Dịch giả: Hoàng Phương

Phải Sống

Lượt đọc: 332 | 0 Đánh giá: 0/10 Sao
★★★★★★★★★★
★★★★★★★★★★
« Lùi Tiến »
Chương 11
THOÁT KHỎI NANH HÙM – 1975

❊ ❊ ❊

Ngoại trừ những trận bom rơi đạn lạc diễn ra thường xuyên hơn vào ban đêm, và giờ còn diễn ra cả vào ban ngày, ba tuần tiếp theo trôi qua khá êm đềm ở Trại Cá và tôi tiếp tục hồi phục.

Thế rồi, vào ngày 18 tháng 4, khoảng 1 giờ chiều, chúng tôi đang ăn trưa trong phòng ăn lớn thì tiếng chuông cổng reo lên. Một người giúp việc ra mở cổng và quay lại báo dượng Al rằng một người từ Đại sứ quán Mỹ đến gặp dượng. Dượng bảo cô giúp việc mời ông ta vào.

Người đàn ông này cao và gầy, mặc một cái áo sơ mi tay ngắn màu trắng và có vẻ mặt lo lắng, mỏi mệt. Qua cách dượng tiếp đón, tôi đoán dượng quen biết người này ở đâu đó – làm sao mà dượng không biết được chứ khi mà trong một thời gian dài dượng làm việc ở nhiều căn cứ khác nhau với nhiều viên chức toàn miền Nam? Dù vậy, chuyến viếng thăm không phải chỉ là chuyện thăm viếng xã giao thông thường. Dượng khẽ nói chuyện với người này trước cổng một lúc rồi mời ông vào bàn.

“Chúng ta có một số tin rất xấu,” dượng Al thông báo. “Quân đội miền Bắc Việt Nam đã bắt đầu những đợt tổng tấn công để giành lấy Đô thành. Với tình hình này, có vẻ như phe đó sẽ thành công. Sài Gòn và miền Nam Việt Nam có thể sẽ thất thủ.”

Người khách nói tiếp còn chúng tôi ngồi im lặng và rất sốc. “Tất cả công dân Mỹ cùng người phụ thuộc được lệnh phải đến trình báo tại Tân Sơn Nhất để lập tức tản cư. Không có ngoại lệ nào cả.”

Tôi đang ngồi ở chỗ quen thuộc của mình bên cạnh bà ngoại và đưa tay nắm lấy tay bà trong vô thức. Tôi hiểu một số từ tiếng Anh, nhưng không thể nắm bắt được tính chất nghiêm trọng của toàn bộ vấn đề. Tôi chỉ hiểu rằng có điều gì đó về cuộc chiến, nó đang diễn tiến rất xấu, và điều gì đó liên quan đến việc rời khỏi Trại Cá.

Dượng Al nắm lấy thành ghế. Trong một khoảnh khắc, có vẻ như chân dượng sắp khuỵu xuống. Tôi chưa bao giờ thấy dượng như vậy – bị bất ngờ, hoàn toàn suy sụp. Dượng luôn là người chỉ đạo, là người biết phải làm gì, dù rằng điều đó là sai, là người chủ gia đình không ai được cãi lời mà phải phục tùng. Dượng yêu Việt Nam, yêu người vợ Việt của mình, yêu người Việt. Dượng đã định sẽ xem Việt Nam là nhà mình trong suốt phần đời còn lại, xem những người hàng xóm Việt là gia đình mình. Giờ thì, tất cả những gì dượng đã cố gắng hết sức để gầy dựng nên trong phút chốc đã trở nên vô nghĩa. Giờ thì dượng chỉ là một người tị nạn nữa, phải bỏ đi chỉ với manh áo trên người. Giờ thì dượng cũng là một người mồ côi, cũng như tôi.

Đáng buồn và đáng mỉa mai hơn hết thảy, dượng Al đã tự hào mình là người có khả năng ứng biến mọi tình huống. Dù gì thì dượng cũng đã điều hành những tổ chức lớn cho các công ty Mỹ ở một đất nước đầy rẫy những viên chức đồi bại trong khi chiến tranh đang cận kề và diễn ra xung quanh dượng. Dượng khởi sự hai việc kinh doanh thành công dựa vào việc phục vụ những khách hàng hoàn toàn khác nhau và làm tất cả họ hài lòng. Dượng kết giao bạn hữu từ chính trị gia đến người bán hàng rong, từ nhân viên ngân hàng đến người lao động, từ kỹ sư đến người thợ máy, và luôn có những gì dượng muốn. Tôi chắc chắn rằng sâu thẳm bên trong, dượng đã có ý nghĩ rằng nếu điều không thể ngờ tới xảy ra và những người cộng sản thống trị, bằng cách nào đó dượng sẽ dàn xếp với họ và bước lên đỉnh cao, như dượng thường như vậy. Nhưng lần này, dượng còn không có cơ hội để tự thuyết phục mình – và thuyết phục cả chúng tôi – về những điều sắp xảy ra. Giờ thì dượng cũng như tôi trên giường bệnh khoảng một tháng trước, lắng nghe mệnh lệnh của bác sĩ, biết rằng cuộc đời dượng sẽ thay đổi vĩnh viễn mà dượng không thể làm gì khác được.

Người nhân viên Đại sứ quán tiếp tục. “Chỉ nên mang theo một bộ đồ để thay. Thu xếp nhanh chóng và gọn nhẹ. Mọi người phải có mặt ở sân bay trước chiều tối nay. Có ai hỏi gì không?”

Chúng tôi có cả ngàn câu hỏi trong đầu nhưng dượng Al hỏi một câu hỏi có ý nghĩa với tôi nhất. “Còn mẹ của vợ tôi thì sao?” dượng chỉ về phía bà ngoại.

Người đàn ông lắc đầu và nhìn xuống nền nhà. “Quá già,” ông ta nói khẽ. “Tôi rất tiếc.”

Ngay lập tức, tôi hiểu ra điều gì đang xảy ra. Chúng tôi được yêu cầu phải rời khỏi nhà không một giây chậm trễ, và bà ngoại không thể đi cùng chúng tôi. Tôi không thể diễn tả được sự trống rỗng, nỗi buồn tràn ngập đang xâm chiếm tôi. Tôi nhìn bà, không nói nên lời, tim tôi đập mạnh, còn tay tôi siết chặt tay bà. Bà hiểu tiếng Anh nhiều hơn những gì bà thể hiện ra, và bà dễ dàng đoán được người ta đang nói cái gì. Bà nhìn một cách cam chịu về phía trước. Tôi sẽ không rời khỏi bà, cũng không buông tay bà.

Người nhân viên Đại sứ chúc chúng tôi may mắn và rời đi ngay lập tức để đến nhà của gia đình Mỹ khác. Như những con robot, Thủy và anh Quang bắt đầu dọn dẹp bữa trưa chúng tôi đang ăn dở dù biết rõ chúng tôi không thể lấy cái chén, cái dĩa, đôi đũa nào theo, nhưng thói quen là thói quen thôi. Giống bà ngoại, dì Thu rất rắn rỏi và thực tế về mọi chuyện. Tôi chắc chắn rằng dì, chứ không phải dượng Al, là người cất giấu những đồ có giá trị – vàng lá, trang sức, kim cương, ngọc thạch – ở một chỗ an toàn để phòng những lúc như vậy, cùng lý do mà bà ngoại đã cất giữ chiếc nhẫn mắt hổ của mình và giao nó cho tôi.

“Không – Họ không cho! Không một đồng nào hết!.” Tôi nghe lén dì nói với dượng rằng ngân hàng mà họ gửi tiền của Trại Cá không cho phép họ rút tiền trong những ngày cuối cùng này.

“Được rồi, đừng lo lắng,” dượng Al nói bằng cái giọng không mấy tự tin. “Anh còn ít tiền trong hộc tủ. Không nhiều nhưng đủ để chúng ta lên Sài Gòn. Chúng ta sẽ để lại một ít cho mẹ em.”

“Thủy, Quang,” dì Thu quay sang chúng tôi. “Bỏ chén đĩa đó, đi thu dọn đồ của mấy đứa đi.” Họ vội vàng vâng lệnh. Dì không nói với Bubba, em cũng không hề biết chuyện gì đang xảy ra. Mọi người hối hả làm nhiệm vụ của mình.

Dì Thu tiến lại gần bà ngoại, bà vẫn ngồi yên tại bàn ăn như thể đang lên cơn đau tim. Tôi vẫn ở bên bà, tay tôi vẫn dính chặt lấy bàn tay bà. Con gái bà cầm lấy bàn tay còn lại và đặt vào đó một cuộn tiền.

“Đây mẹ,” dì nói. “Nhiêu đây đủ để mẹ xoay xở cho đến khi ngân hàng làm việc trở lại. Cháu Ngọc và ông Ba sẽ giúp con chăm sóc cho mẹ.”

Cuối cùng thì bà ngoại cũng nói: “Con sẽ không quên mẹ, đúng không? Con sẽ về thăm mẹ, đúng không?”

“Chúng con sẽ về đón mẹ ngay khi có thể. Mẹ đừng lo điều gì cả.” Dì Thu nắm lấy tay Bubba và chạy ra sau nhà để thu dọn đồ của họ.

Những giọt nước mắt bắt đầu lăn xuống má bà ngoại. Bà nhẹ nhàng đẩy tôi đi. “Cháu đi chuẩn bị đi Vân,” bà nói rất bình tĩnh. “Cháu đi xếp đồ của cháu và nhớ là phải đi theo những người khác.”

Cho đến lúc đó, tôi chưa bao giờ nghĩ mình cũng được tính là người phụ thuộc và là thành viên trong gia đình của dượng Al, dù tất nhiên các giấy tờ chứng minh là vậy. Tôi nghĩ đến việc ở lại Trại Cá để giúp bà, có một gia đình riêng, một công việc, và sống yên ổn dưới một thể chế mới. Dù gì thì tôi đã làm mọi công việc ở đây, và những người làm ở đây cũng không còn nơi nào khác để ở – đặc biệt là anh Ngọc và ông Ba, những người này gắn bó với Trại Cá cũng như những cái ao, những con chim và cây cối ở đây vậy. Truyền thống Việt Nam là chăm sóc gia đình, dù là những người họ hàng xa như anh em họ hay những người làm trung thành. Tôi có thể thấy sự kinh hoảng trong những cặp mắt mở to của hai người giúp việc khi họ biết nhiệm vụ duy nhất của họ bây giờ là né đường và tìm cơ hội mới với những người xâm lược. Ai đó trong nhà nên ở lại và nói cho họ hiểu.

“Nhanh đi Vân, đứng lên.” Đó là anh Quang, anh đang đi ngang nhà bếp để ra ngoài sân sau. Giọng của anh đã kéo tôi khỏi những suy nghĩ và ảo tưởng của mình. Giống như cái cách anh từng làm khi ở Hồng Ngự, khi anh hướng dẫn tôi bước khỏi cái xác không đầu và trở lại thế giới của người sống.

Trên đường đến phòng trẻ con, tôi thấy dượng Al ở trước cửa, nói chuyện với một người phụ nữ tôi nhớ đã gặp trong một bữa tiệc ở Biên Hòa. Tên cô là Bobbie, một người Mỹ với hai người con nuôi đã trưởng thành. Chồng cô – một Thượng tá Không quân người Việt – vắng nhà khi lệnh tản cư đến tai họ, cô đang rất hoảng sợ và lo lắng là gia đình họ sẽ bị ly tán. Dượng Al đang cố trấn an cô. “Hãy về nhà đi,” dượng nói. “Nếu anh ấy thoát được thì đó là nơi anh ấy sẽ đến. Con trai của chị nữa. Giờ chị hãy nhanh lên. Chúng ta không còn nhiều thời gian đâu.” Cô đi khỏi trên chiếc xe hơi lớn của Mỹ, tiến về phía nhà mình cách đó vài cây số.

Trong phòng, tôi chạy quanh tủ và lôi ra cái va li nhỏ của mình, vẫn chưa lấy đồ từ khi ở Sài Gòn ra. Thủy nhanh tay chọn lọc đồ của em – hầu như là đồ kiểu Mỹ, còn tôi nhét vào đó một chiếc áo dài và một bộ đồ để thay với áo sơ mi và quần tây. Tôi cũng mang theo quyển nhật ký tôi thỉnh thoảng viết từ hồi ở Philippines, chuỗi tràng hạt anh Quang tặng, và mấy tấm hình Ba Mẹ đã ngả vàng và mất góc tôi đã giữ suốt bao năm qua. Là người có kinh nghiệm thu dọn đồ, tôi làm xong trong một phút, rồi quay sang giúp Thủy.

Em tôi đang cân qua đếm lại giữa những bộ váy đẹp mà gia đình bên Mỹ của dượng Al đã tặng em trong kỳ Giáng Sinh. Cái nào nên mang theo? Cái nào phải bỏ lại? Tôi nói, “Lấy cả hai đi – hãy nhét nó vào túi, miễn là chỉ đựng trong một va li thì không ai để ý đâu.”

“Còn cái ví này thì sao?” Thủy giơ lên một cái ví màu trắng.

“Nhét vào luôn, miễn là vừa…”

“Không được!” dì Thu chạy vào phòng để lấy mấy cái áo và quần soọc cho Bubba. “Quá nhiều rồi. Chỉ một bộ đồ để thay và bàn chải đánh răng thôi. Nhanh lên!”

Dì rời khỏi phòng và mặt Thủy buồn rũ. Em rất thích cái ví trắng ấy.

“Đây,” tôi nói và nhét nó vào va li của em. “Nếu họ không thấy thì họ sẽ không biết nó ở đó.”

“Không,” Thủy nói, “Em không muốn bị dì đánh. Em sẽ bỏ nó lại. Có thể em sẽ có một cái khác.”

Tôi thở hắt ra một cách thiếu kiên nhẫn, sợ rằng một ngày nào đó em sẽ hối tiếc vì đã quá vâng lời về chuyện cái ví (và quả đúng là như vậy). “Được rồi, nhưng lấy cái này đi – mấy cái này nhỏ.” Tôi đặt mấy tấm hình của Ba Mẹ, khác với những cái tôi có bên dưới mấy cái áo của em. “Rồi, xong rồi đó. Giờ thì đi ra nhanh.”

Tôi dẫn Thủy đi ngang qua phòng chính để ra cổng và thấy bà ngoại vẫn còn ngồi tại bàn ăn, bất động và âm thầm khóc như một pho tượng trong mưa, như thể bà đã đặt một chân vào nấm mồ của chính mình vậy. Bà đang nghĩ gì? Bà cảm thấy thế nào khi đã mất mát nhiều người thân đến vậy? Bà có đang nghĩ đến ngôi nhà cũ của mình ở miền Bắc, đến những người con đã qua đời của bà bị bỏ lại đó, hay chuyến di cư vào miền Nam hai mươi năm trước không? Cái chết của Mẹ tôi ở Hồng Ngự? Và giờ bà đối mặt với sự chia ly bất ngờ với người con gái còn lại của mình và bốn đứa cháu bà đã hết mực yêu quý và đã nuôi lớn – để con cháu bà phải đến sống tại những miền đất lạ cách bà nửa vòng trái đất. Tất nhiên, bà đang nghĩ bà sẽ không bao giờ gặp lại chúng tôi nữa.

Những giọt nước mắt âm thầm rớt xuống má tôi. Cảm giác đột ngột của sự kết thúc đang đè nặng lên tôi, như thể là tận cùng của thời gian, là tận cùng của thế giới. Tôi nghĩ đến việc nói lời chia tay với bà lần nữa nhưng có vẻ như bà đang ở trong một thế giới khác nên tôi để bà lại đó và trở về với thế giới của tôi.

Bên ngoài kia, cả nhà đã tập hợp ngoài sân, mỗi người mang một va li. Dượng Al đỗ xịch lại chiếc xe hơi hiệu Honda của mình, chiếc xe chưa bao giờ dùng để chở nhiều người và nhiều đồ đạc đến vậy. Thế rồi bà ngoại xuất hiện ở cửa, như một vị chủ nhà mệt mỏi ra nói lời tạm biệt những vị khách ở lại qua đêm. Tôi đến bên bà lần cuối, và những người khác cũng vậy. Tôi không nhớ được chúng tôi đã nói gì với nhau. Tôi không làm được gì cho bà cả. Tôi không đủ hiểu chuyện để tranh cãi việc để bà ở lại. Mọi thứ quá hỗn độn và quá nhanh, và tôi nhắm mắt làm theo lệnh của những người lớn xung quanh tôi.

Là một đứa trẻ mồ côi (tôi chưa bao giờ nghĩ mình là con nuôi), sâu trong lòng tôi luôn có một sự trống vắng, một cảm giác chưa bao giờ thuộc về bất cứ ai, nhưng đã được lấp đầy bởi người phụ nữ kiên cường, giàu tình thương và can đảm này. Giờ thì bà không còn trong cuộc đời tôi nữa. Tôi cảm thấy trống trải đến mức không lời nào có thể diễn tả được. Chúng tôi trao nhau cái ôm cuối cùng.

Rồi dượng Al mở toang cửa, tất cả chúng tôi lũ lượt đi vào xe. Tôi là người cuối cùng. Tôi cảm thấy như hồi người y tá kéo tôi ra khỏi vòng tay của Mẹ ở trạm xá Hồng Ngự, buộc tôi phải tiến về phía tương lai xa xăm và mù mịt.

Ngay lúc đó, xe của cô Bobbie xuất hiện ở cổng. Cô đã đón được người con út, và dượng Al đến nói chuyện với cô. Tôi không biết cô nói gì nhưng khi đến lượt tôi chen vào bên trong chiếc Honda, rõ ràng là không đủ chỗ cho tất cả chúng tôi, dù không mang theo hành lý. Dượng Al đi đến và lấy chìa khóa ra.

“Được rồi, mọi người ra ngoài hết!” dượng ra lệnh. “Vào trong xe của Bobbie. Chồng và đứa con lớn của chị không có ở nhà, và không ai biết họ đang ở đâu. Chị tình nguyện chở chúng ta đến sân bay.”

Trước khi tôi kịp định thần, tôi bị nhét chung cùng số đồ đạc ở sau xe, dượng Al ngồi sau tay lái, lái xe ra cổng. Trại Cá, bà ngoại, và giờ anh Ngọc đang ở bên cạnh bà biến mất sau màn bụi.

Vì nhà của Bobbie cũng nằm trên đường ra sân bay, dượng Al dừng lại để cô kiểm tra lần nữa xem chồng và con trai mình đã về nhà chưa. Không tìm thấy chồng cô nhưng khi dượng Al vừa đi thì người con lớn của cô đang rẽ qua góc trên chiếc xe đạp. Trong giờ khắc hẳn là may mắn nhất trong cuộc đời của anh, anh nhảy khỏi xe để nó ngã nhào ra đó, và nhảy vào xe hơi, ngồi cạnh mẹ mình. Chồng của cô Bobbie để lại lời nhắn điện thoại cho con trai lớn của họ rằng chú sẽ gặp họ ở sân bay. Thật may là chú ở trong lực lượng không quân, tôi nghĩ vậy, bởi vì cách duy nhất để bất kỳ ai có thể vượt qua dòng người đông nghẹt sau này chỉ có thể là bằng trực thăng mà thôi, dù vậy tôi chỉ giữ lại ý nghĩ này cho riêng mình thôi.

Chặng dừng tiếp theo của chúng tôi là nhà bác Chiêu ở quận Bà Chiểu, cũng tiện đường. Bác là người nhà duy nhất chúng tôi có thể gặp để báo rằng chúng tôi phải bỏ đi. Cũng cần báo cho bác biết mẹ và con trai bác vẫn còn sống và đang ở Trại Cá – ít nhất là trong lúc này đây. Những người khác chờ trong xe với động cơ vẫn nổ trong khi dì Thu và tôi chạy vào báo tin cho bác. Bác cùng chúng tôi đi ra đường và trông không có vẻ gì là lo lắng. Bác cũng không mặc đồng phục.

“Khi mọi chuyện lắng xuống, anh sẽ đến chỗ mẹ,” bác nói vắn tắt. “May là Ngọc đang ở với mẹ. Tụi anh sẽ sống ẩn dật trong một thời gian. Rồi mọi chuyện sẽ ổn thôi. Các em bảo trọng nhé.”

Đó là những cuộc chia tay đau đớn vì không ai trong chúng tôi nghĩ rằng chúng tôi sẽ gặp lại nhau. Tôi nhận ra rằng bác Chiêu đã làm hết sức mình cho chúng tôi trong những giờ phút khốn khó và rằng tôi rất yêu quý bác. Những cái bắt tay chỉ còn là những cái chạm hờ khi chúng tôi phải hòa vào dòng xe cộ.

Cuối buổi chiều hôm đó, chúng tôi đến sân bay Tân Sơn Nhất. Tình hình giao thông rất kinh khủng: xe cộ chỉ có thể chạy trong một vài phút rồi kết chùm lại trong một mớ hỗn độn xe tải, xe hơi, xe cộ dời quân, xe lam (không thể định hướng được làn đường trắng), xe máy (có thể định hướng) làm dượng Al tức không thể nào tả được. Tại cổng chính (thực ra là một loạt những trạm kiểm với hàng loạt rào chắn), phân nửa số xe cộ quay đầu lại và mọi chuyện diễn ra nhanh chóng hơn, dù chỉ trong vài phút. Những xe chỉ toàn người Tây thường được cho qua. Những chiếc xe có các cặp đôi vừa Tây vừa Ta hay những gia đình Mỹ – Việt luôn bị chặn lại nhưng không quá lâu, chỉ để kiểm tra căn cước hay cho đến khi có ai đó có quyền cho họ qua.

Tiếng động cơ ầm ĩ, những tiếng nói vô vọng, những cuộc cãi vã vô nghĩa, tiếng em bé khóc, tiếng người già đang than thở – đó là chưa kể khách bộ hành cứ lũ lượt đi lên đi xuống giữa những hàng xe để tìm người thân, bạn bè, hay chỉ để xin được vào ké, nhưng thật đáng ngạc nhiên là sự hỗn độn được kiểm soát chặt chẽ. Những nhân viên tận tụy và nhiệt tâm của Đại sứ quán Mỹ cùng những người lính Mỹ đang đứng gác, còn lính miền Nam đang cố giữ trật tự, ngăn những tiếng la hét, chửi bới.

Không phải người Việt nào đến được sân bay cũng được phép đi qua những cổng vào, dù họ đi cùng những “nhà tài trợ” người Mỹ đi chăng nữa. Khi chúng tôi chờ trong hàng ở trước cổng, tôi chứng kiến rất nhiều người khóc than, la hét, và những cuộc chia ly đau lòng. Trông cứ như thể tận thế, và những người khốn cùng khắp mọi nơi đang tìm kiếm, lần cuối cùng, sự cứu rỗi của Chúa.

Đầu tiên thì có vẻ như mỗi người lính Việt Nam Cộng hòa sẽ đứng cùng một người lính Mỹ, nhưng càng tiến gần sân bay thì tỉ lệ này càng thay đổi và chúng tôi thấy ít người Việt có súng hơn. Những nhân viên Mỹ cáu kỉnh và những thường dân khác chạy tới chạy lui, hầu hết đều cầm điện đàm áp sát bên tai. Nếu một người quân đội miền Bắc không kích chúng tôi vào lúc đó thì tôi không nghĩ rằng người ta sẽ nghe thấy.

Khi chúng tôi đến trạm kiểm tra cuối cùng, vì Bobbie không thể đưa ra giấy tờ xe nên những cảnh sát quân đội Mỹ yêu cầu chúng tôi ra khỏi xe. Điều này là sáng suốt, vì từ trước khi bị tai nạn, tôi được cảnh báo “những kẻ xâm lược” hay cho nổ tung bất thứ cái gì có bánh xe, mà người lái thường không biết. Vì thế, chúng tôi chuẩn bị đi bộ với hành lý trong suốt mấy trăm mét để đến sân bay mà không có Bobbie và con của cô. Dượng Al cố gắng thuyết phục họ đi với chúng tôi nhưng lý do ở lại của cô rất có lý. Mục đích của cô là hội ngộ với người chồng Việt ở lực lượng không quân, và nếu chú không phải ra chiến trường thì hẳn chú sẽ qua cổng chính như những người khác. Cái xe hơi kiểu Mỹ bự chảng của cô hẳn sẽ giúp chú tìm ra gia đình mình, và cô lý luận, bằng cách nào đó họ sẽ tìm ra nhau. Lại nữa, những lập luận hoàn hảo, nhưng dượng Al biết rằng cuối cùng thì vành đai căn cứ sẽ sụp đổ và toàn sân bay sẽ trở thành “nơi nhốt súc vật.” Giờ thì Bobbie và con của cô ở lại một mình.

Chúng tôi chỉ mới đi vài bước thì một đồng nghiệp cũ của dượng Al tên Bill vẫy chúng tôi đến. Sau khi trao đổi nhanh mấy câu với dượng Al, Bill nói chúng tôi đợi. Chú biến mất trong đám đông rồi sau đó xuất hiện với một chiếc xe buýt nhỏ “đi mượn,” loại xe thường dùng để chở phi hành đoàn đến chỗ máy bay đậu. Trong một chiếc xe công vụ với một người chỉ huy sau tay lái, chúng tôi chạy qua nhiều trạm kiểm khác và đi thẳng đến chỗ kiểm tra hộ chiếu. Bill thả chúng tôi ở đó và cho chúng tôi biết phải đến cửa sổ nào trước, rồi nói “Gặp lại sau nhé!” bằng một giọng đầy hi vọng và biến mất với chiếc xe buýt nhỏ.

Phía trong, chúng tôi cùng nhiều người khác, người này ngồi cạnh người kia liên tiếp nhau như những con chim bồ câu đứng trên hàng dây trong khi dượng Al lấy một mớ giấy tờ từ cửa sổ. Dượng cần mẫn điền từng tờ, mỗi người chúng tôi sẽ có nhiều tờ, rồi nộp lại cho người nhân viên sân bay, và quay lại chờ đợi. Bên ngoài, bóng tối đã tràn khắp và bầu trời xanh đã chuyển sang màu thẫm tím. Bên trong, những cuộc nói chuyện đầy lo âu trở thành những tiếng thì thầm, rồi im lặng. Trời chuyển tối và những bóng đèn huỳnh quang được thắp lên. Cái đồng hồ ở phía xa trong phòng điểm 20:00 – 8 giờ tối. Bubba nhấp nhổm không yên từ một tiếng trước và giờ nằm vắt qua đùi dì Thu. Bao tử của tôi đang gào réo, nhắc cho tôi nhớ rằng lần gần đây nhất chúng tôi được ăn là bữa trưa dang dở.

Cuối cùng, dượng Al đi đến quầy và gọi một nhân viên đang cau có. “Này anh,” dượng nói rắn rỏi, “Chúng tôi sống ở Đa Minh và không có phương tiện đi lại. Chúng tôi đã ở đây cả buổi chiều rồi, bọn trẻ đang rất đói. Chúng tôi đã điền đủ giấy tờ và nộp lại từ hai tiếng trước…”

Trong lúc dượng nói, người nhân viên nhìn chúng tôi và có lẽ cảm thông cho người đồng hương đang gặp nhiều rắc rối hơn là các thủ tục giấy tờ. “Được rồi, được rồi,” anh ta nói. “Ngồi yên đó, tôi sẽ gọi đến anh trong một phút nữa.”

Trong một giờ, chúng tôi đến xếp hàng để chụp hình. Dượng gom những giấy tờ quý giá của chúng tôi – hộ chiếu gia hạn cho dì dượng, tôi và Bubba, cùng với hộ chiếu mới cho Thủy và anh Quang. Gần như chúng tôi đã chuẩn bị xong cả và “có thể đi ngay,” người nhân viên nói, nhưng vẫn chưa đi được vì hầu như cả gia đình tôi là người Việt, không phải công dân Mỹ. “Các bạn còn phải làm thủ tục với Bộ Nội vụ. Lúc này thì bên đó đã đóng cửa, nhưng sáng ngày mai các bạn sẽ được xếp đầu tiên. Văn phòng của họ ở phía bên kia của sân bay.”

Dượng Al nổi điên lên nhưng không thể làm gì được. Chúng tôi đang ở trong một hệ thống, với những guồng máy quan liêu lề mề, dù cơn địa chấn của những người cộng sản đang ập đến cũng không thể làm nó nhanh hơn được. Việc này càng gây bực tức hơn, vì nhân viên Đại sứ quán đến gặp chúng tôi trưa nay nói rằng tất cả người Mỹ và người phụ thuộc phải lập tức rời nước, mà không nhắc tới những cái “nếu như,” “và,” hay “nhưng mà.” Lúc đó, ai mà quan tâm liệu tờ giấy này hay tờ giấy kia có được đóng mộc bằng đúng loại mực hay không? Chúng tôi đã đến sân bay an toàn, mỗi chuyện này không thôi cũng đã là kỳ tích rồi. Những phi cơ lớn – phương tiện trung chuyển và những hãng hàng không – chạy tới chạy lui tấp nập, không dám nấn ná lâu trên mặt đất, vậy thì chúng tôi có khác gì chứ? Chúng tôi là lý do khiến những chiếc phi cơ này có mặt ở đây! Tồi tệ hơn, tôi thấy nhiều người già trong số những người tị nạn. Tôi biết người nhân viên nói bà ngoại phải ở lại chỉ làm đúng công việc của mình, nhưng rất nhiều gia đình đã lờ đi quy định này và mỗi giờ trôi qua, còn nhiều gia đình khác cũng làm sai luật. Tôi hối tiếc muốn phát ốm lên vì đã không nài nỉ để bà ngoại đi cùng, dù không có gì đảm bảo dượng Al sẽ nghe tôi. Chiến thắng có thể sẽ về phía kẻ mạnh nhưng sự sống sót lại luôn đứng về phía người nhanh nhẹn và khôn ngoan.

May mắn là toà nhà mở cửa suốt đêm, và cùng hàng trăm gia đình khác với đồ đạc lỉnh kỉnh, chúng tôi tìm chỗ để ngủ – những băng ghế phẳng, những cái ghế xếp, những nơi mà tấm lưng mệt mỏi có thể tựa vào. Một vài gia đình đang ăn tối – hầu hết chỉ là đồ ăn vặt họ mang theo từ nhà. Những gia đình khác thì cử người đi tìm đồ ăn từ những xe bán hàng và những quầy hàng được cho phép ở lại. Cảm ơn Chúa là những vòi nước uống và nhà vệ sinh vẫn còn hoạt động được! Cuối cùng, em tôi và tôi cuộn lại như hai con mèo, gối đầu vào hành lý và tôi chìm vào giấc ngủ. Khi tôi thức dậy, đám đông trong khu vực chờ đã tăng gấp ba, những giọng nói thiếu kiên nhẫn đã đánh thức chúng tôi.

Những người đến trước như chúng tôi kéo nhau đến những chỗ tốt ở đầu hàng và hàng người này nhanh chóng dài ra như một đội múa lân. Tuy nhiên, sau khi hoàn tất thủ tục ở hàng này chúng tôi lại phải bắt đầu chờ đợi ở một hàng khác, nên những hàng dài cứ xé ra rồi hợp lại đều đặn như mỗi giây trôi qua. Trong khi chờ đợi, tôi nghe những người phụ thuộc người Việt khác – một vài người là nhân viên chính phủ địa phương hoặc đặc vụ người Mỹ – phàn nàn về quy trình này.

Thật vớ vẩn. Chỉ trong vài ngày nữa, những người duy nhất đọc những thứ này là Thượng tá hay cảnh sát mật của quân đội miền Bắc nhằm tìm ra ai bỏ đi, ai còn ở lại để bắt giữ. Họ nên đốt hết những giấy tờ này, chứ không phải tạo mới!

Nói đúng lắm! Việc tạo thêm nhiều thủ tục giấy tờ mới cũng vô nghĩa như việc sắp xếp lại những chiếc ghế trên con thuyền Titanic.

Xế chiều ngày 19 tháng 4, gia đình chúng tôi gần như đã hoàn tất thủ tục để đi, nhưng những thủ tục hành chính quyết định giữ chúng tôi lại thêm một ngày nữa. Những chiếc xe buýt nội thành được phân công chở một số ít người được chỉ định – ít nhất là vài trăm người gần chúng tôi nhất, nhưng ai đếm chứ? – để vào trung tâm thành phố ăn uống và ngủ lại qua đêm. Xe thả chúng tôi xuống đường Trương Minh Ký, ở đó chúng tôi cùng ở trong một phòng và ních no bụng món phở và cơm rau từ quầy thức ăn ở cuối đường. Trong khi chúng tôi ăn, dì Thu nói lên suy nghĩ của dì về việc quay lại Trại Cá bằng taxi để đón bà ngoại. Hi vọng bùng lên trong tim tôi. Anh Quang tình nguyện đi thay dì nhưng dượng Al gạt phăng toàn bộ ý tưởng.

“Không. Như vậy rất dễ chia tách nhau và không gì có thể đảm bảo những người đi sẽ có thể trở lại. Ngoài ra, con trai của anh Chiêu đang ở với mẹ, và anh Chiêu nói anh sẽ đích thân tới đó và coi ngó mọi việc. Nếu họ gặp rắc rối, anh ấy biết sẽ phải làm gì. Việc của chúng ta là ngồi yên và lên máy bay.”

Giờ thì tim tôi chùng xuống, nhưng dĩ nhiên là dượng nói đúng. Dù con đường ra khỏi thành phố thưa vắng nhưng dường như cả nước đang cố gắng đổ xô đi vào đây. Mọi con đường lớn nhỏ đều đầy nghẽn người tị nạn và ngay phía sau họ là những đoàn người từ miền Bắc và Việt Cộng. Ngoài ra, mười bảy tuổi với thân hình rắn chắc, anh Quang trông như người đã đủ tuổi nhập ngũ. Anh có thể bị bắn hay bị bắt bởi cả hai phe. Rủi ro này quá lớn.

Sáng ngày 20 tháng 4, xe buýt nội thành thả chúng tôi xuống cổng chính. Chúng tôi chìa thẻ của mình ra và xếp vào một hàng dài khác để chờ xe trung chuyển chở chúng tôi đến hải quan và phòng an ninh – trạm dừng cuối cùng của chúng tôi trước khi đến đường băng. Ở đó, chúng tôi xếp một hàng dài khác dọc theo những cái bàn và mở toang hành lý để người ta kiểm tra lần cuối. Điều này là hợp lý vì chúng tôi đã ra khỏi nơi này cả đêm, và có khả năng rằng một kẻ phá hoại nào đó đã lén bỏ một quả bom vào trong túi của ai đó. Chúng tôi hoàn toàn “sạch sẽ” nên được dẫn vào phòng chờ có cửa nhìn ra đường băng với những chiếc phi cơ cứ đều đặn đến và đi. Chúng tôi phấn khởi xếp một hàng dài gần cửa đôi dẫn ra cầu thang lên máy bay, nhưng không có ai – không tiếp viên, không nhân viên soát vé, không nhân viên mặt đất, không cảnh sát, không có ai hết – đến để mở cửa. Cuối cùng một người bạn của dượng Al – Bill – người đã cho chúng tôi đi nhờ xe ngày hôm trước, giờ xuất hiện với hành lý, đi một mình. Bằng cách nào đó chú đã tìm thấy chúng tôi trong mê cung những hàng dài và những tòa nhà. Chúng tôi chỉ hy vọng Bobbie và con trai cô cũng may mắn như vậy trong cuộc tìm kiếm vô vọng chồng mình.

Một tiếng sau, chúng tôi vẫn còn ngồi trên nền, tựa vào tường. Bubba muốn vào nhà vệ sinh – một lần nữa – nên chúng tôi thay phiên giữ chỗ cho nhau khi vào toilet. Tôi rất lo sợ rằng người ta sẽ gọi đến chuyến bay của chúng tôi khi tôi đang ở trong toilet nên cố nín cho đến khi nào hết chịu nổi, nhưng cuối cùng thì tôi cũng không nhịn được. Tôi không cần phải lo lắng như vậy. Chúng tôi vẫn còn ở lại phòng chờ suốt cả ngày và cho đến tối, tới mức ai nấy biết rõ chỗ nào bị nứt, chỗ nào bị bể trên sàn và trên tường. Chúng tôi được nhân viên an ninh xướng tên đầu tiên khi họ – như thường lệ – đi ngang qua để chỉ dẫn an toàn cho những hành khách đang lo lắng.

Rồi, khi cái đồng hồ treo tường của quân đội Mỹ chỉ đúng 22 giờ 23 phút – khoảng 10 giờ 30 phút tối, trong một đêm nhiều mây và buồn thảm – một nhóm nhân viên, lính gác trông có vẻ mệt mỏi đến khu vực của chúng tôi, cắt hàng, và cái cổng đôi cũng bật mở. Một người Mỹ bắt đầu đọc tên, bắt đầu bằng “Alvin Strauss và gia đình.”

Chúng tôi lũ lượt kéo đi.

Không khí đêm nặng trịch trên đường băng bao trùm khi chúng tôi bước đi trên những đôi chân tê cứng để đến chiếc xe buýt dẫn chúng tôi ra máy bay của mình. “Một chiếc C-130 Hercules,” dượng Al nói, nheo mắt nhìn qua cửa kính, “ngựa thồ của cuộc chiến.” Trong giọng của dượng có một sự tự hào buồn bã. Dượng đã thường xuyên đi trên những chiếc máy bay chở hàng lớn có bốn động cơ này suốt những năm dượng sống tại quê hương của tôi, và đây có thể là lần cuối cùng dượng thấy mình rời đi. Chiếc xe hòa vào dòng xe cộ mà tôi chỉ có thể nghĩ ngay đến giao thông trong giờ cao điểm. Xe buýt, xe tải, xe tải kéo, xe chở dầu, và xe nhân viên – nhiều xe với đèn pha chói sáng – đi về mọi phía, và phía trước chúng, trong đêm là hàng hàng những chiếc máy bay lớn, xe quân đội, hệ thống nguồn điện mặt đất đang kêu gào, những động cơ đang gầm rú, những thân máy bay khổng lồ thấy được nhờ đèn chiếu và hàng dài những cửa sổ sáng rực từ bên trong như những sọc sáng trên lưng một loài cá miền nhiệt đới.

Trên chuyến xe ngắn, tôi đột ngột nhận ra: Tôi đang rời khỏi Việt Nam và đang đến Mỹ. Quê hương của tôi sẽ không còn là nhà tôi nữa. Tôi có gặp lại bà ngoại không? Giờ thì tôi biết được rằng lẽ ra bà đã có thể ở cùng chúng tôi, và việc này càng làm cho nỗi buồn của tôi không thể chịu đựng được. Tôi đang rất lo cho bà, nghĩ rằng ngay lúc này đây những người cộng sản đã giành chiến thắng rồi, tôi nhớ lại những câu chuyện Ba kể về việc nhà bà ở miền Bắc bị tịch thu, và bà bị đá ra khỏi nhà, phải sống dựa vào những người bà con. Tôi biết bà sợ điều này sẽ lặp lại một lần nữa, và sau này cuối cùng tôi cũng biết được, điều này đã lặp lại.

Dù buồn và rất lo lắng, tôi phải thừa nhận rằng tôi cũng cảm thấy có chút mong chờ vào tương lai phía trước, một cuộc phiêu lưu mới mà chỉ sau ngày hôm nay thôi, và một ngày sau đó nữa thôi, tôi sẽ khám phá ra. Một cơn phấn khích bắt đầu nhen nhóm trong tôi và đột nhiên tôi rất háo hức muốn gặp một anh cao bồi Mỹ, giống như những người tôi đã thấy trong cái ti-vi trắng đen nhiều năm về trước.

Dượng Al nhìn đồng hồ khi chúng tôi xuống xe và tiến về phía cầu thang bên rìa máy bay. Chỉ mới hơn 11 giờ đêm. Như những con thú của Noah[14], chúng tôi xếp thành hai hàng và lên từng hai người một, đến ngồi vào những dãy ghế dài bên trong. Anh Quang và Thủy chưa từng thấy dây an toàn nên tôi ngồi giữa họ và đeo giúp họ. Giữa tiếng gầm rú của động cơ, mùi xăng dầu nồng nặc, ánh đèn pha sáng lóa, thành viên phi hành đoàn người Mỹ to lớn đi qua đi lại như phi hành gia với những chiếc tai nghe và đồng phục bay, Bubba hoảng sợ và bắt đầu khóc, nhưng tiếng khóc của em bị chìm trong âm thanh ầm ĩ khi chiếc cầu thang được kéo đi và tuốc-bin cánh quạt bắt đầu quay. Gần như ngay lập tức, chiếc máy bay khổng lồ từ từ nhích về phía trước, đột ngột khựng lại khi phi công kiểm tra phanh, rồi tiến lên, lượn vòng quanh cho đến khi đứng trên đường băng. Những động cơ lớn gầm lên, và tất cả chúng tôi đều nghiêng về một phía khi nó cất cánh. Và chẳng mấy chốc, mũi máy bay tiến lên trên, mang theo toàn bộ chúng tôi. Những bộ phận hạ cánh xếp lại. Dòng đèn màu xanh bên ngoài cửa sổ nhỏ nhanh chóng mất hút, và dượng Al lại nhìn đồng hồ.

Đúng 11 giờ 15 phút tối, cuộc chiến Việt Nam của chúng tôi kết thúc.

Phương Nam phát hành - NXB Phụ Nữ 7/2017
Nguồn: Việt Nam Thư Quan
Được bạn: Ct.Ly đưa lên
vào ngày: 17 tháng 8 năm 2026

« Lùi Tiến »

💬 Thảo luận

Chưa có bình luận nào — hãy là người đầu tiên chia sẻ cảm nhận của bạn!

Đăng nhập để tham gia bình luận.