Dịch giả: Hoàng Phương

Phải Sống

Lượt đọc: 417 | 0 Đánh giá: 0/10 Sao
★★★★★★★★★★
★★★★★★★★★★
« Lùi Tiến »
Chương 4
NHÀ GẠCH – 1967

❊ ❊ ❊

Tôi không biết bà ngoại có làm lớn chuyện vụ tra tấn bằng dây thừng với bác Quế, hoặc bác Chiêu hay không, nhưng theo Thủy và tôi biết thì bác Quế tránh chúng tôi (một chuyện dễ thôi vì chúng tôi tránh bác như tránh bệnh dịch). Cuối cùng, chuyện này trở thành một bí mật đen tối khác trong gia đình, rồi chỉ còn xuất hiện trong những cơn ác mộng.

Trong khi đó, công cuộc biến căn nhà lá thành nhà xi măng và vôi vữa bắt đầu vào mùa hè năm đó, khi tôi lên bảy. Tầng đầu tiên nhanh chóng được dựng xong, nhưng tôi đoán bác Chiêu và bác Quế đã hết tiền. Tầng thứ hai được nâng lên chỉ cách mái nhà cũ chừng một mét rồi được lợp tôn. Chính bác Chiêu lót gạch nền nhà, bác hì hục làm việc trong bóng đèn dầu mỗi đêm sau khi tan ca. Cuối cùng, chúng tôi cũng có điện, nhưng chỉ được dùng sau khi nhà sửa xong. Vì ngôi nhà rất mới và có không gian riêng tư nên bác Chiêu và bác Quế quyết định là con của họ sẽ sống và chơi trên tầng hai, còn bà, Hoàng, Thủy và tôi sống và làm việc nhà ở tầng dưới, ở đây giờ đã có một căn bếp đàng hoàng. Hẳn là bác Chiêu và bác Quế đã quay về với nhau, vì thi thoảng họ ở cùng nhau trên gác mái và đẩy đám con xuống tầng một ngủ chung với chúng tôi. Mặc dù hiểu rõ là Thủy và tôi không được bén mảng lên tầng hai, nhưng lâu lâu chúng tôi cũng lén trèo lên cầu thang để ngủ trưa hay chuyện trò với chị Liên và anh Ngọc, hai đồng minh bí mật chúng tôi có được khi đang ở “trong lòng địch.”

Phải công nhận rằng việc sửa sang đã làm ngôi nhà cải thiện đáng kể. Tường vôi giúp bên trong nhà dễ chịu hơn dù trong mùa nóng, còn nền gạch bông có viền xanh nước biển mát hơn nhiều so với nền đất. Căn bếp giờ có một bồn chứa nước lớn có gắn vòi, chúng tôi chỉ việc mở nước để dùng, tuy vậy, lâu lâu chúng tôi phải bơm nước vào bồn từ cái giếng trong xóm. Chúng tôi chỉ thiếu mỗi cầu tiêu trong nhà nên vẫn phải đi bộ vài dãy nhà để đến nhà vệ sinh công cộng ngoài sông Sài Gòn.

Việc có điện làm thay đổi đáng kể cách chúng tôi sinh hoạt mỗi tối, ít nhất là trong thời gian đầu. Để thưởng cho bà vì đã nuôi nấng Hoàng, dì Thu mua cho bà cái ti-vi trắng đen nhỏ. Đôi lần tôi đã thấy cái hộp kì diệu này ở nhà đứa khác và trong tiệm nhưng chưa bao giờ mơ nhà mình sẽ có một cái như thế. Giờ thì chúng tôi có ti-vi và nó nhanh chóng trở thành “đền thiêng” của cả nhà dù ánh hào quang của nó không kéo dài mãi. Tuy chúng tôi gắn dây nối điện chỉn chu nhưng điện đuốc ở nhà tôi khá yếu, còn đài đóm thì chập chờn. Những chương trình địa phương như thời sự, kinh kịch, trò chơi truyền hình không làm tôi hứng thú, mà đám trẻ chúng tôi chỉ thích phim Mỹ, đặc biệt là phim Miền Tây hoang dã[1]. Tôi và chị Liên lập tức chết mê chết mệt diễn viên Robert Conrad. Tối nào chiếu phim này và ăng-ten bắt sóng tốt, hàng xóm của chúng tôi sẽ tụ tập ngoài cửa sổ và ngó vào. Việc này làm bà ngoại cảm thấy mình giống một bà hoàng, như hồi xưa, nên đám đông không làm bà thấy phiền; tuy vậy, thỉnh thoảng bà xùy suỵt nếu họ bàn tán quá ồn ào. Đám trẻ con chúng tôi cảm thấy mình như người nổi tiếng, và mọi chuyện đều diễn ra tốt đẹp cho đến cuối tháng, khi bà ngoại nhận được tờ hóa đơn tiền điện đầu tiên. Từ đó trở đi, không ai được phép bật ti-vi, trừ những lúc dì Thu hay khách khứa đến nhà. Dù vậy, cái ti-vi vẫn là vật dụng tiện lợi, và cũng là thứ chúng tôi phải phủi bụi.

Sau khi căn nhà lá chuyển thành ngôi nhà gạch, bà ngoại bị cúm. Bà nằm liệt giường và muốn ăn phở vì nghĩ rằng nó sẽ giúp bà lấy lại sức. Tôi xin bà ra chợ để mua phở. Ban đầu bà do dự, nhưng tôi thuyết phục bà rằng tôi có thể làm được một nhiệm vụ quan trọng như vậy. Bà lấy ra chiếc khăn bà dùng để gói gém tiền bạc trong nhà và đưa tôi vài đồng xu. Tôi vào bếp lấy tô rồi chạy ù ra chợ. Tôi đứng xếp hàng tại tiệm phở, cảm thấy mình như người lớn vì được bà giao cho một nhiệm vụ như thế. Dĩ nhiên, tôi cũng hy vọng mình sẽ được bà cho ăn ké. Nước dùng phở phải luôn được nấu trong nồi cả ngày để luôn nóng khi có người mua. Đến lượt tôi mua, tôi trả tiền phở, chủ quán múc đầy phở vào tô, và tôi quay đi để về nhà.

Tôi vừa bước lên vỉa hè thì một đứa con trai trạc tuổi tôi đang cố lái xe đạp người lớn tông vào tôi và hất cả tô phở vào mặt tôi. Tôi la hét, vừa hét lên đau đớn, vừa mắng thằng con trai. Bà chủ quán bước ra, không phải để coi tôi có bị thương không mà để mắng tôi vì sự vụng về của mình. Tất nhiên là không có chuyện được tô nữa… “Đồ xúi quẩy, cút về đi,” bà ta nói. Bị đuổi khỏi quán, tôi chạy về với cái tô trống không và vừa khóc, tôi vừa kể cho bà nghe chuyện xảy ra. Thấy tôi đau đớn như vậy, bà khỏe lại ngay tức thì, bà bật ra khỏi giường để xem có thể làm gì để giúp tôi bớt đau. Lúc này tôi khóc rống lên vì quá đau đớn. Tất nhiên, chúng tôi không có thuốc men gì và cũng không có tiền đi bác sĩ, nên bà tìm hàng xóm nhờ giúp đỡ. Không ai có thuốc, nhưng ai đó gợi ý nên đặt một lưỡi dao lạnh nên chỗ bị thương để tránh phồng rộp và sẹo. Người đàn bà nữa gợi ý bôi nước mắm lên mặt tôi. Bà thử cả hai cách nhưng không thấy hiệu quả gì. Rồi sáng hôm sau, một người hàng xóm khác đến bảo chúng tôi đốt lá tre rồi lấy tro đắp lên mặt tôi. Tôi không biết những phương thuốc gia truyền này đến từ đâu nhưng không có cách nào hiệu quả. Ngày thứ ba sau vụ tai nạn, mẹ Trúc mang đến một loại thuốc mỡ của Mỹ. Cô nói cô mượn từ người quen ở chợ. “Thuốc Mỹ hay lắm, cháu sẽ bớt đau thôi,” cô nói. Nhờ Chúa phù hộ hay nhờ áp dụng nhiều phương pháp, hay cả hai, tôi cũng không biết nhưng chỗ bỏng không để lại sẹo ngoài một vết nhỏ trên má tôi. Tôi chỉ nhớ rằng trán, hai bên má và môi mình rất đau, nhiều chỗ phồng rộp phải mất nhiều ngày mới đỡ.

* * *

Mùa thu năm đó, bà ngoại đăng ký cho anh Ngọc và tôi học trong trường dòng ở giáo xứ Phú Hải. Đây không phải là lần đầu tiên tôi có cuộc phiêu lưu vào lĩnh vực giáo dục. Hồi còn ở Gò Vấp, Mẹ ghi danh cho anh Quang vào lớp Một tại trường dòng gần đó. Vì tôi có đi theo, sơ bề trên thấy tôi và nói tôi đủ tuổi để vào nhà trẻ. Tôi sửng sốt và không nói nên lời. Cho đến lúc đó, tôi nghĩ chỉ có những chị lớn mới được đi học. Không kiềm được niềm vui sướng, tôi nắm tay Mẹ và gật đầu lia lịa. Tôi sắp được đi học! Còn anh Quang lại nhìn mọi chuyện theo hướng khác. Anh biết thế nào Mẹ cũng bắt chúng tôi đi học cùng nhau, và anh phải chịu trách nhiệm về tôi – không phải là việc anh thích cho lắm.

Mẹ gọi chúng tôi dậy rồi cho chúng tôi ăn sáng, thường là bánh mì nóng chấm sữa đặc, nhưng thỉnh thoảng, vào những dịp đặc biệt, là xôi có rắc đường, dừa bào sợi và mè rang. Mẹ giúp chúng tôi mặc đồng phục, anh Quang mặc áo sơ mi trắng và quần soọc xanh còn tôi thì áo trắng và váy xếp li xanh. Rồi Mẹ chải mái tóc dài đen nhánh của tôi và cột thành một chùm hoặc hai chùm, tùy vào tâm trạng ngày hôm đó của Mẹ. “Tóc của con gái tôi đen mượt ghê!” Mẹ thường nói những lời này như đang hát và dịu dàng hôn lên trán tôi.

Một lần, chúng tôi vừa rời khỏi nhà thì anh Quang dừng lại, anh rủ tôi xin Mẹ tiền ăn quà vặt. Hầu như mấy đứa trẻ khác đều có còn chúng tôi thì rất hiếm khi được cho tiền.

“Mẹ sẽ la đấy,” tôi phản đối, dự báo phản ứng của Mẹ để cho qua chuyện này.

“Nếu em xin thì Mẹ không la đâu,” anh Quang nói. “Em đòi gì Mẹ chẳng cho. Em xin Mẹ đi!”

“Nếu Mẹ không cho thì sao?”

“Thì khóc. Lăn lộn trên sàn nhà. Nói Mẹ nếu Mẹ không cho tiền thì anh em mình không đi học. Đi đi. Mẹ sẽ làm gì cơ chứ?”

Chúng tôi sớm được biết.

Mẹ giận điên lên, quơ lấy cây roi Mẹ hay cất ở góc nhà để đánh anh Quang khi anh nghịch phá. Tôi ba chân bốn cẳng bỏ chạy ra khỏi cửa. Anh Quang thấy vậy nên bắt đầu chạy trước để tránh cây roi của Mẹ. Tôi ráng đuổi theo anh nhưng Mẹ gần tôi hơn anh Quang nên quất trúng tôi. Tôi đau điếng và khóc rống lên, lần này thì khóc thật, còn Mẹ thì chạy theo anh Quang và đánh anh ít nhất một lần trước khi chúng tôi đến tận cổng trường. Mẹ không muốn xúc phạm Chúa vì sau cổng trường có tượng Đức Mẹ La Vang, nên Mẹ ngừng lại.

Trưa đến, khi anh Quang và tôi gặp nhau trước cổng trường để cùng đi bộ về, anh xin lỗi vì đã làm cho chúng tôi bị đòn. Tôi bảo anh cút đi. Rồi anh nhắc cho tôi biết là nếu mình không về nhà cùng nhau như lời Mẹ dặn thì sẽ lại bị đòn nữa, tôi phải đồng ý chuyện này. Nói xong, anh Quang bước đi, còn tôi thì vừa đi vừa vùng vằng hờn dỗi mấy bước phía sau, hất tung đất đá dưới chân. Khi chúng tôi về tới nhà, Mẹ đã dọn cơm sẵn trên bàn và đang khe khẽ ngân nga một khúc nhạc ngắn như thể không có chuyện gì xảy ra. Tôi nghĩ chúng tôi không phải là những đứa trẻ hư hỏng. Khi năm học kết thúc, ngay cả anh Quang cũng cảm thấy buồn, dù có hay không có quà vặt.

Giờ thì, tôi lên bảy và anh Ngọc lên tám. Tôi bắt đầu vào lớp Một còn anh học lớp Hai. Dù tôi biết tôi chẳng phải là đứa dốt nhưng học lực của tôi khiến ai nấy đều ngạc nhiên, ngay cả hàng xóm, và những lời bóng gió hằng ngày về mấy đứa mồ côi đần độn trở nên ít dần, đặc biệt trong năm sau đó khi tôi vào lớp Hai, lúc những bài hát thiếu nhi, môn thủ công, những giấc ngủ trưa, giờ chơi nhường chỗ cho đọc, viết và tính toán. Tôi quyết tâm chứng minh giá trị của mình trước người khác, bất kể cái mác “mồ côi.” Những thành công nho nhỏ của tôi ở trường bắt đầu được bạn bè đồng trang lứa chú ý tới.

Cho dù Phú Hải là một giáo xứ nghèo nhưng trường dòng nhận được nhiều trợ cấp từ nhà thờ và những cá nhân khác. Vì thế, chúng tôi có những quyền lợi mà học sinh trường ngoài không có được. Trước hết, chúng tôi mặc đồng phục để phân biệt với đám trẻ trường công. Sách giáo khoa khá hiếm hoi nhưng ít nhất lớp nào cũng có được vài cuốn, dù sách này chỉ được dùng trong lớp. Mỗi ngày đi học đều giống nhau: nửa số học sinh học buổi sáng và số còn lại học buổi chiều. Chúng tôi ngồi học trên bàn dài và chép vào vở những gì thầy cô ghi trên bảng. Chúng tôi học bằng cách thuộc lòng và thi đua trả bài trước cả lớp, hòng nhận được những tràng pháo tay và những phần thưởng nhỏ như thể chúng tôi là các nhà tranh luận. Ngay từ nhỏ, chúng tôi đã biết tôn sùng việc học và kính trọng những ai tinh thông học thuật. Những ai chịu học hành nghiêm túc sẽ nhìn cuộc đời mình bằng ánh sáng khác.

Một trong những điều thú vị khi đi học cùng anh Ngọc là anh thường dành cả buổi chiều trên gác để đọc những quyển truyện tranh tiếng Việt mà mấy anh chị lớp lớn chuyền tay nhau. Thể loại ưa thích của anh là truyện trinh thám và kinh dị, tôi thì không dám sờ tới những quyển này. Tôi khá giỏi đánh vần và biết kể chuyện từ hình vẽ nhưng tôi chưa hiểu được những gì mình đọc, và chưa bao giờ nghĩ hình và chữ có liên hệ với nhau. Một ngày nọ, anh Ngọc cười phá lên khi đang đọc một quyển truyện tranh mà tôi chưa bao giờ thấy, nên tôi hỏi anh truyện gì mà vui vậy.

“Đây này, cô em Đậu Đũa của anh.” Anh đưa tôi xem trang anh gấp lại. “Hãy đọc lớn lên, từng câu một, và vờ như người trong hình đang nói điều đó.”

Tôi làm theo, rồi cũng phá lên cười. Tôi hiểu rồi! Từ ngữ có nhiều tầng ý nghĩa, và khám phá này làm tôi mê mẩn. Sau đó, tôi nuốt chửng tất cả số truyện tranh mà anh Ngọc mang về nhà như thể đó là bánh kẹo vậy. Một thế giới mới mẻ, giàu trí tưởng tượng mở ra trước mắt tôi, và đó chính là thế giới không có Những Con Quái Vật.

* * *

Gần kết thúc năm lớp Hai, một ngày nọ, bà ngoại gặp tôi trước cửa Nhà Gạch với vẻ mặt nghiêm trang. Chuyện này khá là lạ vì thường thì giờ này, khi tôi về nhà, bà đang chuẩn bị cơm trưa còn những người anh em họ chưa tới tuổi đi học thì chạy chơi quanh đó, hoặc là bám riết lấy chân bà, như em Thủy. Chắc có điều gì đó quan trọng đang diễn ra.

Không nói lời nào, bà quỳ xuống và tháo mẫu vải đen gắn trên túi áo tôi. Bà nhìn xuống tôi và tuyên bố: “Đã ba năm rồi. Cháu không cần đeo cái này nữa. Cháu có hiểu cái này có nghĩa là gì không?”

“Rằng Mẹ đã đi chợ về?”

Bà tiếp tục nhìn chằm chằm vào tôi, không nói gì. Tôi cảm thấy hai má mình nóng bừng. Mắt tôi bắt đầu ngấn nước, nhưng tôi không khóc. Thời khóc lóc đã qua rồi. Tôi nhắm chặt mắt lại, nhắm nghiền mắt như để thử thách lòng quyết tâm của mình.

“Rằng Mẹ sẽ không về nhà từ chợ?”

“Gì nữa?”

Những cơn ác mộng và những nỗi sợ hãi lướt trong đầu tôi, và dù tôi biết bà muốn nghe điều gì, nhưng tôi sợ phải thốt ra những lời đó.

“Gì nữa nào?” bà nhắc lại.

“Rằng Ba… Ba…,” tôi không thể nói nổi, nhưng gương mặt bà không suy suyển và bà chờ đợi. “Rằng Ba cũng sẽ không trở về?” Những hình ảnh mới mẻ nhảy múa trong bóng tối.

Bà lặng lẽ kéo tôi vào lòng, dúi đầu tôi qua vai, và bà khóc. Tôi khóc trong lòng. Tôi biết lâu lắm rồi nhưng bà chưa bao giờ nhận ra điều đó. Tôi biết khi ở trường những đứa khác trêu chọc và gọi tôi là đứa mồ côi ngu ngốc. Tôi biết từ Trúc, khi bạn hỏi tôi về mảnh vải đen và cho tôi biết nó có nghĩa là gì. Tôi biết điều đó – tôi biết rõ điều đó – khi tôi nhớ về Hồng Ngự.

… căn hầm cát được phủ bởi những trái dừa xẻ nửa; khuôn mặt tươi cười của Ba khi Ba chào đón Mẹ, Em Bé, anh Quang và tôi ở cổng tiền đồn vào hôm ấy; gương mặt lo lắng đẫm mồ hôi của Ba khi Ba cùng lính của mình đào những cái hào cuối cùng để sau này thành những nấm mồ của họ; đêm đen khủng khiếp đầy bom đạn và bên vai đẫm máu của Mẹ; bình minh xám xịt khi tôi vấp lên ngực một người chết với cái đầu đứt lìa đầy thương tích nhe răng cười với tôi; những cậu bé Việt Cộng vây lấy những người còn sống và “gây chuyện” – làm nhục Mẹ tôi; người cảnh sát cao gầy phát hiện ra anh Quang và tôi đang co ro bên tấm chiếu sũng máu của Mẹ và Em Bé vẫn còn bú; cùng người cảnh sát đi đến trạm cứu trợ Chữ thập đỏ, rồi đi về nhà người cảnh sát để ở qua đêm, và mẹ người cảnh sát lấy cái vòng vải đựng nhẫn của anh Quang; chuyến xe đò đơn độc về Sài Gòn và trở lại đó cùng bà ngoại và dì Thu để nói lời từ biệt Mẹ và cùng Mẹ đi đến Cù lao Mả trên những chiếc đò; cuộn chiếu được thả vào ngôi mộ nông nơi mà bà ngoại, dì Thu và anh Quang đã ngồi khóc cạnh bên; cây thập giá mỏng manh mà anh Quang và tôi đã làm để đánh dấu nơi an nghỉ của Mẹ…

Tôi không rõ mình đã biết chắc điều này được bao lâu rồi, nhưng ngày hôm đó, khi thốt lên những lời này với bà ngoại là lần đầu tiên tôi nói to những lời buồn bã đó.

“Vâng thưa bà, cháu đã biết điều này lâu rồi.”

* * *

Không còn mẩu vải đen để tang, những cảnh tượng đó tan biến thành một cuộc sống khác. Vài ngày sau, người đưa thư giao tới một lá thư gửi cho Vũ Mâu – tên của bà ngoại tôi. Bà không biết đọc nên, trước sự ngạc nhiên của bà, tôi tình nguyện đọc cho bà. Vẻ sửng sốt của bà làm tôi ngạc nhiên. Vậy bà nghĩ ở trường tôi học được gì vậy chứ?

Theo yêu cầu của bà, tôi xé phong bì và thông báo “Thư của cậu Hải!” điều này làm tôi còn mừng hơn nữa vì cậu là lính Hải quân nên tôi nghĩ cậu Hải có tin tức về chú Thành và chúng tôi sẽ biết gì đó về anh Quang và Em Bé.

“Cậu Hải nói rằng sau một năm lênh đênh trên biển, thuyền của cậu sẽ cập bến Sài Gòn ở bến Bạch Đằng vào cuối tháng. Cậu muốn ghé thăm Ngoại và vì cậu biết giờ cháu đã lớn rồi nên cậu muốn thấy cháu mặc váy áo như một người lớn, rồi dẫn cháu đi mua sắm ở chợ Bến Thành. Cậu nói nếu cháu không có tiền mua váy thì hỏi xin dì Thu, vì cậu nói dì Thu làm cho người Mỹ nên kiếm được rất nhiều tiền. Nha bà, nha. Cháu viết thư cho dì Thu để xin dì tiền mua váy mới nha.”

Chúng tôi đã biết dì Thu làm ăn khấm khá, vì dì gửi tiền về cho Hoàng thường xuyên hơn. Bà ngoại do dự khi phải hỏi thêm tiền, đặc biệt là cho một thứ xa xỉ như váy mới, nhưng với những gì tôi đã trải qua mấy năm vừa qua, tôi cho rằng bà nghĩ số phận còn đang mắc nợ tôi.

Dù lý do là gì đi chăng nữa thì bà cũng cho phép tôi viết một lá thư ngắn, và tôi làm ngay hôm đó. Trong vòng một tuần, dì Thu gửi về ít tiền – không phải là nhiều nhưng đủ để mua vài bộ đồ mới. Dù vậy, thay vì mua váy mới, bà mua cho tôi đồng phục đi học mà tôi đang rất cần, bộ đồ còn phải lớn hơn một số so với hiện tại để mai mốt tôi còn mặc vừa và rất lâu sau mới phải mua đồ mới. Số còn lại, bà mua cho tôi một đôi hoa tai để kỷ niệm cho lễ ban Thánh thể đầu tiên của tôi – đôi hoa tai nhỏ bằng vàng ròng với viên đá xanh treo tòng teng mà tôi tự chọn cho mình! Tôi đeo ngay tại chợ và hứa sẽ không bao giờ tháo ra. Tôi không nói ra điều này nhưng tôi biết rằng Mẹ tôi sẽ rất tự hào về tôi.

Cuối tháng, cậu Hải ghé qua Nhà Gạch trên chiếc Vespa màu xanh mới cáu. Cậu mặc đồ thủy thủ trắng hào nhoáng, đội mũ lưỡi trai vành đen, đeo cầu vai, khăn choàng vai màu đỏ và ruy-băng trước ngực. Vì chúng tôi không biết chính xác khi nào cậu đến nên tôi vẫn đang mặc đồ ở nhà và tôi chạy lại ôm cậu, nhưng cậu đưa tay ra như cảnh sát.

“Từ từ đã nào!” cậu nhe răng cười. “Cháu làm dơ đồng phục của cậu mất.”

Tôi dừng lại, vui mừng nhảy lên nhảy xuống, cười khúc khích rồi chạy vào trong nhà để mặc áo váy mới, trong khi bà ngoại trò chuyện với con trai bà. Khi tôi đi ra, cậu khởi động xe, tôi leo lên đứng phía trước, rồi cậu lái đi, tiến về hướng chợ Bến Thành.

Nói thật là tôi không biết lý do vì sao cậu Hải lại muốn chở tôi đi mua sắm. Dù gì thì tôi không phải là con của cậu, còn cậu lại là một gã độc thân điển trai – tại sao cậu lại cần một con nhóc như tôi xen vào? Và khi đến chợ, tôi biết lý do. Vẻ ngoài bảnh bao cộng với bộ đồng phục đẹp đẽ của cậu đủ để thu hút đám đàn bà con gái, nhưng với tôi lẽo đẽo theo sau, sạch sẽ và gọn gàng, cậu trở thành niềm mơ ước của tất cả đàn bà: một người đàn ông có nghề nghiệp đàng hoàng lại yêu quý trẻ con. Mấy cô bán hàng và khách hàng chủ động trò chuyện với cậu về “cô bé xinh xắn” và cậu sẽ nói “Vâng, con bé là con tôi” nếu cậu không thích người phụ nữ đó, hoặc “Ồ không, con bé chỉ là cháu tôi thôi” nếu người phụ nữ trông xinh xắn và còn độc thân. Phải có lý do bà ngoại mới nghĩ cậu Hải là người có đầu óc nhất trong nhà chứ!

Cậu Hải trong bộ quân phục trắng tinh của cậu, điều mà tôi không được phép chạm vào

Nhưng “người lính Hải quân” của gia đình chúng tôi còn muốn thực hiện một việc khác. Bà ngoại đã ghi danh cho chúng tôi học bằng họ của Ba tôi, nên tôi đi học bằng tên Nguyễn Thị Hiền. Tuy nhiên, sau chuyện ở Hồng Ngự, tất cả giấy tờ khai sinh của tôi đã bị mất. Tôi không có cách gì để chứng minh tôi sinh ra lúc nào, ở đâu, ba mẹ là ai và ngày nào đó sẽ gặp rắc rối với điều này – và em Thủy cũng vậy. Vì thế, cậu Hải quyết định chúng tôi cần có giấy khai sinh mới, và vì hồ sơ của chúng tôi giống như tờ giấy trắng, chúng tôi có thể khai sao cũng được. Cậu Hải nghĩ ra những cái tên mới và tôi phải thừa nhận rằng tên mới nghe hay hơn tên cũ. Tôi trở thành Đỗ Thị Bích Vân, hoặc gọi ngắn là Bích Vân, có nghĩa là “đám mây màu ngọc bích.” Em gái tôi giữ lại tên cũ nhưng đổi thành Đỗ Thị Bích Thủy, có nghĩa là “nước màu ngọc bích,” có lẽ để thể hiện tình yêu biển cả của cậu Hải. Và giờ đây, hai đứa chúng tôi có những cái tên “thành phố” hợp với hai cô gái Sài Gòn hiện đại trong tương lai. Tôi thích tên mới của mình và sử dụng nó ngay lập tức.

Tất nhiên, tất cả những điều mới lạ này – quần áo mới, trang sức mới, tên mới, và sự quan tâm của người đàn ông đáng mơ ước như cậu Hải – làm tôi cảm thấy mình như người lớn, dù tôi chỉ mới bảy tuổi. Khi dì Thu đến nhà để ra mắt bồ mới, một người lính Mỹ cao, lớn hơn dì một chút, tôi thấy chú thật đẹp trai – lần đầu tiên một điều như vậy xuất hiện trong óc của tôi. Dì cho tôi biết tên của chú, nhưng vì tên khó phát âm quá nên tôi quên ngay và chỉ gọi chú là “G.I”[2] hoặc “chú G.I” như những đứa trẻ khác trong xóm. Người Mỹ này, như những đồng đội thường đi trên đường ngang nhà chúng tôi, rất tốt bụng, hào phóng và có một cái túi không đáy đựng đầy kẹo hoặc những đồng xu để phân phát thoải mái cho lũ trẻ chúng tôi, tạo nên một đạo quân nhỏ xung quanh mình.

Tuy nhiên, vì tôi hay chăm lo cho Hoàng nên chú nhìn nhận tôi như kiểu một cô em nhỏ của dì Thu và vì thế ưu tiên tôi hơn hẳn. Sau khi phát kẹo cho mấy đứa kia, chú cho tôi một túi kẹo sô-cô-la bọc đậu phộng M&M bự chảng. Những viên kẹo này ngon cực kỳ bởi ngoài lớp sô-cô-la mỏng (loại này không bị chảy nhão ra dưới cái nóng của miền nhiệt đới), mỗi viên kẹo còn chứa một viên đậu phộng giòn rụm. Tôi khúm núm nhận bịch kẹo và cảm ơn chú bằng thứ tiếng Anh bập bẹ mà tôi đang học. Khi những đứa khác chạy ra ngoài chơi, còn dì Thu và người lính Mỹ tạm biệt Hoàng và bà, tôi còn lại một mình trên giường với báu vật của mình. Tôi xé một góc nhỏ và đổ vài viên kẹo ra tay. Tôi cho một viên vào miệng, nhưng tôi không để mình ăn hết túi kẹo như mấy đứa khác. Thay vào đó, tôi bắt đầu suy nghĩ như cậu Hải.

Tôi cần gì hơn một túi kẹo? Nếu tôi ăn hết ngay lúc này, tôi sẽ bị đau bụng và lại không có gì tốt cả. Không. Tôi phải sử dụng kho báu của mình theo cách khác.

Tôi đi vào bếp, lấy một cái tô gỗ và hai cái ghế đẩu. Rồi tôi đi ra đường, ngay trước nhà, mở một cửa hàng gồm có tôi – ngồi trên một cái ghế, và cái tô – giờ đầy kẹo M&M – nằm trên cái ghế còn lại.

Bọn trẻ trong xóm tự động vây lấy tôi để xin kẹo. Tôi chia cho các anh chị họ của tôi, em tôi và tất nhiên bạn thân của tôi – Trúc, nhưng còn với những đứa khác, tôi bảo chúng phải trả một đồng để mua một viên. Ngay lập tức, chúng không xin nữa, nhưng mắt chúng hau háu mở to như tô kẹo. Những đứa không có sẵn tiền liền về nhà lấy, và cửa hàng của tôi bắt đầu mở cửa. Một đứa trong lớp của anh Ngọc hỏi liệu nó có thể mua hai viên M&M với một đồng không. Tôi nói, “Được thôi, mày có thể có hai viên với hai đồng!.” Nó nghĩ ngợi một lúc rồi chìa ra mấy đồng xu. Trong một tiếng đồng hồ, tô kẹo hết sạch. Tôi đưa tiền cho bà ngoại và nhờ bà giữ, vì bà là người giữ tiền trong nhà. Tôi không có nơi nào để giữ tiền ngoài túi áo, mà theo tôi thì cất tiền ở đó không phải là một ý hay.

Bà ngoại khen tôi có máu kinh doanh và để tiền của tôi trong cái hũ trên kệ bếp cao. Tôi quá đỗi vui mừng. Tôi cảm thấy mình thật giàu có, và tôi không đụng tới một đồng nào trong một thời gian khá lâu. Bảy tuổi và tôi đã là một nữ doanh nhân thành công, là bảo mẫu tốt của Hoàng, là nhà tri thức lớp Hai, và là nam châm thu hút phụ nữ của cậu Hải. Tôi biết tôi phải hành xử một cách có trách nhiệm. Dù vậy, một tuần sau, tôi lấy ít tiền để mua một cái quạt giấy cho bà ngoại và vài cái bánh gạo để đám chúng tôi tráng miệng sau bữa tối. Tôi không biết điều nào làm tôi phấn khích hơn: tôi kiếm được tiền một cách khôn ngoan, hay niềm vui tôi đem lại cho gia đình mình khi tiêu những đồng tiền này, nhưng tôi biết rõ tôi sẽ không nhìn tiền bạc như trước đây nữa.

* * *

Đến cuối năm 1967, những thay đổi đang lởn vởn trong gió. Dì Thu dẫn về một người bạn trai Mỹ khác, nhưng lần này thì già hơn rất nhiều – không phải là lính Mỹ mà là một nhà thầu dân dụng. Dì giới thiệu ông ta tên Alvin Strauss, ông ta có vẻ tử tế. Đây là việc quan trọng vì sau đó, dì Thu tuyên bố họ đã đính hôn.

Bấy giờ, là học trò giỏi và là doanh nhân thành đạt, tôi cho rằng mình hiểu biết chút gì đó về con người. Dù thỉnh thoảng cậu Hải dùng tôi như cái cớ để khơi chuyện khi đi tìm bồ bịch, tôi biết một số người khác sẽ không đối đãi tử tế với những đứa trẻ không phải con họ. Bác Quế là một ví dụ. Tôi đã thấy sự thất vọng hiện trên mặt của những người đàn ông mà dì Thu dẫn về để gặp đứa con không cha của dì – và lời chửi rủa lũ mồ côi đần độn vẫn còn văng vẳng bên tai tôi. Thế nhưng, người đàn ông này, cao gầy, với cặp mắt kín đáo, mái tóc lưa thưa và bộ ria mép mỏng có vẻ không nề hà chuyện Hoàng hay đám con nít lởn vởn quanh ông. Ông có vẻ quan tâm đến tôi và em Thủy, có lẽ vì sự tử tế đặc biệt dì Thu dành cho chúng tôi. Bạn cũng nên biết rằng một đứa ranh con như tôi sẽ biết những điều tốt đẹp không thể kéo dài mãi mãi.

Phương Nam phát hành - NXB Phụ Nữ 7/2017
Nguồn: Việt Nam Thư Quan
Được bạn: Ct.Ly đưa lên
vào ngày: 17 tháng 8 năm 2026

« Lùi Tiến »

💬 Thảo luận

Chưa có bình luận nào — hãy là người đầu tiên chia sẻ cảm nhận của bạn!

Đăng nhập để tham gia bình luận.