trên đó một tiếng và trông như một đống quần áo dơ, những đứa trẻ khác và người giúp việc – ngay cả dì Thu và bà ngoại – đi ngang qua phòng mà không để ý thấy. Nhưng dượng lại cao hơn tất cả bọn họ.
“Cái quái gì thế này?” dượng gầm lên, rướn người để tóm lấy tóc tôi. Dượng chưa bao giờ đi vào phòng của con nít, và tôi chỉ có thể đoán rằng dượng đang đi tìm tôi. Dượng lôi tôi xuống như lôi một con búp bê rách rưới và làm cho cái tủ lắc lư. Vẫn còn túm tóc tôi, dượng tát tôi một cái, rồi một cái nữa vào mang tai và ném tôi quỳ mọp xuống. Rồi dượng quay trở lại cái tủ, mò mẫm trên nóc tủ cho đến khi nắm hết số sách trong tay rồi tịch thu luôn. Tôi không bao giờ thấy lại chúng, và nói thẳng là tôi sợ đến nỗi không tìm hay thậm chí là khơi lại chủ đề này với dì Thu hay bà ngoại.
Sau này Bubba kể lại với tôi rằng em đã thấy dượng Al cư xử thô bạo với tôi bên cạnh tủ và hủy hết số sách của tôi. Không phải dượng làm vậy để răn dạy con trai mình – em Bubba chỉ vô tình đứng gần đó – nhưng nó đã ảnh hưởng đến em. Hãy nhớ rằng tôi là “hình tượng người mẹ” của Bubba trong vài năm trước khi dì Thu quay lại với vai trò của mình. Như một đứa con ngoan hoặc một đứa em thương chị, em quyết định làm điều đúng đắn theo ý của mình. Em bí mật lấy một số đồ câu cá từ trong kho dụng cụ – không có gì to tát, chỉ vài cái móc câu, phao và dây câu – để đổi cho một đứa hàng xóm lấy những quyển sách mà anh trai thằng nhóc đã đọc xong và không đọc tới nữa. Vài ngày sau, Bubba mang số sách này cho tôi, cười tươi rói như buổi sáng ngày Giáng Sinh.
“Sách nè chị Sissy,” em nói đầy tự hào. “Em đã lấy những quyển sách chị nói chị rất thích – sách trinh thám Hoa Đỏ, tiểu thuyết kiếm hiệp. Đừng có buồn. Ba không ghét chị đâu.”
Tôi nhận lấy số sách mà cảm thấy nghẹn ngào nơi cổ họng. Tôi thật không thể trả lời.
“Em đã thu xếp để lấy nhiều sách nữa nên chị không phải mua đâu. Chị đừng nói với ai chuyện này nha, nếu không cả chị và em sẽ gặp rắc rối đó.”
Tất nhiên, đó còn hơn là một thỏa thuận. Đó là lần đầu tiên “cậu em nhỏ” của tôi thể hiện cá tính của mình, và tôi chỉ có thể tự hào rằng tôi cũng góp phần vào chuyện này. Em không nói cho tôi biết em lấy sách từ đâu. Tôi không biết, cho đến vài tháng sau, thằng nhóc hàng xóm tìm gặp tôi ở trường và đòi sách lại, nói rằng anh trai nó vẫn còn muốn đọc những quyển sách đó và sẽ méc với ba mẹ tôi. Đó có vẻ là một luận điệu đầy thuyết phục. Tôi trả lại tất cả số sách, ngoại trừ một vài quyển tôi thích, cũng không đòi lại mớ đồ câu nên cả hai bên đều vui vẻ. Tôi kể với Bubba chuyện này và bảo em không được tham gia vào việc “mua sách chợ đen” lần nữa. Em hứa với tôi, và em đã giữ lời hứa của mình. Đó không phải là lần đầu tiên Sissy phải trông cậy tới Bubba trong giờ khắc khẩn thiết, và từ đó trở đi, chúng tôi biết rằng chúng tôi có thể đọc được tâm tư người kia – hoặc ít nhất, hiểu được người kia muốn gì.
* * *
Khi thế giới sách đã sụp đổ, tôi cố gắng tập trung thời gian của mình ở trường. Trường anh Quang ở hướng ngược lại với trường tôi nên đám chúng tôi phải đi bộ gần hai cây số và cuốc bộ làm chúng tôi nóng rực người trong mỗi sáng đến trường. Chúng tôi rời nhà lúc bảy giờ sau bữa sáng – thường là bánh mì Pháp nóng (dượng Al thích loại mua từ tiệm bánh cách nhà gần một cây số), hoặc cơm chiên tỏi mà bà ngoại tận dụng cơm thừa từ đêm trước. Bubba, mặt khác, khá kén ăn nên dì Thu cho em tiền để mua bánh cuốn từ gánh hàng trước cổng trường. Là bảo mẫu không chính thức của Bubba, việc của tôi là phải đảm bảo em mua được bánh cuốn rồi chờ em ăn. Tuy nhiên, việc đi bộ đến trường làm em mệt lả người nên khi vừa đến trước quán là em đã ngồi phịch xuống, chờ đợi phục vụ rồi ngấu nghiến ăn ngay tại chỗ, chắn lối người khác. Việc này hẳn đã làm cho nhiều người bực mình nhưng Bubba lúc ăn trông như một tiểu đồng bụ bẫm, lắc lư qua lại với nụ cười rộng trên môi và liên tục nói “Ngon quá, ngon quá!” trước quán bánh cuốn. Sau một lúc, mọi người bắt đầu cảm thấy hành động của em thú vị nên tôi từ bỏ ý định kéo em ra chỗ khác. Tôi và em Thủy cũng rất thích bánh cuốn, nhưng một nhà thì chỉ có thể có một “ông vua con” mà thôi và Bubba nhỏ bé của chúng tôi đã là ông vua con của nhà chúng tôi rồi.
Vì không có gì chờ tôi ở nhà ngoài việc nhà và sự bạo hành của dượng Al, tôi thường nấn ná lại trường sau tiếng chuông kết thúc buổi học và tìm cái gì đó để làm. Tôi tìm cách kết bạn với nhiều người và nói xạo để được mời về nhà họ chơi, ở đó, ngoài việc tám chuyện và chỉ nhau cách chăm sóc tóc, tôi có thể đọc sách một chút. Một trong những bè bạn sau giờ học này là Thơm, và tôi đặt biệt danh cho bạn là Thơm Ròm vì dù ba mẹ bạn cho bạn ăn bao nhiêu đi nữa thì bạn vẫn không thể nào tăng cân. Gia đình năm người nhà bạn sống ở chợ Tân Mai, cách Trại Cá gần một cây số. Mẹ bạn bán hàng tạp hóa từ các loại đậu, gạo, đường, gia vị đến những phần ăn loại C và loại K[8] xin được của những người lính Mỹ vì họ nuốt không vô những thức ăn này. Một trong những món bán chạy nhất của cô là thịt nguội đóng hộp hiệu Hormel có lượng chất béo trong một hộp còn nhiều hơn lượng chất béo mà đa số người Việt nạp vào người cả tháng, nhưng khách hàng của cô còn muốn nhiều hơn nữa. Thơm gọi tôi là chị Vân bởi vì tôi cao hơn bạn. Nhà Thơm là một nơi an toàn để ở chơi, như một sự chuyển đổi nho nhỏ giữa những giờ học chăm chỉ ở trường và những việc phải làm ở nhà, nhưng chúng tôi chưa thực sự là bạn bè thân thiết cho đến khi xảy ra một sự cố không vui vẻ gì lúc năm học gần kết thúc.
Một nhỏ trong lớp chúng tôi, Liên, sống ở cô nhi viện trong trường. Nếu không nhờ ơn Chúa thì hẳn là tôi cũng phải ở đó. Nghĩ vậy nên tôi đối xử với nó rất tử tế, nhưng nó không thích điều này. Nó lúc nào cũng cau có khó chịu, và cùng với đám con gái mồ côi khác, chúng coi tôi như kẻ thù không đội trời chung. Chắc chắn tôi không hề làm gì khiến nó nghĩ như vậy, ngoài chuyện cả trường biết tôi cũng là một đứa không cha không mẹ. Nhưng tình cảnh của tôi tốt hơn nó vì tôi đang sống với một gia đình Mỹ trong ngôi nhà hiện đại với nhiều đất đai và có nhiều người thân bên cạnh (tất nhiên làm sao nó biết được những nỗi lo sợ tôi đang nếm trải mà dì Thu và dượng Al gây ra cho tôi. Nếu biết, chắc nó sẽ tử tế hơn với tôi). Những cô gái mới lớn có thể xấu tính ngay cả khi vui vẻ nhất, còn những khi chuyện không như ý muốn, họ có thể trở nên dã man như rắn độc. Với loài rắn này thì tôi không có sẵn cái cuốc như lúc đối đầu với con rắn trong chuồng chim cút.
Việc quấy rối của Liên bắt đầu bằng những trò vặt vãnh nhằm làm tôi phát điên. Đầu tiên, nó và bè bạn mình vò giấy thành những viên nhỏ, ném giấy và phấn vào tôi ngay trong lớp học rồi vờ như không có chuyện gì xảy ra. Tôi “trả đũa” bằng cách đối xử tử tế với tụi nó, cho nó chen ngang khi đang xếp hàng ở trước đài phun nước, rủ nó chơi lò cò hoặc nhảy dây với Thơm và tôi ở sân trường, nhưng nó chỉ khinh khỉnh và quay đi. Vì nó học dở văn và toán, tôi đề nghị kèm nó sau giờ học, nhưng nó coi việc này như một sự sỉ nhục. Bạn của tôi nói rằng nó là “ca khó” hoặc “hết xài được rồi” và sẽ làm cả hai chúng tôi gặp rắc rối và kéo tôi chết chìm theo, nhưng tôi vẫn giữ quan điểm của mình. Tôi không những thấu hiểu sự cô đơn, bối rối và tức giận của nó, mà tôi cũng cảm nhận thấy những điều này trong mối quan hệ căng thẳng của tôi với dì dượng (“Tụi tao vẫn có thể quẳng mày vào cô nhi viện,” luôn là câu kết ưa thích của dì dượng trong những lời dọa dẫm của họ), và những câu hỏi bất tận tôi tự hỏi về số phận của Ba tôi. Đó là những điều mà tôi đã học cách sống cùng, và tôi hiểu rằng cuộc sống của Liên sẽ tốt hơn nếu nó biết cách làm như thế. Vậy mà Liên chẳng hề chịu thay đổi theo hướng đó.
Mọi chuyện lại trở thành một cuộc ám sát - tôi chỉ có thể nói như vậy, không hề có ý phóng đại. Buổi học sáng vừa mới kết thúc và đám học trò lớp Năm chúng tôi rời lớp học ở tầng hai và chỉ mới tới đầu cầu thang. Không biết từ đâu, tôi cảm thấy hai bàn tay đẩy mạnh vai tôi, và tôi chúi đầu trượt ngã xuống. Cầu thang lúc đó khá đông, nhưng khi lăn xuống, tôi làm đám học trò ở trước dạt ra, tạo thành khoảng trống cho tôi lăn xuống. Tôi lăn giữa đám học trò như một quả bi da cho đến khi tôi đâm vào mấy em mẫu giáo ở cuối bậc thang. Mấy đứa học trò nhỏ la hét, nhưng đứa con gái to con ở sau tôi đang cười lớn, không phải Liên – nó vẫn đang ở trên đầu cầu thang, nhếch mép cười và bỏ đi – mà là một trong những lâu la của nó, một đứa bự con tên Lành. Tôi loạng choạng, quay ngoắt lại, không cần biết có cái gì bị trặc hay bị gãy không và cũng không nghĩ thêm một giây nào về chuyện này nữa, tôi dùng hết sức giáng cho Lành một đấm giữa mặt khi nó vừa bước xuống nấc thang cuối cùng. Cả năm đẩy xe đẩy, vắt giẻ lau nhà và cào bùn đất trong ao cá đã phát huy tác dụng. Lành ngã sóng soài ra bậc thang rồi nhanh chóng đứng dậy, chăm chăm nhìn tôi với đôi mắt mở to và và mấy ngón tay đang che cái mũi máu.
Mấy đứa học trò nhỏ giờ đã tản ra, và mấy đứa bạn cùng lớp tôi đang đứng ở đầu cầu thang bắt đầu đi xuống. Lành vịn vào lan can để giữ thăng bằng, còn tôi thì giơ nắm tay lên để chuẩn bị bồi thêm một cú nữa. Liên đã gây sự trước, nhưng nếu một trong hai đứa chúng tôi nên quay đi, tôi quyết định người đó sẽ là tôi.
Lành nhìn chằm chằm vào tôi một lúc rồi ngồi trên cầu thang và khóc.
Sự nhốn nháo làm các sơ chạy đến, nên tôi quay đi và bước nhanh về phía cổng trường. Ngay sau đó, Thơm và mấy đứa bạn cùng chơi khác đi thành hàng ở hai bên của tôi. Chúng tôi đi khỏi trước khi đụng phải các thầy cô, họ đang vây lấy Lành đầy thương cảm, nhưng tất cả chúng tôi biết rằng vận may của tôi sẽ không kéo dài.
Ở nhà, tôi cắm đầu vào việc nhà với sự tập trung cao độ, làm dì dượng tôi phải ngạc nhiên cho đến khi một người lạ bấm chuông cửa. Đó là mẹ của Lành.
Dù tôi đang đứng gần cổng nhất nhưng tôi phớt lờ. Em Thủy đi lại để mở cổng nhưng tôi bảo em đứng yên đó. Cuối cùng tôi mới nhận ra kế hoạch này của tôi có thể sẽ phá sản khi dì Thu đi lại và nói “Trời ơi, chuông reng, sao mấy đứa không chịu ra mở cổng?”
Tôi ngăn dì và kể lại câu chuyện một cách ngắn gọn, rành mạch. “Đánh nhau ở trường!” dì chau mày, rồi tôi nhanh chóng nói thêm rằng vì Lành là đứa gây chuyện, hẳn là mẹ nó cũng không vừa gì, nên nếu dì mở cổng, dì nên kêu thêm dượng, hoặc một người thợ hay ít nhất mang theo một cây gậy to. Dì Thu ra đến cổng và ngó ra ngoài nhưng không mở. Người đàn bà bên kia cổng la om sòm khi thấy tôi.
“Nó là con nhỏ xấu xa! Nó làm gãy mũi con tao! Mày định làm gì nó? Mày có biết là tao tốn bao nhiêu tiền bác sĩ không?”
Dì Thu bắt đầu kể lại câu chuyện theo lời kể của tôi, nhưng người đàn bà cắt ngang. “Đó là cách mày dạy dỗ con gái mày sao? Mày dạy nó thói côn đồ sao?”
Giờ Lành mới ló mặt sau lưng mẹ nó. “Mẹ ơi, Vân không có mẹ. Ba mẹ nó chết rồi.”
Người đàn bà dừng lại, có vẻ như định thần, rồi tiếp tục đập cửa, “Chính vậy rồi! Nó là đồ không cha không mẹ hư hỏng, đần độn, phải vào cô nhi viện. Giờ thì ai sẽ trả tiền bác sĩ cho con tao đây?”
“Vân sẽ bị phạt, chị hãy tin lời tôi,” dì Thu nói. “Nhưng…”
“Không nhưng nhị gì hết!.” Người đàn bà với tay qua những song cửa để tóm lấy tôi. “Đưa con quỷ nhỏ này ra, và tao sẽ bắt nó đền tội!”
Nghe vậy, dì Thu tóm lấy tay tôi và dẫn tôi vào nhà, để Lành và bà mẹ hung dữ của nó đứng la hét ngoài cổng. Tôi bị dì Thu la một trận về chuyện đánh nhau ở trường thì xấu như thế nào, và hồi nhỏ tôi chưa chứng kiến đủ chuyện đánh nhau để biết điều đó là sai hay sao? Tôi dạ dạ vâng vâng, tôi đồng ý với mọi điều dì nói nhưng không cảm thấy hối lỗi. Lẽ ra Lành không nên đẩy tôi xuống cầu thang. Nó đã may khi cú ngã chỉ làm tôi bị sưng và xây xát đôi chỗ. Nhỡ đâu tôi bị thương nặng thì sao? Nhỡ đâu tôi làm mấy đứa mẫu giáo bị thương thì sao? Tôi không nói với dì Thu điều này nhưng Lành đã nhận đủ. Vì sự bình yên trong nhà, dì Thu nói rằng dì sẽ không kể chuyện này với dượng. Dì làm vậy là đúng và một lần nữa, tôi phải cảm ơn những thiên thần hộ mệnh của tôi.
Ngày hôm sau đến trường, tôi nghĩ chuyện sẽ tồi tệ hơn – từ Liên, từ Lành, từ ban giám hiệu hay từ phụ huynh – nhưng không có gì xảy ra cả. Rõ ràng là có quá nhiều người chứng kiến cú xô ngã, còn Liên và Lành thì đã có lắm tai tiếng trong trường. Ngoài ra, nếu ai đó có lý do để phàn nàn, thì người đó là tôi và mấy đứa lớp mẫu giáo mà Lành suýt gây hại đến. Ban giám hiệu nghĩ tốt nhất là để mọi chuyện qua đi, để cho Chúa phán xét theo cách của Người, chuyện trong sân chơi để lại cho trẻ con tự quyết. Chuyện này kết thúc sự việc và còn quan trọng hơn, chấm dứt chiến dịch của Liên để làm cho cuộc sống của tôi khổ sở – ít nhất là trong thời gian này. Đến tận ngày cuối cùng đi học, sẽ không có thêm cuộc chiến nào nữa.
* * *
Mỗi cấp lớp ở trường Việt Nam sẽ có một buổi lễ tổng kết năm học, và trường chúng tôi cũng không ngoại lệ. Học trò không những được tổng kết điểm số trong phiếu liên lạc mà còn được xếp hạng cao thấp giống như những cuộc thi giành lấy công việc, được thăng chức hay giành bạn đời ở ngoài đời thực. Đối với chúng tôi, việc xếp hạng còn quan trọng hơn điểm số bởi nó quyết định ai sẽ được vào trường trung học phổ thông nào, và sau đó, ai sẽ lên tới đại học.
Trong sự nghiệp học hành của tôi cho đến thời điểm đó, tôi đã cố gắng để đứng đầu lớp trong mọi lớp học. Ngoài một chút tiếng tăm khi đứng nhất – điều này cũng chẳng ý nghĩa lắm với học sinh lớp Một và lớp Hai, nhà trường sẽ trao thưởng phù hợp với độ tuổi của học sinh. Những học sinh giỏi nhất sẽ nhận được những phần quà giá trị nhất, từ một bộ đồng phục mới cho học trò đứng nhất đến nhiều loại dụng cụ học tập khác nhau khi xếp hạng thấp dần. Tại buổi lễ tổng kết, tất cả học sinh tụ tập lại trong một hội trường hoặc phòng ăn trưa, và cô hiệu trưởng sẽ trao phần quà theo thứ tự từ thấp lên cao, để mọi người cùng hồi hộp khi cô xướng tên người đứng nhất.
Tên tôi được xướng lên ở vị trí thứ ba.
Trong khi bạn bè tôi lịch sự vỗ tay chúc mừng, tôi đi đến bàn cô hiệu trưởng trong tâm trạng khá sốc. Tôi nhận được vài quyển vở, vài cây viết và viết chì, tất cả được cột lại bằng dây thun. Tôi cho rằng họ vừa mới xướng tên người thứ hai và thứ nhất, nhưng thật tình là tôi quá sốc nên không thể nghe thấy đó là ai. Tôi chỉ biết rằng người đứng đầu không phải là tôi.
Khi tan trường, tôi đi thẳng đến phòng hiệu trưởng để khiếu nại.
“Trò nói gì thế trò Vân?” sơ trưởng từ tốn hỏi. “Các thầy cô đã chấm điểm rất kỹ bài thi cuối kỳ, em xếp hạng ba toàn lớp. Trò nên tự hào với kết quả của mình!”
“Em sẽ tự hào nếu em xếp hạng nhất, vì em nghĩ rằng em xứng đáng với vị trí đó. Em nghĩ có gì đó sai sót ở đây. Xin sơ tính lại toàn bộ điểm số của em.”
Cô hiệu trưởng chiều theo ý tôi, còn tôi thì ngồi đợi trong khi cô lấy hồ sơ của tôi từ cái tủ sau bàn. Vài phút sau, cô đóng tập hồ sơ lại và nói “Không có sai sót nào cả. Kết quả ban đầu là chính xác. Nếu trò vẫn nghĩ rằng các thầy cô đã sai sót, trò hãy mang những bài kiểm tra cũ đến, cô sẽ kiểm tra lại điểm số của trò.”
Tất nhiên cô biết rằng không ai giữ lại những bài tập về nhà, phiếu liên lạc, bài kiểm tra trong cả năm. Rồi cô chúc mừng tôi lần nữa vì đã được xếp hạng ba và nói rằng nếu tôi muốn xếp hạng cao hơn vào năm sau, hãy chăm chỉ hơn một chút và hãy giữ lại những bài tập của tôi. Hay thật!
Thơm đang đợi tôi lúc tôi rời khỏi phòng hiệu trưởng, và bạn đoán được rằng chuyện không được tốt lắm. Bạn biết lý do tôi khăng khăng muốn về nhất là vì phần thưởng – một bộ đồng phục mới – thay đổi khi học trò lên lớp Sáu. Thay vì một bộ áo trắng váy xanh thì khi vào trường trung học, nữ sinh sẽ mặc áo dài với quần trắng hoặc quần đen. Tôi không nghĩ dì dượng sẽ chịu đầu tư cho tôi một bộ đồ mới, còn tôi sẽ không kiếm đủ tiền từ việc kinh doanh của Trại Cá hay từ những buồng chuối của bà ngoại để mua một bộ. Tôi cần một kỳ tích.
Tôi cảm thấy cực kỳ khó chịu lúc chúng tôi đi qua cổng trường và khi đụng độ với Liên và bè lũ của nó. Năm học đã kết thúc. Chúng không việc gì phải chơi đẹp nữa.
Không nói lời nào, Liên nhào vào tôi, hai tay túm lấy tóc tôi và dùng hết sức kéo tôi xuống đất. Tôi vùng ra và đứng dậy, nhưng tay nó nắm trúng áo tôi, giật rớt hàng nút áo và kéo rách một tay áo. Nó là một con cọp cái, một kẻ điên loạn. Ba đứa bạn của nó cũng nhập cuộc.
Thật may tôi vẫn còn là con bé cao nhất lớp, dù so với con trai hay gái, nên những cú đấm của tôi vươn ra xa hơn. Dù cú đấm của tôi đã may mắn trúng Lành hồi bốn tháng trước, nhưng tôi không biết đánh nhau như thế nào và tôi cứ đánh đấm loạn xạ trúng ai thì trúng. Có đứa ngã xuống nhưng mấy đứa còn lại thì không suy suyển gì. Tôi không biết tôi đã đánh trúng ai và trúng chỗ nào. Tôi chỉ dứ qua dứ lại như một con trâu nước bị thương và đấm loạn xạ vào bất cứ thứ gì ở trước mặt. Một khắc sau, Thơm nhảy vào đám bè lũ của Liên – hoặc có thể là chính Liên – và bắt đầu đấm vào đầu và vai nó. Cả hai đứa đều ngã xuống. Kỳ lạ là, Thơm mà tôi biết – hiền khô như ông Phước không dám hại đến một con ruồi – trở thành một cỗ máy cắn xé, cào cấu và đấm đá. Đó không phải điều mà Liên và lũ bạn của nó nghĩ tới. Cũng nhanh như lúc chúng tấn công, đám chúng nó chạy mất. Khi quay lại, tôi thấy rằng không phải vì màn tự vệ kịch liệt của Thơm. Ba sơ đang hộc tốc chạy lại chỗ chúng tôi qua đám đông trước cổng trường.
Lần này, chúng tôi không cố chạy trốn. Các sơ tra hỏi và phê bình chúng tôi, nhưng tôi không nghe được lời nào họ nói. Sau này, một người bạn của tôi kể lại rằng Liên bị các sơ bắt lại (rốt cuộc thì nó có thể đi đâu được chứ? Nó là một đứa mồ côi phải sống ở trường!). Những đứa còn lại bị kỷ luật, nhưng đó là cuối năm học, và mọi người, gồm cả giáo viên, chỉ muốn về nhà. Thơm giúp tôi nhặt lại những quyển vở và bút chì vừa được thưởng và mang về nhà tôi vì một tay của tôi đang bận giữ cái áo đã mất nút. Tôi thậm chí còn không muốn nghĩ xem dì và dượng tôi sẽ nói cái gì. Nhưng cuộc chiến nho nhỏ của tôi đã kết thúc, nhờ có sự giúp đỡ của Thơm, tôi không bị thiệt hại gì ghê gớm lắm. Theo tôi biết thì mối thù hằn của tôi và Liên đã chấm dứt vĩnh viễn. Tôi không cần phải xử trí với nó trong năm học sau bởi vì chúng tôi sẽ đi theo những hướng khác nhau. Tôi hi vọng là cuộc đời nó sẽ thay đổi và nó sẽ có nhiều niềm vui hơn.
* * *
Lên cấp hai, tôi học chung trường với anh Quang, giờ anh đang học trên tôi hai lớp ở trường dòng Vĩnh Sang. Nhiều bạn học cũ của tôi vào trường công lập vì trường trung học tư rất tốn kém so với gia đình họ dù đã được hỗ trợ phần nào. Trong số các khoản phải chi cho năm học mới, nữ sinh sẽ tốn thêm khoản may áo dài, và tôi vẫn chưa có. Mấy ngày nay, dì Thu phàn nàn nhiều về học phí nên tôi không mơ đến chuyện xin dì may áo, và rồi bà ngoại lại xuất hiện như một vị cứu tinh của tôi. Bà có tiền từ việc bán chuối đủ để mua cho tôi một xấp vải trắng in họa tiết hoa hồng để may áo và một xấp vải đen để may quần, đặt may tại một thợ may trong thị trấn. Tôi cảm thấy thật trưởng thành, trông tôi giống như một cô công chúa vậy đó. Tiếc thay, mẹ Thơm không thể kham nổi những chi phí như vậy, gồm cả tiền học phí, nên bạn đành phải vào trường công. Chúng tôi hứa hẹn sẽ giữ liên lạc với nhau, nhưng chuyện này sẽ rất khó. Giờ thì dượng nhìn tôi hau háu như một con diều hâu và nói rằng, trừ phi tôi ở trường hoặc ra chợ, tôi phải có mặt ở Trại Cá để làm việc. Vì thế, tôi toàn gặp Thơm tại sạp hàng của mẹ bạn ở chợ Tân Mai. Lành, đứa mà tôi đã đánh gãy mũi, lại là một chuyện khác. Nó cũng vào học trường Vĩnh Sang và khi tôi gặp nó, nó đã xin lỗi tôi vì những ồn ào vừa qua và muốn làm bạn với tôi.
Tôi rất đỗi ngạc nhiên. “Tao không biết,” tôi nói. “Mày hứa là sẽ không tấn công tao chứ?”
Nó cười. “Được rồi, tao hứa. Nhưng tao biết rằng mày dư sức đánh lại tao mà.”
Tôi không coi đó là một lời khen, đặc biệt là một con mọt sách như tôi, nhưng nó có vẻ rất chân thành nên vào những lúc mà tôi và nó gặp nhau trong suốt học kỳ, chúng tôi trở nên hợp nhau và cuối cùng thành bạn bè tốt của nhau. Tuy nhiên, chuyến viếng thăm phòng thầy hiệu trưởng đầu tiên lại là về một vấn đề khác.
Mỗi học sinh mới đều phải đến gặp thầy hiệu trưởng, và trong buổi gặp, người giám mục hay sơ điều hành trường sẽ xem xét học bạ, lời phê và sẽ nói đến các vấn đề mà học sinh có thể sẽ gây ra hoặc gặp phải. Hạnh kiểm của tôi (luôn là một vấn đề lớn đối với các trường dòng) không có vấn đề gì cả vì những cuộc ẩu đả của tôi với Liên không bị nêu ra trong sổ học bạ lớp Năm. Nhưng học bạ lại đề cập đến thứ hạng của tôi tại buổi tổng kết cuối năm học – chính thức, hạng ba – trong khi giấy chứng nhận tôi mang đến buổi phỏng vấn lại nói là “hạng nhất,” do tự tay tôi sửa bằng bút mực. Vị giám mục so sánh kết quả gian lận của tôi với bản mà trường đang có, thầy suy nghĩ một lúc, rồi trả lại tờ chứng nhận cho tôi mà không nói lời nào. Tôi đoán rằng những thành tích sáng chói của tôi ở các cấp lớp đã cho thấy kết quả xếp hạng chính thức là không đúng, và vì tôi không có vẻ gì là một học trò có vấn đề, trừ chuyện quá hám thành tích, nên thầy hiệu trưởng quyết định để vấn đề ngủ yên. Tôi rất mừng là thầy đã quyết định một cách nhanh chóng trước khi tôi ngất lịm đi vì xấu hổ trước bàn của thầy.
* * *
Trường học lại yên ổn với những lộ trình quen thuộc, và tôi không thấy vấn đề gì trong chuyện này. Món quà của Quang – một chiếc xe đạp cũ – đã cứu tôi khỏi phải cuốc bộ ba cây số đến trường, và tôi chọn lớp buổi chiều để tôi không phải dậy sớm và có thể hoàn tất hầu hết các việc được giao ở Trại Cá trước khi trời quá nóng. Việc học thì khó hơn (môn Toán giờ gồm cả Đại số và Hình học, cùng với môn Sinh học và Hóa học) và những quyển sách chúng tôi đọc trong lớp cũng trở nên thử thách hơn. Ít nhất thì chuyện này làm đầu óc tôi bận rộn trong suốt những giờ quét, lau, dọn bùn bất tận trước giờ đi học. Dù vậy, không phải giáo viên nào cũng nghĩ rằng tôi là một học trò xuất sắc trong lớp họ.
Thầy Hưng, giáo viên dạy Toán, đã học để trở thành giám mục nhưng không đủ tiêu chuẩn. Điều này làm thầy trông khó chịu hơn các giám mục và các sơ khác dù những người này nhìn thế giới đầy rẫy những kẻ tội đồ. Thầy ghét bất cứ ai có tham vọng học thức, cụ thể là những ai có khả năng đạt được nó – đặc biệt là con gái. Trong chuyện này thì thầy có nhiều điểm giống dì Thu, và dì hẳn sẽ đồng tình với thầy rằng không có gì một người phụ nữ không làm được miễn là cô ta chỉ ở trong nhà và lo chuyện con cái. Tôi không hiểu được vì sao thầy lại dạy học, ngoại trừ việc có thể đây là cách duy nhất để thầy không phải nhập ngũ.
Cuộc chạm trán đầu tiên giữa tôi và thầy là khi thầy phê bình tôi nhanh nhảu, giành trả lời những câu hỏi trên lớp. “Hãy nhường cơ hội cho những em khác!” thầy nói, rồi gọi một đứa khác và nó chẳng hề biết câu trả lời. Mấy ngày sau, vì một vài đứa trong lớp có nhờ nên tôi bắt đầu chuyền giấy có ghi câu trả lời cho những đứa ngồi cạnh. Tất nhiên, chuyện này cuối cùng cũng bị phát hiện, khiến tôi còn gặp rắc rối nhiều hơn. Giờ thì tôi không chỉ là “một đứa nhiều chuyện” mà còn là “một kẻ gian lận” và “một kẻ phá bĩnh.” Khi tôi xin gặp thầy sau buổi học, thầy không muốn nói về việc học mà chỉ giảng dạy tôi về việc “cố gắng nhiều hơn” để trở thành “một cô gái đàng hoàng.” Khi tôi nói thầy giải thích rõ hơn thì thầy nói bởi vì “những người mồ côi không biết được vị trí của mình,” nên tôi phải cố gắng hơn để hòa nhập trong xã hội. Tôi không biết những chuyện này thì có liên quan gì tới môn Toán, nhưng tôi biết rõ rằng những việc này cho thấy cách thầy và những người khác vẫn nhìn nhận về tôi.
Hóa ra, một trong những người đó – thầy Thái, thầy dạy ngôn ngữ của tôi – là anh rể của thầy Hưng. Thầy dạy cả môn Văn (môn tôi thích) và môn tiếng Anh (môn tôi không thích nhất – lớp Sáu là năm đầu tiên học sinh được học ngôn ngữ khác), nhưng ít nhất tôi vẫn thường nghe tiếng Anh ở nhà nên có lợi thế hơn hẳn so với hầu hết học sinh trên lớp. Nếu coi thầy Thái là tiến sĩ Jekyll thì thầy Hưng sẽ là ông Hyde[9]. Thầy khuyến khích tôi đọc sách (ngạc nhiên chưa!) và cho tôi thêm bài tập nâng cao sau giờ học ở lớp. Khi tôi cảm thấy cuối cùng tôi cũng tìm thấy được một giáo viên có thể hiểu tôi, tôi hỏi thầy vì sao thầy Hưng lại ghét tôi đến thế. Có lẽ do họ là anh em cột chèo với nhau, thầy Thái phải giữ hòa khí trong gia đình nên chỉ nói “Ôi dào, em đừng lo về những chuyện đó,” và có lẽ để bù đắp cho tôi, thầy hỏi tôi có muốn tình nguyện tham gia vào ban chuẩn bị tiệc mà thầy chỉ đạo, giúp thầy đi mua đồ trang trí ở một khu chợ trong xóm hay không. Tôi đồng ý. Tôi đang là lớp phó và đã tổ chức một vài sự kiện cho lớp, gồm cả cuộc thi nấu ăn thường niên ở trường và một nhóm múa, nên những học sinh khác rất tin tưởng tôi ở những nhiệm vụ như vậy. Nhưng, tôi nói thêm, tôi cần phải xin phép gia đình trước đã. Thầy Thái cùng về nhà tôi để nói chuyện với dì Thu. Họ rất vui vẻ với nhau và dì đồng ý nên thầy trò chúng tôi lập tức đi ra chợ. Thầy Thái là một người mua sắm chu đáo và giữ quỹ của giáo xứ rất kỹ lưỡng. Tối đó tôi trở về Trại Cá lúc bảy giờ.
Ngay khi tôi bước vào, dượng Al nổi trận lôi đình.
“Mày nghĩ cái quái gì mà lại đi đêm đi hôm với một người lạ như vậy? Một thằng đàn ông nữa chứ!.” Tôi nói với dượng rằng dì Thu đã cho phép tôi, nhưng dượng không quan tâm. “Từ giờ trở đi, mày phải về nhà ngay khi tan học – không ngoại khóa ngoại khiếc gì hết, không tiệc tùng, không thể thao, không bạn trai bạn gái, không được làm gì hết! Mày về thẳng nhà, nghe rõ chưa?”
Tôi dạ dạ vâng vâng mặc dù không hiểu lắm những lời của dượng, cũng không hiểu vì sao dượng lại có thái độ khó chịu như vậy. Nhiều ngày sau, bà ngoại cho tôi biết rằng mọi việc đang trở nên căng thẳng trong khu vực của chúng tôi, vì lẽ ra hiệp định phải chấm dứt chiến tranh nhưng lính miền Bắc vẫn còn ở lại đây và đang hoạt động mạnh mẽ hơn ở Đô thành. Có lẽ dượng lo lắng cho một thành viên trong gia đình khi đi ra ngoài vào ban đêm, cũng có thể dượng hành xử như một người cha kiểu Việt Nam đang quá bảo vệ con mình, nhưng tôi lại có những mối nghi ngờ khác. Có lẽ dượng ghét thầy Thái như một địch thủ trong trò chơi trốn tìm. Chẳng ai có thể hiểu nổi dượng Al. Dù gì thì tôi coi chuyện bị cấm túc như một hình phạt dượng dành cho tôi vì tôi muốn được là chính mình.
* * *
Vào mùa hè năm 1974, tôi đã tròn mười bốn tuổi và dì Thu quyết định rằng tôi phải học nghệ thuật nội trợ để trở thành một người vợ Việt: nấu cơm bằng lò than. Bí quyết để nấu cơm, dù bằng bất cứ cách nào, là nhiệt độ ổn định – không quá nhiệt khi nồi cơm được nấu trên những cái lò hiện đại. Mọi người ở khắp nơi trên thế giới đã nấu như thế kể từ khi người ta phát hiện ra sắt, nhưng đối với một đứa con gái tuổi tôi, khi có lần đầu tiên cho mọi thứ, thì lần đầu tiên của tôi là một thất bại thảm hại. Dì giao cho tôi nấu cơm trưa cho tất cả người làm ở Trại Cá nên chúng tôi nấu rất nhiều gạo, nhiều nước trong một cái nồi rất lớn trên một cái lò than to và sâu như cái động của Satan. Tôi đã rất lo sợ trước khi bắt đầu nhưng vẫn cố gắng nấu.
Than cần nhiều thời gian để cháy, nhưng nếu chờ cho tất cả than bén lửa hết thì lửa sẽ bùng lên rất lớn. Nước cơm đang sôi sùng sục và mùi cơm khê tỏa ra khắp căn bếp, làm hỏng mùi vị của cơm. Hôm đó, chúng tôi có bữa trưa nghèo protein, và sau khi tôi bị dì Thu tát tai vì ngu ngốc, tôi dành cả buổi trưa để cạo và chà cái nồi bị cháy. “Ngày mai mày sẽ làm khá hơn,” dì nói, nghe như lời dọa nạt hơn là lời động viên.
Bài học làm vợ hiền kiểu Việt của tôi vào ngày hôm sau là học cách cắt rau đay. Lần này, dì Thu sẽ nấu ăn, còn việc hái rau – nguyên liệu chính của món, dì nói một cách đe dọa – là của tôi. Tôi phải cắt rau cách mặt đất đúng bảy phân rưỡi. Cắt như vậy rau sẽ ngon hơn và không làm chết cây, để cây phát triển tiếp cho những bữa ăn sau này – ở một nơi mà cái đói giống như một người bạn đồng hành thì việc này chưa bao giờ bị xem nhẹ. Đối với riêng dì Thu thì chuyện này còn quan trọng hơn vì dì không bao giờ cho phép người khác vào khu vườn của mình. Đây là bài kiểm tra quyết định.
Với tâm trạng lo lắng, tôi đi vào khu vườn yêu dấu của dì và đo đếm ở gốc cây, đúng bảy phân rưỡi, bằng chiều dài ngón trỏ của dì (bằng ngón giữa của tôi) và cắt rau. Tôi mang rau đã được cắt vào bếp, nhặt rau như dì chỉ, cố gắng để không lấy quá nhiều lớp ngoài cùng, và rồi đưa cho dì kiểm tra kết quả. Thật nhẹ nhõm vì tôi đã qua kỳ sát hạch. Dì cho rau vào nồi canh rồi giao cho tôi nấu cơm – một thử thách! Nhưng lần này bà đã giúp tôi. Một tiếng sau, chúng tôi đang cùng nhau ăn một bữa trưa rất ngon miệng, hai bên má tôi và lòng tự trọng của tôi đều không bị tổn thương – hay đó chỉ là điều tôi nghĩ.
Tôi bắt đầu lau dọn trong khi dì Thu thì đi vào khu vườn. Một lát sau, dì đi vào và giáng cho tôi một tát tai, rồi một cái tát nữa, rồi một cái nữa, qua trái rồi qua phải. Tôi để rớt cái nồi đang chùi rửa và rụt người lại.
“Đồ ngu dốt!” dì hét lên. “Đồ đần độn!”
“Cháu đã làm gì sai ạ?” tôi dùng hai tay che lấy đầu.
“Mày làm chết cây của tao rồi! Đó, mày làm như vậy đó! Mày đã nhổ rễ lên.”
“Không không, cháu chỉ cắt như dì nói thôi. Cách mặt đất đúng bảy phân rưỡi.”
“Đừng có cãi!” dì lại đánh lên hai cánh tay đang che đầu của tôi. Lúc này, bà ngoại để tẩu thuốc sang một bên và đến ngăn con gái mình lại.
“Thu,” bà nghiêm nghị nói, chụp cánh tay đang giơ lên của dì lại. “Dừng lại. Dừng lại ngay.”
“Con ngu dốt này làm chết cây của con!”
“Nó không làm thế,” bà ôm lấy tay dì. “Và nếu nó có cắt quá ngắn thì cây cũng sẽ mọc lại. Lạy Chúa, chỉ là mấy cái cây thôi mà. Con bị gì vậy hả?”
“Con bị gì sao?” dì Thu phẫn nộ. “Con quỷ cái này làm con thành như thế này đấy. Nó làm cuộc đời con rối tung rối mù! Nếu chị Hiên ở lại thay vì chạy theo anh Tỉnh ở Hồng Ngự, con sẽ không phải đóng vai một người mẹ của ba đứa trẻ mồ côi! Con sẽ không phải trả tiền học phí cho chúng! Con sẽ không phải dọn cầu tiêu của người khác! Con sẽ không phải lấy một ông già người Mỹ! Mẹ thấy đã đủ chưa?”
Những lời dì thốt ra làm tôi sững sờ hơn cả những cú đánh vào đầu. Tôi thấy những lời này cũng ảnh hưởng tới bà nữa nhưng mặt bà không thể hiện điều gì. Hoặc có lẽ bà đã hiểu, như một người mẹ có thể hiểu, rằng con gái mình đang hối hận về người đàn ông mà cô cưới, trong trường hợp này là Al Strauss – vị cứu tinh của gia đình chúng tôi – và phải gánh trách nhiệm về những đứa con của một người đàn bà khác. Đây không phải là chuyện rau đay, nồi cơm cháy, sở thích đọc sách của tôi hay bất cứ điều gì tôi làm khiến tôi trở thành cái bao cát để người ta đấm vào.
Tôi chắp hai tay lên ngực và nói, “Cháu thực sự xin lỗi dì về mọi chuyện, dì Thu à,” và tôi thực sự nghĩ như vậy. “Nhưng cháu không phải là Mẹ cháu. Cháu không gây ra cho dì những điều này. Mẹ cũng sẽ không gây ra những điều này cho dì…”
Dì Thu quay đi. Mặt dì méo mó vì cơn giận, hai nắm tay siết chặt bên hông như cố kiềm nén để không đánh tôi một lần nữa. “Giờ mày là mẹ tao nữa à! Tao không cần có hai người mẹ. Chỉ một mẹ thôi là đủ lắm rồi.”
Dì nhìn vào bà, và bà đang đứng với tôi.
“Gì đây?” dì hét lên. “Mẹ muốn con phải cầu xin nó” – dì chỉ vào tôi – “tha thứ cho con sao? Xin lỗi nó sao?” Dì làm bộ mặt sầu thảm và mỉa mai rồi khuỵu gối xuống, khóc tức tưởi.
“Tôi xin lỗi!” dì nức nở. “Tôi không có ý như vậy! Hãy tha lỗi cho tôi! Lạy Chúa, cả hai người, hãy tha lỗi cho tôi! Tất cả các người hãy tha lỗi cho tôi!”
Giờ thì dì không nói với riêng ai mà như nói với tất cả mọi người, còn tôi không biết phải làm gì tiếp theo. Tôi chỉ có thể nhìn dì và tôi cũng không nghĩ rằng bà ngoại biết phải làm gì. Rồi dượng đi vào. Dượng thấy vợ mình đang quỳ gối trước mặt tôi, dượng sấn tới giữa dì và tôi, rồi chụp lấy hai vai tôi. “Cái quái gì thế này?” dượng gầm lên, lắc lấy lắc để tôi.
Bà ngoại đưa một cánh tay ra trước mặt dượng nhưng dượng hất ra, rồi giáng một tát vào mặt tôi bằng mu bàn tay mình. “Tao đang hỏi mày đây, Sissy, cái quái gì đang xảy ra?”
Tôi bật khóc nức nở, miệng tôi có vị tanh của sự sợ hãi cùng với một chút máu. Dượng lôi tôi xềnh xệch ra khỏi cửa, tóm lấy một miếng ván bị sứt ra ở ngoài hiên rồi ném tôi xuống đất. Cú đánh đầu tiên trúng vai tôi. Tôi che đầu, và cú thứ hai trúng tay tôi. Tôi né và lẩn tránh, nhưng lần nào dượng cũng tóm được tôi. Tôi nghĩ đến việc bỏ chạy – có thể là chạy ra ao, có thể là chạy xuống ao, có thể chạy vào vòng tay bảo vệ của ông Ba, nhưng tấm ván đánh trúng tôi lần nữa. Cạnh ván cắm vào cánh tay tôi, đâm vào tận xương. Tôi cuộn người lại. Những cú đập trút xuống như mưa, trúng vào vai, mạng sườn và hông của tôi rồi ngưng lại. Bà nhảy vào ôm lấy tôi. Dượng huơ huơ tấm ván đầy đe dọa mấy lần, rồi ném xuống đất, hậm hực đi vào nhà.
Sau khi chắc chắn rằng cơn bão đã qua đi, bà giúp tôi đứng dậy. Chúng tôi đi vào mái hiên. Dượng và dì đã vào phòng, đóng cửa lại. Bà nhúng ướt một miếng giẻ và chậm vào những vết cắt, những vết bầm của tôi. Bà bôi thứ gì đó dinh dính vào vết thương lớn trên tay tôi – tôi không biết bà bôi gì hay bà lấy nó ở đâu, hay thậm chí là làm sao nó dính được vào tay tôi, vì tôi đang nhễ nhại mồ hôi, bê bết đất cát và đang run lẩy bẩy. Một lúc sau, tôi mới nhận ra rằng nãy giờ bà đang nói chuyện với tôi. Tôi không biết bà đang nói gì. Sau khi được băng bó và lau sạch máu, tôi đứng lên, loạng choạng vào phòng, leo lên giường và khóc như chưa bao giờ được khóc. Tôi đã quá mệt mỏi khi phải tỏ ra kiên cường, mệt mỏi khi bị ghét bỏ vì mình còn sống và là một đứa không mẹ không ba, mệt mỏi vì bị dượng Al tra tấn và bị dì Thu ghẻ lạnh. Giờ thì cả tình thương của bà hay tình yêu tôi dành cho anh Quang, Thủy và Bubba cũng không giúp tôi đứng dậy được. Trong giờ khắc ích kỷ đó, tôi thậm chí không nghĩ tới họ. Trái tim tôi trống rỗng, tôi chỉ cảm thấy sự đau khổ và ước mong sao tôi chưa bao giờ được sinh ra. Không hi vọng, không hứa hẹn về tương lai, không mẹ không ba để có thể làm nỗi đau tan biến. Tôi thấy một lọ aspirin mới trên cái bàn cạnh giường bà. Không do dự, tôi mở lọ và uống hết số thuốc. Một lát sau, tôi không biết là bao lâu, bà ngoại vào để kiểm tra, thấy tôi co rúm người, đầm đìa mồ hôi và đang nôn mửa. Một lần nữa, bà phải lau rửa cho tôi. Tôi biết rằng nếu có thể, bà sẽ cho tôi tất cả trái tim của mình. Qua cơn mộng mị, tôi nghe bà thì thầm:
“Rồi rồi, sẽ ổn cả thôi. Cháu sắp đến tuổi lấy chồng rồi. Khi lấy chồng cháu sẽ được giải thoát. Cháu sẽ được ra khỏi nhà này. Mẹ cháu cũng sẽ mong muốn như thế…”