Chúng tôi đáp xuống căn cứ không quân Clark ở Philippines lúc trời tờ mờ sáng. Vì trước đây khi tôi đến và đi đều vào ban ngày nên chòm sáng bao quanh sân bay không có ý nghĩa gì với tôi cả – tôi không cảm thấy mình đang rời khỏi hay về lại chốn cũ. Tôi từ từ ngộ ra rằng có lẽ đây là lần cuối cùng tôi được gặp bà tôi, những người anh chị em họ, cô dì chú bác, bạn học – đó là chưa kể đến mộ của Mẹ và cũng có thể là mộ Ba tôi. Lúc này, khi biết được rằng cuộc sống quá đỗi quý giá và ngắn ngủi, khi nhận thức được rằng những mất mát này có thể là vĩnh viễn làm chúng càng sâu sắc, dù cho là đối với một đứa con gái mười lăm tuổi. Nói thật là ngoài nỗi buồn khổ này đang gặm nhấm trái tim mình, tôi không cảm thấy sợ, cũng không cảm thấy phấn khởi. Tôi biết cuộc sống bên ngoài quê nhà sẽ khác xa so với những gì tôi đã trải qua. Nếu chúng tôi đến Mỹ, tôi nghĩ rằng nơi đó sẽ có rất nhiều xe hơi, đồ ăn ngon, cao bồi và người da đỏ, ít nhất thì theo các chương trình ti-vi mà tôi đã xem. Thật ra, khi tôi đi xuống chiếc C-130, tôi cũng không biết chắc liệu nước Mỹ có phải là điểm đến cuối cùng của chúng tôi hay không. Như mọi khi, quyết định thường được định đoạt bởi những đấng tối cao.
Không khí đêm ở trại Clark lạnh hơn ở Sài Gòn nên tôi run lên khi băng qua một khu đất rộng từ sân bay đến hàng xe buýt. Chúng tôi vật vờ lên xe như mấy cái xác sống và tìm chỗ ngồi. Như tôi, không có hành khách nào ngủ được trong suốt hai tiếng rưỡi ngồi máy bay, và sau gần 60 tiếng ngồi chai mông, rệu người để chờ các thủ tục quan liêu ở sân bay Tân Sơn Nhất thì không ai muốn nói năng gì cả, không muốn nói về cuộc phiêu lưu lớn sắp tới hay thậm chí là điều gì sẽ xảy ra tiếp theo. May mắn là điều xảy ra tiếp theo là một bữa ăn nóng hổi ở một nhà ăn quân sự của Mỹ, rồi một chuyến đi ngắn đến trung tâm dành cho người tị nạn được thắp sáng như một sân vận động, ở đó chúng tôi có thể thoải mái vươn người trong những căn lều của lính Mỹ, thay quần áo, giặt giũ. Trong khi ở đó, tôi gặp một cô gái người Philippines rất dễ thương trạc tuổi mình. Tôi đã trò chuyện rất vui với bạn bằng thứ tiếng Anh lõm bõm của tôi, kèm thêm huơ tay múa chân và thứ ngôn ngữ phổ biến của các cô gái tuổi teen như lược, kẹp tóc và chuyện xỏ lỗ tai.
Không biết là may hay rủi nhưng chúng tôi không ở lại khu trại này lâu. Tên của dượng Al lại được xướng lên, và tôi phải nói lời từ biệt với người chị em người Philippines đã cho em Thủy mượn áo và quần soọc khi quần áo của em còn đang phơi trên dây. Chúng tôi ngồi xe buýt đến cầu thang lên máy bay ở phía xa, rồi leo lên cầu thang hai tầng vào trong một chiếc máy bay thương mại khổng lồ mà dượng Al cho biết đó là một chiếc 747 – “chiếc máy bay chở hành khách lớn nhất thế giới!.” Dượng nói Bộ Tư lệnh Không quân Mỹ đã thuê chiếc phi cơ tốt nhất nước Mỹ để “đưa chúng ta về nhà.”
Ít nhất thì cũng có một người trong chúng tôi biết chúng tôi sắp đi đâu về đâu.

Chuyến bay dài từ Philippines đến California tự thân nó đã là một cuộc phiêu lưu. Chuyến bay bắt đầu với một đoàn toàn những người cáu kỉnh, nhớp nháp, lo lắng, rụt rè, biết ơn và thống khổ, đang nối đuôi nhau bước vào một phương tiện đi lại lạ đời và chật ních người được thiết kế để mang họ rời khỏi những gì họ biết và yêu quý, đến một nơi xa lạ và bí ẩn.
Chiếc máy bay khổng lồ bay từ hòn đảo, xuyên qua những đám mây xao xác, hòa vào bầu trời trong xanh, bỏ lại mặt trời đang lặn ở phía sau cho đến khi hoàng hôn đỏ rực bao trùm lấy chúng tôi. Nhìn xuống đại dương thăm thẳm bao trùm mọi phía dù nhìn từ ô cửa sổ nào đi chăng nữa, lần đầu tiên trong đời tôi lờ mờ nhận ra thế giới rộng lớn biết chừng nào. Hầu hết hành khách trên máy bay đều là người châu Á, với một ít người Mỹ điểm xuyết xung quanh. Phân nửa số ghế dành cho trẻ em và em bé ngồi, và những đứa bé này khá trật tự, biết cách phân công nhau để mà gào khóc, nên lúc nào cũng có ít nhất một đứa đang ré lên. Dù chúng tôi ra đi vào một buổi sáng đẹp trời và chuyến bay khá êm đềm – thậm chí là thoải mái – không ai nói một lời nào trong suốt hai tiếng đầu tiên cứ như thể người phi công đã bật đèn hiệu “Cấm nói chuyện” khi ông ta tắt đèn báo hiệu cài dây an toàn. Chính lúc này đây, tôi nghĩ, tất cả chúng tôi đều nhận thức rõ tình thế của mình.
Cho đến thời điểm này, con đường của tôi khá gồ ghề, nhưng không tồi tệ bằng nhiều người khác và dễ chịu hơn một số người còn lại. Tôi chỉ mới ra viện được một tháng, và những cơn đau nhức bắt đầu la hét đòi sự chú ý. Chứng đau lưng mà bác sĩ bảo là tôi có thể sẽ mắc phải khi lớn đã bộc phát khi mới bay được nửa đường và khiến tôi có cảm giác cái ghế đệm máy bay tôi đang ngồi giống như một đống bê tông. Cái chân trái đang làm tôi đau không chịu được, và vào những phút giây hiếm hoi khi cơ thể tôi chịu nhượng bộ, tôi lại nghĩ đến gương mặt mình. Chúng tôi đã rời khỏi thế giới nơi mà nỗi đau đớn và sự không lành lặn đã trở nên bình thường, để đến một nơi mới có những diễn viên điện ảnh với làn da rám nắng, ngôi sao nhạc rock, vận động viên lướt sóng – những hình mẫu của vẻ đẹp hoàn mỹ. Mọi người đã an ủi tôi rằng một khi mặt tôi hết sưng, những vết sẹo mờ đi, bên má phải và môi tôi sẽ không tệ hơn một người vừa bị té ngã. Người ta chỉ còn tránh nhìn vào tôi khi tôi mở miệng ra để ăn hoặc cười, nên tôi thường nghiêng đầu nghịch ngợm qua phía phải để nhai và mỉm cười với bàn tay che miệng như những cô gái người Nhật. Ai cần hơn một cái va li khi bạn là một cô gái tuổi teen đang đến Mỹ với hành trang như thế chứ?
Câu hỏi thật sự đang chờ đợi tôi là khi chúng tôi đáp xuống thì dượng Al và dì Thu sẽ đối xử với tôi như thế nào. Trước khi người nhân viên Đại sứ quán phá ngang bữa trưa của chúng tôi và làm cuộc sống của chúng tôi nổ tung vào ngày cuối cùng đó ở Trại Cá, tôi biết tôi phải ra khỏi gia đình họ, và rằng cái cổng sẽ đóng sầm trước mặt tôi bất cứ lúc nào. Khi tôi dọn đến sống cùng bác Chiêu và cô Mai, tôi bắt đầu nghĩ tôi là một người độc lập trong cuộc sống – không phải là một viễn cảnh vui vẻ gì đối với một cô gái người Việt lớn lên đã không có gia đình, nhưng là một chuyện mà tôi có thể kiểm soát được. Vụ tai nạn đã làm thay đổi tất cả. Sự tự tin tôi đã cố thể hiện ra khi tìm việc ở Sài Gòn, chuẩn bị hòa nhập vào xã hội của những học sinh phổ thông trung học, và đã rời khỏi người giám hộ này đến người giám hộ khác, tất cả đã tan biến. Và giờ đây tôi thật sự ước ao rằng tiếng Anh của mình khá khẩm hơn.
Khi bóng tối Thái Bình Dương đen thăm thẳm đang lướt nhanh bên dưới chúng tôi, và những ngôi sao lấp lánh trên bầu trời xám đen trước lúc bình minh lên, ý nghĩ của tôi lại hướng về bà ngoại. Sau cái chết của Ba Mẹ, nơi duy nhất tôi cảm thấy yêu thương và an toàn là được ở với bà. Dù vậy, ngay cả khi sống với bà, tôi cũng cảm thấy một sự mất mát không thể tả được lúc nào cũng hiện hữu, một sự trống rỗng to lớn trong tim tôi đến mức cả tình yêu và sự chăm sóc của bà cũng không thể nào lấp đầy. Tôi cho rằng đây là cảm giác những người mồ côi đều cảm thấy, dù là những người có cùng cảnh ngộ với tôi – may mắn có được sự quan tâm chăm sóc của một người bà. Có đôi lúc, vòng tay yêu thương của bà chỉ làm tôi nhớ Mẹ tôi thêm mà thôi. Tôi thường cảm thấy buồn và cô đơn khi thấy những đứa trẻ khác có ba có mẹ, và đặc biệt khi tôi chứng kiến tình cảm yêu thương của một người mẹ và cô con gái.
Với dì Thu và dượng Al, tôi chưa bao giờ có cảm giác rằng tôi là “con gái” thực sự của họ. Tôi chỉ thấy một sự chịu đựng lạnh lẽo. Rõ ràng, dì Thu cảm thấy dì có một trách nhiệm nặng nề mà dì rất căm ghét. Dượng Al chỉ là chịu đựng tình huống này, và khi dượng không chịu đựng được nữa, dượng đã bộc lộ bằng mọi hình thức hành hạ về thể xác cũng như tinh thần. Trong những năm trước khi ở Trại Cá, trong chúng tôi không có đứa nào có một sự tương tác thân mật thực sự nào với dượng. Dượng không bao giờ đụng tới một đứa nào cả. Mọi việc thay đổi kể từ khi dượng bỏ việc ở công ty Kiến trúc Thái Bình Dương và không ai trong chúng tôi hiểu lý do. Có thể đó là vì anh Quang, Thủy và tôi đã lớn hơn và không còn dễ thương nữa, có thể giữa dượng và dì Thu có nhiều vấn đề hơn tôi biết. Nhưng mọi việc trở nên tồi tệ hơn với mỗi ngày trôi qua. Việc chúng tôi phải sống với dượng khiến bà ngoại rất phiền lòng và đau khổ, nhưng bà đã tài cùng sức tận nên không thể ngăn chặn được tất cả mà chỉ có thể can thiệp phần nào. Dì Thu thể hiện sự ghẻ lạnh đối với con cái của chị mình khi dì chưa bao giờ, chưa bao giờ can thiệp chuyện giữa dượng Al và tôi hay với bất cứ đứa nào khi dượng đánh đập chúng tôi trước mặt dì. Dì chưa bao giờ đến xem tôi như thế nào sau mỗi trận đòn, không bao giờ đặt tay lên trán tôi để xem thử tôi có đang sốt không… Không có bất cứ tương tác “mẹ con” nào cả, cũng không hề thể hiện tình cảm nào. Không biết vì lẽ gì dì không thể làm được những chuyện này.
Khi tôi trở lại Trại Cá sau tai nạn, dượng Al, dì Thu và tôi tiếp tục hạn chế tiếp xúc, nói chuyện hết mức có thể. Chúng tôi chỉ nói khi thực sự cần thiết, và chắc chắn là không có sự thương cảm nào dành cho tôi khi tôi phải chịu đựng đau đớn hay thấy không thoải mái. Thậm chí, trong một loạt những sự kiện dẫn đến việc chúng tôi phải vội vã từ Trại Cá chạy đến sân bay, chúng tôi cũng không nói. Tôi cảm nhận được sự căm ghét của dượng Al dành cho tôi. Trong thâm tâm mình, dượng biết lý do vì sao tôi ra đi, cũng như những gì mà tôi, anh Quang và Thủy đã chịu đựng khi ở trong tay dượng. Tôi không cho rằng dượng cảm thấy hối tiếc hay hối lỗi gì cả. Dượng tức giận vì tôi đã quyết định tôi sẽ không im lặng nữa. Còn dì Thu, có lẽ dì cảm thấy xấu hổ và buồn phiền vì cách hành xử của dượng Al và không biết phải đối xử với tôi ra sao khi tôi quay lại, vì dì biết lý do vì sao tôi ra đi. Tôi giải quyết chuyện này bằng cách né tránh dì và không khơi lại chuyện đã qua. Hiểu theo cách nào đó, dì Thu cũng là tù nhân của dượng Al như tôi vậy, cho đến khi tôi bỏ trốn. Một tù nhân vô vọng và không có lối thoát. Dì cảm thấy rằng dì và cả Bubba nữa sẽ không thể sống sót được nếu không có dượng Al.
Không, tôi không có lý do gì để tin rằng tôi được chào đón trong gia đình dì dượng khi chúng tôi dàn xếp xong mọi việc. Tôi cũng lo cho Thủy và anh Quang nữa. Ít nhất thì Bubba và tôi cũng có một thời sống vui vẻ với dì dượng hồi còn ở Quy Nhơn và Philippines. Anh Quang đã trở thành một chàng trai dễ thương: tự tin, vui vẻ, tò mò, lịch sự, hào phóng và vị tha nhưng rất chắc chắn về lòng tin của mình, cũng giống như Ba. Còn em Thủy, dù chỉ kém tôi một tuổi nhưng vẫn chưa tìm ra bản thân mình. Nếu Bubba là hoàng tử bé của gia đình, được chiều chuộng, được ưu tiên, được yêu thương thì Thủy thường bị làm ngơ và chỉ âm thầm chịu đựng. Nếu bà ngoại có phạm một sai lầm đối với bất cứ ai trong số chúng tôi thì đó là bà đã quá đùm bọc Thủy khỏi thực tế khốc liệt của cuộc đời. Tôi lo cho em tôi và tôi sợ rằng tôi sẽ thấy ở em những bóng đen dì Thu hay nghĩ về Mẹ tôi: thiển cận, vô trách nhiệm, sẵn sàng đẩy rắc rối cho người khác. Bằng cách nào đó, tôi cảm thấy mình như một người chị em với những người phụ nữ từ những thế hệ đó, nhưng mối ràng buộc này có thể dễ dàng trở thành gông cùm, trói buộc tôi.
Trong suốt chuyến bay dài đến Mỹ tôi không ngủ được, và tôi rất mừng là mình không bị quấy rầy để có thể đắm mình trong suy nghĩ. Khao khát thầm kín được ở với Mẹ, với Ba, với một gia đình thực sự và nỗi nhớ bà mình đến mức không chịu được giờ nằm im trong một nơi sâu thẳm trong tim tôi. Tôi cho phép mình cảm thấy vui và nhẹ nhõm khi rời khỏi Việt Nam mà không cảm thấy tội lỗi. Tôi cảm thấy phấn khởi với bình minh đang lên và những điều kỳ diệu mà nó sẽ mang lại.
Chúng tôi bắt đầu hạ xuống bờ bắc California. Phi công nói rằng theo cách người ta tính thời gian ở một hành tinh hình cầu, chúng tôi không chỉ phải chỉnh lại đồng hồ mà còn phải lặp lại ngày hôm trước, ngày 22 tháng 4. Vì những nỗi đau và sự chán chường của cuộc tản cư bất tận, đó không phải là ngày tôi muốn lặp lại, nhưng ít nhất lần thứ hai này sẽ là ở một vùng đất mới. Sau tất cả thì đó chính là ý nghĩa của nước Mỹ: bắt đầu lại từ đầu và mọi chuyện sẽ tốt đẹp hơn.
Điều đầu tiên làm tôi ngạc nhiên là sự thiếu vắng cây xanh. Bay qua miền Nam Việt Nam trong lần đầu tiên với dượng Al vào dì Thu, những ruộng lúa xanh rì đã nhường chỗ cho những đồi núi xanh thẳm. Còn ở đây lác đác ít cây cối dưới chân những triền núi gồ ghế đá, màu nâu cũng nhiều như màu xanh, với những ngón tay xanh của biển cả chạm vào bờ đất từ thành phố San Francisco xinh đẹp. Khi chúng tôi tiến gần hơn tới ga đến tại căn cứ không quân Travis ở phía đông của Vịnh Biển, những đồi núi và biển nhường chỗ cho những đồi cát vàng – “những cơn sóng màu hổ phách” theo như cách mà người Mỹ vẫn thường ca tụng. Xuống thấp hơn, chúng tôi bay qua các thị trấn và khu vực dân cư được sắp xếp thẳng tắp và ngay hàng thẳng lối như bàn cờ, tất cả đều nối với đường cao tốc màu xám và hàng dài xe cộ chạy trên đó. So với những con đường uốn lượn, gồ ghề và chật ních người đi bộ và xe đạp ở Sài Gòn và những khu ngoại ô của nó thì ở đây trông như cảnh tượng trong một quyển sách tranh: sạch sẽ, ngăn nắp và trù phú. Cứ như thể đáp xuống một ngân hàng vậy.
Sau cú hạ cánh nhẹ nhàng – tất cả hành khách đều rất mừng vì điều này – máy bay chở chúng tôi từ từ đi vào ga. Khi máy bay ngừng, khách bắt đầu rời ghế và xếp hàng trong một hàng dài bất tận, đầu tiên là khi đi dọc lối đi, có vẻ như dài bằng một dãy phố. Rồi tôi đứng chỗ cửa máy bay, hít không khí và nhìn về phía đằng xa.
Xin chào, nước Mỹ!
Tôi cảm thấy ngập tràn cảm giác biết ơn Chúa, sự biết ơn mà không có từ nào mô tả được. Đột nhiên, luồng gió tháng Tư lạnh buốt thổi qua tôi, và đó là lần đầu tiên tôi cảm nhận cái lạnh như thế. Cái áo len mỏng của tôi không thể làm tôi ấm lên. Hồi ở Việt Nam, thỉnh thoảng tôi đã biết qua “máy điều hòa không khí,” hầu hết qua những chuyến viếng thăm ngắn ngủi và họa hoằn tại các quầy đổi tiền hoặc những văn phòng nơi dượng Al làm việc, nhưng tôi không thể hình dung được cái lạnh này lại có thể hiện diện ở khắp đất nước. Quốc gia lạ lùng và to lớn này sẽ dành cho tôi những bất ngờ nào nữa đây?
Tôi cố ý bước từng bước xuống mỗi bậc cấp kim loại, quyết tâm nhớ những khoảng khắc này suốt cuộc đời mình. Chân tôi chạm đất Mỹ như bước chân đầu tiên của phi hành gia trên mặt trăng. Nền đất phủ bê tông chứ không phải đất nhưng cũng chẳng khác gì lắm. Tôi đang ở Mỹ!
Sự phấn khích của tôi chẳng mấy chốc thay đổi, biến thành sự thất vọng khi tôi không thấy bất kỳ một anh chàng cao bồi nào, không thấy một người da đỏ, con ngựa, con bò hay diễn viên điện ảnh nào. Từ những chương trình ti-vi về nước Mỹ, chúng tôi cho rằng cuộc sống ở Mỹ giống như những trận Tết Mậu Thân triền miên: mọi người đều mang súng, những người nhập cư bắt những người da đỏ, và những cô gái mặc bikini thỏa thuê vui đùa cùng sóng biển. Mọi người cưỡi ngựa hoặc lái những chiếc xe bự chảng; không ai chạy xe đạp hay xe máy. Không điều gì đúng cả. Người Mỹ, những người đã làm thủ tục cho chúng tôi qua cửa hải quan, làm việc sau bàn giấy hoặc thúc đẩy chúng tôi trên xe cộ hoặc khi đi bộ. Họ trông như những người lính Mỹ hay những công dân Mỹ mà tôi đã thấy ở Việt Nam, dù có lẽ là có chế độ ăn uống tốt hơn. Chờ trong một hàng dài, anh Quang có một phát hiện đáng kinh ngạc là những người tóc vàng mắt xanh dường như có mặt ở khắp nơi, và so với ở Việt Nam và Philippines, anh đã đúng. Cuối cùng tôi cũng được thấy diễn viên điện ảnh đầu tiên (đại loại vậy): một người nổi tiếng trong chương trình Today Show đang phát trên mấy cái ti-vi treo trên tường trong phòng chờ – tất cả đều là ti-vi màu – lần đầu tiên tôi thấy. Dượng Al thường phàn nàn về chuyện mang theo tiền lẻ, cứ như thể cầm tiền là một gánh nặng vậy. Giờ thì tôi thấy người Mỹ vứt những đồng xu của mình ngay khi có được bằng cách bỏ chúng vào những cái máy Coca hay Pepsi hay những thiết bị khác có thể cho ra cà phê, sô-cô-la nóng, những bịch snack mặn hoặc kẹo. Với những chiếc máy cho ra thức ăn như thế này, tôi đã nghĩ người Mỹ không cần chợ làm gì.
* * *
Bởi vì dượng Al là một công dân Mỹ và không ai trong chúng tôi cầm hơn một cái va li nên chúng tôi hoàn tất các thủ tục rất nhanh chóng, mau lẹ rồi được bảo có thể… đi đâu thì đi. Chúng tôi đột nhiên thấy mình đứng bên ngoài khu vực an ninh của sân bay, ngay trên đất Mỹ. Tại đó, dượng Al tiết lộ kế hoạch bí mật của dượng cho tương lai của chúng tôi: Dượng không có một kế hoạch nào cả.
Thật khó tin! Kể từ khi tôi biết dượng thì dượng Al không bao giờ hành động mà không nghĩ thấu đáo mọi chuyện. Dù gì thì dượng cũng là một nhà thầu, một nhà xây dựng, một nhà tổ chức, một nhà quản lý. Nói cách khác, kế hoạch trước của dượng là ở Việt Nam đến hết đời, nhưng số phận đã có cách sắp đặt khác. Dì Thu đề nghị chúng tôi ở lại California. Đó là kế hoạch rẻ nhất – chúng tôi đã ở đây rồi – và chúng tôi cũng nghe những người Việt khác nói về những cộng đồng Việt Kiều nổi lên ở những thành phố ở bờ Tây. Dượng Al không đồng tình với ý kiến này.
“Đừng hòng,” dượng nói. “Những thành phố lớn ở Mỹ đã suy đồi cả. Em nghĩ rằng chuyện bạo lực ở Việt Nam là tồi tệ sao? Hãy chờ xem những băng đảng da đen và đám Mexico! Và em nghĩ toàn bộ số ma túy sẽ đi đâu khi rời khỏi Đông Nam Á? Đến ngay với đám trẻ ở những trường học Mỹ đấy! Không, chúng ta sẽ sống đâu đó ở miền quê. Có lẽ chúng ta sẽ bắt đầu lại trại cá…”
Đúng lúc đó, Bill, người đang đứng phía sau chúng tôi, nói vào. “Hay anh chị thử đến sống ở Comanche, quê tôi? Đó là một nơi theo kiểu cũ, ở trung tâm bang Texas, cách Dallas khoảng 1 giờ về phía tây nam. Không khí sạch. Đất đai rộng lớn. Một nơi tốt cho bọn trẻ. Anh thấy sao?”
Với thứ tiếng Anh lõm bõm của mình, tôi chỉ hiểu được phân nửa cuộc nói chuyện, nhưng tôi nghĩ thật lạ khi dượng Al không muốn sống gần – hay ít nhất là muốn đến thăm – những người con đã trưởng thành của dượng, Eddie và vợ anh đã gửi cho chúng tôi rất nhiều đồ khi chúng tôi sống ở Việt Nam. Thay vào đó, dượng lại hùng hổ nói về những tệ nạn của cuộc sống ở chốn thị thành Mỹ đến mức ngay cả tôi cũng bắt đầu tin lời dượng, dù ở thành phố lớn chúng tôi sẽ dễ kiếm việc hơn. Tôi cũng tự hỏi tại sao người đàn ông này, người đã đối xử tàn tệ với tôi và em gái tôi, đột nhiên quan tâm đến sự an nguy của chúng tôi đến nỗi chọn đến sống ở một nơi khỉ ho cò gáy vì sợ ma túy trong trường học. Cứ như thể Việt Nam không có tội phạm và bọn buôn ma túy, và thật khó tưởng tượng những băng đảng Mỹ có thể dạy điều gì đó mới mẻ về bạo lực. Không, điều này là không thỏa đáng, nhưng lại nữa, tôi không thể hiểu được những tính toán của dượng.
Những gì dượng nói với Bill là “Có thể anh nói đúng.” Tất cả chúng tôi thuê một phòng khách sạn gần Travis trong vài ngày để thích nghi với múi giờ mới và để nguôi ngoai sự chấn động khi đột ngột rời bỏ quê hương. Suốt thời gian này, trong khi dượng Al đi mua một chiếc xe cũ vừa túi tiền, những người nhập cư chúng tôi thận trọng thực hiện vài chuyến khám phá nước Mỹ ở trung tâm mua sắm và những khu dân cư gần đó để hiểu thêm về nơi này. Bữa ăn Mỹ no nê đầu tiên của tôi là ở một nhà hàng sang trọng tên là Denny’s, ở đó mọi thứ đều sạch bóng, ngay cả nhà vệ sinh cũng sạch, và mỗi phần ăn có nhiều thức ăn hơn cả thức ăn bà ngoại nấu cho chúng tôi cả tuần. Nếu đường phố Mỹ được dát vàng, như vài người nói, thì chúng tôi sẽ sớm tìm ra thôi. Kết thúc ngày thứ hai, dượng Al trở về phòng khách sạn với một chiếc xe lớn màu kem đời gần đây, lớn hơn cả chiếc xe của cô Bobbie. Sáng hôm sau, chúng tôi cùng vào xe để thực hiện chuyến đi dài khám phá Texas.
* * *
Nhìn ngắm cảnh quan nước Mỹ qua cửa sổ xe cũng giống như đang xem một bộ phim Hollywood. Tuy vậy, tôi nhớ những túp lều của người da đỏ. Dù nông trại mọc như nấm ở “Thung lũng Lớn” của California – San Joaquin, tôi vẫn không thấy các trang trại lớn như Ponderosa hay cảnh cao bồi lùa đám gia súc đang chậm rãi nhai cỏ bên dưới những cái cây dọc theo đường cao tốc. Thật ra, chúng tôi không thấy một con ngựa nào cho đến khi đi vào Arizona rồi đến New Mexico, ở đây những người cưỡi ngựa trông như du khách nhưng dượng Al lại cam đoan đây là miền Tây thực sự. Thật ra tôi chưa bao giờ đi xa và đi nhanh đến thế trên đường mà không nghĩ ngợi đến chuyện nhảy vào một cái hào để tránh bom đạn hoặc vã mồ hôi tại các trạm kiểm soát. Có vẻ như khi giàu có hay xa xỉ nhất chỉ đơn giản là khi ta cảm thấy bình an.
Sau ba ngày đi qua nhiều bang (và nhiều lần nghỉ dọc đường để Bubba đi vệ sinh cùng nhiều lần dừng chân tại quán Denny’s, Ihop và MacDonald’s), chúng tôi đến Comanche ở tây nam của Fort Worth. Vùng đất này hoàn toàn khác xa so với Việt Nam: những vùng đất lác đác bụi cây với “biển” cây bông vải men theo những bãi sậy đến những cái hồ nhỏ, những đồi cỏ phủ đầy đá, những nông trại rào kín trồng bông vải và cỏ đinh lăng, với nhiều mẫu đất lấm chấm gia súc. Trước khi vào một thị trấn nhỏ – một con đường chính ngắn với những ngôi nhà gạch to và cũ hai bên – chúng tôi dừng lại để đổ xăng, rồi thuê một phòng khách sạn gần bên để “xem xét tình hình,” dượng Al nói vậy. Chúng tôi chưa kịp yên vị thì nghe tiếng gõ cửa.
Dượng ra mở cửa thì thấy một người phụ nữ lớn tuổi có gương mặt phúc hậu, lùn và da cháy nắng. Trông bà là biết bà thuộc kiểu người biết cách lái một chiếc máy cày.
“Xin chào,” bà nói bằng cái giọng Texas nhẹ nhàng. “Tôi là Charlene Gilchrest. Chào mừng anh đến Comanche!”
Ngay lập tức dượng Al chuyển qua “nút” vui vẻ và bắt tay bà. Người phụ nữ nhìn qua vai dượng để nhìn cả đám chúng tôi, còn chúng tôi đang nhìn lại.
“Ồ, đó là gia đình của anh – tôi đã nghe nói tới mọi người.”
Chúng tôi thấy chuyện này hết sức lạ, đặc biệt là dượng Al. Dượng đứng qua một bên và giới thiệu từng người một, chúng tôi khoanh tay chào bà Gilchrest, đúng kiểu Việt Nam. Bà không để mất thì giờ và giải thích ngay với chúng tôi rằng bà có một cô con dâu người Việt – khá lạ lùng ở một thị trấn nhỏ như Texas, và người điều hành trạm xăng thừa biết được chuyện này nên khi bà đến đổ xăng, ông ta kể với bà rằng một gia đình Việt Nam mới “với cậu bé rất dễ thương” vừa thuê một phòng khách sạn, nên bà phải chạy ngay đến xem sao. Sau cuộc trò chuyện ngắn về những gì đã khiến chúng tôi có mặt ở đây và những tin tức khốc liệt từ Sài Gòn trên ti-vi, bà tốt bụng mời chúng tôi về nhà ở thị trấn Beattie, cách Comanche vài cây số về hướng bắc. Bà và chồng có một căn nhà gỗ cho thuê ở gần nhà. Nếu chúng tôi muốn đến thăm và thích nơi đó, bà nói rằng bà rất vui lòng cho chúng tôi thuê với một mức giá hợp lý. Vì vẫn chưa có kế hoạch hay dự tính gì cho tương lai, dượng Al thay mặt chúng tôi chấp nhận lời đề nghị của bà. Với một cái bắt tay nhanh, tất cả chúng tôi đã trở thành người Texas.
* * *
Căn nhà gỗ ở Beattie khá dân dã, nói vậy là đã nói giảm đi nhiều – theo chuẩn Mỹ thì chỉ khá hơn căn nhà lụp xụp một chút, nhưng đối với chúng tôi đó là một nơi tốt nhất thế giới. Bà Gilchrest giải thích rằng nó đã được nới ra thành một ngôi nhà nhỏ cho con trai bà là anh Dale và người vợ Việt của anh – Huệ – khi anh giải ngũ vài năm trước. Họ không ở đó lâu, tình trạng của ngôi nhà đã thể hiện điều này. Phòng khách và một phần nhà bếp không bị bụi phủ có sàn bằng gỗ, những phòng ngủ có trải mấy tấm thảm, chỉ bao nhiêu tiện nghi đó thôi. Những tấm ván làm tường có những lỗ hở và những chỗ nứt, để nắng, gió, và bọ chui vào. Dây leo bám trong bếp, nhà tắm, leo kín hệ thống nước và tủ kệ. Dì dượng nhận một phòng ngủ, Bubba và anh Quang ở phòng khác, cònThủy và tôi ở phòng cuối cùng.
Với số hành lý ít ỏi và một số đồ nội thất mượn từ nhà bà Gilchrest, việc dọn về đây khá dễ dàng, nhưng để nơi này ở được thì tốn nhiều thời gian hơn. May là dượng Al khá rành việc sửa chữa và sơn phết. Chẳng bao lâu sau (khi đã quen với việc ngủ nền đất và những đồ nội thất tồi tàn) ngôi nhà trở thành một trong những nơi ở tốt nhất mà tôi được ở khi lớn lên. Ít nhất chúng tôi có hệ thống nước trong nhà, có nước máy, và một mái nhà chắc chắn. Người ta thường nói ở Mỹ bạn phải bắt đầu từ một nơi nào đó, và nếu bạn bắt đầu từ dưới lên thì sẽ không đi đâu khác ngoài việc đi lên.
* * *
Đầu tháng Năm, Sài Gòn đã sụp đổ, và chiến tranh đã kết thúc với tất cả mọi người, gồm cả những người chúng tôi đã bỏ lại. Ti-vi, báo, tạp chí đều đăng nhan nhản ảnh chụp những chiếc trực thăng giải cứu ở tầng mái và đáp xuống những boong tàu chiến Mỹ chật ních người. Rồi nhiều chiếc trực thăng cứu hộ như thế bị ném vào biển như một mớ sắt vụn. Tràn ngập khắp các mặt báo là những câu chuyện về những đám đông sợ hãi ở cái nơi mà chúng tôi vừa mới thoát ra, rồi những hình ảnh và những câu chuyện ngưng hẳn. Như đã diễn ra ở nhiều đất nước mà quân đội của nhân dân giành chiến thắng, thì nhân dân biến mất khỏi báo chí và ti-vi, nhưng không biến mất khỏi con tim của những người thân của họ, những người có thể đi khỏi. Dì Thu, anh Quang, Thủy và tôi cứ tự hỏi về bà ngoại, cậu Hải, bác Chiêu, anh Ngọc, mợ Nga cùng nhiều người họ hàng và bạn bè khác, cứ như thể họ bị mất hút trong một cái hố đen. Dù vậy, chúng tôi không nói về nỗi sợ của mình, như thể chỉ nhắc đến tên họ không thôi cũng có thể làm họ thêm nguy hiểm. Nước Mỹ tiếp tục làm công việc của mình, giờ công việc đó không còn bao gồm quê nhà của chúng tôi nữa, nơi làm họ đã đổ vào đó bao nhiêu sinh mạng, tiền bạc trong nhiều năm trời. Những đứa mồ côi chúng tôi giờ còn thiếu vắng cả nguồn cội, cứ như thể cuộc sống của chúng tôi chưa bao giờ xảy ra vậy.
Khi căn nhà gỗ đã ở được, bà Gilchrest trở thành một vị khách thường xuyên và được chúng tôi đón chào. Hơn ai hết trong cái thị trấn nho nhỏ này, bà rất thương cảm cho những gì chúng tôi đã trải qua, vì bà cũng có một cậu con trai rất yêu người vợ Việt của mình. Đây như là một liệu pháp dành cho dượng Al, dượng có những kỷ niệm và hy vọng từ cả hai nơi và giờ thấy mình không thuộc về một nơi nào cả. Dượng có những cuộc nói chuyện dài với bà Gilchrest về điều này điều kia, và hầu như tôi không hiểu được những cuộc nói chuyện đó. Nhưng tôi biết được rằng đã quá trễ để đám trẻ chúng tôi nhập học. Theo dượng, chúng tôi cần những thứ khác để giữ cho chúng tôi bận rộn.
Đến cuối tháng đầu tiên ở Beattie, trong khi dượng Al hoàn tất việc sửa sang lại căn nhà gỗ, bà Gilchrest đưa cả gia đình đi mua sắm tại một Cửa hiệu tiết kiệm của Cứu thế quân[15] ở Brownwood. “Những thứ này tốt hơn là mọi người nghĩ,” bà nói, cứ như thể tôi chưa kết luận rằng đây là nơi lớn hơn và nhiều hàng hóa hơn bất cứ ngôi chợ nào tôi biết khi còn ở Việt Nam. Chúng tôi bước đi bên những hàng dài với những món đồ “gần như mới” được treo trên móc, trên giá hay trong thùng. Bà chỉ vào những cái mà bà nghĩ là hợp với vóc người nhỏ bé của chúng tôi và phù hợp với thời tiết ở Texas. Đối với chúng tôi thì điều này như một trong những mùa Giáng Sinh của dượng Al, chỉ khác là chúng tôi tự chọn quà cho chính mình. Dì Thu cho phép mỗi đứa mua hai bộ đồ, gồm áo thun, quần jeans và giày thể thao, những thứ chúng tôi chưa từng mặc ở Việt Nam nhưng giờ sẽ khiến chúng tôi trông như những người Mỹ thực thụ.
Trong khi xếp hàng chờ tính tiền, chúng tôi tình cờ gặp một người Việt khác, một người thợ cơ khí ô tô – bác tên là Liệu, đang làm việc cho TG&Y[16] ở bên kia đường. Dù bác không lớn hơn nhiều so với dì Thu, chúng tôi chào bác một cách tôn kính, rồi họ nói chuyện bằng tiếng Việt như những người họ hàng thất lạc lâu năm. Hóa ra bác Liệu tới Beattie sau cả chúng tôi. Bác là một trong những người Việt may mắn thoát trong gang tấc vào ngày mà Đô thành thất thủ. Bị từ chối một ghế trên chiếc máy bay di tản cuối cùng, bác bám vào càng của trực thăng cho đến khi nó bay ra Biển Đông, rồi rơi xuống biển cạnh một chiếc thuyền Hải quân Mỹ. Bác không kể về gia đình bác đã bỏ lại Sài Gòn, và chúng tôi cũng không nói về gia đình mình. Những người mồ côi khắp nơi thường tập trung vào lúc này và tại đây, chúng tôi cũng như vậy. Bạn không thể thay đổi được quá khứ, còn tương lai luôn là một tờ giấy trắng.
* * *
Năm đầu tiên làm người Mỹ, chúng tôi kiếm tiền để sống bằng mọi cách, và dù công việc khó nhọc như thế nào đi nữa thì vẫn dễ thở hơn khi ở Việt Nam. Công việc ban ngày đầu tiên của chúng tôi là làm việc trong cánh đồng trồng đậu phộng của nhà Gilchrest. Dù luật Texas cho phép người chủ trả lương công nhân nông nghiệp thấp hơn so với những người lao động khác, nhưng nhà Gilchrest vẫn trả chúng tôi mức lương tối thiểu – sự hào phóng mang lại nhiều lợi ích vì họ trả công cho tất cả chúng tôi nhiều hơn so với khi chúng tôi làm những việc tương tự hồi còn ở quê nhà. Vào các buổi tối, chúng tôi sơn thắt lưng cao bồi bằng tay cho xưởng đồ da gần bên – mối được cô Huệ giới thiệu, cô đang sống cùng chồng là chú Dale ở ngôi nhà họ xây giữa nhà Gilchrest và căn nhà gỗ của chúng tôi. Sự hiếu khách của người ở đây chưa dừng ở đó. Một đối tác của nhà Gilchrest, một người phụ nữ cao lớn và khỏe mạnh tên Kathy sống gần đó, đã đến thăm chúng tôi, mang theo những món quà tân gia và một nụ cười tỏa nắng. Cô mang bánh quy đường đến cho lũ trẻ chúng tôi, và sau khi cô nghe kể tôi bị xỉu hai lần khi đang chăm sóc đậu phộng dưới cái nóng của Texas, cô đã may một cái mũ che nắng dành riêng cho tôi, cái mũ được làm bằng vải jean cũ. Cô trở thành một vị khách thường xuyên và dạy cho tôi nấu nhiều món Texas, gồm cả món “bánh mì khỉ” mà Bubba rất thích.
Thời gian trôi qua, tôi dành nhiều thời gian ở trong nhà chính để phụ việc cho bà Gilchrest. Chúng tôi đóng hộp rau quả, làm thạch, và nhổ lông gà để chuẩn bị cho những bữa ăn của gia đình. Bà dạy tôi cách làm bánh ngọt, bánh mì và bánh bao nhân thịt gà – một món ăn ưa thích nữa của người miền Nam. Một lần, tôi thấy bà giặt những cái bao đựng bột mì và dùng nó để làm những thứ khác trong bếp như khăn lau tay. Dù lớp vải cotton khá khô, nó được in sẵn họa tiết nhiều màu – những bông hoa nhỏ và nhân vật hoạt hình. Tôi nghĩ đây sẽ là chất liệu tuyệt vời để may áo cho mấy đứa tôi. Vì tôi không đụng tới kim chỉ trong một thời gian dài, tôi xin bà một vài cái để thử tay. Bà cũng cho rằng đây một là ý tưởng hay – quần áo bằng “vải bao” đã được nhiều thế hệ ở miền Nam sử dụng – nên bà lấy cho tôi vài cái từ ngăn kéo. Đêm đó, tôi cắt chúng thành nhiều mảnh và ghép lại thành một cái áo nhỏ cho Bubba và một cái áo cho Thủy, cả hai cái đều rất vừa. Khi bà Gilchrest thấy chúng, bà rất ngạc nhiên rằng tôi có thể làm được tới vậy mà không có mẫu, thay vào đó chỉ dùng kéo, kim và chỉ của dì Thu. Bà liền về nhà và ngay sau đó trở lại với một cái máy may, những cuộn chỉ màu, những cái đê, kéo cắt chỉ, và một cái túi lớn đựng nhiều bao vải cotton bà đã giữ lại để dùng sau này. Bà nói rằng tôi có thể dùng hết và muốn biết tôi có thể làm được những gì với chúng. Bà còn cho tôi vài mẫu quần áo mà con gái bà đã sử dụng và chỉ cho tôi cách kết hợp chúng. Việc làm của bà như ánh mặt trời trong một ngày u ám – cứ như thể cả một thế giới khác vừa mở ra! Trong vài ngày kế tiếp, tôi làm ra một cái áo nữa cho Bubba, một cái cho anh Quang, rồi một vài cái áo cho mình. Thật là vui, và tôi may rất giỏi. Vì việc này giúp tiết kiệm tiền, nên ngay cả dượng Al và dì Thu cũng nói được nhiều câu tử tế. Thật sự là ở Mỹ, mọi chuyện đều có thể xảy ra!
Việc khám phá ra năng khiếu nghệ thuật của mình cũng có giá trị thiết thực là một phát hiện to lớn. Tôi đã biết về ích lợi của tính chăm chỉ. Tôi thậm chí cũng biết bộ óc của tôi có giá trị, dù nó chưa mang lại nhiều lợi ích ngoài điểm số cao và mấy phần thưởng là hộp bút chì. Giờ đây tôi còn biết được rằng tôi có thể dùng sự sáng tạo của mình để giúp gia đình. Tôi không biết mình tài năng được đến đâu nhưng tôi quyết tâm khai thác triệt để. Tôi bắt đầu phác thảo, rồi vẽ tranh bằng sơn thừa lại từ công việc trang trí da. Con út của bà Gilchrest, Ann (một cô gái thân thiện đã dạy Thủy và tôi cách hái mận dại mà không bị bọ cắn), đã thấy một bức vẽ của tôi và khoe với bạn của chị ở trường. Ôi trời, thật tuyệt vời, bạn chị yêu cầu vẽ thêm những bức khác. Cảm thấy tự tin hơn khi nhận được những lời khuyến khích như vậy (cộng với món quà sinh nhật là một hộp sơn dầu cũ), tôi thử vẽ bức tranh phong cảnh đầu tiên. Bà Gilchrest thích nó đến nỗi bà đưa tôi tấm hình ố vàng chụp cảnh ngôi nhà nơi bà đã lớn lên và nói rằng bà sẽ mua cho tôi sơn và cọ mới nếu tôi có thể phỏng lại bức hình bằng sơn dầu. Tôi nhận được món tiền đầu tiên của mình! Tôi đã cố gắng hết sức để hoàn thành bức tranh và nói thật tôi không cảm thấy thỏa mãn lắm, dù vậy thì chuyện này không quan trọng. Một người bạn của bà, một giáo viên tại trường trung học mà tôi sẽ theo học mùa thu tới, nghĩ rằng bức tranh rất đẹp và đề nghị mua thêm cho tôi dụng cụ để vẽ nếu tôi vẽ một bức tương tự về ngôi nhà của cô. Vì người phụ nữ này sẽ là một trong những giáo viên của tôi, tôi xem việc này như một bài tập nghiêm túc và dành gần 3 tháng trời để hoàn thành bức “Homestead Portrait” cho cô. Có thể tôi không phải là một họa sĩ chuyên nghiệp nhưng miễn là tôi có thể đỡ đần phần nào tài chính trong nhà, thì dượng Al và dì Thu không phàn nàn gì – không phải là họ không có những rắc rối khác trong đầu.
Vì dượng Al chưa có công việc ổn định, dượng trở nên mê mẩn chuyện dạy đám chúng tôi “sống dựa vào đất,” theo cách nói của dượng, cứ như thể hồi ở nhà, chúng tôi được ăn sung mặc sướng vậy. Dượng liên lạc với Eddie con trai của dượng và bảo anh gửi cho dượng bộ súng mà dượng đã để lại cho anh trước khi đến Việt Nam. Lúc đó tôi không biết điều này, nhưng sau khi biết ba mình đã về nước với một gia đình Việt Nam, Eddie (đang ở Montana) không muốn can dự gì với ba anh nữa. Sau đó, dượng Al nhận được một cây súng ngắn và một khẩu súng trường nhưng theo tôi biết thì đây là lần cuối cùng hai cha con họ nói chuyện với nhau. Nếu điều này làm dượng buồn lòng thì dượng cũng không thể hiện ra. Dượng dùng mấy khấu súng này để dạy Bubba và anh Quang tập bắn – rõ ràng là không giỏi lắm, vì trong những cuộc đi săn hươu đuôi trắng và lợn hoang, họ thường trở về với một, hai con sóc, gà rừng, chuồn, thỏ, và thậm chí là chồn possum (trông như những con chuột cống bự chảng) và loài tatu (trông như con quái vật trong bộ phim kinh dị chiếu vào ban đêm). Dượng Al tự mình lột da, làm lòng những con vật này, rồi nấu chúng với bàn tay đầu bếp của mình. Dù với khả năng bếp núc thượng thừa, dượng cũng không thể làm những con vật dai nhách và xương xẩu này bớt dai, và chúng tôi luôn trông đợi những khi nhà Gilchrest mang đến thịt bò hoặc thịt nai tươi, và việc này thường xảy ra 2-3 lần một tháng.
Nhiệm vụ bếp núc đầu tiên của tôi (ngoài việc rửa chén) là chuẩn bị bữa sáng mỗi ngày. Tôi bắt đầu lúc 5 giờ rưỡi để có thể dọn sẵn những món ăn nóng hổi và đủ chất trên bàn khi những người khác ngủ dậy. Với quyết tâm trở thành một cô gái Texas thực thụ và sử dụng những kỹ năng tôi được học từ cô Kathy và bà Gilchrest, đầu tiên tôi thử làm bánh quy kiểu truyền thống và nước sốt. Lúc đó tôi không biết có một môn thể thao tên là khúc côn cầu cho đến khi dượng Al nói mẻ bánh quy của tôi có thể được sử dụng làm bóng khúc côn cầu trong giải NHL[17], còn nước sốt cũng không khá khẩm hơn. Sau khi ném một cái bánh quy cứng như đá vào tôi và đổ phần sốt của mình vào sọt rác, dượng đề nghị chúng tôi nên dùng món sốt này để trát tường. Đây không phải là sự khích lệ tôi thường nhận với khiếu nghệ thuật của mình. Những lời đó phát ra từ một người đã từng điều hành một nhà hàng có tiếng, nên tôi biết tôi sẽ gặp rắc rối lớn nếu không nhanh chóng cải thiện khả năng nấu nướng. Lần này, em Thủy đã giúp tôi.
Sau một tháng khổ sở với những bữa sáng, em Thủy nhảy vào và trở thành trợ lý đắc lực và vô giá của tôi. Cùng với nhau, chúng tôi nghĩ ra cách trộn và nhồi bột làm bánh quy tốt nhất. Với sự giúp đỡ của em, trong vòng 30 phút, tôi đã có những bữa sáng có thể khiến dượng Al thăng hạng cho tôi, giao tôi nấu những bữa ăn khó hơn như bữa tối. Trong một khắc ngắn ngủi, tôi cho rằng dượng muốn dạy tôi những kỹ năng nấu nướng khó hơn (dù có sự giúp đỡ của Betty Crocker[18]) để cải thiện mối quan hệ của chúng tôi. Không phải vậy. Nếu món ăn dượng đã chỉ định không được như ý, dượng bắt mọi người ngừng ăn rồi bắt tôi ăn hết tất cả. Nếu tôi ngập ngừng hoặc ngừng ăn, dượng sẽ bước ra sau ghế của tôi rồi đẩy mặt tôi ụp xuống dĩa, bịt mũi tôi và bắt tôi nhai cho đến khi tôi nuốt thức ăn hoặc ói ra. Chính những lần như thế làm tôi trở nên cứng cỏi từ bên trong – và điều này vẫn còn lưu lại trong tôi cho đến tận ngày nay. Tôi tự hỏi vì sao dì Thu chưa bao giờ nói “Anh đã vượt quá giới hạn!” hoặc “Sissy không phải là tù nhân để anh tra tấn lấy thông tin đâu!.” Tôi thậm chí còn tự hỏi vì sao anh Quang, giờ đã gần mười tám tuổi và khá to con, cũng không can thiệp và bênh vực tôi, theo cái cách mà đôi khi anh thể hiện khi chúng tôi lớn lên. Câu trả lời là dượng Al đã nắm chúng tôi trong tay. Không có đứa trẻ nào dám can thiệp vào, còn dì Thu thì không màn đến chuyện đó. Đôi khi tôi buồn và khóc sau những trận như vậy, Thủy và Bubba thường phụ tôi dọn rửa, và những hành động nho nhỏ đó cũng làm dượng trừng mắt với chúng.
Chúng tôi buộc phải làm việc và tuân lệnh theo người đàn ông đã cứu chúng tôi khỏi những nỗi kinh hoàng ở Việt Nam, dù chúng tôi cũng chỉ có thể ước chừng xem những cơn cuồng nộ của dượng đẩy tới những chuyện khủng khiếp gì nữa. Có thể giải thích cho sự ngoan ngoãn nghe lời của chúng tôi là lo sợ bản năng của “những người lạ ở vùng đất lạ,” nhưng nói thật là không phải như vậy. Đơn giản là dượng Al đã sở hữu chúng tôi và xử sự theo cái cách mà người chủ nô lệ nào xử sự, và cuối cùng nhượng bộ theo bản năng cơ bản của mình.
Nếu chúng tôi muốn vui thích với cuộc sống mới, với sự hồi sinh ở một vùng đất mới thì điều này phải đến từ bên trong mỗi người.
Trong khi đó, bà Gilchrest tiếp tục là ngọn hải đăng dẫn lối cho chúng tôi trở thành người Mỹ. Bà là một người vợ điển hình của một nông trại Texas – tự lực và tháo vát trong tất cả mọi việc trong nhà – nhưng bà còn là nữ doanh nhân hiện đại biết cách điều hành nông trại đậu phộng hiệu quả và sinh lời, nguồn thu nhập chính của gia đình bà. Chúng tôi không thể làm gì nhiều để đền đáp lòng tốt của bà và số tiền công bà đã trả cho chúng tôi, ngoại trừ cố gắng làm việc chăm chỉ và chia sẻ cho bà những bí kíp chúng tôi tích lũy được khi làm ở Trại Cá.
Ví dụ, bà Gilchrest rất thích ăn cá tươi, còn dượng Al và mấy cậu trai thỉnh thoảng bắt dư. Tôi mang vào bếp bà một xô cá vược nhỏ và cá trê vẫn còn đủ da và đầu để bà biết chúng là cá gì. Bà rất vui mừng, thật sự vui mừng, và thừa nhận rằng bà ghét phải rửa cá và thường làm nát phần thịt cá khi cố lóc da và phi-lê. Tôi bảo bà “Không vấn đề gì” bằng vốn từ vựng tiếng Anh thông dụng đang tốt lên từ từ. Tôi mang ra một con dao làm cá rất bén của dượng Al và cho bà biết cách chúng tôi đã làm khi còn ở Đa Minh. Bà rất ngạc nhiên về kỹ năng làm cá của tôi, còn tôi thì rất vui khi đền đáp được ít nhất là một lần những bài học bà đã dạy tôi.
Một buổi sáng sớm, dượng Al muốn đưa đám con trai đi săn, và dượng không muốn hoãn lại cho đến khi anh Quang vắt sữa bò xong, nhưng con bò rất cần được vắt sữa. Tôi nghe lỏm được cuộc nói chuyện của họ và xung phong làm thay. Vắt sữa một con bò thì có khó gì chứ? Tôi đã nhìn anh Quang làm nhiều lần rồi, và nó chẳng khó một chút nào cả, nên khi những thợ săn bắt đầu cuộc săn bắn, tôi lấy một cái xô và một cái ghế nhỏ rồi tiến vào trong trại.
Tôi nhìn con bò, và con bò nhìn tôi, rất bình tĩnh bằng cặp mắt to màu nâu rất đẹp của nó. Tôi nghĩ rằng chúng tôi đã hiểu nhau nên ngồi vào vị trí thích hợp giữa con bò và bức tường của chuồng bò. Hơi lo lắng một chút, tôi bóp một bầu vú bằng tay phải, rồi đến tay trái, rồi tay phải, và cứ như thế. Tôi làm nhịp nhàng và rất hài lòng. Tuy nhiên con bò thì không hài lòng chút nào. Tôi nghĩ nó cho rằng tôi bóp quá mạnh nên không thấy dễ chịu. Nó kêu lên một tiếng “ụm bò” rất lớn và đầy căm phẫn rồi đá đổ xô sữa. Tôi vội đứng lên, cố chạy khỏi đó, nhưng tôi chưa kịp thoát thì nó đã húc vào người tôi và tôi bị kẹt giữa nó và bức tường. Tôi đánh mạnh vào mông nó nhưng chỉ tổ làm cho nó bực mình thêm. Nó húc tôi mạnh hơn nữa. Tôi không rảnh chân để đá nó đi nên tôi chỉ còn có thể làm một việc: tôi hét lên cầu cứu, hét thật lớn. Em Thủy từ trong nhà chạy đến nhưng lại không dám đến gần con vật.
Với vẻ mặt lo lắng, Thủy hỏi “Em làm gì đây chị?”
“Đi gọi bà Gilchrest nhanh lên!”
Thủy chạy đi, gân hết sức lên để gọi bà Gilchrest.
Bà Gilchrest liền chạy ngay đến. Ngay khi thấy tình hình, bà bắt đầu cười, rất lớn.
Tôi không thấy có gì đáng cười hết.
Bà vỗ vỗ đùi con bò, và nó bỏ đi. Rồi bà nhặt cái xô sữa lên và diễn tả kỹ thuật đúng để vắt sữa. “Kéo một cách nhẹ nhàng, như thế này này.” Và tôi làm theo.
Công nhận rằng sau đó tôi rất vui mừng vì tôi đã trở nên thành thạo, tôi vắt sữa rất cừ, và con bò và tôi trở thành bạn bè của nhau.
* * *
Vào tháng Chín, lũ trẻ chúng tôi bắt xe buýt, đi học buổi đầu tiên ở một ngôi trường Mỹ, một trường công K-12[19] dạy tất cả các cấp lớp ở Sidney – một kiểu “thị trấn nhỏ” và chị Ann cũng học ở đây. Bubba đi chung với đám trẻ nhỏ hơn và chị Ann giới thiệu tôi, anh Quang và Thủy với bạn thân của chị là Frances và mấy người khác, một nhóm rất vui vẻ và thân thiện. Sau này, Ann và Frances tổ chức buổi tiệc sinh nhật tuổi mười sáu của tôi ở sảnh học của trường, một điều mà tôi chưa bao giờ có được vì dì dượng không đời nào tổ chức dù là cho Bubba. Frances tặng tôi một cặp thỏ và chỉ tôi cách cho chúng ăn và chăm sóc chúng nhưng chị cũng cảnh báo tôi: chúng rất mắn đẻ, nếu mình có một cặp, chúng sẽ sớm tạo thành một đám, rồi thành một ổ. Chị hỏi tôi đặt tên cho chúng là gì, và tôi thừa nhận rằng tôi không biết. Ở Việt Nam, chúng tôi sẽ không bao giờ đặt tên cho những thứ sẽ trở thành món ăn trên bàn của chúng tôi, và thật khó tưởng tượng một thứ gì đó có lông và còn sống có thể sống lâu trong túp lều phía sau nhà dượng Al. Dù vậy, trong năm đầu tiên này tôi lại chứng minh mình là một người nuôi thú rất mát tay. Tôi tham gia cậu lạc bộ 4-H[20] và đạt huy chương cho đám thỏ của tôi. Tôi đăng kí học Kinh tế gia đình và cũng đạt luôn giải xuất sắc môn đó, được biết đến (Ngạc nhiên chưa!) với năng khiếu vẽ, làm bánh và may vá – cũng dễ hiểu thôi. Bà Gilchrest mua vật liệu cho buổi thi chung kết và cổ vũ tôi như một người mẹ khi tôi thắng ba cúp từ ban giám khảo. Để chúc mừng, bà tặng tôi một hộp đựng kim chỉ màu xanh lá cây rất đẹp và một cái kéo của thợ may có cán màu cam. Bà không biết điều này, nhưng tôi chưa bao giờ nhận được món quà đặc biệt như vậy để chúc mừng cho những thành tựu tôi gặt hái được.
Trường học lại là một vấn đề khác - không chỉ là chuyện học vấn. Mặc dù tôi đã bình phục nhiều từ vụ tai nạn, nhưng miệng của tôi vẫn cần được nha sĩ khôi phục lại nên tôi đành học những tháng đầu tiên trong lớp mà không có răng cửa. Đây là lứa tuổi tồi tệ cho bất cứ một đứa tuổi teen nào, nói chi đến một đứa con gái (lại là một đứa con gái nước ngoài nữa chứ), khi có vấn đề với ngoại hình, mà vấn đề của tôi thì ai cũng có thể thấy được. Vì thế, hầu như lúc nào tôi cũng ngậm miệng lại, và nếu tôi buộc phải cười, tôi luôn dùng tay che cái hàm chỉ còn có lợi của mình. Cuối cùng, bà Gilchrest nêu vấn đề này với dì dượng tôi. Bà nói nếu họ không thể lo nổi chi phí nha sĩ cho tôi, bà sẽ rất vui lòng trả chi phí này. Đây là một lời đề nghị tử tế và hào phóng, nhưng những người giám hộ của tôi đã từ chối. Họ nói rõ ra rằng bà Gilchrest không nên can thiệp vào chuyện gia đình họ, nên bà lịch sự không đề cập đến nữa – nhưng cuối cùng dượng Al cũng thấy được vấn đề và buộc phải hành động. Dượng thu xếp để làm răng cho tôi, giúp cuộc đời tôi thay đổi theo chiều hướng tốt hơn. Tôi không biết liệu bà Gilchrest có góp phần vào việc hỗ trợ chi phí này hay không nhưng tôi sẽ không ngạc nhiên chút nào nếu bà có giúp – và dượng Al đã giữ bí mật này.
Về chuyện ở trường, bộ hàm mới đã giúp tôi phát âm tiếng Anh tốt hơn, nhưng không nhiều. Các thầy cô rất kiên nhẫn vì họ biết rằng tiếng Anh không dễ, thậm chí là đối với người dân địa phương, vài người vẫn còn nói bằng cái giọng địa phương Texas nặng trịch, và cũng mất răng giữa. Dù vậy, tôi nghĩ tôi là một học sinh gương mẫu và thề sẽ đền đáp lại công lao của thầy cô bằng cách học chăm chỉ hơn.
Một viên ngọc quý tôi khám phá được ở trường này là một anh chàng tên Robert, người bạn đặc biệt mà Ann thường cưỡi ngựa chung. Thật ra, chúng tôi gặp nhau lần đầu tiên bên ngoài lớp học, cả anh và Ann đều cưỡi ngựa đến trường – lần đầu tôi thấy cao bồi chính cống. Tôi từ chối khi họ nói sẽ dạy tôi cưỡi ngựa, nên chúng tôi chỉ ngồi dưới bóng cây và nói chuyện trường lớp. Với thứ tiếng địa phương của Robert và thứ tiếng Anh bập bẹ của tôi, chúng tôi không nói được nhiều chủ đề, nhưng anh là một người rất kiên nhẫn và anh nói sẽ giúp tôi giỏi tiếng Anh nếu tôi giúp anh học những môn tôi giỏi. Đây là một thỏa thuận tuyệt vời. Trong suốt học kỳ, anh xuất hiện trước cửa nhà tôi sau giờ học, mang theo một quyển bách khoa toàn thư lớn mà anh nói rằng sẽ thay thế được nhiều quyển sách. “Hãy đọc nó mỗi ngày,” anh nói, “nó không chỉ cải thiện tiếng Anh của em mà còn giúp em làm nhiều bài tập.” Về phần tôi, tôi cố gắng chăm chỉ nói ra những từ tôi không gặp rắc rối gì khi viết nó trên giấy nhưng chỉ không thể phát âm được. Và chúng tôi từ từ tiến lên nấc thang học thức ở Sidney. Bằng cách dạy tôi tiếng Anh, Robert đã trở thành một học sinh khá hơn, biến những con điểm D và C thành điểm A và B. Gần cuối học kỳ, thầy hiệu trưởng gọi chúng tôi đến phòng thầy, nhưng thay vì phạt chúng tôi vì đã vi phạm một vài nội quy, thầy lại khen chúng tôi. Bên ngoài căn nhà gỗ của dượng Al, trường học và nước Mỹ bắt đầu hợp rơ với tôi.
* * *
Mùa hè năm 1976, dượng Al làm việc cho hãng Brown & Root, một công ty xây dựng có mặt trên toàn thế giới vừa mới thắng hợp đồng mở rộng nhà máy hạt nhân Comanche ở thị trấn ven sông của Glen Rose, Texas – cách Beattie một tiếng rưỡi lái xe. Điều này đã mang đến cho tất cả chúng tôi một thách thức và cả một cơ hội. Bà Gilchrest là một người quá đỗi nhân hậu và là người quan sát sắc sảo nên không thể làm ngơ trước cách đối xử của dượng Al. Bà tin rằng mọi người đều có quyền riêng tư và sống theo cách họ chọn, nhưng việc hành hạ trẻ em về thể xác cũng như tinh thần – nếu không nói là vượt quá giới hạn và làm nguy hiểm đến tính mạng đứa trẻ – là điều bà không chấp nhận được. Không làm ầm ĩ chuyện này, bà âm thầm mời anh Quang, Thủy và tôi ở lại Beattie để học hết trung học, trong khi Bubba theo mẹ ruột của mình đến Glen Rose. Bà biết “hoàng tử bé” của dì Thu không bị dượng Al đối xử tàn tệ, bà cũng nghĩ rằng em sẽ có cuộc sống vui vẻ và an toàn hơn một khi ba dượng của em có một công việc ổn định và có mức lương tốt. Anh Quang và em Thủy ngay lập tức nắm lấy cơ hội được “đổi thuyền.” Không ai muốn sống với dượng Al để chịu đựng những trận đòn và hành hạ của dượng vì tính khí của dượng kể từ khi đến Mỹ đã thay đổi rất nhiều.
Và, theo quan sát của chúng tôi về gia đình Gilchrest – một gia đình sống gắn bó và chan chứa tình thương, đám chúng tôi đã biết được rằng cách đối xử của dượng Al với chúng tôi là không bình thường, rằng trẻ em có thể được nuôi lớn bằng tình yêu thương, sự chăm sóc, khích lệ, thay vì những trận bạo hành triền miền về thể chất, tâm lý đến tâm hồn của dượng, cùng với sự thờ ơ, lạnh nhạt, không thể hiện bất cứ cử chỉ nào cho thấy sự quan tâm căn bản giữa người với người trong cách hành xử của dì Thu. Anh và em tôi không hiểu được vì sao tôi không chấp nhận ngay lời đề nghị tử tế của bà Gilchrest, và tôi phải thừa nhận rằng cảm xúc của tôi khi ấy quá phức tạp. Một chuyên gia trị liệu có thể sẽ giải thích về quyết định của tôi tốt hơn là chính tôi, bởi vì tôi cũng không thể hiểu được vì sao. Vì sao tôi không chớp lấy cơ hội này để thoát khỏi dượng Al khi nhận được một lời đề nghị tử tế và an toàn đến vậy?
Tôi biết tôi cảm thấy mình phải có phần nào trách nhiệm và nghĩa vụ đối với dì Thu. Khi tôi nghĩ về những năm dài sau khi Mẹ mất, tôi nhận ra dì Thu đã sống một cuộc đời khó khăn đến mức nào. Những khó khăn, trách nhiệm càng trở nên chất chồng hơn khi bác Quế sa sút, còn bác Chiêu không thể thay thế thực hiện được lời ủy thác của chú Thành để chăm sóc cho nửa đám con côi cút của em mình. Khi dì Thu trở thành hình tượng người mẹ của chúng tôi, dì đã cố hết sức để xứng đáng với hình tượng đó, nhưng một người mẹ nuôi thì làm được gì chứ? Đầu tiên dì đã cố làm một người dì thương cháu, ưu tiên tôi với nhiều quà cáp và sự tử tế, quay lại sống với bà khi dì nghĩ rằng cuối cùng dì cũng có thể chăm lo cho em Hoàng, giờ ngay cả tôi cũng gọi em là Bubba. Nhưng trọng trách này quá lớn đối với một người phụ nữ không biết chữ trong một thế giới đẫy rẫy chiến tranh. Dì đã cặp bồ với hết người Mỹ này đến người Mỹ khác, tất cả họ đều e ngại khi thấy một gia đình lớn họ sẽ phải ôm lấy. Ngoại trừ Al. Để “cứu” dì Thu, người mà dượng thực sự yêu, dượng Al đã cứu tất cả chúng tôi, và bằng cách này, cứu cả những ký ức của Mẹ nữa. Tôi cố hết sức nhưng tôi không thể đổ lỗi cho dì Thu vì đã căm ghét việc ba đứa chúng tôi làm cuộc đời dì phức tạp thêm, làm mối quan hệ của dì với dượng Al – ban đầu đã có nhiều thách thức – càng thêm khó khăn hơn mức cần thiết. Vì những lý do chỉ một mình dì biết được, dì vẫn còn giữ trong lòng sự đố kỵ với Mẹ tôi, và tôi vẫn còn, bằng cách nào đó, mong muốn được bù đắp cho dì.
Còn có em trai Bubba của tôi nữa chứ. Em nhìn tôi với đôi mắt mở to, buồn bã khi tất cả những chuyện này được định đoạt, như thể van xin tôi đừng rời bỏ em lần nữa. Bản năng làm mẹ đã âm ỉ trong tôi giờ được thổi lên qua những năm đầu sống với Bubba. Thậm chí khi mẹ em trở lại cùng người đàn ông lạ mắt tròn này – người có bộ ria mép hiểm ác và cái đầu hói xuất hiện với mẩu giấy nói ông ta là ba – tôi vẫn là người an ủi, vỗ về em khi em đói, khi em sợ và khi em đau. Em và tôi rất đỗi gần gụi và thời ấu thơ tôi đã kiên trì hoàn thành vai trò đó, đến mức cuối cùng tôi biết tôi không thể rời xa em. Bạn không thể sống cuộc đời mình thông qua người khác, nhưng bạn có thể làm điều tồi tệ hơn rất nhiều nếu không chia một phần cuộc sống cho những người cần mình trong một thời gian.
Tương tự, dù tôi đã công bằng nhưng tôi không thể đổ lỗi cho dượng Al vì đã trút những sai lầm của mình lên đầu chúng tôi. Dù gì thì chúng tôi cũng là người Việt. Chúng tôi là những người mà đất nước của dượng đã cố giúp và đã thất bại – một sự thất bại được biết rộng rãi trên toàn thế giới. Về phần dượng, dượng có một người cha “rất, rất nghiêm khắc,” và dù ở Việt Nam hay ở Mỹ thì những cậu bé đã bị đối xử tệ thường trở thành những người đàn ông cộc cằn. Theo cách nào đó, bản thân dượng cũng vô vọng như bác Liệu khi bác bám víu vào chiếc trực thăng cuối cùng đó. Tôi sẽ không trở thành người đẩy dượng vào hố sâu. Tôi sẽ không làm thế. Ngoài ra, tôi tin rằng giờ tôi có thể đối phó được với dượng. Việc dượng đối xử tệ với tôi giờ chỉ còn là những trận chửi bới (dè bỉu, phán xét, làm nhục…), những trận đòn đã ít lại, và chỉ là sự xấu xa, như ép tôi ăn những món tôi nấu không ngon.
Những gì anh Quang và Thủy thấy khi tôi nhảy từ dầu sôi vào lửa bỏng chỉ là bước cuối cùng để tôi trở thành người phụ nữ mà Mẹ tôi muốn tôi trở thành.
Vì thế, tháng Tư, tôi bỏ dở việc học trong năm đầu tiên tại trường trung học Sidney và chuẩn bị chuyển đến Glen Rose; ở đó, tôi hoàn tất ba tuần học cuối cùng của năm đầu và bắt đầu năm thứ hai vào mùa hè năm 1976. Tôi vẫn còn vật lộn với tiếng Anh nhưng hầu hết thầy cô đều thông cảm và nhẫn nại. Nhờ sự tận tụy của họ đối với nghề và với tôi, tiếng Anh của tôi đã cải thiện đáng kể, đến mức tôi bắt đầu suy nghĩ bằng tiếng Anh trước khi nói ra. Đây là một bước đột phá lớn, tác động tích cực đến tất cả môn học khác. Nó giúp tôi hỏi câu hỏi khi nghĩ ra, nói chuyện phiếm trong bếp và trong quán café, trong tiệm nước và ở góc đường với bạn bè cũng như với người lạ. Người Mỹ là những người thích giao thiệp, và giờ tôi đã cũng có được đức tính này.
Không may thay, dượng Al chỉ làm ở B&R ba tháng rồi nghỉ. Công bằng mà nói, dượng đã cố hết sức làm việc để từ một người lao động tay chân khi còn là một nhà thầu nhỏ và một người thợ sơn ở Hollywood sau Thế chiến thứ hai tiến tới công việc giám sát ở Việt Nam, đó là chưa kể đến nhiều năm làm chủ ở Philippines và ở Trại Cá. Là một người công nhân, dượng cảm thấy sự nghiệp của mình đã thụt lùi, vào độ tuổi mà dượng không thể cạnh tranh với những người trẻ hơn có bằng đại học để vươn tới những vị trí cao. Thái độ và tính cách của dượng cho thấy dượng không phải là người chịu hợp tác, và thái độ nhỏ đã gây ra những hậu quả lớn. Dượng bắt đầu cãi vã với đồng nghiệp, rồi ít lâu sau lại gây hấn với người quản đốc trực tiếp của mình. Sau B&R, dượng tự mình làm chủ – thêm một lần nữa – lần này là thợ làm nghề tự do chuyên sơn nhà cửa, làm mộc nhẹ, sửa ống nước và sửa sàn nhà cho những công dân khá giả ở Glen Rose. Tim tôi rớt tụt xuống khi một ngày nọ – chẳng bao lâu sau khi bắt đầu công việc này – dượng nhờ tôi giúp dượng vài việc.
Bản thân tôi cũng đang tìm việc để nâng cao khả năng tiếng Anh của mình hơn nữa và để dì Thu ở nhà làm nội trợ và chăm sóc em Bubba. Việc cuối cùng tôi muốn là diễn lại những cảnh cũ ở nhà bếp trong căn nhà gỗ, nơi Sissy-người-học-việc không thể làm được bất cứ thứ gì, và hình phạt lần này có thể sẽ là ăn vôi trét tường thay vì nước sốt dở.
Nhưng thái độ của dượng Al có vẻ khác. Lần này dượng nhờ tôi giúp, không phải bắt tôi giúp. Thêm nữa, dượng lại đề cập đến việc tôi giỏi môn Toán và Tập đọc, dượng nghĩ tôi giỏi những thứ này hoàn toàn nhờ có trường lớp chứ tôi không có khiếu kinh doanh, vậy nên sẽ giúp được nhiều khi kiểm tra bản vẽ, đo đạc, xếp dụng cụ như cái hộp lắp mộng đã sử dụng lâu của dượng, ghép thảm và những tấm ván. Đây là phần của dượng tôi chưa thấy bao giờ, và vì tôi đã ở với dượng lâu tới mức này, liều một phen nữa chắc cũng không có gì khác biệt. May thay, sự đánh liều của tôi mang lại kết quả tốt. Tôi trở nên rất thành thạo trong cách đo chính xác gạch lát sàn để cắt, đặc biệt là lót góc và ván gỗ ghép chân tường. Tôi tính toán sao cho ít lãng phí nhất, chuyện này tôi làm giỏi hơn cả dượng Al, và dượng cũng đã tán dương điều này. Công việc nào có tôi can dự vào sẽ trôi chảy và nhanh hơn. Khách hàng rất hài lòng và dượng Al cũng vậy. Dượng được trả công đúng hạn và tôi cũng được nhận một phần tiền, số tiền này tôi dùng để mua sắm quần áo chuẩn bị đi tìm việc. Tôi quét dọn nhà cửa và lau cửa sổ sau giờ học, đây là việc không cần động não gì, và tôi cũng xoay xở để có được một việc bán thời gian ở nhà dưỡng lão. Việc này không mang lại nhiều tiền nhưng toàn bộ số tiền này là của tôi. Số tiền tôi góp vào tài chính gia đình không nhiều không ít hơn số mà tôi cảm thấy tôi có thể kiếm được, và thậm chí đây là hành động đơn giản có vẻ như làm thay đổi cuộc đời tôi. Trường trung học ở Glen Rose là một phần trong bức tranh mới mẻ đó.
Nghèo, trầm lặng, toàn mặc quần áo tự may hoặc mua từ cửa hàng bán đồ cũ, vài người hẳn sẽ cho rằng những điều này không thể làm tôi hòa nhập với những người khác ở trường trung học phổ thông, nhưng thật ra không phải như vậy. Có thể tôi không phải là Nữ hoàng đêm tiệc cuối cấp, nhưng tôi kết bạn và nhận thấy hầu hết mọi người trong cộng đồng thôn quê, tương đối khá giả ở Glen Rose ai cũng biết khoan dung, chu đáo và thân thiện.
Một ngày, sau khi hoàn tất công việc dọn nhà cho một người hàng xóm tốt bụng, người thuê tôi chở tôi đi ăn tối ở tiệm Dairy Queen. Phía sau quầy thu ngân, tôi thấy một anh đầu bếp trẻ tuổi rất điển trai. Anh đang lật thịt cho bánh mì kẹp. Tôi cố hết sức để nói chuyện phiếm với vị mạnh thường quân dẫn tôi đi ăn trong khi lén nhìn anh, cố để không bị phát hiện. Chuyện lạ là ngay khi tôi bắt đầu mô tả anh chàng hấp dẫn trong tiệm DQ cho đám bạn gái ở trường thì có vẻ như tất cả mọi người đều biết anh, trừ tôi. Đôi mắt xanh đẹp của anh, nụ cười lan tỏa của anh, cách anh mặc đồ, cái duyên của anh đủ để làm trái tim của bất cứ cô gái trẻ nào tan chảy. Tôi biết được tên của anh là Ronnie Choat, một cái tên dường như có nguồn gốc từ người Mỹ bản địa. Anh lái một chiếc xe tải nhỏ màu trắng đến chỗ làm bán thời gian ở công trường và luôn mang bốt quân đội, một kiểu thành thương hiệu giống như những người khác mặc áo thun hay đeo kính mát thời thượng. Mấy đứa bạn của tôi nói rằng anh học lớp 12 ở trường Glen Rose nhưng nếu tôi từng thấy anh ở trường hẳn tôi sẽ nhớ, nên tôi bắt đầu tìm kiếm cái xe tải trắng ở bãi đỗ xe học sinh. Sau này tôi phát hiện ra cái xe tải là của ba anh và Ronnie chỉ sử dụng nó khi làm việc ở công trường. Anh thường lái một chiếc Pinto xanh để đi lại trong thị trấn và đi học, nên tôi cũng bắt đầu tìm kiếm chiếc này nữa.
Và rồi, có một chuyện xảy ra ở trường, một chuyện có thể khiến tôi viết ra hẳn một cuốn tiểu thuyết lãng mạn. Tôi bị trễ học và đang rất vội. Khi tôi vòng qua góc sảnh, tôi va vào anh và làm đổ sách vở lên chân anh. Anh cúi xuống để giúp tôi nhặt chúng lên và đầu chúng tôi va vào nhau. Anh cho tôi biết tên, tất nhiên là tôi đã biết rồi và thường viết bằng kiểu chữ bong bóng[21] (với hình trái tim trên đầu chữ “i” trong chữ Ronnie) hàng tá lần ở những trang cuối của quyển vở, rồi tôi cho anh biết tên mình. Tôi chạy vào lớp Lịch Sử và giả vờ như chú ý đến bài học trong suốt buổi học, nhưng đối với tôi, có vẻ như họ đang nói tiếng của người ngoài hành tinh. Tôi đang bận nghĩ ra những câu trả lời khéo léo, dí dỏm với vốn tiếng Anh hoàn hảo của mình trong lần tiếp theo tôi nếu tình cờ gặp anh.
Vào ngày cuối tuần và thỉnh thoảng trong tuần, tôi có việc làm thêm ở nhà dưỡng lão, cách nhà tôi không xa. Khi tôi đang đi bộ đến chỗ làm, mặt cúi xuống đất và đang nghĩ về bài tập về nhà thì tôi thấy một chiếc xe đang từ từ đi bên cạnh rồi đỗ lại cạnh tôi. Tôi nhìn lên và thấy Ronnie trong chiếc Pinto màu xanh da trời.
“Chào Vân.” Anh cười. “Em đi taxi không?”
“Ồ, không.” Tôi đỏ mặt. “Em gần tới rồi.”
“Gần tới đâu?”
“Chỗ làm của em. Nhà dưỡng lão. Ở dãy kế đây thôi. Em đến để nhận lương.”
“À, anh cho em quá giang nhé?”
“Không, thật đó. Em sắp tới rồi.”
“Nhỡ đâu em nhận lương khủng thì sao. Em sẽ cần người chở nó về.”
Nụ cười của anh thật tuyệt diệu, nhưng những giọng nói nghiêm khắc trong đầu tôi – giọng của bà, của dì Thu, mợ Nga, và thậm chí của Mẹ – quá to nên tôi không thể nghĩ ngợi được. “Không, cảm ơn anh.” Tôi không thể tin được những lời tôi vừa thốt ra. Tôi vừa mới từ chối anh ba lần.
“Được rồi. Tùy em thôi. Gặp em ở trường sau nhé.” Anh vẫy tay chào tôi rồi đi mất.
Tôi tiếp tục đi đến nhà dưỡng lão, tự nguyền rủa mình trong đầu. Khi tôi đến, họ đang bắt đầu ăn tối và thiếu người phụ giúp nên dù không phải ca làm của mình, tôi cũng phụ phát khay ăn cho mọi người, giúp những người lớn tuổi không thể cầm nổi muỗng và nĩa. Khi tôi đang làm thì một y tá tên Ann Daniel gọi tôi đến bàn tiếp tân.
“Em có điện thoại này Vân,” chị nói, đưa điện thoại cho tôi.
“Điện thoại của em ư?”
Điều này chưa bao giờ xảy ra trước đây. Tôi có cho dì Thu số điện thoại phòng trường hợp khẩn cấp, nhưng dì chưa bao giờ sử dụng điện thoại Mỹ, còn dượng Al thì sẽ không bao giờ gọi tôi dù cho nhà đang cháy đi chăng nữa. Điều duy nhất tôi có thể nghĩ tới là có gì đó đã xảy ra với Bubba.
“Alo, Vân nghe,” tôi nói bằng giọng lo lắng.
“Xin chào. Tôi gọi vì lời đề nghị chở em đễn chỗ làm của Ronnie.” Cái giọng Texas ngọt lịm của Ronnie đang vang trong tai tôi. “Anh ta chỉ muốn biết rằng em đã đến chỗ làm an toàn.”
Tôi cười với anh. “Nếu bác là mẹ của anh ấy, bác có thể nói rằng tôi đã đến đây an toàn rồi.”
“Tốt. Vậy thì hôm nay em cho phép anh ta chở em về nhà nhé. Mấy giờ thì anh ta có thể đón em đây?”
Lần này, tôi đã chấp nhận lời đề nghị của anh. Nửa tiếng sau, chiếc Pinto của anh đậu bên ngoài, chúng tôi trò chuyện và cười thoải mái trong suốt chặng đường ngắn về nhà tôi. Khi chúng tôi dừng lại, anh nói “Em biết gì không, anh đã biết hết về em rồi.”
“Thật sao?”
Ở Việt Nam, điều này sẽ rất đáng lo ngại. Bất cứ ai ở quê nhà tôi sẽ gặp rắc rối nếu ai đó biết quá nhiều về họ. Nhà của bạn từ miền Bắc đúng không? Bạn có người thân nào làm việc cho chính quyền miền Nam không? Bạn có thân thiết với những người Mỹ không? Có cặp bồ với lính Mỹ không? Có mua bán ở chợ đen không? Quá nhiều thứ để biết hay để che giấu!
“Đúng vậy, anh đã lén đọc hồ sơ của em ở phòng hiệu trưởng. Biết được em từ đâu đến, ở đây bao lâu, đại loại như vậy. Anh cá là em có nhiều chuyện để kể lắm.”
“Đúng là vậy.”
Chiếc xe dừng lại. Tôi bước ra và cười qua ô cửa sổ bên ghế bên. “Cảm ơn anh đã cho em quá giang,” tôi nói, như một người Mỹ thực thụ.
“Không có chi. À mà này, em đã có cặp trong buổi khiêu vũ dành cho học sinh năm cuối chưa?”
Tôi nghĩ ngợi một chút. “Chưa, em không phải là học sinh năm cuối.”
“Không sao cả. Anh là học sinh năm cuối. Em đi cùng anh nhé! Anh sẽ đến chở em đi.”
Điều này quá đỗi tuyệt vời nên tôi không thể tin được đó là sự thật. “Em cũng không biết nữa. Em phải xin phép dượng Al đã.”
“Tất nhiên rồi. Chúng ta xin phép ngay bây giờ nhé.” Anh tắt máy và cùng tôi bước đến cửa.
Tôi bước vào trước, sắp báo tin có khách đến nhà, thì dượng Al đứng lên khỏi chiếc ghế trước ti-vi và mặt dượng nở một nụ cười lớn.
“Ronnie.” Dượng chìa một tay ra như quý ông. “Thật vui khi lại gặp cậu. Đã lâu rồi nhỉ.”
“Chào chú Strauss,” Ronnie chào lịch sự. “Chú vẫn làm nổ tung cái sàn đó chứ?”
Dượng Al cười lớn. “Không đâu nếu cậu đến làm cho tôi. Này, đến đây…,” dượng chỉ vào cái ghế. Tôi thật sự sốc. Rõ ràng là dượng Al và Ronnie đã quen biết nhau, có lẽ họ làm cùng một chỗ. Dượng Al quay qua tôi và nói: “Đây là anh chàng mà dượng muốn con gặp. Rất siêng năng và có một thái độ tích cực. Dượng đã cố dụ anh chàng nghỉ chỗ làm cũ và về làm cho dượng.”
Dượng Al và Ronnie nói chuyện về công việc khoảng nửa tiếng (ba mẹ Ronnie cũng là những cựu nhân viên của B&R như dượng Al), rồi mới nói việc chính. Ronnie nói anh đã mời tôi đến buổi khiêu vũ cùng anh và tôi sẽ đồng ý nếu như dượng Al cho phép. Không phải lúc nào dượng Al cũng là một con quái vật. Những năm qua, dượng đã đôi lần thể hiện vai trò là một người cha đối với tôi, đa phần đều tỏ ra miễn cưỡng, nhưng lần này dượng thật tâm đồng ý.
“Tất nhiên rồi, Sissy có thể đi cùng cậu,” dượng nói, lau mũi mình bằng một cái khăn tay. “Đưa con bé về nhà trước 10 giờ nhé.”
Thỏa thuận xong, và không có ai vui mừng hơn tôi hết. Buổi khiêu vũ sẽ diễn ra trong hai tuần nữa, và giữa hai việc làm thêm, bài tập về nhà, công việc nhà, tôi có quá ít thời gian nhưng quá nhiều việc phải làm: tìm kiếm mẫu và vải để may một cái đầm dạ hội đặc biệt cho mình, đi mượn bạn bè một vài món trang sức phù hợp. May là tôi không phải sáng tạo ra một kiểu tóc vấn cao lên – một kiểu đang là mốt trong đám con gái – bởi vì Ronnie bảo rằng cái đầu tiên anh ấy thích ở tôi là mái tóc suôn mềm dài tới thắt lưng của tôi. Đêm đặc biệt đó diễn ra như kế hoạch. Đầu tiên chúng tôi dừng lại ở nhà Ronnie vì ba mẹ anh – Floyd và Imogene – muốn chụp một tấm ảnh anh sửa soạn cho buổi khiêu vũ, và thêm nữa, tôi chắc chắn là họ muốn xem mặt cô bạn châu Á nhút nhát của anh. Họ khá trầm tính, còn tôi cũng rất ngại và im lặng. Tôi đã rất yêu con trai họ rồi nên tôi hy vọng họ cũng sẽ mến và chấp nhận tôi. Tôi cũng rất ý thức được mình là người châu Á, và nghèo, và mặc một chiếc áo dạ hội tự may. Tôi đã không ngồi cả buổi chiều tại tiệm uốn tóc để làm đẹp như hầu hết những cô gái khác. Tôi muốn họ thấy những điều khác ngoài những thứ đó, muốn họ chỉ nhìn thấy rằng tôi rất vui mừng và rất tự hào vì được ở bên cạnh con trai họ đêm đó. Chúng tôi cùng chụp ảnh rồi đến buổi khiêu vũ. Đối với tôi đó là một đêm kỳ diệu. Khi kết thúc – tôi cảm thấy quá đỗi chóng vánh – sự gắng sức của tôi đã được đền đáp bằng một nụ hôn nhẹ. Nỗi sợ hãi cuối cùng của tôi – rằng tôi sẽ trở lại là nàng Lọ Lem sau khi anh chở tôi về – đã không thành sự thực khi Ronnie ngay lập tức hẹn tôi đi chơi lần nữa. Cuộc sống trong nhà đã trở nên dễ chịu hơn và chuyện ở trường cũng thật sự tốt đẹp, nhưng không gì có thể so với việc có được một anh bạn trai người Mỹ tuyệt vời. Những thiên thần hộ mệnh của tôi lại ở bên tôi lần nữa.
* * *
Sau khi hẹn hò với Ronnie được vài tháng, tôi phát hiện ra những đôi bốt quân đội của anh có ý nghĩa gì. Vì những thành viên khác trong gia đình anh đã phục vụ cho quân đội nên Ronnie cũng nghĩ anh có nghĩa vụ phải tham gia, và anh đã đăng ký chương trình “nhập ngũ sau” của quân đội Mỹ. Điều này có nghĩa rằng để đổi lại lời hứa tham gia vào chương trình Đào tạo căn bản vào một ngày nhất định (trong trường hợp của anh là sau khi anh tốt nghiệp trung học), anh sẽ được xem xét giao nhiệm vụ và nhận chỉ dẫn cao cấp từ ban tuyển quân địa phương về những khía cạnh nhất định của quân đội như nề nếp, tác phong quân đội, những điều lệnh, đại loại như vậy. Anh nói việc gặp được tôi đã làm cho sự hăng hái muốn rời khỏi nhà trong anh giảm lại, nhưng nghĩa vụ của anh còn lớn hơn những cảm xúc của một người đàn ông – ít nhất là trong lúc này. Anh đã hứa nên phải trân trọng điều này. Tôi có những cảm xúc lẫn lộn về những người đàn ông mặc quân phục, nhưng tôi phải khâm phục đức tính của anh. Đó là một trong những điều đã tạo nên Ronnie, người mà tôi yêu.
Vì thế, Ronnie tốt nghiệp và rời đi để tham gia chương trình Đào tạo căn bản, còn tôi thì bắt đầu lên lớp Mười một và rất nhớ nhung anh. Các bạn gái của tôi đối xử với tôi như thể tôi là góa phụ thời chiến, và thực sự đó rất giống những gì tôi cảm thấy. Không có tình yêu nào đẹp và đau khổ bằng tình yêu của tuổi trẻ, và nếu những mũi tên của thần Tình yêu có tẩm độc thì hẳn tôi là một cái hồng tâm ghim đầy tên. Chúng tôi viết thư cho nhau hầu như mỗi ngày, rồi sau một tháng, những lá thư của anh ngừng hẳn. Tôi chắc chắn là anh đã đá tôi vì một cô gái khác – những căn cứ quân sự lớn đều bị những người phụ nữ thèm chồng vây kín, một bài học mà tôi được học ở Việt Nam – còn tôi thì tuyệt vọng và đau buồn không nguôi suốt nhiều tuần. Tôi chưa bao giờ là “kiểu người béo tròn mũm mĩm” như bà Gilchrest vẫn nói về những cô gái Texas khác, và việc tôi không thể nuốt trôi thứ gì đã làm tôi nằm liệt giường. Ngay cả dượng Al cũng biết tôi không giả bệnh để trốn việc, và khi cả dượng cũng thấy những đức tính tốt ở một anh chàng như Ronnie thì dượng thực sự đồng cảm cho tình cảnh của tôi. Dượng đã vận dụng hết khả năng nấu ăn của mình và đích thân nấu những món xúp rất ngon miệng cho tôi ăn. Tôi không biết là vì thức ăn hay vì lòng tốt chưa từng thấy của dượng Al đã chữa lành trái tim thất tình của tôi, nhưng tôi đã khỏe và vui vẻ trở lại sau một tháng. Tôi còn nhận làm phục vụ bàn ở tiệm Dairy Queen, nơi lần đầu tiên tôi gặp Ronnie. Bằng cách nào đó thì việc này làm tôi cảm thấy gần anh hơn. Cuối cùng thì những lá thư của Ronnie lại tiếp tục gửi đến tôi, nhưng phải đến cuối năm lớp Mười hai của tôi. Chưa từng trong quân ngũ, tôi không biết được rằng để trở thành một người lính thì bạn phải ngưng trở thành một thường dân, và điều đó có nghĩa là dành nhiều thời gian làm những việc quân đội muốn bạn thực hiện thay vì làm những việc bạn muốn làm, như là viết thư cho bạn gái chẳng hạn. Một tháng trước khi trung đội đào tạo, anh được phép rời doanh trại để nghỉ ngơi ở Post Exchange[22]. Trong khi anh đang học để trở thành một người lính thì tôi cũng học để trở thành bạn gái của một người lính.
Sau này, tôi biết được còn một lý do nữa cho sự im lặng kéo dài của anh. Thực sự là có một người phụ nữ khác, một cô gái cùng quê đi cùng nhà thờ mà có lẽ là gia đình anh yêu quý. Ronnie bối rối và mâu thuẫn. Anh biết anh yêu ai, người đó là tôi. Nhưng vì anh là một người con hiếu thảo và yêu thương gia đình, nên việc làm vừa lòng cha mẹ rất quan trọng. Anh cầu nguyện, lo lắng và lại cầu nguyện nhiều hơn. Cuối cùng, anh nghe theo trái tim mình và những lá thư của anh lại tiếp tục một lần nữa.
Một sự kiện lớn trong năm cuối của tôi là để dành đủ tiền để mua xe riêng. Dượng Al rất tán thành điều này, vì tôi đã có thể dành dụm cho riêng mình gần 5.000 đô trong khi vẫn đóng góp vào chi phí trong nhà. Dượng quá đỗi hào hứng nên tự mình đi mua về một chiếc Plymouth cũ giá 500 đô và ngay lập tức đề nghị bán lại cho tôi với giá 700 đô, đút túi trọn 200 đô tiền lời. Có lẽ dượng đang cố dạy tôi một bài học về buôn bán tự do hoặc cảm thấy rằng tôi nợ dượng vì những món xúp ngon lành mà dượng nấu cho tôi, nhưng tôi không tranh cãi gì và chấp nhận giá cả. Giờ tôi có thể kiêu hãnh lái xe đến tiệm Dairy Queen, đến trường và hằng ngày đậu xe vào chỗ đậu xe cũ của Ronnie.
* * *
Năm 1979, tôi tốt nghiệp trường trung học phổ thông Glen Rose và phải đối mặt với một quyết định trọng đại. Mười tám tuổi, tôi đã đủ trưởng thành để sống độc lập – có thể tự mình mở tài khoản ngân hàng, thuê căn hộ, và làm mọi chuyện mà không cần có sự chấp thuận của phụ huynh. Tôi đã đi một chặng đường dài dưới sự giám hộ nhiều sóng gió và lắm chông gai của dì dượng tôi, và nếu tôi học được điều gì đó về cuộc đời thì đó là nên đi xuống tàu khi tàu cập bến. Khi không còn có tôi ở bên, cuối cùng dì Thu cũng có được một gia đình hạt nhân – dì, Bubba và (tôi hi vọng) một người chồng người Mỹ vững chãi – mà dì muốn trong hơn một thập kỷ qua. Đã đến lúc tôi phải ra đi. Nhưng đi đâu bây giờ?
Tôi vẫn liên lạc đều đặn với anh Quang và Thủy. Tôi biết anh tôi đã chuyển đến thành phố Oklahoma sau khi tốt nghiệp trường Beattie. Anh đã trở thành một chàng trai thân thiện và có năng lực, nhưng vì là con trai trưởng trong nhà, anh thường bám víu vào những truyền thống cũ. Anh nhớ quê nhà và thấy vui khi sống ở một chỗ đã trở thành cộng đồng đông đảo những “thuyền nhân” Việt – những người đã trốn khỏi chính quyền cộng sản và đến nương nhờ ở đất Mỹ. Như những thành phố lớn khác của Mỹ đã mở rộng không gian và mở rộng trái tim, thành phố Oklahoma đã thiết lập nên một Tiểu Sài Gòn, và anh Quang muốn tới sống ở đây. Ngoài ra, đó là cộng đồng người Việt gần Beattie nhất, mà Beattie chẳng khác nào quê nhà của anh trên đất Mỹ, nơi anh có nhiều bạn bè thời trung học, và gia đình Gilchrest vẫn còn xem chúng tôi là người nhà.
Trong khi anh Quang nhắm tới những cộng đồng châu Á và có được một công việc lương cao, tôi lại nhắm tới một hướng khác. Vì tôi tốt nghiệm loại ưu, các thầy cô và người hướng nghiệp thúc giục tôi học lên đại học – cứ như thể tôi cần được thôi thúc nhiều đến vậy. Mẹ tôi đã luôn tin rằng con gái cần được học cao, và tôi nghĩ cuối cùng tôi cũng đã chuyển hóa được dì Thu nữa. Đối với trẻ con, sự lệ thuộc là chuyện tự nhiên, nhưng đó là điều mà hầu hết chúng tôi muốn thoát ra. Trở nên độc lập tự chủ ở Mỹ nghĩa là có những kỹ năng ngoài việc làm ruộng, có con và biết dọn dẹp nhà cửa. Nói tóm lại, tự chủ nghĩa là ra những quyết định sáng suốt cho bản thân mình.
Tôi quyết định xin học bổng để học ở trường Đại học bang Oklahoma và gần như ngay lập tức được chấp thuận. Tôi gia nhập cùng đội ngũ sinh viên năm nhất đến khu đại học thành phố Oklahoma như một tay kinh nghiệm (thủ tục quan liêu và những người mới đến nhút nhát đều như nhau trên toàn thế giới, còn tôi thì đã quen với những việc này) và ở cùng anh Quang và em Thủy ở Tiểu Sài Gòn, thành phố Oklahoma. Như những sinh viên năm nhất khác, tôi cũng ngóng trông lá thư đầu tiên gửi từ gia đình, bạn bè ở Texas và từ bất kỳ ở đâu. Giữa mớ phong bì đầu tiên tôi nhận được là một lá thư từ Ronnie. Địa chỉ gửi thư từ trường Bộ binh ở Georgia – để học những thứ khác nữa. Đoạn thư đầu tiên làm tôi kinh ngạc. Anh đang tự hỏi – anh viết – nếu bỏ qua mớ râu mép anh đã để trong quân ngũ thì liệu tôi có đồng ý làm vợ của anh không. Vì chuyến xe đầu tiên trên chiếc Pinto màu xanh đã đem lại kết quả tốt như mong đợi, tôi viết lại “EM ĐỒNG Ý!” trên mảnh giấy đầu tiên mà tôi tìm được.
Chúng tôi kết hôn vào tháng Mười hai năm 1979.