Những Cậu Bé Hỏa Tiễn

Lượt đọc: 211 | 0 Đánh giá: 0/10 Sao
★★★★★★★★★★
★★★★★★★★★★
« Lùi Tiến »
1. COALWOOD

❊ ❊ ❊

CHO ĐẾN KHI bắt đầu chế tạo và phóng tên lửa, tôi không biết rằng nơi mình sinh ra đang tồn tại chiến tranh, đó là những cuộc chiến không vấy máu luôn đeo đuổi bậc làm cha mẹ về chuyện con cái sẽ sống thế nào trong tương lai; và bố mẹ tôi cũng không ngoại lệ. Tôi không biết rằng sau khi một cô gái làm tan nát trái tim bạn sẽ có một cô gái đức hạnh khác (ít nhất là trong tâm hồn) có thể hàn gắn lại nó trong cùng một đêm. Và tôi cũng không biết rằng entanpi suy giảm trong quá trình hội tụ có thể biến đổi thành động năng phản lực nếu có thêm quá trình phân kỳ. Nói chung, đó là những gì tôi rút ra, còn những thằng nhóc khác lại khám phá ra những lý lẽ riêng của chúng khi chúng tôi chế tạo tên lửa.

Coalwood, miền Tây Virginia, nơi tôi lớn lên, được xây dựng nhằm phục vụ cho việc khai thác hàng triệu tấn than đen mềm nằm dưới lòng đất. Vào năm 1957, khi tôi vừa 14 tuổi và bắt đầu chế tạo tên lửa, có khoảng 2.000 người sinh sống tại Coalwood. Bố tôi, Homer Hickam, làm công việc giám sát mỏ, và nhà chúng tôi nằm cách lối vào mỏ (một hầm thẳng đứng sâu gần 243m) chỉ vài trăm mét. Từ cửa sổ phòng ngủ, tôi có thể thấy cái tháp bằng thép đen tọa lạc trên đường hầm cùng những người công nhân tất tả ra vào mỏ làm việc.

Tại một đường hầm khác, có nhiều đường ray dẫn tới đây, là nơi được dùng vào việc chuyên chở than ra ngoài. Nơi bốc dỡ và phân loại than gọi là “nhà than”. Vào những ngày trong tuần, và ngay cả những thứ bảy đẹp trời, tôi có thể thấy hàng đoàn xe than đen chạy vào nhà than, chất đầy các đợt hàng; và rồi những đầu máy xe lửa phun khói mù mịt kéo chúng rời bến. Suốt cả ngày, âm thanh ầm ĩ phát ra từ pittông của những đầu xe lửa hơi nước vang rền khắp thung lũng nhỏ của chúng tôi, cả thị trấn rung lên theo từng tiếng rít chói tai của thép chạm vào nhau mỗi khi đoàn tàu chuyển bánh. Tầng tầng lớp lớp khói bụi than bốc lên từ các toa tàu không mui che lấp mọi thứ, len lỏi qua những khung cửa sổ và trườn vào dưới những cánh cửa nhà. Trong suốt tuổi thơ tôi, mỗi khi tôi giũ chăn, một lớp bột đen lấp lánh tung ra trước mắt. Mỗi lần tôi tháo giày vào ban đêm, đôi tất của tôi đều nhuốm bụi than đen kịt.

Nhà của chúng tôi, như tất cả những nhà khác ở Coalwood, đều thuộc sở hữu của công ty. Công ty tính một khoản tiền thuê nhỏ hàng tháng và tự động trừ vào lương thợ mỏ. Một số nhà trệt nhỏ chỉ có một hay hai phòng ngủ. Số còn lại là nhà một tầng dành cho hai hộ ở, trước đây dùng làm nhà trọ cho đám thợ mỏ độc thân vào những năm 1920 thịnh vượng; sau đó được phân ra thành nhà riêng cho nhiều gia đình trú ngụ vào thời kỳ Suy thoái kinh tế. Cứ mỗi năm năm, tất cả những căn nhà đều được công ty sơn lại màu trắng nhưng rồi chúng nhanh chóng chuyển thành màu xám do bụi than. Cho nên mỗi độ xuân sang, từng gia đình đều tự động xịt nước, chà rửa bên ngoài cho nhà cửa sạch sẽ hơn.

Mỗi căn nhà ở Coalwood sở hữu một khoảng sân vuông với hàng rào che chắn. Nhà tôi có được khoảng sân to nhất thị trấn; nơi đó Mẹ tôi trồng một vườn hồng. Để chăm sóc nó, bà vác trên vai cả bao tải đất từ những ngọn núi về, rồi bón phân, tưới nước và tỉ mỉ tỉa tót từng bụi hồng. Rồi khi xuân đến hạ sang, bà được tưởng thưởng với những đóa hồng đỏ thắm cùng những nụ phớt hồng, vàng nhã còn chúm chím; tất cả toát ra các sắc màu lộng lẫy tương phản mạnh mẽ với màu xanh dày đặc của rừng cây bao bọc xung quanh chúng tôi và với màu đen, xám của khu mỏ đầu đường.

Nhà tôi nằm ngay góc đường, nơi đại lộ rẽ về phía đông hướng đến khu mỏ. Ngoài ra còn có một con đường được công ty mở dẫn tới trung tâm thị trấn. Nó được gọi là đường Cái, chạy dài xuống thung lũng, nhiều đoạn nhỏ đến nỗi một cậu bé có đôi tay khỏe có thể ném hòn đá từ bên này sang bên kia đường. Vào mỗi buổi sáng suốt ba năm trước khi lên cấp 3, tôi đạp xe với chiếc túi to đùng bằng vải bạt trắng quàng ngang vai đi giao tờ Greenfield Daily Telegraph dưới thung lũng đó, băng qua trường Coalwood, ngang những dãy nhà nằm dọc theo con sông nhỏ, rồi lên đến những khu khác đối diện với dãy núi. Cách đường Cái một dặm là một lòng chảo lớn trong những ngọn núi, hình thành nên hai nhánh sông giao nhau. Nơi đây hiện diện văn phòng, nhà thờ, khách sạn Club House, cao ốc bưu điện, nơi ở của bác sĩ, nha sĩ và cả cửa hàng của công ty (được gọi là Big Store). Xa xa trên ngọn đồi tọa lạc một ngôi nhà to hình tháp pháo, nơi ở của tổng quản lý, người được phái xuống bởi chủ của chúng tôi từ Ohio, nhằm giám sát mọi tài sản của họ. Dọc theo đường Cái về phía Tây giữa hai ngọn núi hiện hữu khu nhà ở của thợ mỏ mang tên Middletown và Frog Level. Hai nhánh đường dẫn đến những lòng chảo của các ngọn núi thẳng đến những khu trại “da màu” của Mudhole và Snakeroot. Con đường lát đá kết thúc ở đó, và tiếp theo là những đường mòn mù bụi, chằng chịt vết bánh xe.

Trên lối vào Mudhole, thấp thoáng một nhà thờ nhỏ bằng gỗ, được cai quản bởi Đức cha Richard “Bé Nhỏ”. Ông được gán cho cái tên “Bé Nhỏ” vì có sự tương đồng với một ca sĩ nhạc Soul. Không có ai ở Mudhole Hollow đặt báo cả, nhưng bất cứ khi nào còn dư một tờ, tôi đều để dành cho nhà thờ nhỏ này, và năm qua tháng lại, tôi và Đức cha Richard đã trở thành bạn của nhau. Tôi thích nhất khi ông rảnh rỗi ra ngoài cổng vòm nhà thờ, kể cho tôi một mẩu chuyện trong Kinh Thánh; mỗi lúc như vậy, tôi đều ngồi chống chân trên xe đạp và lắng nghe giọng kể vang vọng của ông. Tôi đặc biệt ngưỡng mộ cái cách ông miêu tả khi Daniel trong hang sư tử. Nhất là khi cặp mắt ông lồi ra diễn tả sự ngạc nhiên của những kẻ bắt giữ Daniel, lúc chúng nhìn xuống và thấy người tù nhân đang lang thang trong hầm với đôi tay ôm lấy đầu con sư tử to lớn; lúc đấy tôi chỉ biết cười một cách cảm phục. “Đó chính là Daniel, vâng, trong ông ấy có Chúa,” Đức cha tóm lại câu chuyện bằng một nụ cười tủm tỉm, trong khi tôi vẫn không ngừng cười rúc rích, “Và điều đó khiến ông ấy trở nên dũng cảm. Còn cậu thì sao hả con trai? Cậu có Chúa trong lòng hay không?”

Tôi phải thú thật rằng tôi không chắc về điều đó, nhưng Đức cha trấn an tôi: “Không sao, Chúa luôn che chở cho những kẻ ngu ngốc và say xỉn,” và rồi ông tiếp lời kèm một cái cười ngoác miệng, lộ cả chiếc răng cửa bịt vàng: “Và ta nghĩ rằng ngài sẽ luôn dõi theo con, Hickam ạ!” Và rất nhiều lần trong chuỗi ngày về sau, mỗi khi gặp khó khăn, tôi lại nghĩ đến Đức cha Richard, từ những điều hài hước về niềm tin đối với Chúa đến thói quen ưa nghĩ “mọi thứ đều không hoàn hảo” của ông. Mặc dù điều này không hẳn làm cho tôi dũng cảm như Daniel xưa kia, nhưng ít nhất nó luôn làm cho tôi hy vọng rằng sẽ có Chúa giúp tôi vượt qua gian khó.

Nhà thờ của công ty nằm trên ngọn đồi um tùm cỏ, nơi hầu hết những người da trắng trong thị trấn đều lui tới. Vào những năm 50, nhà thờ được giao phó cho một công nhân của công ty Đức cha Josiah Lanier,

một thành viên của hội Giám Lý; và chúng tôi nghiễm nhiên gia nhập vào giáo phái của người thuyết pháp mà công ty thuê về. Trước khi gia nhập vào hội Giám Lý, tôi từng gia nhập hội Tin Lành, và có một năm là Pentecostal. Người thuyết giáo của Pentecostal từng đe dọa phụ nữ, cảnh báo về cái chết, phun lửa và lưu huỳnh từ bục giảng kinh. Sau khi hợp đồng của người này chấm dứt thì Đức cha Lanier đến tiếp quản.

Tôi tự hào vì được sống tại Coalwood. Theo những gì từ các cuốn sách lịch sử của miền Tây Virginia ghi lại thì chưa từng có ai sống trong những thung lũng và các ngọn đồi của tỉnh McDowell trước khi chúng tôi đến khai thác than ở đây. Mãi đến đầu thế kỷ 19 mới có bộ tộc Cherokee[3] thỉnh thoảng đến săn bắn, nhưng họ cảm thấy rằng địa hình nơi này quá gồ ghề và chẳng lấy gì làm hấp dẫn nên đã không định cư. Một lần, khi đó tôi 8 tuổi, tôi tìm thấy một mũi tên bằng đá cắm trên gốc của cây sồi cổ thụ đã bị chặt ở ngọn núi phía sau nhà tôi. Mẹ tôi bảo rằng chắc hẳn đã có một chú nai nào đó đã may mắn thoát chết ngày ấy. Tôi quá đỗi hứng thú về khám phá của mình đến nỗi tự sáng tạo ra một bộ tộc Da Đỏ mang tên Coalhicans, rồi cố gắng thuyết phục những đứa bạn chơi cùng tôi - Roy Lee, O’Dell, Tony, Sherman - tin rằng bộ tộc đó thật sự hiện hữu. Chúng cùng tôi lấy nước ép quả mâm xôi vạch từng vạch lên mặt và cài lông gà lên tóc. Những ngày sau đó, bộ tộc nhỏ của những tên man rợ chúng tôi tiến hành các cuộc đột kích và gây ra cuộc thảm sát rộng khắp Coalwood. Chúng tôi bao vây Club House, với những cung tên bằng gỗ bạch dương và những mũi tên vô hình, chúng tôi nhắm bắn vào đám thợ mỏ đơn lẻ vừa bước vào đây sau giờ làm việc. Nhiều người vì nuông chiều chúng tôi đã ngã lăn ra rồi quằn quại như thật trên bãi cỏ được cắt tỉa cẩn thận của Club House. Khi chúng tôi tổ chức mai phục ở cửa của nhà than, nhiều thợ mỏ bị cuốn vào cuộc chơi, reo hò và đáp trả lại ngọn lửa tưởng tượng của chúng tôi. Bố tôi quan sát thấy sự việc từ văn phòng của mình và bước ra để thiết lập lại trật tự. Mặc dù tất cả những người Coalhicans gan dạ đều trốn thoát về đồi núi, nhưng tộc trưởng của họ bị nhắc nhở vào bữa ăn khuya hôm đó rằng khu mỏ dành cho công việc, không phải để chơi đùa.

Khi chúng tôi phục kích một số đứa trẻ lớn tuổi hơn, chúng đang đóng vai những chàng cao bồi trên núi, trong đó có cả anh Jim của tôi, thì một trận đánh giả đã nổ ra rất khốc liệt. Cho đến khi Tony leo lên cây để quan sát thế trận rõ hơn, vô tình giẫm phải một cành mục, té nhào xuống đất gãy cả tay. Tôi kết một cái cáng từ những cành cây nhỏ và chúng tôi khiêng chàng chiến binh vĩ đại về nhà. “Thầy lang” Lassiter, bác sĩ của công ty, lái chiếc xe Packard cũ kĩ đến nhà Tony và bước vào nhà. Khi nhìn thấy lũ nhóc chúng tôi vẫn còn đeo lông trên đầu và mặt đầy những vết màu của thổ dân bôi khi ra trận, ông tự xưng là “thầy thuốc vĩ đại”. “Thầy lang” nắn xương và bó bột cho Tony. Tôi vẫn còn nhớ như in rằng mình viết lên đó dòng chữ: “Này Tony, lần sau nhớ chọn một cái cây tốt hơn nhé!”. Cùng năm ấy, người cha nhập cư từ Ý của Tony đã thiệt mạng trong hầm mỏ. Cậu ấy cùng mẹ rời khỏi thị trấn và từ đó không còn ai nghe tin tức gì về họ nữa. Điều này đối với tôi không bất thường chút nào: Một gia đình ở Coalwood cần một người bố làm việc cho công ty. Công ty và Coalwood tuy hai mà một.

Hầu hết những gì tôi biết được về lịch sử Coalwood và cuộc sống trước kia của bố mẹ là vào lúc cả nhà quây quần tại bàn ăn mỗi khi dọn dẹp xong chén đĩa của bữa ăn khuya. Khi đó, Mẹ thường nhâm nhi một tách cà phê, Bố thì thưởng thức một ly sữa; nếu họ không tranh cãi về một vấn đề gì đó, họ sẽ bàn luận về mọi người và những việc xảy ra trong thị trấn: những gì diễn ra ở khu mỏ, chuyện gì vừa được đề cập tại buổi họp mặt vừa rồi ở Câu lạc bộ Phụ nữ, thỉnh thoảng còn có những chuyện ngày xưa. Anh Jim tỏ ra rất ngán nghe những câu chuyện này và thường lảng về phòng, còn tôi thì luôn ở lại háo hức thưởng thức những câu chuyện mà cha mẹ kể.

Ông George L. Carter, người sáng lập nên Coalwood, đã đến đây vào năm 1887 trên lưng một con la, ông không tìm thấy gì hơn là khung cảnh thiên nhiên hoang dã; nhưng sau một hồi đào bới, ông đã khám phá ra vỉa than có chứa than bitum[4] nhiều nhất thế giới. Sau đó, ông quyết tâm thử vận may của mình, mua lại vùng đất từ những người chủ đã bỏ bê nó và bắt đầu xây dựng khu mỏ. Không chỉ vậy, ông còn cho xây cất nhà cửa, trường học, nhà thờ, kho chứa, tiệm bánh mì, và cả nhà máy sản xuất nước đá. Ông còn thuê bác sĩ và nha sĩ về săn sóc sức khỏe miễn phí cho công nhân và người nhà của họ. Năm tháng qua đi, khi công ty sản xuất than của ông làm ăn phát đạt, ông Carter cho đổ bê-tông những vỉa hè, lát đường, xây hàng rào cho thị trấn để ngăn lũ bò khỏi đi lang thang xuống đường phố. Ông Carter muốn cho công nhân của mình một nơi ở tươm tất. Đổi lại, ông đòi hỏi họ phải làm việc thật nghiêm túc. Từ đó Coalwood trở thành một nơi công việc được đặt lên hàng đầu với đầy rẫy những khó khăn, đau đớn, dơ bẩn và cả chết chóc nữa.

Khi con của ông Carter trở về từ Thế chiến thứ nhất, anh dẫn theo người sĩ quan chỉ huy của mình, người đã tốt nghiệp đại học Stanford như một kỹ sư xuất sắc và có kiến thức xã hội tài hoa. Anh tên William Laird và được mọi người trong thị trấn kính trọng gọi bằng cái tên Đội Trưởng. Đội Trưởng là một người cởi mở, cao to, chừng 1,98m; anh luôn coi Coalwood là một phòng thí nghiệm, nơi đem đến hòa bình, sự thịnh vượng và thanh thản cho người dân. Từ khi ông Carter thuê anh phụ trách mọi qui trình hoạt động của khu mỏ, anh bắt đầu áp dụng vào đây những kỹ thuật khai thác tiên tiến nhất. Những hầm thông gió được xây cất, mô-tơ điện tự động được thay thế những con la để chở than từ hầm mỏ lên mặt đất. Sau đó, Đội Trưởng cho ngừng việc đào bới bằng tay và thay vào đó là những chiếc máy khổng lồ (được gọi là những thợ mỏ không ngừng nghỉ) để tách than ra khỏi quặng. Hơn thế nữa, Đội Trưởng còn khuếch trương quy mô dự án xây dựng của ông Carter. Anh cung cấp cho mỗi thợ mỏ một ngôi nhà tích hợp hệ thống ống nước, lò sưởi ấm áp vào buổi sáng trong phòng khách và các thùng đựng than luôn được công ty đổ đầy than. Nhằm cung cấp nước cho toàn thị trấn, anh dẫn đường ống từ một cái hồ nguyên thủy nằm sâu hàng nghìn thước dưới lòng đất. Anh còn xây dựng công viên ở hai đầu thị trấn, tài trợ cho Câu lạc bộ Hướng đạo sinh Nam, Hướng đạo sinh Nữ, Chim Non (nữ hướng đạo sinh từ 8-11 tuổi), Ấu sinh Hướng đạo và Câu lạc bộ Phụ nữ. Anh tích góp sách làm thư viện trường, xây sân chơi cho trường học và một sân bóng nữa. Để giải quyết việc sóng hay bị nhiễu do nằm khuất núi, anh dựng cột ăng-ten trên đỉnh núi và cung cấp miễn phí một trong những hệ thống tivi cáp đầu tiên tại Hiệp chủng quốc Hoa Kỳ.

Mặc dù mọi thứ không được hoàn hảo cho lắm, tình trạng căng thẳng giữa thợ mỏ và công ty luôn xuất hiện, hầu hết là về chuyện lương bổng; nhưng trong thời gian đó ở Coalwood, nạn bạo lực, nghèo đói, khốn khổ vẫn ít hơn rất nhiều so với những thị trấn khác tại miền Tây Virginia. Tôi vẫn nhớ những lần ngồi trên cầu thang trong bóng tối, lắng nghe Poppy, ông nội tôi, trò chuyện với Bố trong phòng khách về “vùng Mingo đẫm máu”, một tỉnh cách thị trấn chúng tôi một con đường. Nội Poppy từng làm việc tại đó một thời gian đến khi cuộc chiến nổ ra giữa liên minh thợ mỏ và những “thám tử” của công ty. Hàng tá người thiệt mạng và hàng trăm người bị thương trong cuộc chiến không cân sức với súng máy, súng lục và súng trường. Để thoát khỏi bạo lực, nội Poppy đem gia đình tới tỉnh Harlan ở Kentucky; đến khi chiến tranh lại nổ ra ở đó, họ lại dời tới tỉnh McDowell, tại đây, ông nội làm việc cho khu mỏ Gary. Có thể xem đó là một sự cải thiện không tồi, nhưng ở Gary vẫn xảy ra biểu tình, nhà máy đóng cửa và đổ máu triền miên.

Vào năm 1934, khi Bố tôi 22 tuổi, Bố vào làm thợ mỏ cho công ty của ông Carter vì ông nghe ngóng được rằng có thể có cuộc sống tốt tại Coalwood. Gần như lập tức, Đội Trưởng đã nhìn thấy điều gì đó (có lẽ là một tia sáng le lói từ sự thông minh chưa được mài giũa) ở anh chàng ốm o, nghèo đói đến từ Gary này và ông đã làm người bảo trợ cho Bố. Vài năm sau đó, Đội Trưởng thăng Bố lên làm quản đốc bộ phận, dạy Bố cách quản lý nhân sự và vận hành khu mỏ, làm cho Bố thấm nhuần viễn cảnh về một thị trấn sung túc.

Sau khi Bố lên làm quản đốc, ông thuyết phục ông nội nghỉ việc ở mỏ Gary rồi chuyển về Coalwood, nơi không có hội liên hiệp và ai cũng có thể làm ăn yên ổn nơi đây. Ông còn viết thư cho Elsie Lavender, một bạn học nữ cùng lớp trong trường trung học Gary đã chuyển đến sống một mình tại Florida, thuyết phục cô quay về miền Tây Virginia để kết hôn với ông. Nhưng cô đã từ chối. Mỗi lần câu chuyện được kể đến đây, Mẹ luôn xen vào và nói rằng bức thư Mẹ nhận được sau đó là của Đội Trưởng, ông đã nói cho Mẹ biết rằng Bố yêu và cần Mẹ đến mức nào, rằng Mẹ có thể hãy bỏ cái kiểu bướng bỉnh ấy đi để quay về Coalwood kết hôn với Bố hay không? Mẹ đã nhận lời ghé thăm Coalwood; rồi trong một buổi tối đi xem phim tại Welch, Bố lại cầu hôn Mẹ. Lần này Mẹ nói rằng nếu Bố có vỏ bao thuốc lá nhai hiệu Con la Nâu (Brown Mule) trong túi thì Mẹ sẽ đồng ý; kì lạ thay Bố có một bao và họ đã nên duyên từ dạo ấy. Đó có vẻ là một quyết định mà về sau Mẹ đôi lúc hối hận nhưng cũng chẳng thay đổi bao giờ.

Nội Poppy làm việc ở khu mỏ Coalwood đến năm 1943, tai nạn xảy ra khi một chiếc xe mỏ trật đường ray cán đứt chân ông đến tận háng; từ đó nội phải sống suốt đời mình trên chiếc ghế. Mẹ bảo tôi, sau tai nạn, nội Poppy luôn chìm trong nỗi đau bất tận. Để nguôi ngoai phần nào, ông đọc gần hết những cuốn sách trong Thư viện Tỉnh ở Welch. Mẹ kể rằng mỗi khi bố mẹ đến thăm ông, Poppy đau đớn đến mức không nói được, và điều này thường làm Bố khổ sở và trăn trở không nguôi những ngày sau đó. Cuối cùng, may thay một bác sĩ đã kê toa paregoric[5] cho ông nội, từ khi chích thuốc đều đặn, Poppy đã tìm được chút bình yên. Bố thấy rằng từ bây giờ nội Poppy chỉ cần paregoric để sống và Mẹ cũng không còn thấy Poppy đọc thêm cuốn sách nào từ lúc đó nữa.

Bố luôn rất trung thành và tận tụy làm việc cho Đội Trưởng và công ty nên trong tuổi thơ tôi có rất ít hình ảnh của ông. Bố luôn làm việc tại mỏ, tranh thủ ngủ trước khi đến khu mỏ và đi nghỉ ngay sau khi làm việc về. Năm 1950, khi Bố 38 tuổi, ông bắt đầu bị ung thư ruột kết. Vào lúc đó, Bố tăng ca gấp đôi, dẫn dắt một toán thợ đào sâu vào mỏ để phá vỡ tảng đá khổng lồ chắn ngang. Đội Trưởng tin rằng sau lớp sa thạch dày đặc đó sẽ là một quặng than lớn tiềm tàng. Do vậy không còn gì quan trọng hơn với Bố bằng việc xuyên thủng vách ngăn đó để chứng minh rằng Đội Trưởng nghĩ đúng! Sau nhiều tháng bỏ mặc những triệu chứng nghiêm trọng của bệnh ung thư, Bố đã ngất xỉu ngay trong hầm mỏ và công nhân phải khiêng ông ra ngoài. Người ngồi trên xe cứu thương cùng Bố là Đội Trưởng (chứ không phải Mẹ tôi) đến bệnh viện ở Welch. Ở đó những vị bác sĩ giúp cho Bố có cơ hội sống sót mong manh. Trong khi Đội Trưởng được chứng kiến cuộc phẫu thuật thì Mẹ phải ngồi ở phòng chờ tại bệnh viện Stevens. Sau khi bị cắt bỏ một khúc ruột lớn, Bố làm mọi người ngỡ ngàng vì ông quay lại làm việc chỉ sau một tháng. Một tháng sau đó, đắm chìm trong việc đục khoan, bụi mù hòa lẫn với những giọt mồ hôi mặn đắng, toán thợ mỏ của Bố đã phá tan được vách ngăn và tìm ra một quặng than đen, mềm, tinh khiết chưa từng có. Mặc dù vậy, không có một buổi ăn mừng nào diễn ra. Bố về nhà, tắm rửa sạch sẽ rồi ngủ vùi suốt hai ngày. Sau đó Bố thức dậy và đi làm lại bình thường như mọi ngày.

Có ít nhất một vài lần cả nhà tôi quây quần bên nhau. Khi tôi còn nhỏ, tối thứ bảy là lúc cả gia đình đi đến điểm dừng chân của Welch, cách nhà bảy dặm và cách Coalwood một quả núi. Welch là một thị trấn thương mại nhỏ nhộn nhịp nằm cạnh sông Tug Fork, với những con đường nghiêng dốc tụ tập đầy đám đông của thợ mỏ và gia đình họ đến đây mua sắm. Phụ nữ thì người dắt tay, kẻ bồng con rảo từ hàng này sang hàng khác. Trong khi đó, chồng của họ lững thững đi phía sau trò chuyện với bạn bè về khai thác mỏ hay về bóng bầu dục, thường thì họ vẫn còn nguyên quần áo và mũ bảo hộ lao động trên người.

Trong lúc bố mẹ loanh quanh ở những cửa hàng, tôi cùng anh Jim đóng đô tại rạp hát Pocahontas, xem phim cao bồi và phim phiêu lưu dài tập cùng hàng trăm đứa trẻ con nhà thợ mỏ khác. Jim không bao giờ nói chuyện với những đứa trẻ khác còn tôi thì luôn hỏi thăm xem những bạn trai hay gái ngồi cạnh tôi từ đâu tới. Tôi luôn cảm thấy thích thú mỗi khi làm quen được với những đứa trẻ đến từ những nơi lạ lùng như Keystone hay Iaeger, những thị trấn khai thác mỏ khác nằm phía bên kia tỉnh. Đến lúc tôi xem xong một phim truyện hai tập, bố mẹ đến đón anh em tôi đi dạo quanh Welch và tiếp tục mua sắm cho xong, thì cũng là lúc tôi đã thấm mệt. Vì vậy, tôi luôn ngủ gục ở băng ghế sau trên đường về nhà. Khi về đến Coalwood, Bố thường xốc tôi lên vai rồi cõng vào giường. Đôi khi tôi chỉ giả vờ ngủ để tận hưởng cảm giác được Bố nâng niu, chạm vào người mình.

Thay ca là sự việc diễn ra thường ngày ở Coalwood. Trước khi mỗi ca bắt đầu, thợ mỏ rời căn hộ của mình đi thẳng đến nhà than. Tại đây những người thợ mỏ vừa tan ca, nhuốm đen trong bụi than và mồ hôi nhễ nhại, xếp thành một hàng khác và di chuyển từ nhà than theo chiều ngược lại. Suốt từ thứ hai đến thứ sáu, những hàng người tập hợp lại rồi giao nhau, đến khi hàng trăm thợ mỏ đứng đầy các con đường. Trong bộ quần áo và mũ bảo hộ lao động, họ làm cho tôi liên tưởng đến các chiến sĩ miệt mài, dũng cảm nơi tiền tuyến trong những thước phim phóng sự.

Như mọi người khác ở Coalwood, tôi sống theo nhịp điệu của các ca làm việc. Tôi bị đánh thức vào buổi sáng bởi những bước chân nặng nề và tiếng va chạm lích kích của những hộp cơm trưa khi toán thợ mỏ ca sáng đi ngoài đường; tôi ăn khuya sau khi Bố giám sát xong những người làm ca đêm xuống hầm mỏ; và rồi tôi đi ngủ trong tiếng búa trên đe, tiếng máy hàn hồ quang điện khô khốc phát ra từ một cửa hàng điện máy nhỏ trong khi ca làm khuya diễn ra với tiếng hú văng vẳng giữa đêm. Đôi khi, đám trẻ tiểu học chán chơi đùa trong núi, không còn thích ném bóng cạnh các gara xe cũ hoặc đóng đô trên khu đất trống sau nhà tôi, chúng tôi sẽ giả làm những người thợ mỏ và gia nhập vào hàng ngũ công nhân đến nhà than. Đến nơi, chúng tôi đứng qua một bên, quan sát những người thợ buộc đèn vào đầu và sắp xếp dụng cụ. Một hồi chuông vang lên báo hiệu giờ vào hầm. Sau khi họ bị nuốt chửng vào lòng đất, mọi thứ trở nên im ắng một cách lạ thường. Giây phút đó đem lại cảm giác bất an, nhưng rồi lũ trẻ con chúng tôi lại hồ hởi quay lại với những trò chơi thường ngày, chúng tôi la hét ầm ĩ hơn thường lệ nhằm phá tan những phép thuật mà nhà than đã mê hoặc chúng tôi.

Coalwood được bao bọc bởi núi rừng trùng điệp với vô số hang động, mỏm đá, giếng khí, tháp báo động hỏa hoạn và những hầm mỏ bỏ hoang luôn trông chờ lũ nhóc chúng tôi khám phá và tái khám phá khi chúng tôi đã trưởng thành. Mặc dù các bà mẹ ngăn cấm nhưng chúng tôi vẫn chơi đùa quanh đường ray xe lửa. Ý kiến thường được đưa ra nhất là đặt một đồng xu lên đường ray rồi chờ cho toa xe chạy ngang qua cán dẹp nó. Mỗi đứa trong bọn tôi đều lần lượt làm như vậy cho đến khi xài hết khoản trợ cấp nghèo nàn của mình. Cố nín cười, bọn tôi dùng những miếng đồng bẹp dí ấy để mua kẹo ở cửa hàng của công ty. Người bán hàng đã quá quen với việc này qua bao nhiêu năm nên chẳng buồn lên tiếng khi nhận tiền; hẳn họ phải chứa hàng đống tiền xu bẹp trong kho qua bao nhiêu thập kỉ.

Còn để tạo ra những tiếng động, không gì mỹ mãn hơn việc trèo lên chiếc cầu của trường Coalwood rồi ném những chiếc vỏ chai xuống những toa xe chở than trống rỗng đang chạy vào nhà than. Khi toa xe chất đầy than và dừng lại dưới chân cầu, một số cậu nhóc dũng cảm nhảy vào trong đấy, vùi mình đến khi than ngập tới ngang hông. Tôi cũng đã cố thử một lần và chỉ vừa kịp thoát ra khi xe lửa bất thình lình chuyển bánh đi về Ohio. Tôi di chuyển một cách khó khăn trong đống than, leo ra cầu thang bên hông toa xe rồi nhảy lăn xuống đất; hai tay, cùi chỏ và đầu gối tôi nhuốm màu đen của những đống than xung quanh đường ray. Mẹ đã không nới tay khi cạo sạch than trên người tôi bằng bàn chải cứng và xà phòng Lava làm da tôi đau buốt, ê ẩm suốt một tuần sau đó.

Những khi không ra ngoài chơi, tôi thường ngồi đọc sách hàng giờ liền. Tôi cực kì mê sách, có lẽ đó là kết quả của nền giáo dục có một không hai của thầy cô ở trường Coalwood, những người được mệnh danh là “Bộ Sáu Siêu Đẳng” - cách nói lệch đi của cụm từ “các cấp từ 1 đến 6”. Qua nhiều năm, sáu giáo viên này đã chứng kiến bao thế hệ học sinh của Coalwood đi qua lớp học của họ. Thầy Likens, hiệu trưởng trường Coalwood, quản lý những học sinh cấp trên một cách chặt chẽ, còn lại “Bộ Sáu Siêu Đẳng” nắm đầu tất cả những cấp lớp còn lại. Việc tôi đọc sách là một điều rất quan trọng đối với sáu giáo viên này. Bước vào lớp hai, tôi đã cực kì quen thuộc và đủ khả năng để thảo luận một số chi tiết trong cuốn Tom Sawyer và Chiếc lều của bác Tôm. Riêng cuốn Huckleberry Finn thì phải đến lớp 3 tôi mới được đọc, càng giấu kĩ cuốn sách ấy càng giày vò sự tò mò của tôi, như thể nó chứa đựng một bí mật gì ghê gớm lắm của cuộc sống. Cuối cùng, đến khi tôi được phép đọc nó, tôi mới hiểu rõ rằng nó không phải chỉ đơn thuần là một câu chuyện về việc kết bè thả trôi sông mà nó kể về một câu chuyện mãi đi vào lịch sử Mỹ với bao vinh quang lẫn ô nhục.

Tủ sách có đủ các truyện hay như Tom Swift, Song sinh nhà Bobbsey, Những người khốn khổ, và Nancy Drew được đặt ngay phòng trước của trường và lúc nào cũng sẵn sàng cho học sinh mượn đọc. Tôi đọc ngấu nghiến, say mê đắm chìm vào những cuộc phiêu lưu trong từng cuốn sách. Khi lên lớp 4, tôi bắt đầu lên thư viện của cấp 2 ở tầng trên, tìm đọc bộ truyện Những con ngựa đen. Tại đó, tôi khám phá ra Jules Verne. Tôi mê mẩn những cuốn sách của ông, chúng không chỉ chứa đầy những cuộc phiêu lưu mà còn nói về những nhà khoa học, những kỹ sư tài ba với bao thành tựu, kiến thức vĩ đại bậc nhất mà loài người luôn phải theo đuổi. Sau khi tiêu hóa hết số tác phẩm của Jules Verne, tôi luôn là đứa xếp hàng đầu tiên mượn những cuốn sách của các tác giả viết tiểu thuyết khoa học viễn tưởng hiện đại như Heinlein, Asimov, van Vogt, Clarke và Bradbury. Tôi thích tất cả, trừ những điều quá sức tưởng tượng. Tôi chẳng màng đọc sách về những anh hùng có thể đọc được ý nghĩ của người khác, đi xuyên qua tường hay thi triển phép thuật. Những anh hùng mà tôi thần tượng phải thật can đảm và hiểu biết về thực tế nhiều hơn những kẻ chống lại họ. Đến khi “Bộ Sáu Siêu Đẳng” theo dõi kỉ lục tựa sách mà tôi đã mượn và phát hiện ra rằng có quá nhiều truyện phiêu lưu và khoa học viễn tưởng, họ mới chỉ định những tác giả khác để cân bằng lại cho tôi, như Steinbeck, Faulkner, và F.Scott Fitzgerald. Dường như suốt những năm tiểu học tôi đọc hai loại sách, một dành cho tôi và loại kia... dành cho thầy cô.

Với tất cả kiến thức và sự thoải mái mà những cuốn sách tôi đọc lúc bé đem lại, chúng xóa nhòa năm tháng xưa của tôi ở Coalwood. Hầu hết những thằng con trai trưởng thành ở Coalwood mà tôi biết đều gia nhập quân đội hoặc làm thợ mỏ. Tôi thì chẳng biết tương lai mình sẽ như thế nào. Chỉ có một điều tôi biết chắc rằng Mẹ chẳng bao giờ muốn tôi trở thành thợ mỏ cả. Một lần sau khi Bố quăng tấm séc cho Mẹ, tôi nghe Mẹ bảo Bố: “Tiền anh làm chẳng bõ bèn vào đâu, Homer ạ!”

“Nó vẫn giữ được cái mái nhà này đấy bà!” Bố trả lời.

Mẹ trầm ngâm nhìn tấm séc, cuộn nó rồi nhét vào túi tạp dề và nói: “Nếu ông ngừng làm việc trong cái hố đó, tôi ra sống dưới gốc cây cũng được!”

Sau khi ông Carter bán đi hầm mỏ, nó được đổi tên thành Công ty Than Olga. Mẹ luôn gọi nó là “Cô Olga”. Mỗi khi có ai hỏi Bố đang ở đâu thì Mẹ sẽ trả lời rằng “đang ở với Cô Olga đấy!”. Mẹ nói cứ như đó là tình nhân của Bố vậy.

Gia đình bên Mẹ không hề chia sẻ cùng bà về sự ác cảm với việc khai thác mỏ. Tất cả các anh của Mẹ - Robert, Ken, Charlie, và Joe - đều là thợ mỏ, và em gái Mẹ, dì Mary, cũng làm vợ một thợ mỏ. Bất chấp tai nạn thảm khốc của nội, hai anh em còn lại của Bố cũng làm thợ mỏ; chú Clarence thì làm việc trong khu mỏ Caretta cách Coalwood một ngọn núi, và chú Emmett làm cho những khu mỏ rải rác trong tỉnh. Em gái của Bố, cô Bennie cũng kết hôn với một thợ mỏ tại Coalwood và sống bên kia bờ sông, cạnh những cửa hàng kim khí điện máy lớn. Nhưng sự thật về tất cả thành viên hai gia đình của Bố và Mẹ đều là thợ mỏ không để lại ấn tượng tốt gì cho Mẹ cả! Bà có quan điểm riêng, có lẽ nó hình thành từ bản tính độc lập của Mẹ hay chính bởi khả năng luôn nhìn vào bản chất của sự việc chứ không mong ước viển vông như những người khác, sự viển vông mà đôi khi ngay cả Mẹ cũng mong ước nó thành hiện thực.

Vào mỗi buổi sáng trước khi Mẹ bắt đầu nghi thức chiến tranh với bụi bặm, bà thường ngồi nhâm nhi tách cà phê bên bàn bếp, mắt nhìn vào bức tranh tường đang dang dở. Mẹ bắt đầu vẽ bức tranh này từ khi Bố tiếp quản lại khu mỏ và chuyển vào ở hẳn trong nhà của Đội Trưởng. Đến mùa thu năm 1957, Mẹ đã hoàn thành được bãi cát, những vỏ sò và hầu hết phần bầu trời với một đôi mòng biển chao lượn. Trong đó có dấu hiệu xuất hiện của một cây cọ đang lớn lên từng ngày. Có vẻ như Mẹ đang muốn vẽ nên một hiện thực khác cho mình. Từ chỗ Mẹ ngồi, bà có thể nhìn thấy những bụi hồng và những người cho chim ăn xuyên qua cửa sổ của bức tranh mà những chú thợ mộc đã lắp theo riêng ý Mẹ; nó được đặt theo một góc độ đặc biệt sao cho Mẹ không phải nhìn thấy bất cứ một dấu vết nào của khu mỏ.

Ngay khi còn nhỏ, tôi đã biết Mẹ thật khác so với những người còn lại ở Coalwood. Lúc tôi khoảng 3 tuổi, cả nhà đi thăm nội trong một căn nhà nhỏ ở Warriormine Hollow, ông bế tôi đặt lên đùi. Điều này làm tôi sợ lắm, vì nơi đáng lẽ là chân của nội giờ chỉ còn là một tấm chăn nhàu nát. Trong khi tôi vùng vẫy trong đôi tay to khỏe của nội thì Mẹ lảng vảng xung quanh... lo lắng, sợ sệt... Tôi còn nhớ nội móm mém nói với Mẹ: “Nó thật giống Homer như khuôn đúc” trong khi tôi oằn người trong tay ông. Rồi nội nói vọng ra với Bố ở phòng bên: “Homer, nó giống con như đúc!”

Mẹ rụt rè bế tôi lại từ tay ông nội còn tôi ôm chặt lấy vai bà, tim tôi loạn nhịp vì một nỗi sợ lạ lùng không thể lý giải được. Mẹ bồng tôi ra hiên nhà, vuốt ve tóc tôi dỗ dành. “Không, con không giống.” Mẹ ngâm nga vừa đủ lớn chỉ để tôi và bà nghe thấy. “Không, con không giống đâu!”

Bố xô cửa bước ra như muốn cãi nhau với Mẹ, nhưng bà vội quay mặt đi. Lúc đó, đôi mắt xanh trong hàng ngày của Bố chợt chuyển sang ngầu đục. Tôi rúc đầu vào cổ Mẹ trong khi Mẹ ôm tôi đung đưa, ru tôi bằng khúc hát thầm lặng bất di bất dịch:Không, con không giống. Không, con không giống. Qua những năm tháng tôi lớn lên, Mẹ luôn hát cho tôi nghe khúc hát đó bằng cách này hay cách khác. Chỉ đến khi tôi vào cấp 3, bắt đầu chế tạo tên lửa thì sau cùng tôi mới hiểu là vì sao...

Người dịch:Lâm Thanh Tùng - Làm ebook: thanhbt - Ngày hoàn thành: 04/09/2015
Nguồn: tve-4u
Được bạn: Mọt Sách đưa lên
vào ngày: 25 tháng 8 năm 2026

« Lùi Tiến »

💬 Thảo luận

Chưa có bình luận nào — hãy là người đầu tiên chia sẻ cảm nhận của bạn!

Đăng nhập để tham gia bình luận.