Những Cậu Bé Hỏa Tiễn

Lượt đọc: 254 | 0 Đánh giá: 0/10 Sao
★★★★★★★★★★
★★★★★★★★★★
« Lùi Tiến »
6. CHÚ BYKOVSKI

❊ ❊ ❊

Auk I - IV

VÀO NGÀY 31 THÁNG 1 NĂM 1958, Cơ quan Tên lửa Đạn đạo Quân đội (Army Ballistic Missile Agency - ABMA), được Tiến sĩ von Braun chỉ đạo sẵn sàng thực hiện việc phóng vệ tinh Explorer-1 bằng tên lửa Jupiter-C. Thời khắc phóng tên lửa xảy ra vào ban đêm nên tôi thao thức ngồi xem tivi để ngóng chờ những tin tức tốt lành. Khoảng 11 giờ đêm, một bản tin ngắn xen ngang chương trình Tonight Show, thông báo rằng việc phóng tên lửa đã thành công tốt đẹp và những thước phim về sự kiện này sẽ được phát ngay tức khắc. Tôi nằm lăn ra tấm thảm trước tivi, nhìn chăm chú vào màn hình đang hiển thị vỏn vẹn chữ TẠM NGƯNG và bắt đầu cầu nguyện. Mẹ, Bố và Jim đã đi ngủ từ lâu rồi. Chỉ còn Daisy Mae bò lên thảm rồi cuộn mình lên đùi tôi. Cả con mèo già Lucifer cũng không chịu được cái rét ngoài trời và đang nằm cuộn tròn trong chiếc ghế bành của Bố. Thật tuyệt khi ít ra cũng còn chúng ở đây cùng tôi. Tôi dựa ra sau rồi vỗ nhẹ lên đầu Daisy Mae. “Mày thật là một bé gái già ngoan, à, một con mèo già ngoan ngoãn chứ.” Tôi thủ thỉ với nó. Nó đáp lại bằng một tiếng gừ nhẹ và liếm láp tay tôi.

Daisy Mae là một con mèo hoa tròn trịa rất dễ thương và rất quan trọng đối với tôi. Bốn năm trước, tôi thấy nó lang thang vào nhà từ phía những ngọn núi và đã bí mật lén nuôi nó dưới tầng hầm suốt cả ngày. Đến khi Mẹ bắt gặp, bà bảo tôi phải tìm một nhà khác nhận nuôi nó thôi. Xét cho cùng nhà tôi cũng đã có 2 con chó, 1 con sóc và 1 con mèo; đã đủ súc vật trong nhà rồi. Nhưng tôi nhăn nhó dỗi hờn suốt một ngày và sau cùng Mẹ cũng chịu nhượng bộ. “Nếu con muốn nuôi con mèo này thì phải tự chăm sóc cho nó đấy nhé,” Mẹ bảo. Tôi sẵn sàng nhận lời ngay, cũng dễ thôi mà (thật ra gật đầu đồng ý thì dễ thôi). Sau đó Daisy Mae đẻ ngay một lũ mèo con và bị hàng xóm nhanh chóng bắt về nuôi hết sạch. Từ đấy Mẹ mới thật sự cho nó chính thức gia nhập vào gia đình và dĩ nhiên tôi biết rằng bà sẽ đối xử với nó đồng đều như những con vật khác trong nhà, sẽ cho nó ăn và bắt bọ chét cho nó. Mẹ thấy rằng Daisy Mae là một con mèo dễ thương nhưng lại quá ốm yếu nên bà quyết định cải thiện sức khỏe cho nó. Và theo tôi được biết thì chưa có con chó hay mèo nào ở Coalwood này bị kế hoạch hóa cả. Mẹ lái chiếc Buick của Bố chở tôi và Daisy Mae đến bác sĩ thú y ở Bluefield, cách nhà 40 dặm và 6 quả núi. Đó là lần đầu tiên mà một con vật nuôi trong nhà tôi phải đi bác sĩ thú y. Sau khi lành lại, Daisy Mae càng trở nên đáng yêu hơn, nó luôn chờ tôi tan học về và ngủ chung giường với tôi mỗi tối. Tôi cũng thường trò chuyện với nó trước khi ngủ, nhất là những lúc tôi lo lắng hay sợ hãi. Nó luôn cho tôi cảm giác thoải mái vào những lúc mọi người trong nhà tỏ thái độ lạ lùng. Dĩ nhiên là tôi chẳng tiết lộ cho ai kể cả những thằng bạn biết rằng tôi nói chuyện với con mèo của mình. Và tôi cũng sẽ chẳng bao giờ bỏ rơi nó.

Khoảng nửa đêm (đó là thứ sáu, mai không phải ngày đi học), tôi bất ngờ nghe tiếng gõ cửa; thì ra Roy Lee, Sherman và O’Dell đến tham gia cùng tôi. Cả bọn ngồi xuống ghế sofa và sàn nhà. Chúng tôi nói chuyện phiếm, hầu hết về bọn con gái, một lúc sau thì O’Dell và Sherman tỏ ra ngán ngẩm. Tôi nhân lúc này để hỏi Roy Lee về cái chấm đen trong phổi Bố. Cậu nghe rồi rúc vào góc sofa và nhìn tôi tỏ vẻ lo lắng. “Tớ sẽ hỏi Billy cho,” Lee nói. Billy là anh trai cậu ấy.

“Đừng nói cho anh ấy biết vì sao cậu hỏi nhé. Bố tớ chẳng muốn ai biết về việc này đâu.”

Roy Lee ném cho tôi một cái nhìn hài hước. “Sonny, tớ biết từ lâu rồi và tớ đoán rằng mọi người ở Coalwood này đều biết cả đấy.”

Tôi gục đầu xuống thảm và chẳng lâu sau thì ngủ thiếp đi. Giữa đêm tôi giật mình thức dậy nhìn thấy tivi đang chuyển thành một màn hình trắng xóa. Tôi mặc kệ và tiếp tục ngon giấc. Tôi thức giấc khi bình minh vừa lên và phát ngôn viên trên tivi thông báo rằng mọi người hãy chờ trong chốc lát. Tôi đánh thức cả bọn dậy, ngay sau đó, không có một lời mở đầu giới thiệu, thước phim về khoảnh khắc phóng tên lửa được trình chiếu. Quả tên lửa của tiến sĩ von Braun rời khỏi bệ phóng trong cả vạc lửa và mù mịt khói. Nó bay thẳng lên vùng trời đêm không một phút do dự. Chúng tôi hò reo mừng rỡ dõi theo dấu vết của nó. O’Dell đứng dậy và nhảy tung tăng một chốc rồi thả mình xuống sofa và giơ cả hai chân lên trời làm động tác như đang đạp xe vậy. Tôi không biểu hiện ra mặt nhưng trong lòng cảm thấy thật tự hào và yêu nước vô hạn. Lúc đó Bố xuống nhà thả Lucifer và Daisy Mae ra ngoài rồi nhìn thấy lũ nhóc chúng tôi đang quây quanh cái tivi. Ông nhòm sang hỏi: “Nó hoạt động được chứ?”

Đó là lần đầu tiên mà tôi nhớ được là ông tỏ vẻ quan tâm đến không gian. “Vâng, thưa chú!” Chúng tôi rống lên.

Ông nhìn chăm chú vào tivi đang phát đi phát lại cảnh tên lửa của tiến sĩ von Braun được phóng lên như thế nào. “Bố chẳng biết rằng cái thứ này có tác dụng gì nữa,” ông lên tiếng. Tôi chưa bao giờ nghe ông nói như vậy cả.

“Chúng ta sẽ đi vào không gian Bố ạ,” tôi giải thích cho ông.

“Cậu nhỏ à,” ông trả lời “trong trường hợp của cậu thì đôi lúc tôi nghĩ rằng cậu đang ở trên đó rồi đấy.” Tôi xem đó như một lời khích lệ và mặt tôi rạng rỡ hẳn lên. Ông nhướng mày nhìn lại tôi.

Mẹ xuất hiện trong chiếc áo khoác mặc ở nhà. Bà nở nụ cười uể oải với tôi và mấy đứa còn lại. “Nó hoạt động chứ?”

“Vâng, thưa cô!”

“Em thấy điều này thật tuyệt đấy. Còn anh nghĩ sao, Homer?”

Bố đã đi vào bếp. “Tuyệt vời,” ông nói vọng lại từ xa.

Mẹ nhìn lại phía chúng tôi. “Các con muốn ăn sáng không? Bánh quế nhé?”

“Vâng thưa cô!”

Cùng ngày hôm ấy, tôi tụ tập Roy Lee, Sherman và O’Dell vào phòng. “Được rồi, bây giờ là những gì chúng ta sẽ làm,” tôi nói.

Roy Lee nằm vật ra giường rồi rên rỉ. “Mỗi lần cậu nói vậy là chúng ta đều gặp rắc rối cả.”

Tôi từ từ giảng giải kế hoạch của mình. Rằng tôi đang thành lập một câu lạc bộ mang tên Tổ chức Tên lửa Big Creek (Big Creek Missile Agency - BCMA), phỏng theo ABMA của von Braun. Quentin và tôi sẽ là các thành viên đầu tiên. Chúng tôi sẽ học hỏi mọi thứ về tên lửa và bắt đầu chế tạo chúng. Điều này thật sự nghiêm túc chứ không phải chuyện đùa. Nếu có ai muốn tham gia thì chúng tôi sẵn sàng chào đón. Thông thường, tôi biết rằng Roy Lee thà đứng dậy bỏ về còn hơn là dây vào bất cứ thứ gì có liên quan đến Quentin; nhưng không, cậu ấy ngồi dậy trên giường rồi gãi cằm ra vẻ tư lự. “Sonny, tớ thích việc này, nghe có vẻ thú vị đấy, cho tớ gia nhập với nhé.” Tôi nghĩ rằng cậu ấy được khích lệ bởi sự thành công của Explorer. Sherman và O’Dell cũng hồ hởi đồng ý theo.

“Tổ chức Tên lửa Big Creek chính thức được thành lập.” Tôi tuyên bố. “Tớ sẽ là chủ tịch. O’Dell, tớ muốn cậu làm thủ quỹ và chịu trách nhiệm về nguồn nguyên vật liệu. Roy Lee, cậu có xe hơi, bọn tớ sẽ cần cậu lo về phần di chuyển. Sherman, nếu cậu có thể lo về việc quảng cáo và tìm chỗ để phóng tên lửa thì tớ rất cám ơn. Quentin sẽ là nhà nghiên cứu của chúng ta. Có thắc mắc gì không?”

Roy Lee nói, “Có cô bé nào trong câu lạc bộ này không nhỉ, hay là phải có tên lửa trong túi quần đã nhỉ?”

“Hoặc trong trường hợp của cậu là cây viết chì đấy,” O’Dell chế nhạo Roy Lee.

“Cậu phải biết thôi,” Roy Lee đáp trả, nháy mắt liên hồi. O’Dell đỏ mặt. Đấu khẩu nhục mạ với Roy Lee không bao giờ là ý kiến hay, ngay cả với một đứa thông minh như O’Dell.

“Vậy chúng ta nên phóng tên lửa ở đâu?” Sherman hỏi tôi.

“Chúng ta phải cùng xem xét vấn đề này,” tôi nói.

“Có một khu để đổ than cám đằng sau mỏ”, Sherman nói, “nơi đó có thể được đấy.”

Than cám là đồ thải của khu mỏ, là loại than có lẫn quá nhiều đá. Và nếu đổ chúng xuống chỗ nào thì chả có gì mọc lên được từ đó cả. Tôi nhận thấy ý kiến của Sherman khá tốt. “Chúng ta sẽ thử xem,” tôi đồng tình.

“Vậy bây giờ chúng ta phải làm gì nào?” O’Dell hỏi.

“Chúng ta chế tạo tên lửa.”

“Làm như thế nào?”

“Phải tiếp tục nghiên cứu thôi,” tôi thừa nhận.

Sau khi kết thúc buổi họp, chúng tôi chưa quyết định được điều gì khác ngoài việc sẽ họp lại lúc nào vào tuần tới và cả đám về nhà. Tôi chặn Roy Lee lại ở cửa. “Đừng hỏi anh cậu về cái chấm của Bố tớ nhé,” tôi nói.

Roy Lee gật đầu. “Cậu không muốn biết là nó đang trầm trọng như thế nào à?”

“Không, tớ không muốn biết nữa.” Mọi chuyện đã như vậy rồi, tôi cũng chẳng thể làm gì hơn.

TRONG GIỜ ĂN TRƯA hôm sau, Quentin và tôi tiếp tục bắt tay vào nghiên cứu làm sao chế tạo tên lửa, vẽ ra những mô hình thô thiển và lý thuyết chúng tôi tưởng tượng ra theo cảm tính. Mặc dù đã cố gắng lục tung thư viện tỉnh McDowell lên, Quentin vẫn chưa tìm ra thứ gì có thể giúp chúng tôi cả. Trong khi làm việc, cả hai cùng ăn hộp cơm của tôi. Cậu ấy bảo rằng thường bỏ ăn trưa vì ăn nhiều không tốt cho sức khỏe. Dù đã định ra chế độ ăn uống như vậy nhưng Quentin vẫn luôn xâm lấn đến hơn nửa phần cơm của tôi. Tôi về nhà kể cho Mẹ nghe, ngay lập tức bà cho thêm vào hộp cơm trưa của tôi một phần bánh xăng-đuých và giải thích rằng: “Con đang trong tuổi lớn.” Nhưng tôi đâu có ngốc đến vậy, rõ ràng là Mẹ như đã viết tên QUENTIN to tướng lên đấy rồi còn gì.

Một ngày nọ, khi đang trên đường lên lớp sau giờ cơm trưa, chúng tôi đi ngang tủ đựng cúp của đội bóng bầu dục Big Creek. Quentin dừng lại và đặt tay lên mặt kính. “Có thể một ngày nào đó chúng ta sẽ có được một chiếc cúp đặt trong này, tưởng thưởng cho tên lửa của chúng ta, Sonny ạ.”

“Cậu đang đùa đấy à?”

“Đương nhiên là không. Mỗi độ xuân sang, những học sinh ngành khoa học đều thuyết trình về dự án của họ tại hội chợ khoa học của tỉnh và sẽ được chấm điểm đàng hoàng. Nếu thắng ở đó, cậu sẽ được lên cấp tiểu bang và sau cùng sẽ đến cấp toàn quốc. Big Creek chưa bao giờ thắng được lần nào cả nhưng tớ cá với cậu là tên lửa của chúng ta sẽ thành công.”

Vào lúc này, tôi và Quentin nhìn thấy bóng của Buck và mấy cầu thủ bóng bầu dục khác phản chiếu trên gương, nhìn chúng thật to lớn trong chiếc áo khoác được khen thưởng màu xanh trắng. “Lũ thoái hóa chúng mày làm cái quái gì trước những biểu tượng chiến thắng của chúng tao đấy?” Buck gặng hỏi, liếc nhìn qua chúng tôi rồi rống lên: “Ôi, không! Kia có phải là dấu tay dơ bẩn của chúng mày dính trên tủ đựng cúp của chúng tao không vậy?”

“Giết quách mấy bé gái này đi,” một tên hậu vệ gầm lên. Những tên quái vật còn lại cùng gầm gừ theo tỏ vẻ đồng tình.

Chúng tôi quay mặt lại đối diện với bọn chúng. “Tôi xin cam đoan với các ông tướng con...” Quentin bắt đầu giải thích.

“Tôi xin cam đoan với các ông tướng con!” Buck xách mé Quentin. “Mày thật sự là một bé gái phải không?” Hắn chường mặt lại gần chúng tôi, cằm hắn lởm chởm râu, có cả một vết bã thuốc lá nhai còn dính lại dưới mép trái. Tôi ngửi được rõ cái mùi ngọt ngào của nó từ trong hơi thở của hắn. “Tao cam đoan rằng sẽ đá văng hết đuôi của tụi bay, nhất là mày đấy Sonny, mày còn nợ tao một vố lớn đấy.”

Đúng lúc này thì Jim đi ngang qua, tay đang ôm nhỏ bạn gái mới nhất. Anh ấy đưa cô nàng xuống cuối sảnh rồi quay lại xem chuyện gì đang diễn ra. Khi trông thấy tôi, anh nói gỏn lọn: “Để chúng nó yên đi Buck.”

Buck biết rõ rằng Jim dư sức đập hắn tơi bời. “Tao không định đụng chạm gì tới thằng em gái bốn mắt thoái hóa của mày,” Buck rít qua kẽ răng. “Nhưng còn bé gái này,” hắn hất đầu về phía Quentin, “tao sẽ đá văng đuôi nó.”

“Mày cứ việc đá văng đuôi của cả hai chúng nó, tao không quan tâm, nhưng hãy làm ở một nơi nào khác.” Lời nói của Jim làm tan biến mọi suy nghĩ của tôi rằng ít nhất anh ấy cũng có chút gì đó bận tâm đến mình. Anh hất đầu về phía phòng hiệu trưởng. “Tao chỉ không muốn đội bóng gặp rắc rối thôi.”

Ngay lúc này, thầy Turner từ trong văn phòng đi ra với dáng điệu oai vệ cùng một người phụ nữ trẻ. Tôi nhận ra đàn chị Riley, cô tốt nghiệp từ trường đại học Concord và được điều về đây làm trợ giảng cho môn khoa học. Nếu tôi không lầm thì cô sẽ bắt đầu chính thức dạy môn hóa cho lớp tôi vào năm tới. Thầy Turner thuộc vào loại nghiêm khắc và luôn nắm cả trường học chặt chẽ trong tay. Ông liếc đám đông đang tụ tập trước tủ đựng cúp và phán: “Nếu trong vòng 2 giây nữa tôi còn thấy bóng một chiếc áo khoác khen thưởng nào ở đây thì biết ai không được tiếp tục chơi bóng rồi đấy nhé.”

Jim, Buck và lũ cầu thủ bóng bầu dục biến mất tức khắc cứ như vừa bốc hơi lên trần nhà vậy, để lại tôi và Quentin đứng trơ khấc ra đấy. Thầy Turner nhìn qua chúng tôi dò xét. “Hai cậu đang có mưu đồ bất chính gì đấy?”

Quentin quá hoảng sợ đến lộ hết cả ruột gan ra. Ngoài ra, cậu ấy cũng hiểu rõ ý nghĩa của từ bất chính. “Em chỉ bảo Sonny rằng một ngày nào đó chiếc cúp dành cho Tổ chức Tên lửa Big Creek có thể hiện diện ở đây ạ.”

Thầy Turner suy tư một lúc rồi hỏi. “Tổ chức Tên lửa Big Creek là cái quỷ gì vậy?”

“Là câu lạc bộ tên lửa của chúng em ạ,” tôi đỡ lời cho Quentin đang trong tình trạng bối rối cực độ.

Ông săm soi tôi. “Ngài Hickam phải không? Em trai của Jim? Chẳng phải tôi nghe nói cậu làm nổ tung hàng rào vườn hồng của mẹ cậu à? Vậy là giống bom nổ hơn là tên lửa đấy. Nghe rõ này các quí cậu, tôi sẽ không gánh chịu rủi ro của một câu lạc bộ bom nổ nào có mặt trong ngôi trường này đâu. Còn về việc đoạt thêm cúp thì ngài Hickam nghe này, anh cậu và đội bóng không cần thêm sự giúp đỡ của cậu đâu.”

“Nhưng tôi thấy ý kiến của mấy cậu bé này tuyệt vời đấy chứ, thầy Turner,” cô Riley phản biện rồi nhìn tôi mỉm cười. Cô có một khuôn mặt đầy tan nhang và hiện rõ vẻ tinh quái. “Tôi từng học ở đây và chưa bao giờ nghe gì khác ngoài bóng bầu dục cả. Nếu như các môn khoa học có thể trở thành một con đường khác để giành lấy cúp thì không phải càng tuyệt sao?”

“Đó là ý em vừa định nói đấy cô Riley ạ!” Quentin buột miệng.

“Nhưng bây giờ thì tôi vẫn phải răn đe những cậu nhóc này thôi, cô Riley!” Thầy Turner vừa nói vừa ném cho Quentin một cái nhìn cảnh báo. Đột nhiên chuông vang lên và học sinh bắt đầu ùa vào lớp ngang dọc hành lang. “Thôi được rồi, các cậu không vào lớp à?” Thầy Turner ra hiệu cho chúng tôi.

“Cô phụ trách giúp đỡ cho những sinh viên tham gia hội chợ khoa học của tỉnh,” cô Riley nói với chúng tôi qua tiếng ồn của đám đông. “Nếu các em thích thì hãy đến trao đổi với cô nhé.”

“Vâng, thưa cô!” Quentin nhỏ nhẻ đáp lại.

Tôi chỉ muốn bóp cổ Quentin ngay lúc này thôi. Những gì chúng tôi đã làm được là cho hàng rào của Mẹ nổ tung và làm hôi thối cả thị trấn Coalwood vì những thất bại của mình. Xấu hổ quá mà. “Chúng ta không đủ tư cách để tham gia hội chợ đâu,” tôi lầm bầm.

Cô Riley thăm dò tôi cứ thể như có thể nhìn xuyên thấu tim gan tôi vậy. “Sao lại không, hả Sonny?”

“Không thể là không thể, thế thôi,” tôi trả lời một cách bướng bỉnh. Tôi cũng chẳng buồn giải thích một chút nào cả vì chỉ muốn kết thúc đề tài càng nhanh càng tốt.

“Đi học đi các cậu.” Thầy Turner thúc giục. “Ngay bây giờ, mau lên.”

Tôi mừng rỡ chộp lấy thời cơ và chạy biến đi. Quentin khệ nệ kéo lê chiếc cặp to tướng và đương nhiên không thể đi quá nhanh, nhưng sau cùng cậu cũng đuổi kịp tôi trước cửa lớp lịch sử. “Nghe này Sonny,” cậu thở hổn hển, cố lấy lại hơi, “chúng ta sẽ chiến thắng trong hội chợ khoa học bằng tên lửa của mình, nó sẽ giúp đưa ta đến Cape.”

Ngoài thực tế rằng chúng tôi không biết chế tạo tên lửa như thế nào, tôi còn đưa ra cho cậu ấy nhiều lý do phản đối khác. “Quentin, chúng ta chỉ tự làm xấu mặt mình mà thôi một khi đấu với tụi học sinh của trường Welch.” Tôi nghĩ tôi vừa nói ra suy nghĩ riêng của mình. Học sinh ở Welch sinh trưởng trong những gia đình bác sĩ, luật sư, quan tòa, thương nhân, và nhân viên ngân hàng; họ được học trong ngôi trường có trang thiết bị đầy đủ, mới và tốt nhất trong tỉnh. Tờ Welch Daily News luôn đưa tin về những học sinh tốt nghiệp từ trường này và giành được nhiều giải thưởng danh giá hoặc đạt được nhiều thành công vang dội. Mặc dù chúng tôi chiến thắng họ hoàn toàn trong bóng bầu dục nhưng chẳng học sinh nào có cơ hội đối đầu và chiến thắng họ trong lĩnh vực khoa học cả. “Cậu muốn báo chí loan tin khắp nơi rằng chúng đã sẽ bị đè bẹp ra sao à? Tiến sĩ von Braun sẽ nghĩ như thế nào về chúng ta? Nếu cậu còn chút minh mẫn, cậu sẽ phải từ bỏ ý định này đi thôi,” tôi nói với Quentin nhưng thật ra, tôi hoàn toàn nhận ra rằng cậu ấy không còn một chút minh mẫn nào cả.

“Bi quan như vậy chẳng giống cậu tí nào cả,” Quentin lạnh lùng bảo. “Tớ hoàn toàn chết lặng người đi qua thái độ của cậu. Mất hết tinh thần nữa chứ.” Khi không thấy tôi phản ứng, cậu ấy tiếp thêm một loạt, “Ngạc nhiên, chán nản và buồn bã.”

Tôi không để mình mắc vào cái bẫy đầy những ngôn từ khích tướng của Quentin. Tôi chỉ lắc đầu và bỏ lại cậu ấy một mình ở cửa lớp. Tôi không còn muốn nghe một điều gì về việc này nữa.

Trong năm đó, gần như tôi đều đi nhờ xe đến War để cùng học thêm với Dorothy vào mỗi chiều Chủ nhật. Nàng có vẻ thích sự có mặt của tôi, nhưng cũng chẳng trách được vì tôi yêu nàng mà. Vào một ngày Chủ nhật nọ, nàng đột nhiên dừng bút và ngước lên nhìn tôi đang ngồi phía đối diện. “Sonny à, mình rất vui vì chúng ta là bạn rất tốt của nhau!” Nàng buột miệng.

“Mình cũng vậy, Dorothy ạ,” tôi trả lời, tự dối lòng mình. Từ “bạn” chưa bao giờ lại trở thành tệ hại đến thế.

Một sáng, Emily Sue bắt gặp tôi đứng thẫn thờ buồn chán nhìn Dorothy ở giảng đường. Dorothy đang tay trong tay với bạn trai mới nhất, một chàng cầu thủ bóng bầu dục học lớp trên; tôi đứng đó, môi trễ cả ra. Emily Sue lại gần ngồi xuống trước mặt, đặt tay lên ghế rồi nhìn tôi. Emily là một học sinh giỏi, với thân hình mập mạp và cặp mắt kính cận to tròn làm mặt cô bạn nhìn như cú vọ vậy. Lẽ ra cô ấy không thuộc loại được các chàng ưa thích nhưng sự thật thì ngược lại do Emily là một trong những học sinh khiêu vũ giỏi nhất trường. Nhưng theo cảm nhận bản năng của tôi, Emily là một người bạn thân thiết, người tôi có thể trò chuyện bất cứ điều gì mà không cảm thấy ngại ngùng. Và cô còn sở hữu một trí tuệ hơn hẳn các bạn cùng trang lứa. “Bây giờ cậu định làm gì với cậu ấy?” Cô bạn hất đầu về phía Dorothy và hỏi tôi.

“Mình có làm được gì nữa đâu.” Tôi nhún vai, cố tỏ ra hờ hững với sự việc.

Emily Sue quan sát tôi. “Cậu ấy thích cậu đấy, Sonny ạ. Nhưng đối với Dorothy, cậu chỉ là một người bạn nhỏ đặc biệt và điều đó lẽ sẽ chẳng bao giờ thay đổi đâu.”

Lời nói của Emily như vết dao đâm sâu vào tim tôi. Tôi thôi ngay sự giả vờ của mình và rên rỉ. “Nhưng tại sao? Mình có vấn đề gì chứ?”

“Cậu chẳng có vấn đề gì cả,” Emily khẳng định. “Cậu là một trong những người bạn tốt tính và thân thiện nhất trường ấy chứ. Ai cũng yêu mến cậu mà. Nhưng cậu biết sao không? Cậu luôn là chính mình. Hãy nhìn anh trai của cậu đi. Anh ta ăn mặc sành điệu, là một ngôi sao bóng bầu dục, còn là một bạn nhảy cực giỏi nữa - xin Chúa chứng giám, tớ cực kì thích khiêu vũ với anh ta - và có rất nhiều cô nàng theo đuôi Jim mọi lúc mọi nơi. Anh ta rõ ràng là một chàng trai vĩ đại trong trường đấy, nhưng sự thật anh ta đâu có mấy người bạn đâu. Tớ nghĩ đó là lý do vì sao anh cậu hẹn hò với quá nhiều con gái. Anh cậu luôn mòn mỏi tìm kiếm người thích con người thật của mình chứ không phải cái mác ngôi sao bóng bầu dục. Dorothy cũng thế đấy. Cậu ấy rất vui vì có người bạn nhỏ như cậu nhưng sẽ tìm tình yêu ở một chàng trai khác mà thôi.”

Trong khi Emily thao thao bất tuyệt thì tôi mỗi lúc một tuột người sâu xuống ghế. Jim và Dorothy là cùng một loại người ư? Tôi chưa bao giờ nghĩ đến điều này cả. Và tôi sẽ suốt đời chỉ là bạn của Dorothy chứ không thể tiến xa hơn nữa sao? Càng nghĩ tôi càng chìm vào một nỗi buồn vô tận sâu như hầm mỏ vậy. Đến khi chuông reo, tôi cảm ơn Emily Sue về những điều tốt đẹp cô dành cho tôi và chẳng buồn tranh luận về những luận điểm khác. Nhưng cả ngày hôm ấy tôi chẳng nghĩ được gì ngoài những lời nói của Emily. Tôi chẳng thể nào tin vào chúng. Phải có một cách nào đó như chiến thuật hay thủ đoạn gì để chiếm được Dorothy chứ. Cũng giống như chế tạo tên lửa thôi, nếu tôi đủ thông minh, tôi sẽ làm được.

Vài tuần sau, tôi và Quentin tiếp tục công việc thực nghiệm, chúng tôi lần lượt thử trộn những hỗn hợp thuốc súng đen khác nhau trong bình nấu nước nóng. Tôi khấp khởi mừng thầm vì cậu ấy không còn nhắc đến hội chợ khoa học nữa. Phương pháp thử vi sai của chúng tôi cuối cùng cho ra một hỗn hợp phát sáng và tỏa ra nhiều khói nhất. Quentin còn muốn thử cả chất nổ đẩy nữa. “Tớ đang nghĩ về điều này, bạn già ạ. Tớ không thích hỗn hợp lỏng lẻo này chút nào cả. Theo tớ, chúng ta nên thêm vào một ít keo bắt lửa để định hình nó lại. Sau đó mình đục một cái lỗ xuyên tâm, tăng diện tích đốt cùng một lúc. Điều này sẽ tạo nên lực đẩy mạnh mẽ hơn đấy.”

Việc có thêm lực đẩy làm bùi tai tôi. Tôi đi vội đến Big Store, đợi đến khi Junior phục vụ xong hết những khách khác, tôi hỏi anh tìm cho mình một loại keo có thể cháy được. Anh gặng hỏi đến khi tôi chịu thừa nhận rằng mình đang làm gì thì mới đem ra một can keo bột. Đến tận bây giờ tôi vẫn không hiểu vì sao họ lại trữ thứ này trong Big Store nữa, nhưng quả là nó đã tồn tại ở đó. “Thứ này cũng giống như keo dán tem. Trộn nó chung với thuốc súng của chú mày, đổ nước vào rồi chờ cho nó khô hoàn toàn. Anh nghĩ là nó sẽ cháy đấy. Hết 15 cent cả thảy.”

“Cám ơn anh Junior,” tôi vừa nói vừa đếm tiền lẻ. Tôi xài sắp hết ngân phiếu tạm thời rồi, chắc phải sớm tiêu vào khoản tiền dollar Mỹ dành dụm ít ỏi thôi.

“Anh nghe phong thanh là em định đến Cape Canaveral làm việc hả? Anh từng đến vùng đó rồi, ở Florida và tắm ở bãi biển dành riêng cho người da đen nữa kìa.”

Tôi chưa bao giờ có ý niệm rằng người da đen phải cần có bãi biển riêng cả. Ở Coalwood này họ có những trường học và nhà thờ riêng, lẽ ra cũng phải có cả bãi biển luôn chứ nhỉ? “Anh có thích nơi đó không?” tôi hỏi.

Junior tỏ vẻ khó chịu. “Anh thì thích rồi đó nhưng anh có dẫn mẹ theo nữa và bà cứ nằng nặc đòi về lại vùng núi này cho mau.” Anh suy ngẫm một lúc rồi nói tiếp. “Khi mẹ mất, anh chôn cất bà trên ngọn núi sau nhà thờ của Cha Richard Bé Nhỏ.”

“Cho em gửi lời chào Richard Bé Nhỏ nhé,” tôi nói.

“Anh không đi cái nhà thờ dành cho người da đen đó,” anh ngắt lời. “Anh chỉ lên núi cầu nguyện là đủ.” Junior cau mày nhìn tôi. “Đi về tiếp tục chế tạo tên lửa của chú mày đi. Nhưng cẩn thận đấy, nghe không?”

Tôi chẳng biết mình đã làm gì để phiền lòng Junior nữa. “Em nghe rồi ạ,” tôi hứa.

Junior vội vã quay lại với những người khách đang xếp hàng trước quầy. “Anh sẽ nói với Cha Bé Nhỏ rằng chú mày gửi lời chào,” anh có vẻ dịu lại khi tôi bước ra khỏi cửa.

Về đến nhà, tôi lấy ra một vài cái muỗng dùng để đong, vài cái ca, một thố để trộn và que đánh trứng từ tủ bếp của Mẹ đem xuống tầng hầm. Chúng tôi trộn thuốc súng đen theo đúng liều lượng đã tính toán một cách chính xác nhất với nước và bột keo cho đến khi chúng quánh lại thành một hỗn hợp sền sệt màu đen. Sau đó tôi ghi chép cặn kẽ mọi thứ mình đã làm vào sổ tay. Bề dày tri thức. Tôi đổ mớ sền sệt đó vào đĩa rồi đặt xuống dưới lò đun nước chờ cho khô. Hai ngày sau, nó đóng bánh cứng ngắc. Thấy mất mấy cái ca, muỗng và thố trộn, Mẹ lò dò xuống phòng thí nghiệm của tôi, sau khi nhìn thấy sự thật phũ phàng thì bà chỉ biết thở dài rồi ra Big Store mua lại một loạt để thay thế. Rồi Mẹ kể tôi nghe rằng bà và Junior đã cười ngặt nghẽo về sự việc này như thế nào. Đến thứ bảy tiếp theo, khi tôi cùng Quentin quăng bánh thuốc nổ ấy vào lò đun nước nóng thì nó phát sáng mạnh mẽ. “Phi thườngquá, bạn già ạ!” Cậu hét toáng lên, vẫn là thói quen dùng những từ ngữ thậm xưng mỗi khi quá phấn khích của mình.

Chúng tôi tiếp tục tìm cách giải quyết cả vấn đề “vì sao” lẫn “như thế nào”. Mặc dù Quentin chưa tìm ra sách về tên lửa nhưng cuối cùng đã kiếm lại được cuốn sách vật lý trong thư viện ở Welch, có đề cập đến định luật 3 Newton về lực tác động và phản lực. Ví dụ, trong sách miêu tả một quả bóng bay được mở nút thắt và bay vòng vòng trong phòng. Không khí trong đó chịu áp lực từ bên ngoài, và khi xì ra khỏi miệng quả bóng (tác động) thì nó bị đẩy về phía trước (phản lực). Vậy thì tên lửa cũng có thể được mường tượng như một quả bóng đặc cứng.

Theo bản năng, chúng tôi biết rằng miệng tên lửa (lỗ hổng ở đáy của nó) cũng giống như nút thắt của quả bóng, phải nhỏ hơn phần thân. Nhưng phải làm nhỏ hơn bao nhiêu, và miệng tên lửa hoạt động ra sao, rồi làm thế nào để chế ra nó thì chúng tôi hoàn toàn mù tịt. Tất cả những gì chúng tôi có thể làm là phỏng đoán mà thôi. “Hay là chúng ta thử hàn một cái vòng đệm hoặc một thứ gì tương tự vậy vào phần thân để tạo nên phần miệng?” Tôi đề xuất với Quentin trong giờ ăn trưa.

Quentin vừa nhóp nhép bánh qui của Mẹ gửi vào hộp cơm trưa của tôi cho cậu, vừa trầm tư suy nghĩ. “Ừm, tớ nghĩ ý kiến này có vẻ khả thi đấy, nhưng ai sẽ hàn đây?”

Tôi có biết 3 người thợ hàn ở Coalwood này. Hai trong số họ làm việc trong cửa hàng kim khí điện máy lớn bên kia sông đối diện Big Store. Chú Leon Ferro đang là quản đốc, là người của công ty như Bố, tôi không nghĩ rằng chú ấy sẽ giúp mình. Có chăng thì phải hy vọng vào chú Issac Bykovski. Chú làm thợ hàn độc lập trong một shop nhỏ ở nhà than vào ca khuya. Esther, con gái của chú từng học chung lớp với tôi đến khi mắc chứng bại não thì phải chuyển sang trường đặc biệt. Mẹ từng bảo rằng vợ chồng chú ấy hay hỏi han về tôi, học hành thế nào, sống ra sao. Trong giờ ra chơi, đôi lúc tôi nhìn về phía họ và hai vợ chồng Ike và Mary Bykovski mỉm cười lại với tôi, thân thiện như thể đang nhìn con của mình vậy. Có lẽ tôi đã tìm được thợ hàn cho mình rồi.

Đêm đó, sau khi ca tối đã tan và những người công nhân ca khuya khuất vào hầm mỏ, tôi chuồn ra cửa sau đi đến khu mỏ. Phòng trường hợp Bố bị chiếc phôn đen sì gọi bất ngờ lên mỏ sẽ phát hiện ra mình, tôi bèn đi ẩn dưới bóng cây. Tôi còn cẩn thận đi theo con đường bí mật đến khu mỏ mà bọn tôi khám phá trong lúc chơi trò cao bồi và da đỏ lúc nhỏ. Vào ban đêm, các lối vào khu mỏ đều bị khóa lại nhưng tôi biết trong hàng cây trên núi có một rãnh thoát nước chạy dài xuống dưới hàng rào. Gần đó là cánh cửa bị khóa trái hiếm khi được sử dụng tới dẫn đến ngay cửa hàng. Tôi tìm thấy rãnh nước rồi mò mẫm trong đêm tối đến khi chạm được vào cánh cửa. Tiếp đó, tôi nắm lấy hàng rào rồi bắt đầu tuột xuống núi đến khi đứng trên vách đứng cuối rãnh nước. Một tay nắm lấy mối nối của hàng rào, tôi đu người xuống để chân chạm xuống ống nước rồi chui qua dưới hàng rào sang phía bên kia. Cửa hàng điện máy chỉ cách đó khoảng 11 mét, ánh sáng phát ra soi rõ cánh cửa và cả con đường.

Tôi hé nhìn qua lớp kính bẩn thỉu của cửa sau. Chú Bykovski đang vận bộ đồ áo liền quần rộng thùng thình, đứng làm việc bên chiếc máy tiện. Chú nhỏ con và có đôi tai bé tí nhưng vểnh ra ngoài, nhìn cứ như chiếc mũ bảo hộ đang nằm tựa lên chúng vậy. Lấy hết can đảm, tôi mở cửa bước vào. Chú nhìn tôi gật đầu chào sau đó tôi đứng đợi chú kết thúc công việc đang dang dở. “Cháu khỏe không, Sonny?” Chú hỏi, cứ như chuyện tôi xuất hiện trước mặt ông vào lúc nửa đêm là rất bình thường vậy.

Giọng của chú Bykovski còn chút lơ lớ, tôi chẳng lấy làm lạ với điều này bởi số lượng người nhập cư ở Coalwood cũng tương đối đáng kể. Một số người Ý đã trám chỗ những công nhân đình công vào những năm 1920 và 1930, sau đó thì gia nhập UMWA trong Thế chiến thứ II. Sau đó một số người Hungary, Nga và Phần Lan cũng đến đây; còn có thêm hai gia đình người Ireland, Anh và một người Mexico nữa. Mặc dù người lớn trong những gia đình này vẫn còn nói giọng lơ lớ nhưng con cái của họ thì không. Bộ Sáu Siêu Đẳng luôn chú trọng việc đọc và viết tiếng Anh trong mỗi tiết học thường nhật của chúng tôi. Không có sự khác biệt nào được tồn tại giữa những đứa trẻ gốc miền Tây Virginia và những đứa nhập cư. Nếu như chúng tôi phát âm “chái” thay vì “cháy”, hoặc “sanh” thay vì “sinh”, hay như “rỗng tếch” thay cho “rỗng tuếch” thì sẽ bị bắt lặp lại đến khi nào nói thật chuẩn mới thôi. Và chắc chỉ có thiên đường mới cứu rỗi được một học sinh tốt nghiệp ở Coalwood mà đi phát âm “thư vệng” thay cho “thư viện”.

Tôi trình bày với chú Bykovski rằng mình đang chế tạo tên lửa và cần phải hàn một cái vòng đệm vào đáy chiếc ống làm phần thân. “Và cháu muốn chú giúp?” chú hỏi.

“Chú sẽ giúp cháu chứ ạ?” tôi nín thở hồi hộp.

Chú cởi mũ bảo hiểm ra, lấy tay áo lau mồ hôi trên chiếc trán gần như hói rồi ôn tồn nói: “Chú có một ít ống nhôm có thể sử dụng được. Nhưng hàn hồ quang lên cái vòng đệm thì hơi gay go đấy. Hàn gió đá thì sẽ dễ dàng hơn.”

“Như thế cũng được ạ,” tôi đáp. Chỉ cần cái vòng đệm được gắn chặt vào là được rồi, hàn gió đá nghe cũng tạm ổn mặc dù tôi chẳng hiểu nó là gì.

Chợt chú quắc mắt nhìn tôi. “Chú chỉ được phép làm việc trong cửa hàng này một khi nhận lệnh của bố cháu. Ông ấy có biết cháu đang ở đây không?”

Tôi lắc đầu. “Không thưa chú.” Tôi có cảm giác rằng đối với người như chú Bykovski thì tốt nhất là nên nói rõ sự thật, không nên che giấu bất cứ điều gì cả. “Ông ấy phản đối cháu chế tạo tên lửa nhưng Mẹ cháu thì tán thành. Cháu cần sự giúp đỡ và chú là hy vọng duy nhất của cháu đấy ạ.”

Chú nhìn tôi suy xét một lúc, gương mặt tối sầm lại. Tôi biết vẻ mặt mình bây giờ trông tội nghiệp lắm vì trong lòng đang thật sự khổ sở mà. “Cháu có biết hàn gió đá như thế nào không?” Chú hỏi sau một hồi suy nghĩ.

“Không thưa chú.”

“Vậy để chú dạy cho. Chắc bố cháu sẽ không phiền gì đâu. Nào, lại đây làm cùng với chú. Cháu cần đoạn ống dài bao nhiêu?”

Tôi cũng không chắc nhưng cứ nói đại là khoảng 30cm. Sau đó ông hỏi đến bề rộng và tôi cũng mù tịt nên áng chừng một vài centimet. Khi ông cắt một đoạn rộng 2,5cm đưa cho tôi thì tai hại thay, nó quá nhỏ. Nhận ra điều đó, ông lấy ống có đường kính lớn hơn, khoảng 3cm và dài 35,5cm; bây giờ nhìn nó ổn hơn rất nhiều. Sau khi chuẩn bị xong vật liệu, ông dạy nhanh cho tôi cách hàn gió đá. Mọi thứ có vẻ khá đơn giản, chỉ việc giữ cho que sắt nóng hổi trên cuộn dây hàn (nhìn giống một mớ kim loại mềm), nung cho nó tan ra và chảy vào nơi cần bít kín. Nhưng thực hành thì không dễ dàng như vậy. Tôi thao tác trên đống chất lỏng vừa chảy ra làm nó be bét hết cả, chất hàn lan xuống thân ống và vòng đệm thì bị gắn lệch. Một giờ sau, chú Bykovski quay lại xem xét thành quả của tôi. “Lần đầu làm vậy là không tệ đâu,” chú nói thế để gạt tôi mà thôi. “Chú sẽ làm nốt cho cháu trong giờ giải lao. Tối mai cháu quay lại lấy nhé.”

Tôi đang muốn gục xuống vì buồn ngủ nên chẳng cần đợi chú đề nghị đến lần thứ hai mà đồng ý ngay. Đêm sau, tôi lại lần mò theo con đường bí mật quay lại khu mỏ, quả tên lửa được đặt trong hộp giấy cạc tông đang nằm ngoài cửa chờ tôi. Mối hàn bao thành một vòng tròn hoàn hảo xung quanh chiếc vòng đệm được gắn vào ngay ngắn dưới đáy, chú thậm chí còn hàn thêm một chiếc mũ sắt trên đầu quả tên lửa và dán lên đó một cái chóp bằng gỗ hình viên đạn. Thật là một quả tên lửa đẹp nhất mà tôi từng thấy. Tôi đem về và dùng băng keo quấn dây điện dán phần đế bằng giấy vào đáy rồi dùng sơn móng tay của Mẹ để viết tên lên phần thân. Tôi đặt tên nó là Auk I, dựa theo tên của chim anca vĩ đại, một giống chim không bay được và đã bị tuyệt chủng. Nguyên cớ là một ngày trước đó, Quentin đột nhiên chẳng vì một lý do nào lại thao thao bất tuyệt về những giống chim bị tuyệt chủng nên tôi mới lấy cảm hứng từ đó để đặt tên. Thật ra tôi đặt cái tên này là có chủ đích. Tôi muốn lũ bạn mình thấy rằng dù cho quả tên lửa có lật nhào khỏi bệ phóng đi nữa thì những việc chúng tôi đang làm cũng nhằm bồi đắp thêm vào kho tàng kiến thức của mình đấy thôi.

Tôi đổ đầy Auk I với thuốc súng đen/hỗn hợp đặc sệt của keo dán tem, cắm một cây bút chì vào miệng lỗ và để quả tên lửa dưới lò đun nước nóng cho khô. Chiếc bút chì tạo một đường ống xuyên tâm khối bột thuốc, nhằm tăng diện tích bề mặt tiếp xúc - chiếu theo lời của Quentin.

Vào thứ bảy, Quentin bắt xe đến nhà tôi, đợi đến khi cả lũ bạn tập hợp đông đủ, chúng tôi cùng nhau quan sát Auk I. “Thích cái tên này đấy,” Quentin lên tiếng. “Có lẽ thượng đế sẽ giúp mình vì ngài nghĩ rằng chúng ta thích hợp để đón nhận một định mệnh xấu xa.”

Mấy đứa khác ngây người ra nhìn cậu ấy. “Ý nói sự tự tin thái quá là một điềm gở,” tôi “phiên dịch” lại lời Quentin.

“Tớ tin rằng chúng ta đang có những tiến triển tốt,” Quentin tiếp tục nói với tôi cứ như những đứa kia không có mặt ở đó vậy. Cậu rà ngón tay quanh phần đáy của quả tên lửa, dò xét cẩn thận cái vòng đệm được hàn vào, hít hít ngửi phần thuốc súng đen một cách có chủ đích rồi phát biểu: “Nhưng chúng ta không thể cứ thử rồi loạt bỏ thử nghiệm thất bại như vậy. Quả tên lửa này có thể bay, nếu không, quả tiếp theo sẽ thành công. Nhưng chúng ta học được gì từ đó, không phải chỉ ngắm nó phóng lên như những quả tên lửa ngày 4 tháng 7; mà điều quan trọng là chúng ta phải tìm hiểu được rằng vì sao nó bay.”

“Đó là việc của cậu, Quentin.” Tôi tức giận ngắt lời. Tôi đã làm mọi thứ cậu ta muốn nhưng cứ mãi bị phàn nàn. “Khi nào cậu mới tìm ra cuốn sách đó hả?”

Quentin lắc đầu. “Tớ không biết phải tìm ở đâu nữa. Có lẽ đó là một điều quá bí mật nên không ai viết ra sách cả.”

Mấy đứa còn lại bồn chồn. “Chúng ta có thể thử phóng nó bây giờ chưa?” O’Dell nài nỉ.

“O’Dell,” Quentin trả lời một cách chân thành, “tớ e rằng sự tham lam vô độ của cậu sẽ chẳng chứng minh được điều gì ngoài đức hạnh kém trong câu lạc bộ của chúng ta mà thôi.”

O’Dell ngọ nguậy tỏ vẻ đe dọa. “Cậu nghĩ thế nào nếu tớ dùng sự tham lam vô độ này để đập cậu một trận hả?”

Tôi biết mình nên tránh mọi rắc rối có thể xảy ra. Tôi chẳng màng mỗi khi Quentin phô trương vốn từ của cậu ấy nhưng tôi đồ rằng lũ bạn kia nghĩ cậu ta rất đáng ghét (mà cậu ta đáng ghét thật). “Đi nào, Sherman, cậu dẫn đường đi. O’Dell, cậu vác quả tên lửa. Roy Lee, cậu đem theo diêm chưa? Còn Quentin, cậu đi cùng tớ.”

Sherman dẫn chúng tôi lên núi Bồn Nước đến khu thải than. Bây giờ chúng tôi đang đứng cao hơn khu mỏ ít nhất khoảng 180 mét. Từ đây tôi chỉ có thể nhìn thấy chóp nhà than sau những rặng cây. O’Dell bắt đầu để tên lửa lên bệ phóng rồi dùng một cục đá chèn cho nó đứng vững. Sau đó chúng tôi tìm chỗ núp sau những đá cuội lớn quanh bãi đất trống. Rồi O’Dell cầm lấy diêm từ tay Roy Lee. “Tên lửa sẽ không bay lên được nếu chưa có ai châm ngòi!” Cậu ấy tuyên bố. Sherman nép sát mình vào sau tảng đá. O’Dell liền châm ngòi và chạy lại núp cạnh tôi. Chúng tôi nhìn nhau cười toe toét.

Ngòi nổ lì xì cháy lên, và rồi Auk I phóng lên không trung với muôn vầng hào quang. Lên được gần 2 mét thì nó lụt phụt rồi rơi trở xuống đám khói xám vừa phát ra và đáp xuống một cách nặng nề, cái chóp hình nón gãy văng ra một bên. Nó nằm đó đến khi thuốc súng cháy hết. Quentin là người đầu tiên chạy đến, quỳ rạp cả chân tay rồi nhìn lom lom vào bệ phóng tên lửa. “Mối hàn bị chảy ra rồi,” cậu ấy tuyên bố, khịt khịt mũi khi ngửi trúng mùi thối của lưu huỳnh. “Tên lửa bay rồi đấy nhưng mối hàn chảy hết cả ra.”

Khi nó nguội hoàn toàn, tôi nhặt chiếc ống nhôm lên quan sát. Nó hôi thối thật, song dù sao nó đã bay lên; chỉ được gần 2 mét thôi nhưng quan trọng là nó đã bay lên được!

“Thật phi thường,” Quentin kết luận.

ĐẾN TỐI CHỦ NHẬT tôi lại lần theo lối hàng rào mang theo Auk I đến gặp chú Bykovski. Chú quan sát rồi nói: “Có vẻ nhiệt lượng tỏa ra từ tên lửa quá sức chịu đựng của mối hàn gió đá, như vậy thì phải hàn hồ quang thôi.” Chú đội mũ bảo hộ vào, ngẫm nghĩ một hồi rồi nói vẻ cân nhắc: “Hàn hồ quang với nhôm thì khó lắm, tốt hơn hết là dùng sắt thôi.”

Chú đi lại đống vật liệu, chọn ra một ống sắt rồi dùng cưa cắt ra một đoạn dài khoảng 35cm. Tôi đón lấy nó từ tay chú và thử nhấc lên. “Có vẻ nặng đấy,” tôi hoài nghi.

“Đúng, nhưng sắt rất bền, Sonny ạ. Ống nhôm muốn được bền vững thì phải rất dày, trong khi đó sắt chỉ cần mỏng thôi. Chú khuyên cháu nên dùng nó. Và về vòng đệm, chúng ta đã dùng cái không tốt, chắc phải cắt một miếng sắt ra, đục lỗ rồi hàn hồ quang vào đế.”

Tôi nuốt lấy từng chữ của chú. “Vậy chú sẽ dạy cháu cắt sắt, khoan rồi hàn hồ quang chứ ạ?”

Chú Bykovski nhìn đồng hồ rồi trả lời. “Lần này để chú làm giúp cháu sẽ nhanh hơn. Chú sẽ chỉ cháu vào lúc khác.”

Tôi hơi e ngại. “Cháu không muốn chú gặp rắc rối gì đâu ạ.”

Chú nhún vai: “Bố cháu sẽ chẳng tìm thấy thợ máy nào giỏi hơn chú đâu, nhất là chịu làm việc vào ca khuya như thế này nữa. Nhưng dù sao chú vẫn nghĩ rằng cháu nên nói cho ông biết. Ông ấy phải cảm thấy tự hào về những việc chúng ta đang làm chứ.”

“Khi nào tên lửa của chúng ta bay được... thật sự bay được ấy... thì cháu sẽ nói cho ông ấy biết,” tôi miễn cưỡng hứa.

Chú cười tươi. “Tốt. Chú nghĩ cái này sẽ bay thôi. Thứ tư sẽ có cho cháu.”

Tôi quyết định thử thêm vận may của mình. “Chú Bykovski, chú có thể làm cho cháu 2 cái được không ạ?”

Cuối cùng, chú làm cho tôi hẳn 3 cái. Vào thứ bảy sau đó, Auk II, III và IV đã sẵn sàng đúng theo thiết kế. Chúng tôi lại kéo nhau lên bãi đất trống sau khu mỏ. “Tên lửa sẽ không bay lên được nếu chưa có ai châm ngòi!” O’Dell lại lặp lại với nguyên do là nhờ cậu ấy nói câu này nên quả tên lửa đầu tiên đã bay được và đây là điềm may mắn.

Sherman muốn đích thân châm ngòi nhưng tôi e rằng cậu ấy không kịp chạy ra xa. “Đừng lo gì cho tớ cả,” cậu khẳng định chắc nịch làm tôi phải đồng ý, Sherman có rất nhiều biểu hiện vượt lên khỏi số phận tật nguyền của mình. Cậu châm ngòi rồi chạy ra núp sau tảng đá. Lửa phụt ra từ Auk II. Nó bất động một chốc rồi khói xịt ra, chớp lửa và bệ phóng run lên bần bật. Nó vọt lên không trung được 3 mét rồi đổi hướng phóng vào rừng cây sau lưng chúng tôi, đập vào thân cây sồi, bật lại bãi than cám, xoay một vòng rồi búng lên tảng đá nơi tôi đang núp với Quentin. Sau đó bất chợt nó lại phóng lên trời được chừng hơn 6 mét, hục hặc một tiếng rồi rơi xuống như một con chim chết. Tôi mở to mắt quan sát hết mọi việc xảy ra, còn Quentin thì thông minh hơn, vùi mặt xuống bãi than cám, tay ôm lấy đầu. Tôi vỗ vai Quentin, cậu ấy nhấc mặt ra khỏi đống than, chút than vụn rơi ra khỏi mũi. “Nó rớt xuống rồi,” tôi vừa bò vừa nói cho Quentin biết. O’Dell chạy đến bên Auk II và nhảy loạn xạ. “Nó bay rồi! Nó bay rồi!” Cậu chàng reo hò.

“Nó xém giết chết chúng ta đấy chứ,” Roy Lee cất giọng khàn đục sau khi bước lên từ cái rãnh nơi lúc nãy cậu ấy vừa trầm mình xuống. Cậu bước đến bên O’Dell và kiên nhẫn đợi đến khi cậu chàng này ngừng vung chân múa tay. Đoạn Roy Lee đá vào quả tên lửa còn nóng hổi. “Nhưng dù sao nó cũng bay rồi, phải không?”

Chúng tôi đều run lên vì sung sướng. “Tớ đã châm ngòi cho nó bay đấy nhé!” Sherman hét toáng.

Quentin phủi bụi, mũi còn đang bị nhuốm đen; cẩn thận quan sát Auk II rồi kết luận. “Chúng ta phải làm một bộ định vị tốt hơn trước khi phóng quả tiếp theo.”

Chẳng có đứa nào tiếp nhận ý kiến đó cả. Tên lửa của chúng tôi đã bay được rồi mà! Cả đám chỉ nóng lòng muốn xem thử quả tiếp theo sẽ bay như thế nào. Lần này đến lượt Roy Lee, cậu châm ngòi rồi phóng lẹ đi, miệng lầm bầm nguyền rủa. Cậu ấy nấp vào tảng đá vừa lúc quả tên lửa phóng lên, xoay một vòng, va vào cây gỗ thích, bật xuống bãi đất cạnh chúng tôi rồi rớt phịch xuống sườn núi phía trên, gần như chôn hết cả thân xuống đất.

Trong khi lũ chúng tôi tham gia cùng một điệu nhảy khác với O’Dell thì Quentin lặng lẽ bới Auk III lên rồi làu bàu: “Tớ đã bảo các cậu chúng ta không nên phóng quả tiếp theo lên trước khi có thể định vị đường bay lên thẳng cho nó mà.”

Roy Lee vẫn hân hoan dựng Auk IV lên: “Chúng ta đến đây để phóng những quả tên lửa này và chỉ việc làm vậy thôi, không cần nói nhiều.” Cậu ấy chẳng chần chừ gì và châm ngòi ngay. Bị bất ngờ, chúng tôi hốt hoảng bò ra phía sau những tảng đá trước khi nó kịp bắt lửa.

Auk IV phóng vụt lên không trung một cách trơn tru rồi hướng xuống núi. Tôi vừa hét lên mừng rỡ rồi đột ngột chuyển sang một tiếng kêu lo sợ khi quan sát thấy nó rơi xuống khu mỏ. Ngay lúc đó trong đầu tôi chợt thoáng hiện lên hình ảnh quả tên lửa bay vào ống thông gió và rơi ngay xuống một bể xăng dầu nào đó. Đến khi nhận thấy đuôi khói dần tắt lịm từ phía trái của nhà than, tôi mới thở phào vì ít nhất cũng tránh được tai họa thảm khốc mà mình vừa tưởng tượng ra. Nhưng dù gì đi nữa, tôi biết mình cũng sẽ gặp rắc rối rồi. Tôi thấy lòng nặng trĩu cứ như mọi thứ trong cơ thể sẽ trôi tuột xuống hết ra khỏi chân mình vậy. Tôi chỉ muốn tự đá mình một phát vì cái tội phóng tên lửa quá gần khu mỏ. Tôi là thủ lĩnh của BCMA, vậy mà lại đi gây ra lỗi lầm nghiêm trọng này. Tại sao tôi có thể ngu ngốc đến thế nhỉ? Thật ra đã có câu trả lời, chẳng thể đổ lỗi cho ai trong việc này cả ngoài bản thân mình. Tôi đã đồng ý để thực hiện việc này ở đây vì thật sự không thể nghĩ trước được rằng quả tên lửa sẽ bay xa như vậy.

Chẳng còn ai có tinh thần để đi thu về quả tên lửa đó, sau một hồi bàn luận, tôi và Quentin phải đảm nhiệm việc này. Vì dù sao đi nữa, hai chúng tôi đã chế tạo ra cái thứ mà O’Dell bất chợt cho là “vật tội lỗi” ấy. Những đứa khác lầm lũi cúi gằm mặt bước ra phía đường Cái. Tôi phải tự tôi luyện lòng mình cho cứng rắn để đối đầu với những gì sẽ xảy ra tiếp theo, chỉ mong rằng Auk IVđã rơi vào một chỗ nào đó chúng tôi có thể thu hồi lại mà không bị ai phát hiện. Chúng tôi lặng lẽ mò xuống núi rồi chuồn nhẹ nhàng như những người da đỏ đang phục kích qua cửa sau nhà than, nơi văn phòng cũ kĩ bằng gạch của Bố ngự trị. Hôm nay là thứ bảy nhưng Bố vẫn làm việc như thường lệ. Ông trông thấy chúng tôi trước. Công nhân thường gây sự chú ý bằng một tiếng “whoop” rất đặc trưng khi làm việc dưới hầm mỏ và họ cũng dùng nó khi đang trên mặt đất theo thói quen. Lúc đó tôi giật mình nghe tiếng whoop của Bố và nhìn lên thấy ông đang đứng cạnh hai người khác nữa ngoài hành lang văn phòng. Họ vận áo choàng và thắt cà vạt rất chỉnh tề. Tôi đoán chắc họ từ mỏ thép Ohio, chủ của chúng tôi, vì tôi chẳng bao giờ thấy ai ăn mặc như vậy ở Coawood trừ khi đi lễ nhà thờ hoặc dự tiệc ở Club House. Tôi nhìn thấy Auk IV đang nằm cô độc trong đống bụi than cạnh đường ray. Một đống vật vụn bầy hầy nằm cạnh bức tường gạch văn phòng của Bố. Chẳng cần phải là thiên tài để nhận ra sự việc vừa xảy đến: BCMA đã phóng tên lửa tấn công công ty than.

Trong bóng tối của khu mỏ, công nhân đeo đèn trên đầu và xoay cho tia sáng tạo thành vòng tròn mỗi khi muốn ra hiệu gọi người khác. Điều đó nghiễm nhiên trở thành thói quen của họ dù đã lên mặt đất tràn ngập ánh sáng, tôi vẫn thường thấy công nhân xoay đầu như vậy mỗi khi muốn kêu ai tiến lại phía mình. Bố nhìn tôi và xoay đầu, tôi nhận lấy tín hiệu và vội vã chạy lại. Ông đang phùng mang trợn mắt vì tức giận. Tôi chỉ e rằng ông lại rơi vào một trận ho đau đớn nữa thôi. “Chẳng phải bố đã bảo con dừng ngay cái việc ngu xuẩn này lại à?” ông hét toáng lên. “Con có thể giết người bằng cái thứ đó đấy!”

Tôi cảm thấy nhẹ nhõm đôi chút khi biết rằng tên lửa của mình không rơi trúng người nào. Bố rời khỏi hành lang văn phòng rồi tiến tới cầm quả tên lửa lên. “Sao cái này nhìn giống vật dụng của công ty vậy. Con lấy nó ở đâu hả?”

Tôi sợ hãi đến cứng cả họng. Chẳng phải là tôi ngại ăn đòn hay sợ bị trừng phạt; tôi chỉ mới bị Bố đánh một lần trong đời mà thôi. Đó là vào khi tôi 7 tuổi. Hôm ấy, tôi đang chơi đùa với chú chó Littlebit cạnh ống thông gió cũ của nhà than. Tôi leo vào trong chiếc lều dùng đậy miệng ống chỉ để nhìn vào khoảng trống sâu hút, đen kịt của cái lỗ đó. Littlebit thấy vậy bèn phóng theo và không nhận thấy cái lỗ đến khi bay gần tới nơi. Nó nhảy chồm về phía tôi nhưng hụt và rơi thẳng xuống hố sâu gần 200 mét. Tối đó Bố khiêng cái xác mềm rũ của Littlebit về nhà, trong lúc tôi khóc nức nở, ông xoay tôi lại và táng cho 3 cái rõ mạnh. Sau đó ông giúp tôi chôn cất Littlebit phía bên kia đường ray. Tôi yêu cầu ông bỏ mũ xuống để mình cầu nguyện. “Lạy Chúa đáng kính,” tôi da diết thút thít. “Xin hãy lấy mạng con theo vì con đã lỡ giết chết Littlebit.”

“Cầu nguyện gì mà khủng khiếp vậy!” Bố bàng hoàng. “Làm lại đi. Cầu nguyện cho linh hồn của Littlebit hay một cái gì khác đi.”

“Dạ được,” tôi nghiêm trang nói. “Lạy Chúa đáng kính, hãy cho Littlebit thật yên vui nơi chốn thượng giới và đừng lấy mạng con mặc dù con đáng bị như vậy.”

“Lạy Chúa tôi, họ dạy con cái quái gì ở nhà thờ vậy?” Bố rất hiếm khi đến Nhà thờ Cộng Đồng Coalwood. Ông đặt tay lên vai tôi rồi cầu nguyện thay. “Thưa Chúa, nó chỉ là một thằng bé thôi. Hãy phù hộ cho nó,” giọng ông vẻ lưỡng lự “tốt hết mức Ngài có thể.” Nói xong Bố đội mũ lên. “Đi nào, về xem Mẹ con chuẩn bị gì cho bữa ăn khuya nào.”

Ngay lúc này, một trong hai nhân vật từ Ohio cười phá lên rồi người kia cũng cười hùa theo, nghe cứ như một lũ la đang be be lên vậy. “Có vẻ con ông muốn trở thành nhà một khoa học ngành tên lửa đấy, Homer!”

“Nó không biết nó muốn trở thành thứ gì đâu,” Bố nói và ném cho tôi một cái nhìn lạnh lùng. “Nhưng tôi thì biết nó là thứ gì.” Đoạn ông giơ quả tên lửa lên. “Nó là một tên trộm.” Ông quan sát mối hàn dưới phần đáy rồi kết luận. “Và cả tên nào ở khu mỏ này đã tiếp tay cho nó nữa.”

Người dịch:Lâm Thanh Tùng - Làm ebook: thanhbt - Ngày hoàn thành: 04/09/2015
Nguồn: tve-4u
Được bạn: Mọt Sách đưa lên
vào ngày: 25 tháng 8 năm 2026

« Lùi Tiến »

💬 Thảo luận

Chưa có bình luận nào — hãy là người đầu tiên chia sẻ cảm nhận của bạn!

Đăng nhập để tham gia bình luận.