Những Cậu Bé Hỏa Tiễn

Lượt đọc: 256 | 0 Đánh giá: 0/10 Sao
★★★★★★★★★★
★★★★★★★★★★
« Lùi Tiến »
11. CHẤT NỔ KẸO NGỌT

❊ ❊ ❊

Auk XII - XIII

VÀO SÁNG THỨ BẢY, tôi bắt đầu kéo dây điện từ tầng hầm lên bậc thang ra tới ngoài sân sau, xuyên qua hàng rào ra ngõ sau nhà. Ở đó, đối diện với gara xe là chiếc bàn ăn ngoài trời cũ kĩ. O’Dell đã chắp vá một lá chắn tạm bợ cho chúng tôi - những chiếc mũ bóng chày dán thêm lên phần lưỡi trai một miếng nhựa trong hình vuông được nhặt về từ một thùng rác, che phía trước mặt. Ngoài ra tôi còn khoác thêm chiếc áo thủy thủ còn lại từ hồi Thế chiến thứ 2 của bác Joe và đeo đôi găng tay mùa đông để tăng thêm sự phòng vệ. Dụng cụ cho lần này còn có chiếc bếp hâm và nồi được trưng dụng từ tủ bếp của Mẹ, tôi nghĩ rằng bà sẽ không nhận ra sự mất tích này trước khi tôi hoàn trả chúng về vị trí cũ.

Bề mặt bếp hâm dần nóng đỏ lên và mấy đứa khác đứng lùi lại khi tôi rắc kali nitrát vào nồi. Vừa rắc tôi vừa lầm bầm cầu nguyện cho nó đừng nổ tung vào mặt mình. Một vài giọt chất lỏng hình thành rồi sôi lên và bốc hơi mất. Thấy vậy, tôi như có động lực hơn và tiếp tục múc một muỗng kali nitrát bỏ vào nồi, khuấy đều nó bằng chiếc muỗng gỗ (cũng “mượn tạm” của Mẹ). Một vũng chất lỏng trong veo được tạo thành và O’Dell (cũng đang đội mũ bảo hộ tự chế, áo khoác và găng tay như tôi) đổ thêm kali nitrát vào đến khi dung dịch sôi lục sục trong nồi, cao chừng 2,5cm. “Rồi, bây giờ cho đường vào đi,” tôi thì thào, có vẻ nỗi lo sợ làm cổ họng tôi khô cứng cả lại.

O’Dell đứng né người ra phía sau rồi xúc một ít đường đổ vào nồi. Nhưng chẳng có gì xảy ra ngoài việc mấy hạt đường nhanh chóng bị hòa tan và một mùi ngọt lịm như kẹo vanilla mềm từ trong nồi bốc lên. Như được khuyến khích, cậu ấy đổ thêm đường vào, còn tôi thì liên tục khuấy đều đến khi hỗn hợp trong nồi chuyển thành chất lỏng sền sệt màu trắng đục.

“Tớ suýt són ra quần đấy,” Roy Lee thở phào nhẹ nhõm. “Nó không phát nổ rồi.”

“Đừng có nói bậy,” tôi quát, mồ hôi rỉ vào mắt cay xè. “Cầu nguyện đi.”

Sherman đội mũ bảo hộ tự chế vào, đặt ngược phần thân tên lửa Auk lên bàn rồi nói. “Chúng ta cần một cái phễu.”

Roy Lee lãnh nhiệm vụ đi tìm và trong lúc lục lọi tủ bếp thì bị Mẹ tôi bắt gặp. “Chào cô Hickam,” cậu ấy vừa nói vừa ngượng ngùng cười. “Sonny muốn lấy cái phễu.”

Mẹ nhìn cậu ấy với ánh mắt dò xét. “Cô chỉ biết có một cái nằm trong gara, bố Sonny thường dùng để thay dầu cho chiếc Buick của ông ấy. Nó cần phễu để làm gì vậy?” Nói rồi Mẹ phát hiện ra sợi dây điện kéo dài từ nhà ra ngoài sân. “Mấy đứa tụi cháu đang làm cái gì thế này?”

“Dạ, nấu chảy nhiên liệu tên lửa ạ.”

Mẹ cầm cái phễu đi vòng qua gara, rồi bà ngửi thấy mùi của dung dịch. “Nghe có vẻ giống mùi kẹo mềm nhỉ.” Lúc bà xuất hiện, bọn tôi như tê cứng người lại. “Không có gì đâu, cứ tiếp tục làm đi,” bà thở dài nói.

Roy Lee nhẹ nhàng đón lấy chiếc phễu ra khỏi tay Mẹ rồi cắm vào thân chiếc Auk. Tôi nhấc nồi lên, cẩn thận nghiêng nó để chất nổ kẹo ngọt chảy xuống phễu. Nhưng nó không chảy vào trong thân tên lửa được mà ngập ứ ở miệng phễu. Mẹ vội vã quay vào trong gara và đem ra một cọng rơm dài bứt từ cây chổi cũ. “Đây này,” Mẹ nói rồi thọc mạnh vào dung dịch nằm trong phễu.

“Mẹ!” tôi la lên phản đối và Roy Lee kéo bà tránh xa ra. Lỡ như thứ này bốc cháy thì Mẹ thậm chí còn không được bảo vệ bởi mấy cái lá chắn chắp vá của bọn tôi, quá nguy hiểm.

Roy Lee đưa Mẹ về gara còn O’Dell thì cầm cọng rơm làm thay bà. Thật tuyệt, nó quả là hữu dụng, đám dung dịch đặc sệt từ từ chảy vào trong thân tên lửa. “Tốt hơn hết là dùng một chiếc que thủy tinh,” Sherman góp ý cho lần thực hiện sau.

Chỗ dung dịch này chỉ đủ cho một nửa thân tên lửa nên chúng tôi quyết định làm thêm một ít nữa. Nhưng đó là một quyết định cực kì sai lầm. Do trong nồi còn một lớp mỏng của dung dịch vừa pha trước đó, nó đã khô và đọng lại dưới đáy. Rồi trong một tiếng “bốp” vang lên, nó phát nổ.

“Ối da!” Tất cả chúng tôi đều bật lùi lại. Cái nồi bị hất tung lên trời. Một luồng hơi bốc lên từ đám bọt đang sôi sùng sục mù mịt khắp ngõ sau như cột khói tín hiệu của thổ dân Da Đỏ.

Lúc đó, một toán công nhân trên đường tới mỏ đi ngang qua tò mò dừng lại theo dõi. “Chào Elsie,” một trong số họ gọi Mẹ tôi. “Chị đang dạy mấy đứa trẻ này nấu ăn à?”

Vừa cười hô hố, vài người trong số họ vừa túm tụm tiến đến gần hơn, trong tay là mấy hộp cơm trưa lỉnh kỉnh, mũ bảo hộ thì quàng sau đầu và ống quần nhét lùng nhùng trong đôi giày đinh. Tôi nhận ra họ là toán thợ Bố thuê tạm từ Anawalt để phá nổ một nền đá to vật vã xuất hiện ngay trên đường vào khu mỏ mới. Họ đang trọ tại một ngôi nhà ở New Camp, một khu trong thị trấn. “Mấy đứa nhóc chúng mày ngu ngốc thế?” một gã thốt lên, miếng thuốc lá nhai khá to còn còn căng phồng trong má.

Mẹ cau mày. “Đi làm việc đi. Mấy đứa nhóc này không ngu ngốc đâu. Chúng là những nhà khoa học đấy. Tôi nói biến ngay đi nhé!”

Đám công nhân vừa cười vừa lục tục bỏ đi, một loáng sau chỉ còn lại chúng tôi và Mẹ. Cả cơ bắp trên cơ thể tôi ra lệnh mình phải bỏ chạy ngay đi, và mấy đứa khác cũng có vẻ chuẩn bị nhón gót tẩu tán mặc dù vẫn đang đứng trơ tại chỗ. Mẹ tiến đến, nhặt cái nồi lên rồi lặng lẽ quan sát. “Mẹ nghĩ nếu con rửa sạch nồi sau khi trộn lẫn hỗn hợp thì nó sẽ không phát nổ đâu.” Sau đó Mẹ gõ gõ lên những chiếc mũ bảo hộ tạm bợ, giật giật áo khoác và xem xét găng tay của chúng tôi. “Dời cái bàn đó ra xa khỏi gara đi. Các con chẳng muốn đốt cháy chiếc Buick của Bố đâu, phải không.” Rồi bà quay nhìn tôi. “Còn con thì đi mua cho mẹ cái nồi mới.”

“Vâng thưa Mẹ.”

Bà lần lượt nhìn từng đứa trong bọn tôi. “Mẹ quá mệt mỏi khi phải nhắc lại điều này rồi đấy: Đừng có tự làm mình nổ tung lên nghe chưa!”

“Tụi con sẽ ghi chép lại mọi thứ như công thức nấu ăn, Mẹ ạ,” tôi cố trấn an bà. “Rửa cái nồi, dọn dẹp mọi thứ đi trước khi tụi con nấu lại một mẻ khác.”

“Chắc chắn rồi thưa cô,” mấy đứa khác nhao nhao nói theo, chân di tới di lui trên mặt đất. Cả bọn vẫn chưa chắc rằng có thoát khỏi rắc rối to với Mẹ sau việc này hay không.

“Cái này sẽ làm cho tên lửa của tụi con bay tốt hơn chứ hả?” bà hỏi.

Chúng tôi đưa mắt nhìn nhau. Cả bọn đang hoảng sợ thật sự. “Có lẽ vậy” đó là tất cả những gì tôi có thể thốt lên.

***

VÀO MỘT BUỔI TỐI NỌ, thay vì chễm chệ ngồi thư giãn trên ghế bành xem tivi như thường lệ thì Bố bất thần mở cửa vào bước vào phòng tôi. Ông bắt gặp tôi đang ngồi nghĩ vẩn vơ về thiết kế của chiếc tên lửa có khả năng bay tới mặt trăng trong khi cả đống bài tập nhà đang chờ đợi. “Bố nghe Mẹ nói con đang muốn trở thành một kỹ sư hả,” ông nói.

“Con không rõ lắm là kỹ sư phải làm gì,” tôi đáp. “Con chỉ biết rằng mình muốn chế tạo tên lửa thôi ạ,” tôi bổ sung thêm, hòng ngăn chặn trước nguy cơ của một cuộc tranh luận sẽ nổ ra.

“Có rất nhiều điều để đề cập tới kỹ sư nói chung hơn là chỉ riêng về tên lửa,” giọng Bố có vẻ khàn đục. Ông đằng hắng cho giọng dịu lại, cầm bản vẽ của tôi lên rồi liếc sơ qua. “Nếu như con muốn trở thành kỹ sư thì trước hết con phải hiểu rõ họ phải làm gì để kiếm sống.” Nói rồi Bố đặt bản vẻ trở lại bàn và nhìn một lượt khắp phòng tôi, đây là lần đầu tiên ông làm như vậy. Ông dừng lại một lúc lâu ở mấy cái thân tên lửa Auk đang để trên nóc tủ quần áo. “Mấy vụ chế tạo tên lửa ở Cape Canaveral chỉ giỏi đốt tiền của người đóng thuế để hù dọa bọn người Nga thôi. Một người kỹ sư thực thụ phải làm ra cái gì đó để sinh lợi cho đất nước của họ.”

“Vâng thưa Bố.” Tôi nghĩ đơn giản rằng nếu đồng tình ngay với Bố thì sẽ có thể làm ông rời khỏi phòng.

“Việc đầu tiên bây giờ là bố sẽ nói cho con biết một người kỹ sư phải làm gì,” Bố nói.

Sau đó Bố bắt đầu kể cho tôi về những kế hoạch của ông. Mọi thứ đều rất hoành tráng, tôi cứ nhìn ông và há hốc mồm ra. “Bố nói thật chứ?” Tôi cảm thấy tự đắc. Đây là điều mà Bố chưa bao giờ yêu cầu anh Jim làm cả.

“Thật. Đến lúc con phải nhìn nhận được thực tế về cái thị trấn này rồi đấy.” Bố bảo.

BASIL có mặt tại buổi phóng tên lửa tiếp theo và đứng ghi chép lia lịa vào cuốn sổ tay của anh. Phản hồi mỹ mãn từ các bài báo trước làm anh quyết định đăng cho chúng tôi một phóng sự dài kỳ. Nhờ bài báo và những bảng thông cáo của chúng tôi nên hôm nay có đến 50 người đang có mặt ở đây để theo dõi lần phóng này. Tôi hy vọng rằng sẽ không làm cho họ phải thất vọng. Auk XII chễm chệ trên bệ phóng, nó được chế tác theo thiết kế tốt nhất cho đến thời điểm này, nhưng còn về chất nổ kẹo ngọt được nấu chảy đang nằm bên trong sẽ hoạt động như thế nào thì chúng tôi hoàn toàn mù tịt. Tôi thì e ngại, còn Quentin thì rất chắc chắn về vụ nổ. “Ít nhất là phải tốn 3 quả tên lửa cho lần thử nghiệm này trước khi chúng ta có thể tìm ra được hỗn hợp đúng đắn nhất,” cậu ấy phỏng đoán. Sherman đi xuống đường để nhắc nhở mọi người hãy đứng lùi ra xa, tốt nhất là nấp đằng sau mấy chiếc xe hơi và xe tải của họ. Lúc này Buck và mấy tên cầu thủ cũng có mặt, bọn chúng lặng lẽ đứng thành nhóm riêng với vẻ mặt rầu rĩ.

Nhưng chỉ có bọn cầu thủ là như vậy thôi, những khán giả còn lại đều tỏ ra rất hân hoan. “Tiến lên nào, Big Creek,” một số người hô hào cứ như đang cổ vũ cho đội bóng vậy. Sau đó chúng tôi giương cao lá cờ của BCMA lên và mọi người bắt đầu hát vang bài ca truyền thống của trường. “Tiến lên nào màu xanh và trắng, chúng ta hoàn toàn xứng đáng cho cuộc chiến đêm nay! Hãy giữ chặt quả bóng và chạm đến vạch chiến thắng, mọi ngôi sao của Big Creek sẽ tỏa rực sáng ngời...”

Trước đây tôi chưa từng biết cảm giác của người nhận lấy sự cổ vũ từ bài hát này, nhưng bây giờ thì tôi đã được nếm trải, thật tuyệt. Một tên cầu thủ hét lên nhạo báng gì đó nhưng chẳng ai để tâm, mọi người vẫn hát vang. Tiếp đó mấy cô bạn trẻ hô vang khẩu hiệu như các hoạt náo viên thường làm: “Tiến lên, những cậu bé hỏa tiễn, tiến lên nào!” Lúc này Buck và đám cầu thủ đã không còn chịu đựng được nữa, chúng tỏ vẻ phẫn nộ, chui vào xe rồi phóng thẳng.

Đây cũng là lần tiên mà chúng tôi sử dụng hệ thống châm ngòi bằng điện. Tôi chập dây điện vào bình ắc-qui của xe hơi (một chiếc bình cũ được O’Dell thu lượm trong kho phế liệu từ thời chiến tranh) và Auk XII phóng lên trời rồi là là rơi xuống. Quentin chạy ra khỏi lô cốt, lóng ngóng với phát minh mới mà cậu gọi là “máy kinh vĩ”[29]. Nó được “chế tạo” từ cán chổi với một đầu được gắn thước đo góc nằm ngược, đầu kia gắn cây thước thẳng có thể xoay vòng quanh một chiếc đinh. Cậu ấy cắm nó xuống bãi than cám rồi quỳ xuống nheo mắt nhìn dọc theo cây thước thẳng nhắm vào chiếc tên lửa đang bay lên với một đụn khói xả ra từ đáy trắng xóa trên nền trời xanh trong. Xuôi theo chiều cao mà Auk đạt được, Quentin nhìn vào con số lấy được từ thước đo góc rồi đọc to lên và rút chiếc bút chì đang giắt trên vành tai xuống, hí hoáy ghi lại kết quả trên miếng giấy. Nếu như chiếc máy kinh vĩ này thật sự hoạt động hiệu quả thì nhờ vào lượng giác, chúng tôi sẽ tính ra độ cao tên lửa đạt được.

Đuôi khói của Auk XII vẫn phụt ra ào ạt ngay khi nó mất dần động lực và bắt đầu rơi xuống. Đến khi đâm sầm xuống bãi đất thì nó vẫn tiếp tục xịt khói mù mịt. Trong khi khán giả cổ vũ hò reo nồng nhiệt, chúng tôi đuổi theo chiếc tên lửa và quan sát những đợt bốc cháy xì xèo cuối cùng của chất nổ kẹo ngọt. Tôi nhận ra ngay nguyên do làm tên lửa mất đi lực đẩy: “Cái miệng tên lửa đã bay mất,” Tôi bảo với mọi người. “Chắc hẳn nó đã bị nổ bay ra mất rồi.”

Chúng tôi tụm lại quan sát tỉ mỉ hơn thì thấy mối hàn vẫn còn nguyên vẹn nhưng phần giữa của miệng tên lửa thì bị tiêu mất rồi. Quentin bước từng bước về phía bọn tôi. “Ba trăm bốn mươi tám,” cậu ấy dừng đếm ở bước chân cuối cùng. “Tớ ước chừng 84cm cho chiều dài mỗi sải chân. Vậy tính ra khoảng 292m.” - Quentin nhẩm nhanh ra. Nói rồi cậu ấy lướt dọc ngón tay lên bìa sau cuốn sách lượng giác của Jake để tìm công thức. “Xem nào, tang của góc 40 độ là khoảng 1.84. Cứ cho là 1.8 đi. Nhân với chín trăm sáu mươi...”

Chúng tôi nóng ruột đợi kết quả tính nhẩm của Quentin. Nhưng không lâu sau thì cậu đã cho biết. “231,5 mét!”

O’Dell hú lên và nhảy múa.

Auk XIII sau đó cũng rời khỏi bệ phóng trong khói bụi mù mịt như quả tên lửa “tiền bối” của nó. Chất nổ kẹo ngọt quả rất nóng. Quả tên lửa nghiêng qua một bên, xịt ra đám khói trắng rồi phóng lên trời. Khi rơi xuống, nó biến mất sau bụi cây dày đặc. Chúng tôi còn nghe rõ được tiếng nó đâm vào cành cây rồi rơi xuống. Cái cây sồi “nạn nhân” đó rụng rơi đầy những chiếc lá vàng như đang vẫy gọi chúng tôi. Đến đây lấy nó đi, quả tên lửa đang ở đây này. Trong lúc nhảy múa cuồng loạn thì O’Dell đã vô tình làm đổ cái máy kinh vĩ của Quentin nên chúng tôi không lấy được chiều cao của quả tên lửa này, nhưng rõ ràng là nó không bay cao bằng Auk XII. Khi chúng tôi tìm lại được nó thì cũng tương tự: miệng tên lửa đã bị tiêu mất. “Có lã nó không chịu nổi nhiệt độ này,” Billy nhận xét.

Tôi quan sát miệng tên lửa rồi kết luận: “Các cậu biết sao không? Theo tớ thì nó bị gặm mòn mất rồi.”

“Sự ôxy hóa nhanh!” Quentin búng tay quả quyết. “Sonny của tớ! Cậu quả thật nhạy bén! Lẽ ra tớ phải nhận ra điều này rồi chứ nhỉ! Giống y như những gì xảy ra trong tiết học của cô Riley. Nhiệt kết hợp với luồng khí ôxy thổi vào liên tục - mọi việc rõ rồi đấy. Các cậu ạ, bây giờ cái chúng ta cần ở đây là một chất liệu có thể vừa chịu được nhiệt và cả sự ôxy hóa nữa.”

Khi chúng tôi xuống núi với quả tên lửa trong tay, tất cả khán giả đã ra về, nhưng Buck và đồng bọn lại quay trở lại. Bọn chúng đang tụ tập tại lô cốt, tháo banh nó ra, từng miếng từng miếng một bằng những cái móc lốp.

Cả bọn tôi gầm lên và lao về phía chúng.

“Nào, vào đây nào, lũ bé gái thoái hóa kia!” Buck hét lên, mặt đỏ như gấc.

Dẫu biết rằng chúng tôi chẳng thể nào đánh lại bọn nó, nhưng phải làm điều gì đó chứ. Tôi lượm một cục đá lên, mấy đứa kia cũng hùa theo như vậy rồi đồng loạt ném vào chúng. Cuộc tổng tấn công đó hầu hết đều trượt mục tiêu nhưng ít nhất cũng làm chúng né tránh một cách vất vả. Sau đó bọn chúng lao vào giáp lá cà, và chúng tôi hiểu như thế là tiêu rồi... Ngay lúc đó, may mắn thay tiếng còi xe từ chiếc Mercury của Tag Farmer vang lên, anh đang lái vào bãi than cám. Trong khi cả đám hỏa tiễn chúng tôi và lũ cầu thủ chết đứng ở đó thì Tag nhàn nhã bước ra khỏi xe, mũ quân cảnh vắt vẻo sau gáy, anh cất giọng lè nhè hỏi. “Vụ gì đang xảy ra thế, mấy nhóc?”

“Không có gì cả,” tôi đáp. Tôi không định khai Buck ra, con trai Coalwood không bao giờ hành xử như vậy cả. “Bọn em chỉ đang định dọn dẹp căn cứ thôi ạ.”

Tag hất hàm về phía Buck và mấy thằng đồng bọn, tay chúng vẫn còn nắm chặt nắm đấm với những cái móc lốp. “Bọn nó đang giúp em thật à?”

“Vâng ạ.”

Tag từ tốn bước lại lô cốt, đăm chiêu nhìn vào mấy mảnh ván đã bị giật tung ra. “Buck?” Giọng anh nhẹ nhàng.

Buck ngoan ngoãn tiến lại phía anh cảnh binh. “Vâng, thưa anh?”

“Em là thợ mộc à?”

“Không... không thưa anh.”

“Vậy đến lúc phải tập làm rồi đấy. Có vẻ vài tấm ván đã bị bung khỏi cái lô cốt này.”

“Vâng thưa anh.”

“Em sửa nó lại được chứ hả?”

“Vâng ạ.”

Tag gật gù. Buck khom người nhặt mấy tấm ván lên. Tôi bước lại đưa cho hắn cây búa (chúng tôi luôn đem theo hộp dụng cụ) và hắn bắt đầu làm việc. Tag cười thầm rồi loanh quanh ở đó đến khi mọi người rời khỏi.

SÁNG CHỦ NHẬT, tôi giả vờ ngủ nướng (một phần trong kế hoạch của Bố đưa ra nhằm tránh mọi phiền phức có thể xảy ra). Mẹ xô cửa phòng bước vào la toáng lên. “Dậy mau, kẻo con trễ tiết học ngày Chủ nhật mất!”

Tôi không định nói dối với Mẹ nhưng sau đó tôi nghĩ lại, vì như vậy tốt cho bà. “Con mệt quá Mẹ ạ, có nhiều bài vở và nhiều thứ khác quá. Mẹ làm ơn cho con nghỉ hôm nay nhé? Chỉ hôm nay thôi được không?”

Mẹ quay lưng bước ra khỏi phòng rồi nói vọng lại. “Nếu con quyết định làm một kẻ ngoại đạo thì mẹ đâu là gì để cấm cản con?” Rồi bà hối thúc Jim ra khỏi phòng tắm để chở bà tới nhà thờ. Jim nói vọng ra rằng anh mới chỉ ở trong nhà tắm vài phút thôi mà. Nhưng tôi biết ngay rằng Jim chải chuốt cũng đã ít nhất là cả giờ đồng hồ rồi.

Chờ cho Mẹ và anh Jim khuất bóng, tôi lững thững tiến về nhà than, Bố đang đợi tôi ở đó. Người tôi như run lên vì phấn khích. Tôi đã sống ở Coalwood cả đời rồi nhưng chưa bao giờ được đến nơi mà Bố sắp dẫn đi. Tôi sắp được vào hầm mỏ! Và sự thật hùng hồn là Bố yêu cầu dẫn tôi chứ không phải dẫn Jim, điều này càng trở nên trang trọng hơn trong suốt cả tuần qua mỗi khi tôi nghĩ về nó. Bố “soi” tôi kĩ lưỡng từ đầu đến chân khi tôi bước vào văn phòng của ông. “Con chắc là không hé răng với Mẹ một lời nào phải không?”

“Không đâu thưa Bố!” Tôi dõng dạc đáp lại.

“Tốt. Sau khi xong việc thì bố sẽ tắm rửa sạch sẽ cho con, không lưu lại bất cứ tì vết nào để Mẹ biết đâu.”

Tôi nghi ngờ về tính khả thi của kế hoạch này nhưng vui vẻ chấp hành. Nói cho cùng thì Bố rõ ràng hiểu Mẹ hơn tôi mà. “Lại đây nào,” Bố vẫy tay gọi tôi lại và trải tấm bản đồ khu mỏ lên bàn. Sau đó ông chỉ tay vào một đường đen sì ngoằn ngoèo chạy ngang bản đồ. “Đó là vỉa than Pocahontas Số 4, mỏ than mềm tốt và tinh khiết nhất trên thế giới đấy. Những đường kẻ này biểu thị cho những đường hầm mà chúng ta đã đào qua trong quá trình khai thác.” Tiếp đó Bố mở ngăn kéo và lôi ra một tấm biểu đồ khác. “Đây là biểu đồ nhìn ngang của một vỉa than đặc trưng. Than bị phủ lên trên bởi đá phiến sét (loại đá mềm dễ vỡ thành những mảnh mỏng, bằng phẳng), hay còn gọi là đá trần. Còn ở dưới là đá nền. Những kỹ sư phải biết cách giữ cho đá trần không bị sập xuống và di dời đá nền để thông lối đi.

“Làm kỹ sư trong hầm mỏ cần rất nhiều kinh nghiệm và biết tính toán kĩ lưỡng,” Bố vừa nói vừa nhìn vào mắt tôi. Tôi nghĩ rằng ông muốn tìm trong đó một dấu hiệu cho thấy tôi đang hiểu những lời ông nói. “Mạng sống của những công nhân làm việc ở dưới đó phụ thuộc hoàn toàn vào các tính toán đúng đắn của kỹ sư ngay từ đầu. Không phải như những tên chế tạo hỏa tiễn - mấy nhà khoa học điên khùng người Đức ấy - chỉ biết quăng đại mấy thứ lên trời rồi ngóc mỏ chờ xem chúng có hoạt động hay không.”

Tôi cố nén lòng không phản ứng lại định kiến của Bố. Ông tiếp tục giảng giải. Công ty than sử dụng hệ thống khối. Mỗi khối dài khoảng 27 mét và rộng chừng 23 mét và được qui hoạch lại từng cụm gồm 4 khối. Sau đó các khối đó được máy khai thác than tự động lần lượt đào lên đến khi chỉ còn khoảng 4,5 mét vuông. Những khối còn lại đó được gọi là cột, nhưng sau cùng cũng sẽ bị khác thác nốt. Trong suốt quá trình đó, các cột chống, then cài và giàn đỡ của phần mái phải được tính toán kĩ càng để đảm bảo giữ vững được cho trần không sụp xuống.

Rồi Bố chuyển qua đề tài ưa thích nhất của ông: hệ thống thông gió xuyên suốt hầm mỏ. “Nếu không khí bị ngừng đối lưu thì khí mê-tan rò rỉ ra từ than sẽ ngày càng dày đặc và chỉ cần một tia lửa xẹt ra thôi thì cả khu mỏ sẽ nổ tung. Để đề phòng, chúng ta phải sử dụng hệ thống áp suất. Những cái quạt gió sẽ làm tăng áp suất trong hầm mỏ lên cao hơn trên mặt đất một chút. Hệ quả là khí mê-tan sẽ tràn ra ngoài qua những ống thông gió.”

“Bố thiết kế ra hệ thống này à?” Tôi hỏi.

“Bố đã làm phần lớn,” Bố đáp, mắt liếc xuống bản vẽ của mình.

Tôi cảm thấy mơ hồ khó hiểu về điểm này. “Vậy ra Bố là kỹ sư à?”

Bố đột nhiên lái qua luật lệ. “Không. Một kỹ sư phải có bằng cấp hẳn hoi.”

Tôi quyết định sử dụng phương pháp suy luận diễn dịch của thầy Hartsfield. “Jake Mosby là một kỹ sư,” tôi nói.

“Đúng.”

“Bố biết về việc khai thác mỏ nhiều hơn anh ấy.”

“Cũng đúng luôn.”

Tôi nhún vai. “Vậy Bố cũng là kỹ sư chứ còn gì nữa, đúng không ạ?”

Bố lắc đầu. “Sonny, cần phải có bằng cấp từ trường đại học để trở thành kỹ sư thực thụ. Bố không có một mảnh giấy lộn nào cả, nghĩa là chẳng bao giờ điều đó trở thành hiện thực với Bố.” ông nói và nhìn tôi suy ngẫm. “Nhưng con thì có thể.”

Không biết nói gì nên tôi cũng chẳng trả lời, chỉ dán mắt vào mấy tấm biểu đồ. “Mấy cái này thú vị quá,” tôi thật lòng thốt lên.

Bố dẫn tôi vào nhà tắm, mở tủ của ông lấy cho tôi bộ đồ áo liền quần, đôi giày đinh, mũ bảo hộ màu trắng và dây lưng đựng dụng cụ bằng da. Lúc cùng Bố ra thang máy, ông chỉ cho tôi cách kẹp đèn lên mũ. Khi có gắn đèn, chiếc mũ trở nên nặng nề hơn rất nhiều. Tôi phải quay qua quay lại cho quen dần với sức nặng của nó đến khi cảm thấy thoải mái hơn. Bố nhìn tôi dò xét một lượt rồi chỉnh sửa lại cái mũ, thắt lưng đến khi cái nút nằm chỉnh tề ngay đằng trước và cục pin thì kẹp ngay bên hông phải. Tôi cảm giác như mình là một chú lính đang chuẩn bị duyệt binh vậy. “Rồi, con nhìn giống một quản đốc mỏ thực thụ rồi đấy,” Bố cất tiếng sau một lượt kiểm tra nữa. “Đi nào.”

Người gác thang máy đẩy cánh cửa sang một bên cho tôi đặt bước chân đầu tiên trong đời mình lên sàn gỗ của nó. Tôi chợt nhớ lại những khoảnh khắc của thời ấu thơ khi chứng kiến từng người thợ mỏ biến mất vào trong bóng tối. Bây giờ thì đến lượt tôi rồi! Tôi cảm thấy rõ tim mình đập nhanh hơn. Những tấm ván lót sàn đặt cách xa nhau đến nỗi tôi có thể thấy được những gì ở giữa chúng mặc dù dưới đó chỉ là một khe vực đen kịt mà thôi. Bất chợt tôi cảm thấy sợ rằng hai bố con sẽ bị rơi ào xuống dưới mất. Rốt cuộc tôi cũng nghe 3 hồi chuông báo hiệu thang máy sắp được thả xuống. Tôi hít một hơi sâu, khò khè. Cuộn dây treo thang máy bắt đầu kêu lên kẽo kẹt và chúng tôi đang rơi xuống một cách nhanh chóng, ruột gan tôi như muốn trào lên cổ. Bất giác tôi chộp lấy tay Bố nhưng rồi buông ra ngay trong sự ngượng ngùng. Nhưng ông chẳng nói gì cả, rồi tôi chú tâm nhìn vào mấy cục đá dính trên đường hầm lướt ngang qua mặt mình. Mấy người công nhân đã đào đường hầm này hoàn toàn bằng tay, nhưng tôi chẳng thể tưởng tượng được họ đã làm như thế nào. Lũ trẻ bọn tôi phải mất cả ngày chỉ để đào một cái hố nhỏ để dựng lô cốt ở Cape Coalwood.

Xuyên qua kẽ hở dưới sàn, tôi bắt đầu nhận thấy được ánh sáng hắt lên từ sâu thẳm. Cái ô vuông tràn ngập ánh sáng trên đầu chúng tôi bây giờ chỉ còn như một ngôi sao nhỏ le lói mà thôi. Chúng tôi đang bắt đầu bị lòng đất nuốt dần vào bụng và thật sự bây giờ tôi chưa biết chính xác rằng mình có thích cảm giác này hay không nữa. Tôi nhớ rằng Tag đã từng tê cứng người khi xuống tới đáy hầm và nhất quyết không chịu bước ra khỏi thang máy. Bây giờ thì tôi hoàn toàn hiểu được nỗi sợ hãi đó của anh rồi.

Khi chúng tôi xuống gần tới đáy, thang máy giảm tốc, giật giật vài cái rồi nhẹ nhàng đáp xuống bệ đá bằng phẳng. Tôi bật đèn mũ lên và nhìn thấy một toán công nhân đang đứng đợi ở đó, có cả chú Dubonnet nữa. Chú tỏ ra ngạc nhiên khi nhìn thấy tôi. “Người mới hả Homer? Nó sẽ phải gia nhập Liên minh Công nhân thôi.”

“Sonny đang dự định trở thành kỹ sư hầm mỏ,” Bố nhấn mạnh. “Một nhân viên của công ty.”

“Rồi, rồi,” ông Dubonnet đáp lại, tỏ vẻ mất hứng. “Điều này có nghĩa gì không nhỉ?”

Bao quanh chúng tôi là những bức tường xám xịt, cứng nhắc. Tôi cảm thấy như mình đang ở một hành tinh khác vậy. Những thứ thân thuộc với tôi hằng ngày như cây cối, bầu trời, núi đồi chẳng hiện diện ở đây. Ngay cả không khí cũng có mùi khác lạ, như thuốc súng ẩm. Xa xa bên tay phải là mấy đường ray, một đầu xe lửa chạy bằng điện màu vàng to oạch đang nằm chễm chệ ở đó, nối tiếp sau đuôi là vài toa tàu nhỏ. Một đường hầm nối về phía bên trái, tôi thấy ánh sáng xanh nhẹ của đèn huỳnh quang hắt ra từ cửa sổ của ngôi nhà bằng xi-măng thô; từ đó phát ra những tia chớp trắng nhá lên đi kèm với những tiếng xì xì đặc trưng của việc hàn xì. Bố nhận ra tôi đang nhìn về phía đó nên giải thích ngay. “Bố thiết lập một xưởng kim khí điện máy ngay dưới đây để tiết kiệm thời gian vận chuyển những thiết bị cần sửa chữa.”

“Chú Bykovski có trong đó không Bố?” tôi thắc mắc.

Bố giậm đôi giày đinh xuống đất. “Ike không còn là thợ máy nữa đâu Sonny. Bây giờ ông ta đã là một thợ vận chuyển cừ khôi rồi.” Nói rồi Bố bước về phía trước. “Đi nào. Chúng ta cùng xuống dưới đường ray nào.”

Bố dẫn tôi tiến về phía cái đầu máy, dừng lại và trò chuyện cùng người điều khiển. Tôi nhận ra ông - ông Weaver, có con là anh Harry học trên tôi 5 lớp. Harry đã gia nhập Marine Corps và đóng quân tại Lebanon khi Tổng thống Eisenhower quyết định hỗ trợ nơi đó. Ông Weaver đang ngồi phía trước cạnh cần điều khiển bộ phát năng lượng bằng điện cho đầu xe lửa. “Chào Sonny,” ông vẫy tôi.

“Chào chú.”

“Chở bọn tôi lên hiện trường làm việc nào, Frank,” Bố ra lệnh.

“Được ngay thôi.”

Rồi Bố dẫn tôi xuống toa tàu khác, ông gọi nó là “xe than ngầm”. Nó là một loại toa tàu thấp bằng thép, có hai băng ghế bằng kim loại đối diện nhau giống như xe lửa.

Chúng tôi chui vào trong xe than ngầm, ngồi cạnh nhau, mặt hướng về phía trước. Sau đó Bố đập lên nóc toa ra hiệu cho ông Weaver biết chúng tôi đã sẵn sàng chờ tàu xuất phát. Xe than ngầm tròng trành lắc lư một lúc rồi bắt đầu lao xuống đường hầm tối đen bất tận. Bố cho tôi biết rằng chúng tôi hiện đang đi trên “đường ray chính”. Cuộc hành trình đã kéo dài được 20 phút trong tiếng lách cách của đường ray dưới chân và những chiếc bóng của mấy cây xà đỡ nóc hầm vụt qua trên đầu như đám rừng ngầm xám xịt. Đến đoạn đường thẳng, đầu máy gầm lên kéo chúng tôi bay xuống đường ray, chiếc xe than ngầm lúc lắc và run lên bần bật. Tôi ngửi rõ được hơi nóng từ đầu máy bốc ra hừng hực. Lúc sắp đến đoạn cua, ông Weaver kéo thắng làm mấy bánh xe rít lên như hàng nghìn con heo bị tra tấn đang kêu la inh ỏi. Tôi để hai tay giữa háng và bám chặt vào ghế để khỏi bị ngã khi vào khúc cua.

Trong khi vượt qua đường hầm, thỉnh thoảng tôi trông thấy ánh đèn le lói từ mũ của mấy công nhân ở những nhánh hầm nhỏ nhưng vì quá tối nên chẳng xác định được rõ là họ đang làm gì. Tôi bèn hỏi Bố và ông cho biết rằng họ đang “tạo bụi”: là công việc rắc bột đá ra xung quanh nhằm hạn chế không khí và than hòa lẫn vào nhau có nguy cơ gây nổ. Sau một lúc ở dưới này, tôi nhận ra hầm mỏ không phải là nơi hoàn toàn tối tăm, lạnh lẽo và xấu xí như mình hằng tưởng tượng. Không khí mát mẻ và khô ráo. Khi dừng lại nhường đường cho một đoàn xe than thấp chạy ngang qua, tôi nhìn xuống đường hầm và trông thấy những lớp mica trên đá lấp lánh như kim cương.

Tôi còn nhớ có lần Bố mang về nhà vài viên pha lê mica và đặt lên bàn cho Mẹ kèm một tấm thiệp, trong đó viết: Em luôn muốn có kim cương nhưng anh chỉ có những thứ này thôi. Anh ước gì chúng có thể biến thành kim cương thật sự. Sáng hôm sau, Mẹ để lại mảnh giấy khác đáp lại Bố: Em chưa bao giờ cần kim cương cả. Em chỉ muốn một ít thời gian của anh dành cho em mà thôi. Đó luôn là tất cả những gì em cần. Nhưng tôi biết rằng bà chẳng khi nào quẳng chúng đi cả. Có lần trong lúc lục lọi giấy viết ở hộc bàn của bà, tôi đã trông thấy mẩu giấy và những viên đá đó.

Khi xe than ngầm dừng lại, Bố nhảy phóc xuống. “Ở hiện trường làm việc hôm nay đang diễn ra một công đoạn đào than, Bố muốn con chứng kiến,” ông bảo tôi. Sau khi trèo ra khỏi xe, tôi vội vàng đứng dậy và va đầu vào nóc hầm mạnh đến nỗi lảo đảo suýt té. Tôi loạng choạng nhìn lên, thì ra mình đã va vào nóc hầm đầy những thanh xà đỡ nằm liên tiếp cách nhau vài chục centimet. Bố bỏ mặc rắc rối của tôi và tiếp tục bước đi thật nhanh mà không ngoái lại. Tôi vội vàng theo gót ông và mũ tôi cứ đập vào nóc hầm liên hồi tạo ra chuỗi âm giật cục khô khốc. Mỗi khi tôi nghĩ rằng mình đã bắt được nhịp di chuyển thì lại bị đập đầu. Một lần bị đập mạnh đến nỗi tôi ngã lăn ra đất, mũ văng ra và mắc lại bởi sợi dây máng vào cục pin gắn ở thắt lưng. Tôi lồm cồm bò theo, đến lúc lượm lại được mũ thì Bố đã khuất dạng sau khúc quanh. Từ đây tôi thấy được ánh đèn từ mũ Bố hắt lên vách đá đằng xa. Tôi vội vàng đuổi theo ông, mũ vẫn lộp cộp va vào nóc hầm; nguy cơ đau cổ từ việc này càng lúc càng rõ ràng. Chẳng bao lâu sau, Bố đã đi qua xa và chắc chắn rằng tôi sẽ không bắt kịp ông. Tôi bắt đầu hoang mang tột độ. Việc gì sẽ xảy ra nếu tôi thực sự bị lạc? Nếu như đèn hết pin thì chẳng ai có thể tìm thấy tôi nữa!

Bất chợt tôi nghe thấy tiếng ồn ầm ĩ tưởng chừng như hầm mỏ đang bị phá tung lên. Tôi muốn bỏ chạy thật xa, nhưng biết đi đâu bây giờ? Ngay lúc tôi vừa rẽ ngang thì bắt gặp một cỗ máy to lớn, có đầy đèn chiếu xung quanh; nó đang đào bới điên cuồng vào vách tường đầy than. Bố đứng sang một bên theo dõi tiến độ công việc, nhìn thấy tôi, ông ngoắc lại.

“Đây là máy khai thác than tự động!” ông gào lên trong tiếng ồn phát ra từ cỗ máy. Đối với tôi, nó như con quái vật khổng lồ từ thời tiền sử vậy. Bố xua tôi ra tránh đường cho một xe xúc than chạy vào, hai cái cần xúc nhìn như càng cua của nó gom than rơi ra đằng sau máy khai thác than tự động. Khi xe đã đầy, nó lùi trở ra, lôi theo mớ dây điện lòng thòng phía sau. Tôi nhận ra đây là loại xe mà chú Bykovski được giao nhiệm vụ điều khiển nên cố nhìn vào trong xem có phải chú ấy đang ở trong đó không. Nhưng hóa ra người đang lái là chú Kirk, bố của Wanda, một em học sinh nữ học sau tôi một lớp. Wanda có giọng hát tuyệt vời và đang tham gia đội hát hợp ca của nhà trường. Chú Kirk lái xe đến cạnh một toa tàu và trút than xuống đó.

Tiếng ồn quả là đinh tai nhức óc. Bố phải hét vào tai tôi, cố gắng giải thích những qui trình đang diễn ra. Những thợ mỏ đang khai thác than trong một khối mỏ than cho đến khi chỉ còn lại một cái cột chơ vơ. “Một người kỹ sư mỏ phải hiểu biết về các loại đá nằm trên mấy cái cột này! Nếu như bị quá tải thì chúng sẽ phát nổ! Lần gần đây nhất tai nạn này xảy ra, nó đã nổ banh một chiếc xe xúc tan thành từng mảnh vụn!”

Tôi nhìn chiếc xe xúc chú Kirk đang lái và cố tưởng tượng cái sức mạnh đủ để xé banh nó. Nghĩ rồi tôi lại thắc mắc đến số phận của người lái lúc đó và định bụng hỏi nhưng Bố cắt ngang. “Đây là những công việc thực tế của kỹ sư đấy Sonny!” ông hét lên, khoát tay khắp quang cảnh của công trường.

Người đốc công của nhóm thợ này nhìn thấy chúng tôi và tiến lại gần. Khuôn mặt đen sì nấp dưới chiếc mũ bảo hộ trắng ấy chẳng ai xa lạ mà chính là bác Robert, anh trai của Mẹ. “Chú Homer, cháu Sonny,” bác vừa chào vừa nhìn chăm chăm vào tôi một cách kì quặc. “Elsie khỏe không?”

“Vẫn tốt, anh Bob ạ,” Bố bực dọc trả lời.

“Cô ấy có biết Sonny xuống đây không?”

“Anh chỉ cần biết là tôi chẳng bao giờ đưa nó tới nơi nào không an toàn cả.” Bố đáp.

“Tôi chỉ không biết rằng cô ấy có đồng ý với việc này hay không mà thôi,” bác Robert thật thà nói, chân mày nhướng cả lên.

“Cứ để Elsie đấy tôi lo,” Bố quả quyết nói.

Sau đó Bố và bác Robert bắt đầu bàn về công việc còn tôi thì đi loanh quanh, cố tìm một góc nhìn tốt hơn để quan sát chiếc máy khai thác than tự động và chiếc xe xúc đang cần mẫn trong điệu nhảy khai thác than của chúng. Bác Robert phát hiện ra tôi liền nói: “Chỗ đó đứng không ổn đâu Sonny.” Nói rồi bác cầm một cây gỗ dài chừng 1 mét và chọc lên nóc hầm. Ngay tức thì một tảng đá long ra và rơi ầm xuống cạnh chỗ tôi đang đứng. Tôi nhảy dựng lên và lại đập đầu lần nữa, cổ đau điếng! Bác Robert cười cười. “Dưới này ai cũng phải suy nghĩ cẩn thận từng giây, Sonny ạ.”

Tôi di chuyển đến vị trí bác Robert chỉ định ngay dưới một thanh xà ngang và tiếp tục quan sát đến khi Bố dẫn tôi về lại xe than ngầm. Trong khi xe lăn bánh về lại đường ray chính thì tôi suy ngẫm lại tất cả những gì mình vừa được thấy. Tôi thật nóng lòng muốn kể với mấy đứa bạn nhưng nghĩ lại thì không thể làm vậy, điều này phải được giữ bí mật mà. Nhưng làm sao để giữ kín được đây... đúng lúc này thì Bố bắt đầu nói chuyện với tôi. “Bố yêu khu mỏ này lắm. Yêu tất cả mọi thứ thuộc về nó. Bố thích thức dậy thật sớm trước lúc mặt trời mọc và đi bộ đến nhà than. Bố thích chứng kiến những lúc đổi ca, những người công nhân tụ tập tại thang máy hầm mỏ sẵn sàng vào việc.”

Tôi vừa nghe vừa ngạc nhiên vô cùng, không phải vì những điều ông đang nói mà không ngờ rằng ông đang chia sẻ những tâm sự này với tôi. Tôi cảm thấy thật tự hào, cảm giác như mình đang thực sự trưởng thành. Bố tháo mũ ra rồi xoa đầu, gãi quanh những chỗ tóc bị chiếc mũ nằm đè lên. Đến khi Bố nói tiếp thì tôi bắt đầu chăm chú từng từ, xem chúng như từng đồng vàng mà ông đang đặt vào tay tôi vậy. “Bố thích được đến công trường, ngày nào cũng đến đấy, dù không cần thiết phải như thế. Đó là nơi cho bố thấy rằng những kế hoạch của mình được tiến hành suôn sẻ. Bố đã tưởng tượng được tất cả mọi việc nhiều ngày trước đó, từ những vết đào của máy khai thác than tự động, những chuyến xe vận chuyển than ra ngoài, những cây đà được gia cố vào nóc hầm, đến cả những nơi tích tụ nhiều khí mê-tan và nơi những người đốc công phải kiểm tra trước bằng những chiếc đèn bảo an. Đó là tất cả những gì bố muốn thấy khi đến đây, một khi chứng kiến chúng, trong lòng bố cảm thấy vô cùng thỏa mãn.”

Tôi nhận ra mình đang chăm chú nhìn Bố, luồng sáng nhỏ phát ra từ chiếc đèn trên mũ tôi đang tập trung vào mặt ông như đèn pha rọi vào diễn viên. Bố tiếp tục: “Ngày nào cũng vậy, bố làm việc với ông Van Dyke và những kỹ sư của ông ấy. Mặc dù bố không có bằng cấp nhưng vẫn hiểu biết nhiều hơn họ. Đơn giản vì bố đã có nhiều kinh nghiệm ở công trường còn họ thì không. Bố đã từng tự lái xe than ngầm này xuống đường ray chính và bước đến trước những ống thông khí, cảm nhận áp lực của không khí ùa lên mặt mình. Bố hiểu rõ khu mỏ này như hiểu rõ một con người, có thể cảm nhận được những điều bất ổn ngay khi mọi giấy tờ đều khẳng định điều ngược lại. Mỗi ngày đều có việc phải làm ở đây; nếu không thì sẽ có người bị thương vong hay công ty sẽ không có được lượng than yêu cầu. Than là huyết mạch của đất nước này. Nếu như ngành than suy yếu thì nền công nghiệp thép cũng sẽ suy tàn và tất nhiên cả đất nước này cũng sẽ lụn bại theo.”

Luồng sáng từ mũ bảo hiểm của ông chiếu vào mắt tôi. “Trên thế giới này không ai giống như những người thợ mỏ, Sonny ạ. Họ là những người tốt và mạnh mẽ nữa. Những người ưu tú nhất. Bố nghĩ dù con có làm gì cho cuộc đời của mình, dù con có đi đâu hoặc con có quen biết ai đi chăng nữa, con sẽ không bao giờ thấy những người đàn ông tốt và mạnh mẽ như vậy.”

“Con là con trai của bố,” ông nói và quay đầu làm ánh đèn trên mũ quét quanh một vòng, có vài công nhân nhá đèn lại, dường như họ nhận ra được sự có mặt của chúng tôi. “Bố sinh ra để dẫn dắt những người thợ mỏ chuyên nghiệp này. Có lẽ con cũng vậy.”

Con là con trai của bố. Trong cái sâu kín của bóng tối, tôi từ từ tận hưởng sự ngọt ngào của từng từ một, không chút ngượng ngùng.

Sau khi xe than ngầm trở về từ đáy hầm, Bố dẫn tôi đến thang máy. Cái lồng thang máy đang đậu ở dưới, đường hầm nằm sâu hơn tầng hầm chính một chút. Bố nhấn cái nút bằng đồng một lần, chuông vang lên và lồng thang máy được đưa lên. Tiếp đó ông nhấn hai lần rồi cùng tôi bước vào trong. Một người thợ mỏ bước ra từ cái nhà xi-măng nhỏ nhắn, Bố nhìn và gật đầu ra hiệu cho anh nhấn ba lần chuông. Ngay sau đó, hai bố con được nhấc lên một cách nhẹ nhàng. Thang máy đi lên được khoảng 30 mét thì đột ngột dừng lại. Tôi lo lắng dáo dác nhìn ra xung quanh. Những phiến đá lồi lõm xung quanh dường như đang dần dần khép chặt lại. Từ đây tôi chỉ có thể nhận thấy được tí ánh sáng trời mong manh. Đột nhiên tôi nhận ra một việc mà lúc đi xuống không để ý: có sự hiện diện của những bậc thang bằng thép. Tôi hỏi Bố, ông cho biết rằng những bậc thang đó chạy suốt từ đỉnh xuống đáy đường hầm. Có một khoảng cách từ thang máy đến mấy bậc thang này. Muốn qua đó thì phải bước qua một khoảng không sâu thăm thẳm dưới chân mình. Nghĩ đến viễn cảnh ấy, đột nhiên tim tôi tăng nhịp đập và tay vã đầy mồ hôi. “Đừng sợ, con,” Bố trấn an, dường như ông nhận ra được sự bất ổn của tôi. “Có lẽ họ đang bôi trơn cho máy móc của thang máy thôi.”

Chúng tôi đứng trong im lặng, một phút trôi qua dài dằng dặc. Rốt cuộc Bố mở lời trước: “Con nghĩ như thế nào về khu mỏ?”

Tôi biết ông muốn tôi nói gì và thật ra tôi rất hào hứng để nói ra những điều đó nhưng dù sao tôi cũng không muốn dối Bố điều gì. Vì vậy, tôi cẩn trọng câu trả lời của mình và quyết định nói theo kiểu nước đôi mà tôi thường dùng khi đối phó với Mẹ. “Con được học hỏi rất nhiều,” tôi chỉ nói có vậy.

Nhưng tôi chẳng thể gạt được Bố như đã làm với Mẹ. Sự khác biệt là ông không cảm nhận được chút khôi hài gì trong cách nói đó của tôi như Mẹ vẫn thường thấy. “Bố muốn hỏi con rằng có muốn trở thành kỹ sư mỏ hay không?” ông gặng hỏi. “Nếu thật sự con muốn, bố sẽ lo tiền cho con đi học.”

Tôi đáp một cách thận trọng “Con muốn trở thành một kỹ sư.”

“Một kỹ sư mỏ chứ?” Bố nhấn mạnh.

Ông đã nắm được thóp của tôi, chẳng còn cách nào khác là thú nhận sự thật. “Con muốn được làm việc cho Tiến sĩ von Braun, Bố ạ.”

Ông thất vọng ra mặt rồi lầm bầm “Con nên đi mà nói chuyện với Ike Bykovski về mấy tên người Đức rách việc suốt ngày chỉ biết chạy rông ấy,”

“Ý Bố là?”

“Lạy chúa, con không biết Ike là người Do Thái à?” Bố ngắt lời. “Ông ấy sẽ nói cho con ngay rằng tên khốn người Đức von Braun ấy không đáng để trông chờ một chút nào cả.”

Thang máy rục rịch chuyển động. Tôi ủ rũ nhìn những cục đá trôi ngang qua. Lần này tôi thật sự làm hỏng hết mọi chuyện rồi. Chẳng những Bố giận mà tôi biết rằng mình đã làm ông đau lòng. Còn những việc Bố nói về tiến sĩ von Braun và chú Bykovski là sao nhỉ? Tôi tự dằn vặt, tự trách mình. Lẽ ra tôi không nên đồng ý theo Bố xuống hầm mỏ này. Tôi biết rõ rằng Bố đang muốn gì và cũng rõ ràng rằng mình sẽ không thuận theo điều đó. Vậy thì đi theo để làm cái quái gì? Có những lúc, tôi thật ngu ngốc.

Lên đến gần mặt đất, không khí lạnh trong lành từ những ngọn núi lùa vào đường hầm làm lòng tôi ít nhiều thanh thản. Vừa trồi lên khỏi mặt đất, tôi nhận ra ngay Mẹ đang đứng đợi, bà vẫn mặc bộ lễ phục nhà thờ. Một đám thợ thả bụi đá đang đứng gần đó, mắt dán vào Mẹ tôi. Họ chuyển mục tiêu sang tôi và Bố. Tôi biết Mẹ đang nhìn vào khuôn mặt bẩn thỉu, đôi mắt viền than và bộ đồ bảo hộ nhem nhúa của mình. Ngay sau đó, tôi bàng hoàng khi thấy bà bật khóc nức nở. Toán thợ thả bụi đá lùi lại, một số tháo mũ ra, gãi gãi đầu nhìn xuống chân như đang bối rối khi phải chứng kiến những giọt nước mắt của bà. Bố cố bảo bà im lặng. “Nín đi Elsie, bà làm mọi người sợ rồi kìa,” ông vừa nói vừa mở chốt thang máy.

“Mọi thứ ổn cả mà Mẹ,” tôi nói mà lòng bồn chồn: Nơi đây sắp sửa nổ ra một cuộc nội chiến của gia đình tôi, ngay trước mặt Chúa và mọi người, còn gì xấu hổ hơn nữa chứ!

“Nó đang suy xét xem có nên trở thành một kỹ sư mỏ hay không,” Bố nói đầy vẻ kiên định.

Nước mắt Mẹ ráo ngay tức khắc, cứ như chúng vừa được hút ngược vào mắt bà vậy. “Phải bước qua xác của tôi đã,” bà thốt lên câu nói từ sâu thẳm trong đáy lòng.

Bố đẩy tôi về phía trước. “Đi tắm đi,” ông ra giọng cộc cằn rồi nhìn quanh mấy thợ mỏ đang đứng cúi đầu im lặng (nhưng thật ra đều đang theo dõi mọi việc) và quát: “Không phải chuyện của các người!”

Toán thợ thả bụi đá tránh ra một khoảng không xa để vẫn có thể nghe ngóng sự việc. Tôi tiến lại cửa phòng tắm nhưng dừng bước ngay cửa ra vào. Mặc dù đang nhục nhã đến mức muốn biến mất trên cõi đời này, tôi vẫn muốn nghe tiếp câu chuyện sắp xảy ra. Chú Dubonnet vừa bước ra, đã thay đồ thường nhưng vẫn đội mũ bảo hộ. Thấy cảnh này, chú liền đứng khoanh tay tựa vào tường và cười thầm quan sát. Tôi chẳng hiểu chú thấy điều gì buồn cười lúc này được nữa.

“Bà có vấn đề quái quỷ gì vậy, Elsie?” Bố rít lên, rướn người chộp lấy tay Mẹ.

Bà giằng tay ra. “Cái hầm mỏ này đã giết chết ông, nhưng tôi không để nó giết luôn con mình đâu!”

“Bà nói nhăng nói xàm gì thế?”

“Đốm đen - to bằng đồng xu,” Mẹ vừa nói vừa xỉa tay về phía ngực Bố. “Đây này, ngay bên phải này!” Bà chọc lần nữa, lần này thật mạnh.

Bố cười lớn trong cơn thịnh nộ, cúi xuống bốc lên một vốc than và tung lên trời. Rồi ông đưa mặt vào đám bụi than đó và hít một hơi sâu. “Tôi lớn lên nhờ mấy thứ này đó. Nó như sữa mẹ đối với tôi đấy!”

Mẹ sững người nhìn than rơi lên người Bố. Một ít bay vào mặt Mẹ và dính lại trên lớp phấn son nhưng bà không hề chớp mắt. Mẹ quay lưng lại và hùng dũng bước về phía nhà tắm, chỗ tôi đang núp, làm mấy người thợ mỏ trần như nhộng phải cuống cuồng chộp lấy khăn che người lại. Bà chộp lấy tay tôi. “Con về nhà mà tắm,” bà càu nhàu. Khi chúng tôi đi ra, chú Dubonnet ngả mũ chào Mẹ, nhưng bà chỉ đáp lại bằng một ánh mắt ghê tởm. Toán thợ thả bụi than đã tản đi, chỉ còn Bố đứng đó, tay cầm chặt chiếc mũ bảo hộ. Ông nhìn Mẹ con tôi băng qua mà không hé nửa lời. Trên suốt con đường từ nhà than về nhà, tôi cảm thấy rõ ánh mắt của ông khoan xoáy vào sau đầu mình.

Sonny Hickam lúc 5 tuổi

Thăm viếng ông nội Poppy: (từ trái sang phải): Bà nội “Mimi” Hickam, Frankie (chị họ), Poppy (ông nội), tôi (đang ngồi trên đùi ông nội), Jim (anh tôi). Chân của nội Poppy đã bị cụt trong một lần làm việc tại hầm mỏ.

Homer Hickam và Elsie Hickam, khoảng năm 1957.

Hầm mỏ Coalwood: Cửa hàng kim khí điện máy của chú Bykovski nằm ở dưới bên phải của ngôi nhà bằng gạch. Còn nhàcủa chúng tôi thì nằm cách đó khoảng 91 mét về bên phải.

Nhà của gia đình Hickam, nằm cách nhà than Coalwood khoảng 91 mét. Con đường nằm bên trái dẫn đến “trung tâm” của Coalwood: từ Big Store, đến Club House, rồi mấy nhà thờ và sau đó là Cape Coalwood.

Những ngôi nhà thông thường ở Coalwood. Chú ý nhìn mấy hàng rào vững chắc đó nhé. Cùng loại với cái trong vườn hồng của Mẹ mà chúng tôi từng làm nổ tung lên đấy.

Nhà thờ Cộng Đồng ở Coalwood. Tôn giáo của chúng tôi hoàn toàn phụ thuộc vào sự chỉ định của công ty. Trong thời đại của những cậu bé tên lửa, chúng tôi theo hội Giám Lý

Một cuộc họp của Tổ chức Tên lửa Big Creek tại nhà của Sonny (từ trái sang phải): Sherman, O’Dell, và tôi. Thấy chúng tôi không mang giày không? Mẹ sợ chúng tôi sẽ làm trầy sàn nhà bằng gỗ cứng của bà vì những chất nổ của tên lửa dính trên đế giày.

Tổ chức Tên lửa Big Creek, mùa đông năm 1959 (từ trái sang phải): tôi, Quentin, Roy Lee, và O’Dell. Sherman và Billy không thể chụp hình chung lần đó. Mẹ chụp tấm ảnh này và nó được đăng trên tờ McDowell County Banner và cả The Owl, tờ báo của trường.

[IMG_9]


Tôi

[IMG_10]


Quentin

[IMG_11]


O’Dell

[IMG_12]


Roy Lee

[IMG_13]


Billy

[IMG_14]


Sherman

Cô Riley: Cô Riley luôn khẳng định đi học là công việc thiêng liêng của mỗi học sinh. Học chăm chỉ nhất có thể là phong cách của miền Tây Virginia và học dở đơn giản là điều không thể chấp nhận được. Mỗi khi tôi tỏ ra kiêu căng vì chút thành công hay đau buồn vì thất bại thì cô luôn kéo tôi lại trạng thái cân bằng qua những lời quở trách hay động viên hợp tình hợp lý.

Hội Chợ Khoa Học Toàn Quốc: Tôi đang cầm Auk XIV trong tay để giới thiệu tại Hội Chợ Khoa Học Toàn Quốc. Chiếc tên lửa dài đứng ngay giữa là Auk XXVIII. Mấy cái miệng tên lửa nằm trên bàn, được chế tạo ngay sau khi cuộc đình công được bãi bỏ, và được giao tới Indianapolis kịp thời gian.

Tiến sĩ Wernher von Braun. Tấm hình tôi nhận được làm quà Giáng Sinh năm 1958.

Người dịch:Lâm Thanh Tùng - Làm ebook: thanhbt - Ngày hoàn thành: 04/09/2015
Nguồn: tve-4u
Được bạn: Mọt Sách đưa lên
vào ngày: 25 tháng 8 năm 2026

« Lùi Tiến »

💬 Thảo luận

Chưa có bình luận nào — hãy là người đầu tiên chia sẻ cảm nhận của bạn!

Đăng nhập để tham gia bình luận.