Auk IX - XI
Tôi đã trông thấy được tương lai và nó thật sự khả thi! Hai tuần trước, chính người phóng viên này đã chứng kiến những cậu bé của Tổ chức Tên lửa Big Creek phóng lên trời vật thể sáng tạo tuyệt mỹ của họ tại căn cứ Cape Coalwood. Khoảnh khắc quả tên lửa ánh bạc của họ rời khỏi bệ phóng xi-măng rồi bay vút lên không trung, tôi cứ há hốc mồm ra và bị mê hoặc bởi cái viễn cảnh huy hoàng khi nó tiến vào không gian... Dù vậy họ cũng vẫn còn mắc phải những sai sót. Tôi đã phải khum người trong lô cốt của họ và nhảy tránh những mảnh vỡ lạc hướng cùng với các chàng trai dũng cảm ấy. Nhưng họ không phải là loại người dễ dàng đầu hàng! Người phóng viên này muốn gửi một thông điệp tới ai đang đọc bài viết và cả những người khác nữa: Nếu như bạn còn hy vọng để hiểu được tương lai rực rỡ, huy hoàng sẽ đến với ai dám nắm bắt nó như thế nào thì hãy đến ủng hộ những cậu bé hỏa tiễn ở Coalwood nhé.
McDowell County Banner, tháng 8 năm 1958
NGÀY ĐẦU TIÊN NHẬP HỌC NĂM 1958 cũng là ngày bắt đầu của quãng thời gian bị đình chỉ thi đấu của đội bóng bầu dục. Thay vì ngông nghênh với điệu bộ kiêu hùng trên hành lang trong màu áo trắng xanh như thường lệ, Jim và mấy tên cầu thủ khác hôm nay ủ rũ lê chân vào lớp học và sẵn sàng xỉ vả ai đó chạm tự ái bọn chúng. Thông thường, khi bắt đầu một năm học mới cũng là cận kề với ngày thi đấu của đội bóng và cả trường sẽ tập trung hết vào họ. Họ chỉ việc ngoắc tay là mấy đứa con gái sẽ vội vã xúm lại sẵn sàng trở thành bạn gái của một thành viên nào đó của đội bóng Big Creek cao quý. Nhưng năm nay bọn chúng trông thật uể oải thay cho những tên cơ bắp thường ngày, tỏ ra ngu đần thay vì vẻ sáng láng ngày trước và ngang tàng một cách kì lạ. Dù sao đi nữa, biết chúng vẫn dư sức đè bẹp mình xuống sàn nhà nên tôi vẫn cẩn thận giữ khoảng cách và yêu cầu những đứa hỏa tiễn còn lại không động chạm vào chúng. “Nhưng đây quả là cơ hội tốt để châm chích mà,” Quentin khúc khích cười trong khi chúng tôi đang đi xuống hành lang. “Nhìn bọn chúng kìa. Cứ như những chú cừu non lạc đàn vậy.”
Chúng tôi nhanh chóng nhận ra rằng không phải việc đình chỉ bóng bầu dục là sự thay đổi duy nhất ở Big Creek. Thầy cô ra lệnh cho chúng tôi ngồi trong lớp im lặng và trật tự, rồi bắt đầu thao thao bất tuyệt trên bảng đen, vạch rõ ra những khóa học và những môn mới sẽ được giảng dạy, chúng được truyền cảm hứng từ sự xuất hiện của Sputnik. Những bài tập về nhà lạ lùng bắt đầu chiếm đầy trong vở, những chồng sách dần được dâng cao lên và những mảnh giấy photocopy rơi vãi đầy lối đi. Chúng tôi vất vả đi từ lớp học này qua lớp học khác với chồng sách ôm chặt trong tay. Sự việc này xảy ra với tất cả những trường trung học trong các bang. Sputnik được phóng lên vào năm 1957. Đến mùa thu năm 1958 thì nó đã làm rơi thảm họa tinh thần xuống nước Mỹ và những học sinh trung học chúng tôi đã bị phóng lên trời để đáp trả.
“Chào các anh,” một cô nàng lớp 10 xinh đẹp mở lời với tôi và Quentin trên hành lang trong giờ chuyển lớp. “Các anh sẽ đến Dugout vào thứ bảy này chứ? Hy vọng là vậy. Em rất thích nhảy đấy.” Nói rồi nàng ta lướt qua, và chỉ thoáng liếc ngang mấy tên cầu thủ mà thôi. Bọn chúng nhìn lại như muốn ăn tươi nuốt sống bọn tôi vậy.
“Ái dà,” Quentin thốt lên. “Điều này chưa từng xảy ra trước đây bao giờ cả.”
“Thì trước đây chúng ta cũng có được đăng lên báo đâu,” tôi nhắc nhở cậu ấy.
Lúc đi ngang qua tủ đựng cúp, tôi bắt gặp Valentine.Chị đang đứng đó một mình, chồng sách kẹp trước ngực. Hôm nay Valentine mặc chiếc váy len, áo khoác đen, và tóc cột đuôi ngựa, nhìn như một dòng thác đen nhánh đang lấp lánh chảy dài xuống lưng. Chị nhìn có vẻ ai oán lắm. “Chào Sonny,” chị chào, mắt rạng ngời lên khi nhìn thấy tôi. “Em có muốn vào phòng nhạc và âu yếm không nào?”
Tôi biết chắc rằng Valentine đang đùa cợt. Dẫu sao, chị cũng học trên tôi một lớp và lớn hơn tôi gần 2 tuổi. Tôi lại gần chị. “Dĩ nhiên rồi Valentine ạ,” tôi đùa lại “ngày nào, lúc nào cũng được cả.”
Chị như đang dò xét vào sâu trong đáy mắt tôi. “Em có muốn hộ tống một cô gái đến lớp không nào?”
“Được thôi.”
Valentine tựa vào tôi khi hai đứa đi dọc xuống hành lang. “Chị có đọc báo thấy em trên đó. Chị tự hào về em lắm. À này, nếu chị và mấy đứa bạn nữa muốn đến xem em phóng tên lửa thì có được không?”
Valentine luôn có đủ mọi tố chất làm tôi bất ngờ. “Em sẽ rất vinh dự nếu có chị đến xem,” tôi thốt lên những lời chân thật nhất từ đáy lòng mình. Một đám cầu thủ ủ rũ lê bước ngang qua chúng tôi, trong mắt chúng ánh lên những tia nhìn xấu xa độc địa. Một trong số bọn chúng, tên Bobby Joe Shaw bất chợt húc vào Valentine mạnh đến nỗi chị suýt đánh rơi hết sách vở xuống đất. Chị ấy chộp lấy ngay tay hắn rồi quay vòng hắn lại. “Đi thì phải biết nhìn đường chứ, thằng chó đểu kia!”
Bobby cũng là học sinh lớp trên như Valentine. Tôi nhớ năm ngoái đã có lần trông thấy họ tay trong tay tại giảng đường. Hắn ta từng chơi ở tuyến hai với vai trò hậu vệ trong mùa giải năm 1957. Trong mùa đó, hắn đã thực hiện một cú chuyền ngoạn mục và chơi một trận xuất sắc. Lẽ ra thì với thành tích ấy, hắn sẽ được tỏa sáng trong mùa giải 1958 này. Nhưng bây giờ tất cả đã tan thành mây khói. “Em có vẻ thích trai tơ, Valentine nhỉ?” hắn mỉa mai.
“Đừng có nói với tôi những lời vớ vẩn nữa Bobby Joe,” Valentine gầm gừ, và gần như đang giẫm lên hết ngón chân của hắn. Hắn chùn bước, liếc tôi với ánh mắt như muốn ăn tươi nuốt sống rồi lẩn xuống cuối hành lang. Valentine quay lại với tôi. “Nếu như Bobby Joe hay bất kì thằng khốn nào... gây rắc rối cho em thì tìm chị nhé, Sonny. Chị sẽ xử lý chúng cho.” Khi đến trước cửa lớp, Valentine nhìn tôi cười bẽn lẽn. “Khi nào em sẵn sàng cho vụ âu yếm thì gọi chị nhé. Chị sẽ đến ngay đấy.” Nói rồi chị nháy mắt với tôi và bước vào lớp.
Quentin đến cạnh và cùng tôi dõi theo Valentine đến khi chị ngồi vào bàn học. “Quả là một cô gái “hoành tráng” nhất trường đấy!” cậu ấy tuyên bố. Ngoại trừ Dorothy ra thì tôi đồng ý với quan điểm này. Tim tôi đập thình thịch trong lồng ngực như vừa mới phải chạy bộ một quãng dài. Huấn luyện viên Gainer từng cảnh báo với lũ con trai chúng tôi trong giờ sức khỏe rằng sự kích thích sẽ trào dâng trong cơ thể chúng tôi khi tất cả bước vào trung học. “Nó sẽ qua nhanh thôi,” người đàn ông mạnh mẽ đó khuyên răn như vậy. “Cứ mặc sức tận hưởng những cảm giác đó khi có thể nhưng đừng hành động gì, phải biết kiềm chế nó. Nếu như các em nhận thức được rằng nó chỉ là những rối loạn hóc-môn của trai mới lớn chứ không phải xuất phát từ lý trí thì sẽ ổn cả thôi.”
Vào cuối ngày hôm đó, Dorothy ngoắc tôi ra ngoài khi tôi đang chuẩn bị lên xe buýt về nhà. Nàng trông thật kiêu sa trong chiếc áo choàng bằng vải hồ bột trắng tinh cùng chiếc váy thủy thủ xanh thẳm. “Chủ nhật này qua nhà mình nhé?” nàng hỏi tôi. “Mình cần cậu giúp về hình học phẳng.”
“Mình sẽ đến.”
Nàng nhìn bâng quơ đi đâu ấy, miệng nở nụ cười tinh quái. “Mình nhớ cậu suốt cả mùa hè đấy,” nàng thỏ thẻ nói.
“Tha...ật à?” tôi lắp bắp.
“Ừm..humm,” nàng gật đầu, đôi mắt xanh to tròn chợt lướt qua tôi. “Mình cũng có đọc tin tức về cậu trên báo. Mấy cô nàng xinh xắn lớp 10 đang mê mẩn cậu lắm, mình cá đấy. Mình thật ghen tị quá đi mất!”
Tôi cười toe toét với nàng như một thằng ngớ ngẩn ngoại hạng. “Đừng như vậy chứ! Mình - ý mình là... Dorothy à, mình cũng nhớ cậu lắm!”
“Bọn mình có rất nhiều chuyện để nói với nhau đấy. Mình nôn nóng quá đi mất!”
Roy Lee lon ton chạy đến bên tôi rồi nhìn Dorothy với thái độ khinh bỉ ra mặt. Cậu ấy chẳng bao giờ thật sự chịu nhận ra sự hoàn hảo của nàng cả. “Sonny, Jack chuẩn bị đi rồi. Ông ta nói cậu có 5 giây, nếu không thì sẽ bị bỏ lại với cô Priss này đấy.”
Tôi miễn cưỡng theo gót Roy Lee. “Tớ mong cậu sớm quên được con nhỏ đó, Sonny ạ.” Cậu ấy nói.
“Không bao giờ,” tôi thẳng thừng đáp lại.
Tôi ngồi lên xe buýt rồi vẫy tay chào Dorothy. Nàng vẫy chào lại tôi, gửi kèm theo một nụ hôn gió. Tôi thấy người mình cứ lâng lâng trên suốt chặng đường về Coalwood, đến nỗi Jack phải nhắc tôi xuống xe khi đã về đến nơi.
TÔI ĐÃ SỐNG SÓT qua được môn đại số của năm lớp 10, vớt vát được điểm B sau những bài kiểm tra với kết quả khá tốt vào cuối niên học. Nhưng đến lớp 11 thì tôi lại học tốt hình học phẳng ngay từ đầu. Có một điều tôi biết chắc là những kiến thức căn bản về các đường cong, góc, và đa giác của hình học phẳng sẽ giúp tôi rất nhiều trong việc thiết kế tên lửa. Tôi đoán rằng có sự tương quan về kích thước trong việc thiết kế tên lửa, ví dụ như tỷ lệ thích hợp giữa diện tích của bộ thăng bằng định hướng và phần thân của tên lửa. Nhưng tôi phải giải đáp những vấn đề này như thế nào? Thầy Hartsfield xua đi câu hỏi của tôi về cách tính và so sánh giữa các mặt phẳng (bộ thăng bằng) và mặt cong (phần thân) bằng cách nhấn chìm chúng tôi vào những tiên đề, định đề và chứng minh của hình học Ơ-clit. “Những câu hỏi của em nghiêng về lĩnh vực hình học giải tích và tích phân,” thầy ngoảnh lại từ bục giảng, nhìn tôi qua cái mắt kính nửa tròng[28] và răn đe. “Theo thầy nhớ thì em gặp khó khăn về môn đại số mà. Và nếu như cứ tiếp tục yếu môn đại số như vậy thì em sẽ bị tụt hậu, tụt hậu một cách trầm trọng, Hickam ạ!”
Qua phần bài giảng về hình tam giác, trong đầu tôi bất chợt liên tưởng đến mối quan hệ giữa các cạnh của tam giác và các góc mà chúng tạo thành. Lúc tôi hỏi thầy Hartsfield về điều này thì ông nhìn tôi chằm chằm nhưng không hoàn toàn phản đối. “Cái đó thuộc về lĩnh vực môn lượng giác Hickam ạ. Trong bài học thêm chúng ta sẽ tìm hiểu về những gì mà cái đầu ngoan cố của em muốn biết.”
Điều mà cái đầu ngoan cố của tôi đang muốn tìm tòi là làm sao để biết được tên lửa của mình bay cao bao nhiêu. Tôi và Quentin say sưa vùi đầu vào cuốn sách của Jake. Chúng tôi cùng nhau học lượng giác trong giờ nghỉ trưa tại Big Creek. Tôi nhận ra rằng một khi chúng ta có động lực muốn biết về một điều gì đó thì dù phức tạp đến đâu việc học nó cũng trở nên không quá khó khăn. Theo cuốn sách lượng giác chỉ bảo, chúng tôi cần chế tạo dụng cụ để đo góc, từ đó sẽ có thể tính toán ra được tên lửa của mình bay cao bao nhiêu. “Tớ sẽ làm nó ngay đây,” Quentin quả quyết hứa.
“ÔI, CẬU THẬT THÔNG MINH ĐẤY SONNY,” Dorothy ngồi trên ghế salông trong phòng khách nhà nàng, thở dài khi tôi kể rằng mình đang tự học lượng giác. Rồi nàng chồm người qua và ôm chầm lấy tôi. “Việc này là trả ơn vì cậu đã giúp mình học môn hình học phẳng nhé.”
Đây là cơ hội hoàn hảo để tôi thực hành thao tác của Roy Lee. Tôi từ từ trượt tay nhẹ nhàng vòng qua vai nàng, nhưng đúng lúc ấy đột nhiên nàng nhảy bật dậy. “Ôi, bánh qui của mình sắp khét đến nơi rồi! Chờ tí nhé, mình quay lại ngay.” Đến khi quay lại với một khay bánh qui sô-cô-la thì nàng ngồi xuống chiếc ghế đối diện tôi rồi chia bánh. “Mình rất vui vì hai đứa là bạn tốt,” chắc nàng đã nói câu này phải đến cả triệu lần rồi ấy chứ! Nhưng nó không làm tôi chùn bước, quan hệ của tôi với nàng đang từng bước tiến triển đấy thôi.
Suốt mùa thu năm ấy, tôi bắt xe đến War vào mỗi chiều Chủ nhật để cùng Dorothy học hình học phẳng. Chúng tôi phối hợp với nhau rất tốt. Sau khi hoàn tất mọi định đề và định lý thì có vẻ Dorothy còn hiểu rõ về những biến hóa của chúng hơn cả tôi. Nàng còn là một cô giáo giỏi, rất kiên nhẫn giải thích cho tôi sự liên hệ của những cách chứng minh. Dorothy có một trí nhớ tuyệt vời, nàng không bao giờ quên thứ gì đã học thuộc. Nhưng tôi lại giỏi hơn nàng rất nhiều về sức tưởng tượng. Thậm chí tôi phải vẽ hình ảnh minh họa để giải thích cho nàng vì sao hai đường thẳng được coi là song song với nhau một khi chúng cùng vuông góc với một đường thẳng thứ 3.
Thầy Hartsfield đã làm mọi cách tốt nhất để cung cấp những công cụ cho công việc của chúng tôi. “Các quí ngài, quí cô, các em phải học phương pháp suy luận diễn dịch!” Chợt thầy bắt gặp Roy Lee đang liếc mắt đưa tình với bạn gái ngồi kế bên, lập tức thầy phóng một viên phấn trúng đầu cậu ấy. “Nào, thầy ra cho em một mệnh đề nhé,” thầy bảo Roy Lee. “Mệnh đề chính: tất cả con người đều có óc. Em đồng ý không?”
Roy Lee xoa xoa đầu, bụi phấn đang bám dính lên mái tóc Đ.V bóng nhoáng của cậu ấy. “Vâng thưa thầy.”
Thầy Hartsfield đứng dậy và nhón chân lên. “Và tất cả các cậu trai trẻ đều là con người. Đó là mệnh đề thứ 2 của tôi, có thể đem ra bàn thảo. Với hai mệnh đề chính và phụ như vậy, em đưa ra kết luận gì?”
Roy Lee nhướng mày đáp. “Là tất cả các cậu trai trẻ đều có óc?”
“Chính xác, chàng trai của ta!” thầy Harstfield hét lên và giậm một chậm xuống sàn. “Rồi, vậy giải thích suy luận của em đi?”
Suy luận diễn dịch cũng có vẻ hay ho và hữu ích đấy, nhưng tôi thích để trí óc của mình bay bổng theo không gian vô tận hơn, nơi đó có những đường thẳng đan xen vào nhau tạo ra những điểm không hợp thành một hình thù nhất định gì và còn là nơi của hai đường thẳng song song gặp nhau tại vô cực. Tôi bắt đầu nghĩ nhiều hơn về điểm vô cực, cố nghĩ xem mọi vật ở nơi ấy sẽ như thế nào, và vì sao tất cả những định đề, định lý và nguyên tắc lại trở thành thực tiễn xuyên hành tinh như vậy. Về đêm, tôi nằm trên giường, với Daisy Mae gác đầu dưới chân; tôi nhìn lên khoảng tối trên đầu và để trí tưởng tượng của mình tự do bay bổng. Đôi lúc khi làm vậy, tôi thực sự cảm thấy mình đang bay, vút lên vùng trời Coalwood, băng qua những thung lũng và núi đồi trùng điệp dưới ánh trăng yên lành. Một đêm nọ, khi đang thả hồn mình, tôi chợt nhận ra một sự thật rằng hình học phẳng là một thông điệp từ Chúa. Tâm trí tôi đóng kín lại, đưa tôi trở về với thực tại, căn phòng như khép chặt bao vây lấy tôi. Từ cái bàn, cái ghế, hộc tủ, sách vở và cả những mô hình máy bay bất chợt trở nên quá chân thực. Chỉ đến khi thấy Daisy Mae cựa quậy thì tôi mới hoàn hồn nhận ra mình đang an toàn trong căn phòng thân thương này. Nhưng dù sao đi nữa, tôi vẫn chưa khỏi cảm giác bàng hoàng, run rẩy. Rồi tôi nằm đó, thao thức, cố xua đi những ý nghĩ ấy nhưng thật bất lực, nó cứ đọng lại mãi trong tâm trí tôi. Ngày hôm sau, rồi lại hôm sau nữa, mọi thứ vẫn tiếp tục xảy ra như vậy. Rốt cuộc, tôi quyết định đi gặp cha Lanier để tâm sự về điều này.
Cha Lanier đang trong phòng sách và chào đón tôi một cách thận trọng. Ông đã hoàn toàn bình an sau bài thuyết giảng vừa qua tại Coalwood, nhưng có vẻ đây là một tình huống nguy hiểm đối với Cha. Ông cho tôi biết là chính miệng ông Van Dyke nói rằng Cha nên đọc lại điều 17:19 trong sách cách ngôn. Cha Lanier kết luận rằng mặc dù tín ngưỡng của ông Van Dyke có vấn đề nhưng thông điệp của ông ấy thì rất rõ ràng. Từ nay về sau, bản thân Cha Lanier sẽ phải cẩn trọng hơn rất nhiều về những gì mình sẽ thuyết trên bục giảng kinh.
Tôi chẳng lấy gì làm lúng túng khi trình bày những nhận định của mình về những nguyên tắc, định lý và tiên đề về hình học phẳng - những điều luôn đúng xuyên suốt cả hành tinh - rằng thông qua đó, Chúa đã gửi cho loài người một thông điệp. Có vẻ Cha xứ không đồng tình với ý kiến của tôi cho lắm. “Con đang nói về số học, Sonny ạ,” ông vừa nói vừa gõ lên cuốn Kinh Thánh. “Còn tất cả những lời răn của Chúa trời đều nằm trong cuốn Kinh Thánh này đây thôi.”
Tôi cố gắng diễn giải thêm một hồi nữa với Cha xứ nhưng tất cả những gì ông làm là nhịp nhịp lên cuốn Kinh Thánh. Thế rồi tôi chuyển mục tiêu sang Cha Richard. Cha Bé Nhỏ sóng bước cùng tôi dọc theo lối đi hẹp trong ngôi nhà thờ nhỏ bé của ông trong khi tôi trình bày ý kiến. Càng nghe tôi nói, ông càng tỏ ra như chùn hết người lại dưới sức ép của những giả định đó. “Lạy Chúa,” ông hít một hơi sâu. “Đó không gì khác ngoài một kế hoạch to lớn của Chúa.” Nói rồi ông chộp lấy cuốn Kinh Thánh nằm sau bục giảng kinh, đặt nó xuống băng ghế. Tôi ngồi xuống cạnh bên nhìn ông cứ đóng mở sách liên hồi. “Từ ngữ vẫn chỉ là từ ngữ thôi Sonny ạ,” ông vừa nói vừa di ngón tay lên một đoạn kinh ngẫu nhiên. “Nhưng con số cũng thuộc về Chúa. Chắc chắn là vậy rồi.” Ông gãi cằm rồi hướng mắt về chiếc thánh giá gỗ treo trên tường cạnh hộp nhạc. “Ta không thể giải mã nó được.” Đoạn ông nhìn sang tôi. “Con nghĩ là con có thể làm được không?”
Tôi nhún vai. “Không phải việc của con. Con chỉ muốn biết làm sao để chế tạo tên lửa mà thôi.”
“Ồ, nếu đó là tất cả những gì con muốn thì hãy cứ cầu nguyện, rồi Chúa sẽ ban cho thôi,” ông nói. “Ta sẽ giúp nếu như con chịu hứa điều này. Một khi con đã thành công chế tạo ra tên lửa và lúc nó bay vút lên không trung thì mọi người sẽ tung hô con. Nhưng con đừng để tâm về điều đó.” Nói rồi ông hất đầu về phía cây thánh giá. “Mọi vinh quang trên trái đất này đều thuộc về nơi này mà thôi.”
Tôi nhìn lên cây thánh giá rồi cúi đầu, đột nhiên cảm thấy hoảng sợ rằng Chúa sẽ trừng phạt mình vì dám đả động đến kế hoạch của Ngài. “Vâng thưa Cha,” tôi nuốt khan.
“Đừng có tự làm mình ngộp thở như vậy, nào, bây giờ thì hãy kiêu hãnh lên một chút đi nào.”
“Không đâu thưa Cha,” tôi nói thầm, với giọng nhỏ nhẹ nhất có thể.
Cha Bé Nhỏ cười he he he he một lúc lâu. “Nào cậu nhỏ, đừng có phiền muộn nữa. Chúa luôn tràn đầy lòng yêu mà, con không biết điều đó hay sao? Ngài sẽ chẳng bao giờ làm hại con cả. Ngài đã có kế hoạch cho con và cả những đứa bạn của con rồi.”
Tôi gật đầu lặng lẽ. “Rồi, vậy thì đi đi. Ta còn phải cầu nguyện nữa. Chà chà, cậu nhóc Coalwood này còn ngộ ra được lời của Chúa từ trong sách hình học phẳng nữa chứ. Ta phải cầu nguyện về điều đó nhiều đây.” Cha Bé Nhỏ kết thúc câu chuyện như vậy.
MỘT BUỔI SÁNG NỌ, Bố ném vài lát bánh mì vào chiếc máy nướng nằm trên kệ bếp rồi ấn nút và đi pha cà phê. Đến khi ông quay lại thì nút bấm vẫn nằm ở vị trí đó nhưng chẳng có gì xảy ra. Rồi ông phát hiện ra bộ phận tỏa nhiệt đã biến mất. Thật ra vì chính tôi đã tháo nó ra để trắc nghiệm xem hệ thống đánh lửa điện của mình có hoạt động hay không.
Cũng vì kế hoạch này mà O’Dell đã tháo bình ắc qui trong xe tải của bố cậu ra. Roy Lee chở O’Dell cùng chiếc bình ắc qui đến nhà tôi để tiến hành trắc nghiệm. Thật tuyệt, nó thực sự hoạt động, sợi dậy của máy nướng bánh mì đủ nóng để đánh lửa cho phần thuốc súng. Nhưng sau đó thì bọn tôi bị phân tâm bởi chương trình American Bandstand và Roy Lee lẫn O’Dell cùng bỏ đi, để lại dây nhợ và bình ắc qui lại trong nhà xe. Đối với Bố tôi thì ông không có bánh mì nướng. Còn đối với bố của O’Dell thì ngày hôm sau, chiếc xe tải chở rác của ông sẽ không hoạt động. Điều phiền muộn cùng lúc đến với cả hai gia đình, và rồi sự việc được truyền đi nhanh chóng qua hàng rào sau nhà. Chẳng lâu sau, việc gì mất mát xảy ra trong thị trấn đều được đổ lên đầu “mấy thằng nhóc hỏa tiễn” cả. Một ngày nọ, Mẹ nhận được điện thoại từ ông Jackson ở trên khu New Camp, ông luôn tự nhận mình là một thợ săn chuyên nghiệp. “Elsie, bà làm ơn hỏi xem Sonny có nhìn thấy Jesse hay không?”
Mẹ biết Jesse chính là chú chó săn của ông Jackson. “Để làm quái gì vậy ông Jackson?”
“Ừ thì tại tôi nghe nói các ông tướng ở Cape Canaveral đang cho mấy con khỉ lên không gian. Tôi sợ là con bà cũng cho mấy con chó săn già lên trên đấy thì sao.”
Mẹ cố nhịn cười đáp. “Đừng lo ông Jackson ạ. Jesse đi lang thang đâu đó và sẽ về mau thôi. Tôi không nghĩ là mấy đứa nhỏ đang bắt giữ nó đâu.”
Con chó già Jesse quả thực đã tự về nhà không lâu sau đó, nhưng từ đấy về sau, mỗi lần tôi đạp xe ngang qua ông đều dõi theo tôi với ánh mắt kì lạ.
O’Dell và Roy Lee đang tìm cách để cải thiện việc liên lạc ở Cape và hai đứa nó nhắm vào khu chuồng la. Ông Carter đã xây cái chuồng này vào đầu những năm 1930 làm chỗ trú thân cho những con la đã quá già, không còn sức làm việc cho khu mỏ. Ông đã từ chối bán chúng cho nhà máy tách mỡ động vật vì nghĩ rằng chúng xứng đáng được an hưởng tuổi già sau nhiều năm tận tụy cống hiến cho hầm mỏ. Sau nhiều năm nằm dưới lòng đất, chúng không quen với ánh sáng nên chẳng lang thang ra ngoài gặm cỏ được nữa. Đến khi ông Carter bán lại công ty cho nhà máy thép thì khu chuồng này trở nên trống vắng. Ngay sau khi mấy người trên Ohio xuống đây, họ đã chở hết đám la đi làm thức ăn cho chó. Tôi nghe kể rằng vào hôm đó, Mẹ cùng một số phụ nữ trong thị trấn đã đứng khóc ròng bên đường khi mấy chiếc xe tải chở đàn la bị trói chặt chạy ngang qua. Lúc nhỏ, khi chơi đùa quanh khu chuồng đó, lũ nhóc chúng tôi thường lén nhìn xuyên qua song cửa sổ đóng bụi cũ kĩ để chứng kiến mấy ngăn chuồng hoang vắng rùng rợn cùng những bộ yên cương cổ xưa. Trên chiếc bàn ngay giữa ngăn chuồng cuối có rất nhiều điện thoại cổ lỗ sĩ của khu mỏ. O’Dell cho rằng mấy cái đó đã là phế thải rồi, nên BCMA được quyền sở hữu chúng. Thay vì đơn giản là xin phép công ty để có chúng thì cậu ấy lại đưa ra một kế hoạch tưởng chừng như hay ho hơn nhiều.
O’Dell và Roy Lee đã cùng nhau đến khu chuồng la vào khoảng nửa đêm thứ 6. Ngay sáng hôm sau, trong khi đang xem phim hoạt hình thì tôi nghe điện thoại reo. Đầu dây bên kia, Tag Farmer, cảnh sát thị trấn, oang oang. “Em lên văn phòng ông Van Dyke gấp đi Sonny, em gặp rắc rối to rồi đấy.”
Khi Tag cho tôi biết chuyện gì đã xảy ra, tôi chỉ muốn bóp chết O’Dell mà thôi. Trò hề này tôi biết rằng sẽ có thể làm chúng tôi phải tránh xa tài sản của công ty một lần nữa. Tôi chộp lấy xe đạp rồi phóng nhanh xuống Main Street.
Ông Van Dyke nhướng mày nhìn tôi chạy vào rồi thắng két lại trước bàn. Roy Lee và O’Dell đang ngồi trên ghế, nhìn bâng quơ lên tường, trông hai đứa nó thật nhếch nhác, bẩn thỉu. “Xem nào, Sonny,” ông Van Dyke lên tiếng. “Ta biết rằng câu lạc bộ tên lửa của cháu đang cần điện thoại.” Ông tỏ ra lạnh lùng, tay vẽ hình một ngôi nhà thờ nhỏ lên bàn. “Và như vậy là bọn cháu quyết định ăn cắp của công ty hả? Ồ, bọn cháu nghĩ rằng mình rất tinh khôn à, nhưng bọn ta thì biết được tất cả những gì diễn ra trong thị trấn này, nhiều hơn bọn cháu có thể nghĩ đấy. Phải không Tag?”
Tag Farmer đang đứng tựa vào tủ hồ sơ bằng gỗ dựng ở góc tường, gật đầu đồng tình. Tag đang mặc đồng phục bằng vải kaki của công ty, trên áo khoác còn đeo lủng lẳng chiếc huy hiệu hình ngôi sao nữa. Anh khá trẻ, chỉ khoảng ngoài hai mươi. Tôi nghe kể rằng sau khi tốt nghiệp ở Big Creek, anh dành hết thời gian của mình trên một ngọn núi ở Hàn Quốc, ngồi chờ quân đội Trung Quốc đến lấy mạng. Nhưng có vẻ nó không phải là một ngọn núi quan trọng gì nên họ chẳng quan tâm tới. Khi nhiệm vụ kết thúc, Tag quay trở về và vào làm việc trong khu mỏ. Anh cũng xuống được tới cuối tầng hầm nhưng không thể nào ra khỏi cái thang máy được. Cũng vì Tag từng là lính chiến nên Đội Trưởng Lair tìm cho anh một công việc khác và thật sự Tag tỏ ra là một cảnh sát tốt. Chẳng có nhiều vụ án gì xảy ra ở đây để xử lý nhưng anh luôn sẵn sàng đến giúp mấy bà cô di chuyển đồ đạc nặng và cung cấp dịch vụ taxi miễn phí cho bất cứ ai yêu cầu.
“Bẻ khóa và đột nhập để trộm cắp. Anh gọi đó là gì, Tag? Dựa trên luật pháp ấy?”
Tag nhún vai. “Có thể liệt vào trọng tội, thưa ông Van Dyke.” Roy Lee và O’Dell ôm lấy đầu. Tôi thì muốn khụy chân xuống.
Ông Van Dyke ngả người vào ghế, tiếng cọt kẹt phát ra loạn xạ. “Trọng tội! Vậy là phải bỏ tù, phải không Tag?”
“Tôi rất tiếc, đúng vậy, thưa ông.”
Thay vì một tương lai xán lạn trong đội ngũ của von Braun, giờ đây có vẻ viễn cảnh của tôi là ngục tù và song sắt. Tôi định quỳ xuống van xin tha thứ. O’Dell nấc rõ to, còn Roy Lee thì im lặng khắc khổ. Tag đổi chân tựa rồi lên tiếng: “Ông Van Dyke à, chúng ta có thể bàn thảo lại không? Ý tôi là có lẽ chúng ta không cần đưa sự việc này ra tòa ở Welch.”
Ông Van Dyke nhún vai. “Thôi được, nếu anh thật tình muốn vậy Tag ạ. Mặc dù chúng ta sẽ bị búa rìu dư luận dữ dội nếu chống lại luật pháp đấy.”
Tag chỉ ra cửa. “Sao mấy em không ra ngoài ngồi đợi một lát? Anh sẽ ra ngay. Đi đi.”
Chúng tôi từng đứa một đi ra và ngồi ở phòng ngoài. Chiếc máy đánh chữ trên bàn được phủ khăn cẩn thận và bàn giấy thì được sắp xếp gọn gàng. Ông Van Dyke lại mất thư kí. Người mới nhất chuyển tới từ Ohio, trong một tháng ở đây, nửa thời gian không làm việc thì cô ta đã có những giây phút vui vẻ như trên thiên đàng trong phòng ngủ của Jake trước khi bị sa thải. Rốt cuộc, Jake bị ra lệnh không được hẹn hò với bất cứ thư kí nào của công ty nữa. Vợ ông Van Dyke cũng loan báo khắp Coalwood rằng lần mướn người sau, đích thân bà sẽ tuyển chọn. “Hãy để Jake chờ xem bà cô mà tôi thuê vào,” bà Van Dyke nói qua hàng rào. “Và cũng chờ xem đến khi nào ông Van Dyke hết chịu nổi bà cô ấy,” thông tin từ hàng rào phản hồi lại một cách thích thú.
Roy Lee ngồi lặng im, liếc nhìn O’Dell đang run rẩy thì thầm vào tai tôi, thuật lại toàn bộ sự việc. Vào khoảng nửa đêm, hai đứa nó đến chuồng la. Tìm thấy một chiếc ổ khóa rỉ sét ở cửa sau, bọn nó lấy búa đập cho rời ra sau đó cẩn thận đẩy cửa vào trong. O’Dell cầm đèn pin rọi khắp mấy ngăn chuồng trống rỗng, một mùi xưa cũ như từ cả trăm năm trước xộc lên. Ngay lúc đó thì sàn nhà mục nát sập ầm xuống, hai đứa ngã nhào xuống tầng hầm. Cả đàn dơi bay tung lên, toán loạn khắp nóc nhà rồi bay qua cửa sổ vào màn đêm lạnh giá, và rồi mọi thứ yên tĩnh trở lại. Không thoát ra được, hai đứa nó ngồi suốt cả đêm trong đó đến khi Tag tìm thấy chúng.
Cuối cùng Roy Lee cũng mở miệng. “Tớ ghét cậu,” cậu ấy nói với O’Dell. Rồi quay sang nhìn tôi. “Ghét cả cậu nữa.” Sau đó nó lại ngậm tăm.
Tag đi ra và dẫn chúng tôi vào trong. Cả bọn đứng cúi gằm mặt xuống trong ánh mắt săm soi của ông Van Dyke. “Các cháu nghĩ mấy cái điện thoại cũ này đáng giá bao nhiêu?”, rốt cuộc ông hỏi.
Làm sao biết được, chúng tôi lầm bầm.
Ông đặt tay lên chiếc máy tính màu đen bằng sắt to tướng, gõ vài cái rồi kéo cần gạt, sau đó nhìn vào mảnh giấy kết quả. “Được rồi. Ta sẽ làm như thế này mấy nhóc ạ. Nếu bọn cháu muốn có mấy cái điện thoại này thì phải trả 25 dollar, cộng với 2 dollar cho cái ổ khóa và 10 dollar nữa cho cái tội không thông báo công ty về việc đột nhập vào chuồng la. Chúng ta sẽ chuyển việc này thành một cuộc giao dịch, cách bạn trẻ ạ, để lý lịch các cháu không bị hoen ố. Tag đã đứng ra để bảo vệ cho các cháu, chỉ có Chúa mới biết vì sao anh ấy làm vậy. Anh ấy bảo rằng bọn cháu không phải thuộc loại mấy đứa nhóc hay đổ nước xà phòng lên xe hơi của anh ấy và không đập vào thành xe hơi hù dọa mấy cụ già đi ngang trên đường. Nói tóm lại, anh ấy yêu cầu ta rộng lượng với các cháu mặc dù lý trí mách bảo ta phải nhân dịp này để dẹp ngay cái việc phóng tên lửa trong thị trấn. Rồi, vậy rốt cuộc các cháu muốn gì? Giao dịch hay lãnh án?”
“Còn bố mẹ của tụi cháu thì sao ạ?” tôi e dè hỏi.
Mắt ông Van Dyke xoe tròn ra ngạc nhiên đầy kịch tính. “Ta không bao giờ tiết lộ chi tiết của giao dịch với khách hàng nào khác cả!”
Và rồi BCMA đã giao dịch với ông Van Dyke. Chúng tôi được phép trả chậm 37 dollar này trong vòng 1 năm. Mặc dù chẳng biết phải kiếm tiền bằng cách nào, nhưng miễn là vẫn còn được tiếp tục chế tạo tên lửa là tôi yên tâm rồi. “Tớ biết cách kiếm thật nhiều tiền đấy,” O’Dell nói sau khi chúng tôi đã đi ra ngoài đường. Mặt cậu ấy sáng bừng lên. “Đúc sắt.” Nói rồi cậu đặt tay lên cạnh mũi, một dấu hiệu của sự lén lút, hay cũng có thể là lừa dối. “Đúc sắt, vào hè tới.”
“Cho tớ rút lui khỏi vụ này đi,” Roy Lee tuyên bố.
TRONG TẤT CẢ CÁC MÔN HỌC Ở LỚP 11, tôi yêu thích môn hóa học nhất, vì nó được giảng dạy bởi cô Riley. Cô tỏ ra rất nghiêm khắc, và không bao giờ để một ai làm cô xao lãng khỏi chủ đề dù chỉ một lần. Nhưng cô luôn có những câu nói đùa hóm hỉnh để giúp chúng tôi hưng phấn và trên hết là niềm say mê thật sự với môn học này của cô làm tất cả học sinh phải hoàn toàn chú ý. Chương trình nâng cao đưa chúng tôi làm quen với bảng tuần hoàn hóa học trong tuần đầu tiên. Đến tuần thứ hai, chúng tôi đã bắt đầu cân bằng phương trình hóa học. Nếu như có gì không hiểu, chúng tôi được khích lệ phải hỏi lại và cô sẽ kiên nhẫn quay lại từ đầu để giảng giải đến nơi đến chốn. Nếu như không ai đặt câu hỏi nào, cô sẽ xem rằng mọi người đã hiểu bài và tiếp tục giảng. Hằng đêm tôi dành 1 tiếng chỉ riêng để làm bài tập môn hóa, còn lại 3 tiếng để học tất cả các môn khác.
Mặc dù trường Big Creek chỉ cung cấp cho cô Riley một số dụng cụ sơ sài để diễn giải những gì chúng tôi học trong sách giáo khoa ra thực tế, nhưng cô đã tỏ ra cực kì sáng tạo. Một ngày nọ, cô dẫn chúng tôi ra sân bóng. Mặt sân đã trở nên hoang phế sau một mùa thu không sử dụng do đội bóng bị đình chỉ. Bãi cỏ héo úa và ngả sang màu nâu, những đường biên cũng chuyển sang màu vàng nhạt. Ngay đến khán đài và chỗ dành cho phóng viên dường như cũng bị lún xuống. Cô Riley rải xuống đất một ít bột trắng từ trong 2 cái túi giấy nhỏ mà cô mang theo rồi dùng muỗng gỗ trộn đều chúng với nhau. Lúc đó tôi đang đứng cạnh Dorothy. Đột nhiên, tôi ngỡ ngàng nhận ra nàng đã xích sát lại bên, nắm lấy tay tôi rồi tì ngực vào người tôi trong vài giây trước khi di chuyển ra chỗ khác để nhìn cô Riley rõ hơn. Tôi ngước lên và thấy Roy Lee đang đứng nhìn mình vẻ nghiêm nghị. Tôi đành nhăn răng cười trong ngượng ngùng.
“Đây là hỗn hợp của kali clorát và đường,” cô Riley nói. “Những gì chúng ta sắp thấy là biểu hiện của qui trình ôxy hóa nhanh. Quentin, nói cho mọi người biết về sự khác nhau giữa ôxy hóa nhanh và chậm xem nào.”
Dĩ nhiên Quentin nắm rõ bài tập về nhà. “Khi ôxy phản ứng với một nguyên tố trong một thời gian dài thì kết quả đạt được là sự ôxy hóa chậm, rỉ sét là một ví dụ điển hình nhất,” cậu phát biểu rất tự tin. “Nhưng khi ôxy phản ứng với một thứ gì đó ngay lập tức thì năng lượng sẽ được tạo ra dưới dạng ánh sáng và nhiệt.”
“Cảm ơn Quentin. Hỗn hợp giữa kali clorát và đường này sẽ minh chứng cho qui trình ôxy hóa nhanh.” Cô Riley quẹt một que diêm rồi thả vào đống bột hình kim tự tháp đó. Ngay lập tức, một ánh lửa xẹt ra kèm theo một tiếng xì rõ to. Nguyên đám BCMA chúng tôi nhìn nhau, không cần nói lời nào vì tất cả đều đang có cùng một suy nghĩ. Nhiên liệu cho tên lửa.
Sau giờ học, tôi lên bàn giáo viên gặp cô Riley và chỉ vào nhúm kali clorát. “Em có thể lấy những gì còn lại không ạ?” tôi hỏi. Tôi còn kể cho cô nghe về BCMA, phòng trường hợp cô chưa nghe nói về nó. “Chúng em xây dựng một căn cứ - Cape Coalwood - và tên lửa cũng đã đạt được một độ cao nhất định. Nhưng bọn em cần một loại nhiên liệu tốt hơn.”
“Em có suy nghĩ thêm về việc tham dự hội chợ khoa học không? Cô vẫn còn quản lý ủy ban đó.”
“Em không nghĩ bọn em đã sẵn sàng.” Tôi thành thật đáp. “Bọn em vẫn còn phải tìm hiểu thêm nhiều vấn đề, nếu có quyển sách về nó thì tốt quá.”
“Sách à.” Cô nghiêng đầu, suy nghĩ. “Không, cô không thể nói rằng đã từng thấy một cuốn sách nào chỉ dẫn việc chế tạo tên lửa. Nhưng cô sẽ tìm cho.”
“Cô sẽ giúp em thật à? Thật tuyệt quá. Nhưng ngay lúc này thì...” tôi chỉ về phía nhúm bột trên bàn.
Cô lắc đầu. “Xin lỗi em, cô chỉ có bấy nhiêu mà thôi. Dù gì thì kali clorát cũng không ổn định dưới tác động của nhiệt và áp suất, quá nguy hiểm để dùng làm nhiên liệu cho tên lửa. Thế bố mẹ các em nghĩ gì về BCMA?”
“Mẹ em chỉ nói là đừng có tự làm nổ tung mình thôi.”
Cô cười to, rồi nhìn tôi trầm ngâm cứ như tôi là một vật đánh đố vậy. “Sao em lại chế tạo tên lửa?”
Cô thật gần gũi, dễ trò chuyện như với bạn bè. “Em nghĩ đơn giản là vì em muốn trở thành một phần trong đó - bay vào không gian ấy,” tôi nói với cô. “Mỗi khi họ phóng lên một cái gì đó từ Cape Canaveral, thì... em cảm thấy như mình muốn làm một cái gì đó để giúp đỡ. Nhưng em chẳng thể làm gì. Nếu như em có thể tự chế tạo tên lửa cho riêng mình...” tôi ngưng lại, chẳng hiểu là mình có đang nói nhăng nói cuội không nữa.
Cô đỡ lời: “Nếu như em có thể tự chế tạo tên lửa cho riêng mình thì em sẽ trở thành một phần trong đó. Cô cảm nhận được điều này. Đối với cô cũng vậy, như chuyện sáng tác thơ ấy. Đôi lúc cô phải tự làm thơ - dĩ nhiên là không hay rồi, cô biết vậy - nhưng nó giúp cô phần nào liên kết được với những bài thơ mà cô hằng tôn sùng. Em có hiểu không?”
“Em hiểu,” tôi đáp. Chưa bao giờ có thầy cô nào lại thổ lộ điều gì riêng tư với tôi một cách chân tình như cô Riley vừa làm, cứ như chúng tôi ngang vai vế vậy.
Cô cười với tôi không ngớt, trong lúc ấy, tôi cảm thấy như mình trở thành người quan trọng nhất trên thế giới đối với cô. “Cô cho em vài lời khuyên nhé. Đừng có tự làm nổ tung mình lên đấy. Cô nghĩ cô vẫn muốn có sự hiện diện của em trong lớp học này. Được chứ?” cô khuyên rất chân thành.
“Được! Ồ, ý em muốn nói là vâng, thưa cô.”
Quentin đang đứng chờ tôi ngoài hành lang. “Cô nói gì vậy?” cậu ấy hỏi.
“Cô không cho chúng ta nhúm kali clorát đó vì chúng quá nguy hiểm.”
Cậu vỗ vai tôi trấn an. “Không sao đâu. Kali nitrát cũng có đặc tính và số nguyên tử ôxy gần giống với kali clorát. Chỉ cần trộn diêm tiêu (kali nitrát) và đường lại thì chúng ta cũng sẽ có được phản ứng giống vừa rồi thôi.”
Quentin đặt chiếc cặp tài liệu xuống rồi lôi cuốn sách hóa học ra tìm công thức. “Kali Nitrát. KNO3. Có thành phần tương tự như kali clorát chỉ khác là nó có nguyên tử kali thay vì clo.” Nói rồi cậu ấy đặt tờ giấy lên tủ khóa và chép công thức xuống. “Tớ nghĩ nếu mình trộn nó với đường rồi thêm nhiệt thì sẽ được 3 phần ôxy, 2 phần cac-bon đi-ô-xít, kèm theo một vài chất phụ khác. Nói cách khác là rất nhiều khí sẽ sinh ra. Nó sẽ tạo nên một lực đẩy tuyệt vời.”
Có vẻ Quentin nói đúng. “Tối nay tớ sẽ thử nó,” tôi hứa.
Tôi về nhà, lục lọi dụng cụ trong tủ bếp của Mẹ và đem xuống hầm. Lần này, tôi trộn kali nitrát và đường, mỗi thứ một thìa xúp vào trong tách rồi dùng muỗng gỗ khuấy đều; sau đó đổ chúng vào trong lò đun nước bằng than. Thật hài lòng khi chứng kiến ngọn lửa bùng lên giống như thí nghiệm của cô Riley, chỉ khác là nó màu hồng thay vì màu xanh. Âm thanh, cường độ và thời gian của đợt cháy này có vẻ như hoàn toàn vượt trội so với những gì mà hỗn hợp thuốc súng đen trước đó tạo ra. Tôi tiếp tục trộn vài hỗn hợp nữa, điều chỉnh và ghi chú lại tỷ lệ nguyên liệu cấu thành.
Lúc Mẹ đang dựa vào hàng rào chuyện phiếm với bà Sharitz thì ống khói nhà chúng tôi đột nhiên mù mịt khói và tia lửa như một núi lửa nhỏ. Cả hai vội vã chạy xuống hầm ngay lúc tôi vừa bỏ vào lò một tách hỗn hợp khác. Tôi đóng sập cửa lò lại rồi nhìn họ cười bằng khuôn mặt ngây thơ... vô số tội. “Chào Mẹ, chào bà Sharitz.”
“Thấy chưa Elsie? Tôi đã bảo chị là Sonny đã đi học về rồi mà,” bà Sharitz bảo.
“Nếu biết được điều đó mà không phải nhờ tín hiệu khói bốc lên thì tốt biết mấy,” Mẹ làu bàu.
Tôi giải thích cho cả hai người về việc tôi đang làm, rằng tôi đã phải trộn hỗn hợp chất nổ đẩy và lùi lại sau mỗi lần cho một ít vào lò như thế nào. Bà Sharitz nhìn tôi biểu diễn và hoan nghênh hào hứng khi nhìn thấy tia lửa màu hồng bắn ra. “Đẹp quá đi mất!”
Mẹ thì tỏ ra mơ hồ. “Được rồi Sonny, Mẹ nhắc lại một lần nữa nhé. Đừng có tự làm mình nổ tung đấy. Nghe chưa?”
Tôi làm vẻ mặt chân thật nhất. “Vâng, con nghe rồi thưa Mẹ.”
Đêm đó, tôi đổ đầy thân chiếc tên lửa với hỗn hợp đường và kali nitrát. Hỗn hợp không được mịn cho lắm nên tôi không thể đổ chúng dễ dàng qua cái lỗ được mà phải vừa đổ vừa gõ gõ vào thành tên lửa để có thể cho chúng vào được bao nhiêu hay bấy nhiêu. Bố về nhà và bắt gặp tôi. “Lại gì nữa đây anh bạn nhỏ?”
“Hỗn hợp chất nổ đẩy mới thưa Bố,” tôi trả lời.
“Nếu nó nổ, cái nhà này sẽ bay lên cao bao nhiêu so với móng của nó vậy?”
“Chắc chỉ khoảng 3 đến 6 mét thôi ạ.”
“Cừ lắm,” Bố nói rồi bỏ đi. Tôi giật mình quay người lại nhìn theo ông. Cừ lắm?
Thứ bảy tiếp theo, BCMA tập hợp lại rồi xuống Cape để thử nghiệm. Lần này thì chúng tôi không loan báo rộng rãi vì chưa biết hỗn hợp chất nổ đẩy giữa kali nitrát và đường này có hoạt động hay không. Auk IX phóng lên với tiếng xì đạt tiêu chuẩn nhưng nhanh chóng phụt tắt và rơi tõm xuống đất khi mới bay cao được khoảng hơn 30 mét từ bệ phóng. Chúng tôi nhặt nó đem về lô cốt để khám nghiệm. Khi tôi gõ vào thân tên lửa thì một ít mảnh vụn rơi ra. Hầu hết chất nổ đẩy đã cháy hết. Sherman ngửi ngửi rồi tuyên bố. “Thơm như mùi kẹo vậy.”
“Tên lửa kẹo ngọt!” O’Dell phụ họa theo, ra vẻ tự hào cho cái tên mới này.
“Nó có vẻ sản sinh ra rất nhiều khói nhưng lại cháy nhanh quá,” Quentin nhận xét. “Hỗn hợp rời rạc trong thân tên lửa có vẻ không chặt. Chúng ta phải nhồi thêm cho thật đầy vào.”
“Tớ có thể thử trộn thêm keo dán tem vào hỗn hợp lần tới,” tôi đề nghị.
“Đường rất dễ hòa tan,” Quentin vừa nói vừa cắn bờ môi mỏng manh của cậu ấy. “Nó sẽ giữ ẩm rất lâu đấy. Cậu có thể thử, dù sao thì kết quả cũng sẽ được thể hiện ở đây thôi Sonny ạ.”
“Dĩ nhiên rồi,” tôi đáp, cảm thấy hài lòng vì cuộc thảo luận của chúng tôi nghe có vẻ khoa học và chuyên nghiệp.
“Các cậu chẳng hiểu là các cậu đang nói cái quái gì phải không?” Roy Lee gặng hỏi.
Dù có lời phản đối sau vụ tai nạn ở chuồng la, Roy Lee vẫn hợp tác cùng chúng tôi. Quentin quắc mắt nhìn Roy Lee, còn tôi thì cười toe toét, vì tôi biết là cậu ấy cảm nhận đúng.
Chúng tôi phóng quả tên lửa kế tiếp vào cuối tuần kế tiếp. Lần này tôi đã bỏ thêm keo rồi đong đầy vào chiếc tên lửa. BCMA giờ đã có thêm một thành viên mới. Tên cậu ấy là Billy, một bạn học cùng lớp và đang sống tại Snakeroot Hollow. Những đứa khác đang có vẻ hứng thú về việc gia nhập với chúng tôi nhưng Billy là người đầu tiên đưa ra yêu cầu này. Tôi rất vui vì có thêm cậu ấy. Billy chạy nhanh, và với căn cứ to lớn mà chúng tôi đang có được thì cậu ấy sẽ rất hữu dụng trong việc truy tìm lại mấy quả tên lửa. Ngoài ra Billy cũng thông minh, hơn cả tôi nữa nếu xét về thành tích học tập. Bố của cậu ấy đã bị sa thải vào năm 1957, nhưng gia đình Billy vẫn còn quanh quẩn cùng những người da đỏ trên Snakeroot. Sau lần hội họp với BCMA tại nhà tôi, Mẹ săm soi quần áo Billy đang mặc rồi kéo cậu ấy lại tủ quần áo của tôi và mở cửa tủ ra. Kết quả là Billy lảo đảo ra xe của Roy Lee để về nhà với đống quần áo nặng trịch trên tay.
Auk X từ bệ phóng, kêu lên xì xì, thải ra ít khói trắng vừa đủ làm rung bộ thăng bằng rồi một chất lỏng đặc như đường caramel ộc ra trước sự quan sát của chúng tôi. “Tớ đã hong cả tuần rồi mà nó vẫn ướt,” tôi nói.
Quentin lắc đầu. “Tớ đã cảnh báo cậu rồi mà. Đường quá dễ hòa tan.”
Auk XI chứa chất nổ kẹo ngọt bên trong, hỗn hợp chưa bị làm ướt, bay lên trong tiếng xì đạt tiêu chuẩn nhưng lại nổ tung, mảnh vỡ vi vút trên đầu trong khi chúng tôi bực bội giậm chân xuống đất trong lô cốt. Chúng tôi ra ngoài, vây quanh bệ phóng. “Phỏng đoán của tớ là chất nổ đẩy bị sụp,” Quentin nói.
Phần thân tên lửa bị cong lại như vỏ chuối. Quentin giải thích thêm một ít lý thuyết. “Khi tên lửa bay lên, chất nổ đẩy quá lỏng lẻo nên bị đẩy ngược vào trong. Một lượng quá nhiều bị cháy cùng một lúc.”
“Cái miệng lỗ có lẽ bị nghẹt,” Billy nhận xét, một sự quan sát sắc sảo đối với lần đầu tiên cậu ra căn cứ.
Chúng tôi quay trở lại khám nghiệm quả tên lửa đầu tiên. Dòng chất lỏng trào ra bây giờ đã cô đặc lại. Tôi lấy que chọc vào đó rồi quả quyết: “Nó chẳng thể nào rớt vào trong được.”
“Nhưng nó đã chảy ra, không biết nó còn cháy được không?” Sherman quan sát rồi nói.
Để xác định việc này, chúng tôi đem nó ra bệ phóng rồi châm ngòi. Nó chỉ xì xèo rồi bốc cháy. Ngay lúc này Sherman phát biểu một điều mà tất cả chúng tôi đều đang nghĩ tới. “Nếu chúng ta nấu chảy chất nổ kẹo ngọt trước khi bỏ vào thân tên lửa thì sao nhỉ?”
Lần đầu tiên kể từ khi chúng tôi bắt đầu chế tạo tên lửa, tôi cảm thấy ngần ngại. “Tớ không biết nữa các cậu ạ. Nghe có vẻ như sẽ làm nổ tung đầu chúng ta mất.”
Mấy đứa bạn đứng quanh tôi, đăm chiêu nghĩ ngợi. “Nếu như chúng ta làm thật cẩn thận...” Billy mở lời.
“Nấu chảy từng chút một,” Sherman đế thêm vào.
“Này, tớ là người phải thực hiện đấy. Và tớ nghĩ rằng nó chắc chắn sẽ nổ tung lên mặt mình thôi.” Tôi nói.
“Bọn tớ sẽ hỗ trợ cậu,” Roy Lee nói.
“Tớ sẽ chế mặt nạ bảo vệ với cái khiên và những thứ khác,” Mắt O’Dell long lên khi phát biểu ý tưởng này.
“Không. Việc này quá điên rồ.” tôi phản đối.
Chúng tôi đứng thành một vòng tròn, chân sục vào lớp than cám. “Tớ thì vẫn kiên trì là chúng ta nên thực hiện nó,” Roy Lee khẽ nói.
“Cậu nghĩ sao, Quentin?” tôi hỏi.
Quentin nhún vai. “Việc này là quyết định của cậu Sonny ạ. Nó quả là việc mơ hồ, nhưng... mẹ kiếp. Nó sẽ là một chất nổ đẩy tuyệt vời đấy. Tớ chắc chắn là vậy!”
Một đêm trong tuần tiếp theo, Roy Lee cùng Sherman và tôi lên ngắm sao qua chiếc kính viễn vọng trên nóc nhà của Jake. Thời gian này NASA quyết định phóng vệ tinh Pioneer 1 lên mặt trăng, nó khá nhỏ và chỉ nặng 17kg. Đây là lần thử nghiệm đầu tiên của nước Mỹ nhằm vươn tới mặt trăng nên tất cả chúng tôi đều rất hào hứng. Bọn tôi biết rằng chẳng thể nào trông thấy được vật thể nhỏ bé như vậy nhưng dường như sẽ cảm giác được ở gần nó hơn từ cái mái nhà này. Pioneer 1 vạch một vòng cung lửa điện trên không trung đến khoảng 6.000 dặm, chưa đến một phần tư quãng đường, thì mất đà rồi rơi ngược trở xuống, bốc cháy trên tầng khí quyển của trái đất.
Báo chí gọi Pioneer 1 là một thất bại, nhưng đối với chúng tôi - những người con của các thợ mỏ Coalwood đang đứng trên nóc nhà của Club House này - thì không. Khi Jake xuống phòng, cả bọn vẫn tụ tập trên nóc nhà và bàn luận về mặt trăng, đoán xem thật sự nó như thế nào. Thỉnh thoảng nhòm vào ống kính viễn vọng xem có sự thay đổi nào về nó hay không.
Thật ra, từ khi chúng tôi để tâm tới vấn đề này thì mọi khái niệm về mặt trăng đã thay đổi. Chúng tôi phóng đi một chiếc phi thuyền nhỏ, vượt qua khỏi giới hạn vật lý của nó; vượt qua những rặng núi cheo leo, qua khỏi những sự lừa dối và nước mắt của những phản đối gay gắt ban đầu; ngưỡng mộ những miệng núi lửa, những vùng tối và những ngọn núi của mặt trăng. Vậy thì một ngày nào đó, tôi tự nhủ rằng chúng tôi sẽ đến đó. Không phải chỉ là nhân loại nói chung mà chính là chúng tôi, những cậu bé đang đứng trên nóc nhà này; nếu như chúng tôi học hỏi đến nơi đến chốn và có đủ sự dũng cảm. Vì thế, từ trên nóc nhà này, tôi quyết định rằng bọn tôi sẽ nấu chảy đường và kali nitrát.