Người Xô Viết Đã Chiến Đấu Vì Điều Gì

Lượt đọc: 175 | 0 Đánh giá: 0/10 Sao
★★★★★★★★★★
★★★★★★★★★★
« Lùi Tiến »
Chương VI: Những nô lệ phía đông của đế chế Đức

❊ ❊ ❊

Một gia đình Đức: người đàn ông Đức đứng tuổi đội nón tươi cười, khoác cái tạp dề lao động bên ngoài chiếc sơ mi sọc với nơ bướm, điếu xì gà trên tay, và một phụ nữ trẻ đầy đặn tóc vàng cũng tươi cười trong chiếc mũ vải trùm và áo đầm hồng, vây quanh họ là những đứa trẻ đủ lứa tuổi, bắt đầu từ cậu bé bụ bẫm chừng một tuổi với đôi má phúng phình và kết thúc bằng một cô bé tóc vàng mắt xanh. Họ đứng bên cửa một căn nhà thôn quê có mái ngói cao, trên đó những chú bồ câu gù đang dạo chơi. Người đàn ông, người đàn bà cùng tất cả trẻ con, trong số đó đứa bé nhất thậm chí còn chìa ra cánh tay nhỏ xíu, đều đang mỉm cười với một cô gái đi về phía họ trong chiếc váy rực rỡ, mang tạp dề ren trắng, cũng đội mũ trùm cùng đôi giày đỏ duyên dáng, tròn trịa, với chiếc mũi hếch cao, đôi má hồng không tự nhiên và cũng cười để lộ những chiếc răng to trắng. Xa xa là chiếc lán chứa lúa và chuồng trại dưới mái ngói cao cùng với những con bồ câu đang lững thững, một mảng trời xanh, một mẩu cánh đồng với những bông lúa mì trĩu nhọn và những con bò đốm kềnh càng.

Dưới tấm áp phích viết bằng tiếng Nga: “ở đây tôi đã tìm thấy mái nhà và gia đình mình”.

Và phía dưới nữa, bên phải: ”Katya”:[1]

Những tấm áp phích như thế treo trên tường nhà ở tất cả những thành phố và khu định cư mà quân Đức chiếm đóng. Gia đình Đức với những nụ cười giả tạo nhìn cô gái Nga Katya, Katya cũng tươi cười đáp lại. Gió lùa bụi dọc con phố không người, quật mạnh lá cờ với con nhện hình chữ thập ngoặc màu đen treo trên văn phòng quân quản, vò rối tóc của kẻ phá hoại đang bị treo cổ ở ngã tư không tin vào tấm áp phích. Xa hơn chút nữa hiện ra bộ khung xương của những ngôi nhà bị cháy.

Bất cứ ai nhìn thấy bức tranh này đều hiểu: ở đây đã diễn ra việc tuyển dụng lao động tự nguyện để đưa sang Đế chế.

* * *

Thất bại gần Moskva đã đặt dấu chấm hết cho một loạt những chiến thắng rực rỡ của quân đội Wehrmacht, hành quân từ những biên giới phía tây của đất nước Bolshevik đến tận trái tim của nó – Moskva. Trong thời gian đó, trên những vùng đất Liên Xô bị Đức Quốc xã chiếm đóng, gần 6 triệu người đã bị thủ tiêu.[2] Số người hạ đẳng bị thanh toán quá sức ấn tượng, mặc dù vẫn chưa được như giới lãnh đạo Đế chế từng mong muốn.

Đối với giới lãnh đạo Đức, tốc độ thủ tiêu tù binh chiến tranh và thường dân vô tội Soviet phụ thuộc trực tiếp vào thắng lợi của Wehrmacht ở Mặt trận phía Đông. Nếu có thể hy vọng vào blitzkrieg, một cuộc chiến tranh chớp nhoáng, sẽ không có nhu cầu sử dụng Hồng quân bị bắt làm tù binh, mà ngược lại, chỉ cần thủ tiêu họ. Giải phóng không gian sống khỏi những đại diện của chủng tộc hạ đẳng, bị tiêm nhiễm ý thức hệ Bolshevik.

Nhưng mùa đông năm 1941, khi quân đội Đệ tam Đế chế cho đến lúc đó vẫn là bất khả chiến bại bị đập tan, còn những cánh đồng tuyết ở ngoại ô Moskva phủ đầy xác lính Đức cùng những xe tăng với những thập tự đen bị bắn cháy, lúc ấy rõ ràng cuộc chiến sẽ còn lâu dài và căng thẳng với nước Đức. Cuộc chiến với một kẻ thù đã chứng tỏ được sức mạnh của mình. Cuộc chiến mà để chiến thắng cần phải huy động tất cả những nguồn lực sẵn có.

Và giới lãnh đạo Đức nhớ ngay lại những tù binh Soviet đang hấp hối trong những trại tập trung, những kẻ mà tấm lưng của họ có thể sử dụng cho công nghiệp. Nhớ tới những người dân đang chết dần mòn vì đói và lạnh ở vô số các thành phố và thôn làng. Tiếp tục sát hại họ vô nghĩa trở thành sự phí phạm không thể chấp nhận.

“Nếu chúng tôi bắn chết hết người Do Thái, để mặc cho tù binh chết, tạo điều kiện cho một phần đáng kể người dân các thành phố lớn chết đói, và trong năm tới mất thêm một bộ phận nông dân vì đói, sẽ bỏ ngỏ một câu hỏi: vậy ai sẽ tạo ra những giá trị vật chất?” Trung tướng Hans Leikauf viết trong tờ trình báo cáo.[3] Viên tướng này chuyên giám sát các xí nghiệp công nghiệp quân sự ở Ukraina; không thể không lắng nghe lời ông ta.

“Chỉ bằng cách đưa sang Đức vài triệu công nhân Nga, được tuyển chọn từ nguồn dự trữ vô tận những con người có khả năng lao động, khỏe mạnh và kiên cường ở những tỉnh phía Đông bị chiếm đóng”, trung tướng Weigang đồng tình, “mới có thể giải quyết vấn đề cấp bách là cân bằng được nhu cầu chưa từng có về lực lượng lao động và bằng cách đó, khắc phục sự thiếu hụt công nhân ở Đức”.[4]

Như thế, nhiệm vụ số một đối với giới lãnh đạo Đức Quốc xã là bảo đảm lao động cho nền công nghiệp. Việc thực hiện nhiệm vụ này phải dẫn đến sự cải thiện đôi chút tình hình bọn hạ đẳng Soviet; như tiến sĩ Mansfield, giám đốc Cục sử dụng lao động của bộ nhận xét thật chí lý, “sẽ vô nghĩa nêu chuyên chở những lao động này trong các toa tàu chở hàng không mui hoặc những toa kín không được sưởi ấm, để ở ga đến dỡ xuống những tử thi”.[5]

Dĩ nhiên, điều đó không đồng nghĩa với sự thay đổi chính sách diệt dân; đơn giản là thay cho những vụ bắn giết hàng loạt là việc “hủy diệt bằng lao động” thực dụng hơn. “Ý tưởng thủ tiêu bằng lao động là thích hợp nhất”, Goebbels đăm chiêu nhận xét trong cuộc bàn luận với bộ trưởng Tư pháp Tyrac.[6]

Ngày 20/3/1942 tại tổng hành dinh của Quốc trưởng gần Vinitsa, một cuộc họp đặc biệt được triệu tập. Alfred Rosenberg, bộ trưởng phụ trách các lãnh thổ chiêm đóng phía Đông, Loze, thủ hiến “Ostland”, Koch và Kube, các toàn quyền Ukraina và Belarus, Backe, bộ trưởng Lương thực và Ganzenmiiller, bộ trưởng Đường sắt Đức – tất cả đều có mặt tại đại bản doanh “Werwolf”[7] để thảo luận những vấn đề kinh tế. Nhân vật cuối cùng đến trụ sở là người chịu trách nhiệm thực hiện kế hoạch bốn năm, thống chế Georing. Cuộc bàn luận dự kiến sẽ rất nghiêm túc, nhưng Quốc trưởng chưa vội gọi họ vào.

“Những người dự họp chờ tiếp kiến với Hitler”, người hầu cận của Quốc trưởng Heinz Linge nhớ lại. “Bormann cũng tham gia cùng họ. Cuộc trò chuyện bàn về thị trường chợ đen ở Đức đang hoạt động với quy mô lớn”.

Goering quay sang nói với Backe:

“Tất cả đều đầu cơ. Nếu bỏ tù vì tội đầu cơ, ắt phải bỏ tù toàn bộ dân Đức. Vấn đề không phải ở đó. Vấn đề ở chỗ cần chuyển đi tất cả hàng hóa Nga có ở đây. Khi đó sẽ không còn thị trường chợ đen nào làm phiền chúng ta nữa”.[8]

Trong số những người tham dự, không có ai sẽ trở thành nhân vật chính của cuộc họp. Fritz Sauckel, thủ hiến Thuringen và là người tổ chức trại tập trung Buchenwald, đang chờ triệu tập tại nhà Bormann. Vài giờ sau Sauckel sẽ trở thành một trong những nhân vật quyền lực nhất của Đế chế, và Bormann, nhận từ tay Quốc trưởng quyết định bổ nhiệm này, sẽ nói:

“Đây là đại thắng lợi của Đảng Quốc xã”.[9]

Sauckel giữ chức vụ đặc biệt tổng toàn quyền về sử dụng lao động. Nhiệm vụ của ông ta là tổ chức đưa dân từ những nước chiếm đóng sang Đế chế để sử dụng. Ý tưởng, được các nhà công nghiệp Đức khát nhân lực miễn phí tích cực vận động ngay từ đầu chiến tranh, đã bắt đầu trở thành hiện thực. Trước khi chết, các nô lệ Nga phải làm việc vì lợi ích của nước Đức – đó là câu trả lời cho một trong những vấn đề quan trọng nhất mà Đế chế phải đối mặt.

* * *

Ngày 01/10 đã diễn ra đợt tuyển dụng lao động mới. Tôi chỉ kể cho anh những sự kiện quan trọng nhất. Anh không thể tưởng tượng được sự khốc liệt này đâu. Có lẽ, anh còn nhớ họ đã nói gi với chúng ta. Khi đó chúng ta không tin điều này, nhưng giờ đây điều không tưởng ấy lại đang diễn ra. Có lệnh đòi 25 công nhân phải trình diện, nhưng không ai trong số họ xuất hiện. Tất cả đã bỏ chạy. Khi đó cảnh sát Đức bắt đầu đốt nhà những ai bỏ trốn. Lửa lan nhanh, bởi đã hai tháng không mưa. Không chỉ vậy, gần đó có các kho ngũ cốc và chúng cũng bắt lửa. Anh có thể tưởng tượng chuyện gì xảy ra ở đó. Những người chạy đến dập lửa đã bị đuổi đi, đánh đập và bắt giữ. Bày ngôi nhà cháy rụi. Đồng thời cảnh sát tiếp tục đốt phá. Người ta quỳ gối, hôn tay cảnh sát, nhưng cành sát đáp lại bằng dùi cui và dọa sê đốt hết cả làng… Trong lúc cháy cảnh sát sang các thôn lân cận, bắt các lao động và giam giữ họ… Những ai không trình diện đúng thời hạn, phải bị bắn bỏ… Họ lùng người như bắt chó suốt cả tuần lễ, mà như vậy vẫn chưa đủ với họ. Họ nhốt những người bị bắt vào trường học, những người này thậm chí không thể giải quyết nhu cầu tự nhiên của mình và phải làm điều đó ngay trong phòng, như lợn vậy.[10]

Nếu bằng cách nào đó lá thư này rơi vào tay Fritz Sauckel, có lẽ ông ta cũng chỉ hơi bực mình. Thật là ủy mị sai lầm làm sao! Quốc trưởng đã giao nhiệm vụ phải bảo đảm nhân công cho Đế chế, và nghĩa vụ của tổng toàn quyền về sử dụng lao động là phải hoàn thành nhiệm vụ.

Bằng việc làm, Sauckel đã chứng minh rằng Quốc trưởng không sai lầm khi chỉ định chính ông ta làm tổng toàn quyền. Một tháng sau khi được bổ nhiệm, ông ta đã đệ trình Quốc trưởng “Chương trình sử dụng lao động”. Theo chương trình đó, đối tượng được tuyển dụng trên các lãnh thổ chiếm đóng là nam và nữ giới tuổi từ 17 đến 35; trong nửa năm dự kiến đưa 1,6 triệu người sang Đế chế.[11] Con số có vẻ tuyệt vời và vì thế rất hấp dẫn.

“Nếu ông hoàn thành đủ số lượng đã dự định thì đó sẽ là món quà tốt nhất cho sinh nhật của tôi”, Quốc trưởng mỉm cười, phê duyệt chương trình. Nửa năm sau, hóa ra cơ quan của toàn quyền thậm chí còn hoàn thành vượt mức kế hoạch, đưa sang Đế chế không chỉ đúng như dự định, mà còn vượt định mức 200.000 người.

Vào thời của mình, Sauckel đã từng tổ chức trại tập trung Buchenwald tại Weimar, thế nên tình người là thứ mà Sauckel sở hữu ít nhất. Câu nói yêu thích nhất của Sauckel là “Không được ủy mị sai lầm!” Dĩ nhiên, về nguyên tắc, tổng toàn quyền sẽ thích hơn khi việc tuyển dụng nhân lực diễn ra không quá căng thẳng; thế nhưng đã rõ là nếu không khắc nghiệt thì sẽ không xong ở phía Đông. “Nếu số người tình nguyện không đáp ứng được mong muốn”, Sauckel ra lệnh, “thì theo chỉ thị, phải áp dụng những biện pháp nghiêm ngặt nhất”.[12]

Người tình nguyện nằm ở các nước châu Âu. Thu nhập tốt cùng khả năng chấm dứt thất nghiệp đã thu hút nhân công từ Hà Lan, Pháp và Bỉ đến Đức. Người Pháp bị hấp dẫn bởi thực tế là cứ năm công nhân đến Đế chế thì có một lính Pháp được thả khỏi nhà tù Đức. Điều kiện làm việc của người châu Âu ở Đế chế thật sự không khác với điều kiện làm việc của người Đức bản xứ, và bức bách lớn nhất mà những nhà tuyển dụng của Sauckel ở châu Âu được phép – đó là hạ mức tiền trợ cấp thất nghiệp.[13]

Trên đất Soviet hầu như không có người tình nguyện. Trong thời gian chiếm đóng, dân cư địa phương đã chứng kiến đủ để hiểu được rằng không nên mong chờ điều gì tốt đẹp từ Đức Quốc xã. Và nếu như quân chiếm đóng hứa hẹn những dòng sông sữa và bờ bến mật với người được tuyển dụng tại Đê chế, thì có nghĩa là lao động khổ sai đang chờ đợi họ. Niềm tin ấy bất biến đến nỗi toàn bộ uy lực của bộ máy tuyên truyền Đức cũng không thể nào lay chuyển được.

“Việc tuyển dụng nhân lực đã gây lo ngại cho các cơ quan hữu quan, bởi dân chúng có thái độ hết sức tiêu cực với việc bị đưa sang Đức làm việc”, người đứng đầu SD tại Kharkov báo cáo. “tình hình hiện tại là mỗi người đều cố tránh né việc tuyển dụng bằng mọi cách… Từ lâu đã không còn việc tự nguyện sang Đức nữa”.[14]

“Trong số sáu triệu công nhân nước ngoài đến Đức, thậm chí không có tới được 200.000 người tự nguyện”, như Sauckel thừa nhận sau này.[15]

Tuy nhiên, văn phòng tổng toàn quyền cũng không đặc biệt trông mong gì vào việc tuyển dụng tự nguyện ở những vùng bọn hạ đẳng sinh sống.

Hướng dẫn tuyển dụng công nhân phía Đông – các “ostarbeiter”[16] – nêu rõ, khi làm việc với bọn hạ đẳng Soviet cần xuất phát từ những nguyên tắc không thể áp dụng tại các nước châu Âu.

…Trong hàng chục năm họ đã nằm dưới sự thống trị của bọn Bolshevik và được giáo dục có hệ thống tinh thần thù địch với nước Đức Quốc xã cùng văn hóa châu Âu. Không cần phải kiềm tra quốc tịch công nhân, bởi nó sẽ chẳng có ý nghĩa gì trong việc đối xử sắp tới với lực lượng lao động.[17]

Đưa vào chuyên khảo của mình hướng dẫn này, sử gia Pavel Polyan đã không thể kiềm chế được sự ngạc nhiên và tô điểm cho nó bằng nhiều dấu chấm than. Tài liệu này quả thật hết sức lạ lùng. Cần phải hiểu giới lãnh đạo Quốc xã bị ám ảnh thế nào với các vấn đề chủng tộc mới có thể đánh giá hết ý nghĩa cách tiếp cận không phân biệt như thế đối với các công dân Soviet.

Chỉ có thể điều khiển bọn hạ đẳng bằng sự tàn bạo! – và vì vậy mà ngay từ đầu việc tuyển dụng bằng bạo lực trên những miền đất Soviet bị chiếm đóng đã được thực hiện bằng những phương pháp man rợ đến độ gây ngạc nhiên trong cả giới chính quyền dân sự.

“Những biện pháp do Sauckel thực hiện đã gây hoang mang lớn trong dân chúng”, các đại diện của bộ phụ trách các vấn đề lãnh thổ chiếm đóng than phiền, “Đám đàn ông tiến hành việc khử trùng cho các cô gái Nga, cưỡng ép họ chụp ảnh khỏa thân, nhốt các nữ y tá vào những toa tàu hàng để các chỉ huy phụ trách vận chuyển chơi bời. Phụ nữ mặc áo ngủ bị trói và bị cưỡng ép kéo lê qua những thành phố Nga đến các ga đường sắt v.v…”.[18]

Erich Koch, toàn quyền Ukraina không hài lòng với sự phê phán này. “Hoàn toàn dễ hiểu”, ông ta viết cho Rosenberg, “không thể đưa 1,5 triệu người từ thuộc địa[19] do tôi quản lý sang Đức mà không phái áp dụng biện pháp hà khắc nhất định của guồng máy cai trị Đức… Trong chỉ thị ngày 20/5/1942, tôi đã đề xuất tại những khu vực rừng phía bắc Volynia, nơi xảy ra sự chống đối công khai ủy ban tuyển dụng, được phép sử dụng các biện pháp cưỡng chế kể cả việc đốt phá tài sản để duy trì thanh thế Đức”.[20]

Các cuộc bố ráp diễn ra tại các thành phố và thị trấn, quân Đức gọi chúng là đi “săn sọ người”. Chúng bắt người ngoài chợ, trên đường, trong nhà thờ. “Cuộc săn người ác nghiệt và tàn nhẫn… diễn ra khắp nơi: thôn làng, thành phố, ngoài phố, trên quảng trường, tại các nhà ga xe lửa và cả trong nhà thờ, hằng đêm tại các khu nhà dân”, một trong những đại diện của các cơ quan hợp tác với địch kinh hoàng ghi lại. “Ai cũng có nguy cơ bị cảnh sát bắt ở bất cứ nơi nào vào bất cứ lúc nào, bất ngờ và đột ngột, rồi bị đưa đến điểm tập trung. Không ai trong những người thân của người đó biết chuyện gì đã xảy ra, và chi nhiều tuần hay nhiều tháng sau sự việc, một trong những người bị bắt mới có cơ hội thông báo về mình qua tấm bưu thiếp”.[21]

Những ai mưu toan chạy trốn đã bị bắn, những người còn lại bị dồn vào một tòa nhà nào đó lớn hơn, chờ được đưa sang Đế chế. Tại ga Vira, cô gái Praskovya Shirnova bị bắt trong cuộc bố ráp, đã trở thành nhân chứng cho một cảnh tượng khủng khiếp nhưng cũng đã là chuyện thường ngày. “Em trai một phụ nữ khuyết tật (bà ấy không đi được) đưa bà ngồi trên xe đẩy đến văn phòng quân quản để xin đừng đưa con gái bà sang Đức, bởi người mẹ đau ốm sẽ không còn ai chăm sóc. Chỉ huy nghe người phiên dịch nói xong, hỏi lại: vậy là không ai chăm lo cho bà ta à? Ngồi trên ghế dựa, hắn giơ súng máy lên và nã vào người đàn bà bất hạnh. Sau đó y nói tiếp: vậy là không cần phải chăm lo nữa. Còn con gái bà ta phải làm việc cho nước Đức vĩ đại”.[22]

Cảnh sát bao vây các thôn và bắt tất cả những người có khả năng lao động. Chỉ cần một biểu hiện chống đối nhỏ nhất, tất cả sẽ bị giết. Ngày 05/02/1943, quân tiễu phạt đã đốt làng Zhaulki thuộc Belarus, giết 512 người. Cách Zhaulki 2 km là thôn Kudinovichi. Các nông dân được bảo rằng nếu không tìm ra những người tình nguyện sang làm việc tại Đế chế, số phận tương tự dân làng Zhaulki đang chờ đợi các người. Dĩ nhiên, đã tìm ra “những người tình nguyện”.[23]

Các đơn vị SS cũng tham gia việc tuyển dụng các ostarbeiter; trong một hướng dẫn về tuyển chọn lao động, quân SS tập trung vào việc

“Nếu cần thiết, nên đốt các làng, toàn bộ dân số nên được đặt dưới sự quản lý của người đứng đầu bộ phận tuyển dụng lao động.

Theo quy định, không cần phải bắn trẻ em nữa”.[24]

Rất thường xuyên không thể tìm ra sự khác biệt giữa việc “tuyển chọn người tình nguyện làm việc tại Đê chế’ với các chiến dịch tiễu phạt. “Kết quả của các biện pháp tuyển chọn lao động”, Rosenberg đưa ra tổng kết đau buồn, “là toàn bộ các vùng trở thành chốn không người”.[25]

Thế nhưng mặc cho các nỗ lực của những thuộc cấp Sauckel, mùa hè năm 1942 với họ chẳng mấy thành công. Các kế hoạch tuyển dụng không được hoàn thành; người dân tìm đủ mọi cách để thoát khỏi việc đưa sang Đê chế, du kích quân tấn công các đoàn tàu và giải vây cho những người bị bắt. Mà chủ yếu là chính cơ chế “tuyển dụng người tình nguyện” vẫn chưa ổn thỏa. Chỉ về sau này, những cuộc bố ráp và các chiến dịch ồ ạt tại các khu vực thôn quê mới được tiến hành với hiệu quả ngày càng tăng, còn khi đó tất cả các đơn vị Đức ở hậu phương đều bị tung ra mặt trận. Ở đó, trong những không gian thảo nguyên bao la của miền Nam Nga, cuộc tiến công được triển khai để đặt dấu chấm hết cho nhà nước Bolshevik. Người Nga không còn khả năng đối đầu với binh lính Wehrmacht đang đổ tới Stalingrad và Kavkaz. Chiến thắng đã cận kề! – song những đơn vị hậu phương của quân Đức lại quá ít ỏi để có thể dồn đuổi hàng loạt “những người tình nguyện” sang Đế chế, còn các đơn vị hợp tác với địch vẫn chưa được đào tạo cơ bản. Chỉ các tiểu đoàn “cảnh sát phụ trợ” chọn lọc có thể được trưng dụng cho các chiến dịch bán tiễu phạt này mà không phải e ngại, những đơn vị còn lại vẫn cần phải được huấn luyện bằng máu…

Có vẻ như các kế hoạch tuyển dụng được Quốc trưởng phê duyệt dẫu sao cũng đã thất bại; thì bất ngờ trong đầu các thuộc hạ của Sauckel nảy sinh một ý tưởng hay ho. Sau khi chiếm Kerch, một “dịch vụ lao động” được mở ngay trong thành phố. Đó là một thực tế bình thường; thế nhưng lần này những kẻ tuyển mộ không thể thu hoạch cho dù là vụ mùa tối thiểu. Người dân, kể cả phụ nữ và trẻ em, trốn trong các mỏ đá, còn những ai không kịp chạy trốn, đã bị đưa vào các trại tù binh chiến tranh – theo các chỉ thị của bộ tư lệnh quân đội, không chỉ những nhân viên quân sự mà tất cả nam giới, ngoại trừ trẻ nhỏ và những cụ già, đều bị coi là tù nhân chiến tranh.

Trong trại tù binh chiến tranh được lập tại Kerch là một cảnh tượng thê lương. Hàng chục ngàn lính Hồng quân và dân cư địa phương bị dồn trong một không gian được rào chắn bằng dây thép gai. Những người không áo ấm, không giày chết vì đói và rét. Nằm cạnh người sống là nhiều xác chết vài ngày chưa được dọn. Những người dân chuyển cho tù binh thức ăn và bánh mì bị đánh đập, còn tù binh cố nhận những thức ăn được chuyển cho thì bị bắn.[26]

Thế chỗ người chết chúng lùa tới những tù binh còn sống. Người dân Kerch kinh hoàng chứng kiến đoàn áp giải bắn những ai không thể đi nổi vì kiệt sức hoặc đau ốm. Suốt con đường từ bến phà tới thành phố dài 18-20 km rải đầy xác Hồng quân.[27]

Tại Sevastopol, sau trận phong tỏa kéo dài bởi các đội quân của tướng Erich von Manstein, những nhà tuyển dụng của Sauckel cũng không thể bắt được đủ người. Trong khi đó những người dân sống sót của thành phố đã bị quân đội sát hại hàng loạt: bị bắn, bị treo cổ, dìm xuống biển. “Tại cảng Sevastopol, tôi đã chứng kiến những thường dân vô tội bị chở bằng xe tới đông hàng đoàn, trong đó có cả phụ nữ và trẻ em”, một hạ sĩ Đức nhớ lại. “Họ đưa tất cả người Nga lên phà. Nhiều người chống cự, nhưng đều bị đánh đập và cưỡng ép bằng vũ lực bước lên phà. Tổng cộng khoảng 3.000 người đã xuống phà. Những cái phà ra khơi. Tiếng khóc và thét rú còn vang lên rất lâu trên vịnh. Vài giờ sau, những cái phà đã cập cảng trống rỗng. Từ ban điều hành những con phà ấy tôi được biết, mọi người đã bị ném xuống biển”.[28]

Đại diện toàn quyền trên lãnh thổ về sử dụng lao động rất không hài lòng khi thấy giới quân sự thủ tiêu hết những ai có thể đưa sang Đế chế để lao động khổ sai. Trong các trại tù ở Kerch có không dưới 150.000 tù nhân chết trong những điều kiện kinh hoàng; phải chi một phần trong số này được chuyển cho người tuyển mộ, thì có lẽ kế hoạch tuyển chọn nhân lực đã thành công vượt mức…

Ý tưởng tuyệt vời này rất hợp lòng Sauckel. Ngày 26/5, tổng toàn quyền đi công cán Ukraina. Thăm Kiev, Dnepropetrovsk và Nikolayevsk xong, ông ta tới Poltava. Poltava là mục tiêu chính chuyên đi của Sauckel: bộ tham mưu Tập đoàn quân “Nam” đóng tại thành phố này. Thống chế Fedor von Bock, tư lệnh tập đoàn quân, lịch sự tiếp đón tổng toàn quyền, thế nhưng yêu cầu chuyển một phần tù binh để đưa sang Đế chế không làm giới quân nhân đặc biệt quan tâm. Bộ chỉ huy quân sự dựa trên thực tế là bản thân nhu cầu nhân lực của Wehrmacht cũng không được đáp ứng đủ; Sauckel chỉ rõ tầm quan trọng và bất di bất dịch của nhiệm vụ tuyển dụng lao động cho Đế chế do chính Quốc trưởng đặt ra. Không gì có thể tranh cãi với luận chứng nặng ký đó.[29]

(Nếu bộ chỉ huy quân sự không bỏ đói tù binh, họ hẳn đã không thiếu nhân lực. Trong khi bộ tham mưu Tập đoàn quân “Nam” tiếp đón Sauckel, tại trạm quân y trại tập trung Ostrogozhsk thuộc tỉnh Voronezh, người bệnh “sáng và chiều chỉ được vài thìa nước ấm với hạt kê hay lúa mạch đen. Đôi khi chúng nấu thịt ngựa chết, bốc mùi hôi thối. Bác sĩ trại tù Steinbargh tuyên bố: “Với bọn chó Nga thì chất lượng thịt như thế là tốt lắm rồi”.[30])

Tù binh chiếm một tỷ lệ quan trọng trong số những người bị đưa sang Đế chế; tuy nhiên số thường dân bị đưa đi còn đông hơn. Không ai dám từ khước những biện pháp tuyển dụng hàng loạt – tức là những cuộc bố ráp.

Mùa xuân năm 1943 tại Oryol, chính quyền chiếm đóng tuyên bố đưa sang Đức tất cả nữ dân cư tuổi từ 16 đến 26. Đối với phụ nữ đó là một bi kịch khủng khiếp; họ cố trốn khỏi những cuộc bắt cóc sang Đế chế. “Các cô gái, để không phải đi Đức, trước khi bị đưa đi kiểm tra tại ủy ban y tế đã hút trà, tiêm thuốc để tạo ra khối u, cố tình lây nhiễm các bệnh da liễu (ghẻ ngứa, chàm). Tại thành phố đến giờ vẫn còn những cô gái bị viêm da. Thậm chí đến mức một số cô gái cố tình đổ nước sôi vào tay, và một số người, sau khi tất cả những cách trên không giúp được gì đã tự tử (đã ghi nhận một số trường hợp như vậy)”.[31]

Dĩ nhiên, không ai ở Oryol biết rằng phụ nữ được xuất khẩu sang Đức theo chỉ thị trực tiếp của Quốc trưởng. “Để giảm tài đáng kể công việc của nữ nông dân Đức vốn đã quá bận rộn”, Sauckel khoe khoang, “Quốc trưởng đã giao cho tôi đưa sang Đức 400.000-500.000 những cô gái khỏe mạnh, rắn chắc, được tuyển chọn từ những vùng phía Đông”.[32] Thế nhưng mọi người đều biết một chuyện khác: ngay từ buổi đầu chiếm đóng, binh lính Wehrmacht – chẳng cần bất cứ sự cho phép nào của bộ chỉ huy – đã đưa những cô gái đẹp sang Đế chế.[33] Nền kinh tế ngầm là thứ mà không thể chế nào trên thế giới có thể diệt trừ; những cô gái bị những người lính dũng cảm của Wehrmacht bắt cóc đang được các nhà thổ trên khắp châu Âu chờ đón.

Giờ đây phụ nữ đã được những cơ quan chính thức thu dụng; thế nhưng cách thức tuyển chọn khiến không thể nghi ngờ gì về số phận họ sau này. “Người ta thông báo cho tôi nạn lạm dụng trong các nhà tắm cũng như trong các điểm khử trùng cho đàn bà, con gái”, một trong các đại diện Bộ phương Đông viết. “Những nhà tắm này do nam giới phục vụ. Cánh đàn ông đã chụp ảnh phụ nữ trong lúc họ tắm. Những tháng cuối họ chở tới chủ yếu là các nữ nông dân Ukraina. Các phụ nữ này rất coi trọng đạo đức và sự thanh khiết, vì thế họ cho rằng cách xử sự ấy là sỉ nhục phẩm giá dân tộc mình…”.[34]

Dĩ nhiên, văn phòng của tổng toàn quyền không hoạch định một số phận nào khác cho phụ nữ thuộc những chủng tộc thấp kém bị đưa đến, ngoài việc sử đụng họ như nô lệ trong nông nghiệp, thế nhưng thần dân của Đế chế không quá coi trọng “luật chủng tộc” như các cận thần của Quốc trưởng…

Sau khi đã bắt đủ những “công nhân phía Đông”, chúng lùa họ lên các đoàn tàu và chở sang Đức. Họ bị vận chuyển trong những điều kiện như các tù nhân, có khác chăng là trên các toa ít người hơn. Còn trước khi đến ga họ cũng bị giải đi như thế: đi bộ, hầu như không có thức ăn, những người tụt lại bị bắn. “Dọc đường nhiều người không chịu nổi”, một trong những người bị bắt kể, “họ ngã xuống, chúng bắn họ. Trên đường đi, nơi qua đêm là các kho chứa. Chúng tôi bị đánh bằng gậy, đứng sát cạnh nhau, như nêm”.[35] Đến sáng thi thể những người chết ngộp bị bỏ lại trong nhà kho, còn những người sống sót bị lùa đi tiếp.

Theo đường hỏa xa, đầu tiên những đoàn người bị đưa tới các điểm trung chuyển. Ở đó bác sĩ sẽ kiểm tra sức khỏe các ostarbeiter: Đế chế chỉ cần những nô lệ khỏe mạnh! Trong khi đó, những người ốm đau ít có cơ hội sống được tái lúc kiểm tra sức khỏe. Những người bệnh và yếu bị đuổi đi cùng với những người còn lại, những ai sống sót được trong cuộc chuyển vận sang Đức nhưng bị thừa nhận là không thích hợp cho công việc. Cùng các ostarbeiter mất khả năng lao động của những đợt trước đó, họ được gửi trả về. “Những đoàn tàu ngược chở những người đau bệnh từ Đế chế về gây nên một ấn tượng hãi hùng. Trong các toa, người chết nằm la liệt trên sàn tàu trơ trụi, thậm chí không được lót rơm. Có lần một phụ nữ sinh con ngay trên tàu; khi đó lính canh đã ném đứa bé sơ sinh qua cửa sổ. Khi bệnh nhân tiếp theo qua đời, xác họ bị ném ra khỏi toa không có bất cứ một nghi thức nào.[36]

Chính quyền dân sự đã cố sao cho tử thi từ các đoàn tàu không bị bạ đâu ném đấy; bởi cuối cùng việc này có thể mang tới dịch bệnh. Thế nhưng các xác chết bị ném xuống không chỉ từ các “đoàn tàu hồi hương”; cần phải làm vệ sinh một số lượng cũng chẳng kém các đoàn tàu chạy sang Đế chế. Bởi ngay cả những người khỏe mạnh nhất cũng khó lòng chịu đựng được cuộc chuyên chở này. Người bệnh và chết đói được dỡ xuống hầu như ở mỗi ga, còn thây người bị vứt ngay trên đường.[37]

Trong khi đó lính canh đoàn tù nhân tỏ vẻ bỡn cợt khi chứng kiến nỗi đau khổ của những con lợn Soviet. Sự nhạo báng của bọn lính canh được đa số những người bị bắt đi nhớ rất rõ.

Chúng chở chúng tôi đi khỏi Stalino, nhồi chật kín các toa. Chỉ sang ngày thứ ba mới nghĩ tới việc cho chúng tôi ăn. Chúng phát những cái ly bằng giấy và lấy muôi múc vào đó món canh nhạt nhẽo. Cũng những cái ly này bọn phát xít cười ha hả để nghị sử dụng để giải quyết nhu cầu cá nhân. Nhưng nỗi thống khổ của chúng tôi chưa dừng lại. Tất cả chỉ mới bắt đầu.

Có lần đoàn tàu dừng lại ở một ga xép. Chúng lùa mọi người xuống tàu. Các cô gái và chàng trai van xin chúng cho họ được tách riêng ra hai phía của con tàu, nhưng những lời khẩn cầu của chúng tôi không được đếm xỉa. Không thể làm gì khác được… Còn chúng, những con thú văn minh, đi lại và lấy máy ảnh chụp lại nỗi nhục nhã của chúng tôi. Đã vậy chúng còn lặp đi lặp lại: “schwein”[38].[39]

Thế nhưng làm sao đại diện của chủng tộc thượng đẳng lại có thể nhìn bọn hạ đẳng chỉ hơi giống con người này bằng cách khác hơn chứ? Chỉ có thể thế thôi.

Dĩ nhiên, chúng đã vận chuyển tù binh trong những điều kiện còn ghê rợn hơn. Ngay cả binh lính Đức, đặc biệt những ai bị đưa tới Mặt trận phía Đông từ những nước bị chiếm đóng ở phía Tây, cũng kinh hoàng trước những cảnh tượng bày ra trước mắt họ. Trong hồi ức của Guy Sayer, binh nhì Wehrmacht, có mô tả cảnh tượng làm anh ta chấn động tâm can. Hãy đọc kỹ mô tả này.

Những gì trông thấy làm tôi khiếp đảm. Mặc dù tôi không phải là văn sĩ thiên tài để có thể mô tả hết chi tiết cảnh tượng bày ra trước mắt. Đầu tiên một toa tàu hiện ra, đầy những trang thiết bị đường sắt. Nó đi trước đầu máy và che cái đèn pha vốn đã đục mờ. Chạy theo sau là một đầu máy nối vào nó, rồi tiếp đến là một toa tàu mà trên mái khoét một lỗ, – rõ ràng là bếp dã chiến. Khói bốc ra từ ống khói ngắn của bếp. Rồi thêm một toa với những tay vịn cao; trong đó chở lính Đức trang bị tận răng. Phần còn lại của đoàn tàu là những toa mui trấn – chở một loại hàng hóa hoàn toàn khác. Đầu tiên vì chưa quen tôi không thể hình dung đó là gì, và chỉ sau vài khắc mới hiểu, những cái toa mui trần ấy đầy những xác người mà phía sau chúng những người còn sống đứng hoặc ngồi co ro. Người thạo tin nhất trong số chúng tôi giải thích ngắn gọn: “Tù binh Nga”…

Hals nhìn tôi. Mặt anh tái nhợt như xác chết, chỉ có vài đốm đỏ lác đác nổi lên vì lạnh.

“Thấy không?” Anh thì thầm. “Họ phải xếp chồng người chết lên để cản bớt gió rét”.

Vì khiếp đảm mà tôi không thốt nên lời. Xác chết ở khắp trên mỗi toa mui trần: những gương mặt trắng bệch, những đôi chân đóng băng cứng đờ và cái chết. Tôi đứng, không đủ sức rời mắt khỏi cảnh tượng kinh hoàng đó.

Chạy ngang qua chúng tôi toa tàu thứ 9, trên đó còn diễn ra chuyện ghê rợn hơn. 4 hay 5 thi thể trượt khỏi toa mui trần và rơi xuống một bên đường. Đoàn tàu tang tóc ấy không dừng lại…

Mỗi phút trời càng thêm lạnh. Trong tôi ngập tràn cảm giác muốn nôn mửa”.[40]

Sayer 17 tuổi nhớ suốt đời những điều trông thấy. Những điều như thế thậm chí càng không thể tượng tượng nổi, nó tựa như bức tranh địa ngục mà những họa sĩ thời trung cổ vẽ nên.

Nhưng địa ngục đó đã được Đức Quốc xã biến thành hiện thực trên đất Soviet.

Dĩ nhiên, so với điều này thì tất cả những nỗi kinh hoàng của việc vận chuyển các ostarbeiter hóa ra chẳng là gì. Vả chăng cư dân các thôn nằm dọc đường sắt khó lòng phân biệt được những đoàn tàu chở tù binh với tàu chở ostarbeiter. Và sau những đoàn tàu nọ lẫn đoàn tàu kia, những tử thi còn lại trên các ụ đường sắt chính là sự nhắc nhở rõ ràng về thân phận những người bị đưa sang lao động khổ sai tại Đức.

Với những ai được chở tới Đức thì cú sốc thật sự và có thể là lớn nhất – so với tất cả những trò giễu nhại trước kia – chính là hiểu ra rằng đơn giản họ không được coi là con người.

Mọi thứ bắt đầu ngay sau khi tới Đức. Đệ tam Đế chế không phải là một đất nước Bolshevik hoang dã, ở đấy tồn tại sở hữu tư nhân. Những nô lệ chở tới từ phía Đông được đem rao bán. Các công ty lớn của Krupp, Siemens, Junsker, Goering mua hàng chục ngàn công nhân nhập cư – mua sỉ. Nhưng Quốc trưởng cũng quan tâm sao cho thường dân Đức cũng có thể mua một nhân công cho mình, hoặc có thể vài người.

“Láng giềng của mẹ mới đây đã kiếm được cho mình một nữ giúp việc,” frau[41] Bock viết cho con trai Wilhelm của mình đang chiến đấu ở Mặt trận phía Đông. “Đóng tiền vào quầy, và bà ta có cơ hội chọn theo ý mình bất kỳ phụ nữ nào được đưa tới đây từ Nga”.[42]

…Dĩ nhiên, bọn man di Nga này chết như ruồi, nhưng luôn có thể kiếm được những người mới. “Ngày hôm qua Anna Lisa Rostert chạy tới nhà chúng ta”, người nhà viết cho hạ sĩ Rudolf Lammermeyer. “Bà ta rất tức giận, ở nhà họ một cô gái Nga đã thắt cổ trong chuồng heo. Các nữ công nhân Ba Lan của chúng ta nói frau Rostert đã đánh đập và la mắng cô gái Nga suốt. Có lẽ cô ta đã kết liễu cuộc đời trong phút giây tuyệt vọng. Chúng ta đã an ủi frau Rostert, bởi có thể mua một nữ giúp việc Nga mới với giá chẳng đắt đỏ gì…”.[43]

“…Hôm thứ Tư chúng ta lại chôn những người Nga”, hôn thê của một người lính khác viết. “Giờ đây ở nghĩa trang đã chôn năm người bọn họ, còn hai người nữa đang hấp hối. Mà họ sống làm gì, lẽ ra phải giết chết họ đi cho rồi…”.[44]

“Tôi chỉ nói chuyện với đám Nga của mình bằng chân”, một ông chủ Đức khoác lác. “Nếu có phút nào đó tôi xem chúng là người, chắc tôi đã hóa điên”, một người khác thừa nhận, và kể cả trẻ em Đức, khi thấy các nô lệ Nga, đã ném đá họ. Những cựu nô lệ của Đế chế Đức vẫn nhớ cái cảm giác vượt trội chủng tộc đó đến cuối đời; tưởng chừng những cảnh đã quên lâu rồi lại được hồi sinh như một cơn ác mộng.

…Chúng tôi bị lùa trên đường phố của thị trấn nhỏ Ruhr. Chúng tôi mới vừa khiêng đồ gỗ vào một tòa nhà nào đó, những cảnh sát áp giải chúng tôi thậm chí còn tỏ vẻ hài lòng. Dọc vỉa hè có hai phụ nữ trẻ chưng diện xinh đẹp đang đi cùng những đứa trẻ ăn mặc đẹp. Bọn trẻ ném đá vào chúng tôi, và tôi đợi những phụ nữ này hoặc cảnh sát ngăn chúng lại. Nhưng cả cành sát lẫn những người đàn bà này không nói một lời nào với bọn trẻ.[45]

Dĩ nhiên, không phải tất cả người Đức đều bị những ý tưởng của sự vượt trội chủng tộc đầu độc. Có những người chia sẻ với các ostarbeiter thức ăn, ai đó nhắm mắt cho những hành động thậm chí cho việc phá hoại, giúp họ bằng công việc hay đơn giản chỉ là một lời tốt lành hoặc một nụ cười.

Nhưng một người tốt sẽ không đi mua cho mình nô lệ; những ostarbeiter được chở tới Đức đã thấy những bộ mặt hoàn toàn khác.

Các quý ông đáng kính lần lượt từng người đi đến hàng chúng tôi. Họ xem xét, lựa chọn những người mạnh nhất, khỏe nhất. Sờ nắn cơ bắp, bận rộn nhìn vào miệng, trao đổi với nhau gì đó, hoàn toàn không để ý đến cảm xúc của chúng tôi. Tôi nhỏ con, yếu ớt và còn lại giữa hơn một tá những kè gãy còm chưa bán được.

Nhưng một người mua cao ráo trong chiếc áo khoác nhàu nhĩ khinh bỉ liếc qua chúng tôi, lẩm bẩm lí nhí gì đó với bàn thân và đi vào văn phòng trả tiền. Mua sỉ hết tất cả.[46]

Ổ mà họ rất kỹ lưỡng trong việc chọn nô lệ cho mình, đặc biệt những ai cần ít người, chừng 10 đến 15. Một frau tới ba lần đòi 50 người xếp hàng để bà ta tuyển. Ngay lập tức bà ta chọn năm cô gái đến từ Bobruisk mà tôi gặp ở toa tàu ngoài nhà ga. Họ sạch sẽ, rõ ràng là dân thành phố, có một sĩ quan Đức đi kèm. Họ là con nhà ai, đã trải qua những chuyện gì trước đây và số phận họ về sau sẽ ra sao – họa có Chúa mới biết. Một trong số họ áp chặt cái gối vào ngực và chùi nước mắt vào đó. Gương mặt cô gái này tôi nhớ rất lâu.

Tôi nhận thấy một người Đức, đứng ở một bên bình tĩnh chờ tới lượt mình. Tôi có cảm giác dường như gương mặt ông ta tử tế, và sẽ không tồi nếu được rơi vào tay ông ta. Và mọi chuyện đúng là thế – ông ta chọn tất cả, những ai còn lại, khoảng 200 người, và chở tất cả với sự hộ tống của lính canh đến một cái trại lớn ở thành phố Blankenburg… Nhưng dọc đường chúng tôi hiểu ra đang phải đối phó với ai. Ấn tượng đầu tiên về “ông chủ tốt” của tôi hóa ra là sai lầm. Trên tay phải ông ta treo một dùi cui cao su, thi thoảng nó lại dạo qua lưng chúng tôi khi ai đó cho phép mình nói chuyện lớn hơn một chút.[47]

Tù binh không bị đưa ra đấu giá; họ bị mua sỉ với giá rẻ mạt. Hiệp hội than Đế chế thậm chí còn cố gắng đảm bảo giá mà các doanh nghiệp công nghiệp phải trả cho nhà nước cho lao động của tù binh còn thấp hơn giá mà Himmler yêu cầu cho công việc của các tù nhân trong trại của mình.[48] Dĩ nhiên, lao động rè tiền như vậy được sử dụng “đến cùng kiệt”.

Bản đồ Đế chế phủ đầy những trại tập trung, như những nốt phát ban: trại lao động, trại cho tù binh và trại tập trung. Người Nga được ưu tiên nhốt trong các trại tập trung, nhưng không đủ chỗ cho họ. Phải đi tới thỏa hiệp: nhốt bọn hạ đẳng Soviet trong những trại tù binh châu Âu đáng kính.

…Kể từ thời điểm cuộc chiến thắng lợi ở Mặt trận phía Tây, trong các trại tù Đức có nhiều tù binh các nước châu Âu. Vì họ là người châu Âu chứ không phải lũ hạ đẳng Soviet, nên họ bị giam trong những điều kiện thật sự lý tưởng. Tù binh thường xuyên nhận được sự giúp đỡ của Hội Chữ thập Đỏ, được trao đổi thư từ với người thân. Các tù binh châu Âu cũng không gặp vấn đề gì về ăn uống; “các tủ đầy thức ăn, còn những thanh chocolate đơn giản là họ không có thời gian để ăn…”.[49] Trong một số trại còn có sân để tập thể dục và sân tennis, lại có cả công viên để dạo chơi, dù quả tình là được rào quanh bằng dây thép gai. Và để không ai có thể trách móc đế quốc Đức trong việc không thực thi luật pháp quốc tế và thông lệ chiến tranh, OKW đã chi tiền cho khóa huấn luyện đặc biệt các tù binh mù của Anh.

“Images des Grandes Vacances” (“Hình ảnh của những kỳ nghỉ lớn”) là tên gọi một album ảnh kỷ niệm gần 5 năm lưu trú trong các trại tù binh Đức của cựu tù Pháp Francis Ambrier. Với đa số tù binh phương Tây việc bị giam cầm hóa ra là những “kỳ nghỉ” như thế, nơi còn an toàn hơn ngoài mặt trận.[50]

Khi bọn hạ đẳng Soviet bị giải vào thiên đường bé nhỏ này, các tù binh phương Tây đã sốc thật sự. Ai có thể nghĩ những người Đức văn minh và hào hiệp như vậy lại có thể hành xử thế này với con người?

Tôi không thể kể ở đây về tất cả những người Nga bất hạnh sống sót tại Rava-Russkaya mà không xin phép Tòa tái tạo lại cảnh tượng khủng khiếp bày ra trước mắt chúng tôi, những người Pháp, ở đấy vào mùa thu-đông năm 1942 trong trại tập trung trên đất Đức, về tất cả những gì chúng tôi thấy khi những nhóm tù binh Nga đầu tiên đến. Còn với tôi, người có mặt trong khung cành này một lần vào Chủ nhật; thì tất cả tưởng như không có thật. Người Nga đi thành từng hàng năm người, nắm tay nhau, bởi không ai trong số họ còn đủ sức tự dịch chuyển. Họ rất giống những bộ xương di động.

Chúng tôi thấy nhiều tấm ảnh của các trại tập trung và các trại tử thẩn, những tù nhân Nga bất hạnh ở trong hoàn cảnh đó năm 1941. Gương mặt họ thậm chí không phải vàng, mà là xanh, không còn sức để lết đi, họ ngã quỵ dọc đường từng dây. Quân Đức lao vào họ, đánh bằng báng súng, quất bằng roi. Chuyện đó xảy ra vào Chủ nhật, giữa trưa, khi tù nhân nói chung được hưởng chút tự do – dĩ nhiên là bên trong trại. Thấy cảnh tượng đó người Pháp bắt đầu la hét, và quân Đức bắt họ trở về các lán. Ngay lập tức thương hàn lây rộng trong các trại Nga, trong số 10.000 người mới đến vào tháng 11 đến đầu tháng 02 còn lại 2.500.

Những tù binh Nga chưa hẳn là chết đã bị ném vào một nấm mổ tập thể. Những người chết và hấp hối giữa các lán trại bị thu thập và ném lên xe đẩy. Vào những ngày đầu tiên chúng tôi còn thấy các tử thi trên các xe đầy, nhưng vì viên cai ngục Đức rất không hài lòng khi thấy cảnh binh lính Pháp chào những người Nga đã ngã xuống, nên sau đó những tử thi đã bị phủ bằng bạt…[51]

Đây là những lời khai của người Pháp Paul Rosen tại phiên tòa Nürnberg. Thế nhưng không chỉ những tù binh từ các nước châu Âu bị giam cầm trong những điều kiện ấm áp bị sốc. Ngay cả những tù nhân của các trại tập trung Auschwitz, Dachau, Mauthausen cũng kinh hoàng khi chứng kiến cách đối xử với tù binh Soviet. Người Tây Ban Nha Francois Bois đã thuật lại một cảnh tượng không kém phần quái dị hơn:

…Khi những tù binh vừa vào trại, rõ ràng họ đang trong tình trạng khủng khiếp. Thậm chí họ không còn hiểu bất cứ chuyện gì. Họ kiệt sức đến độ không thể đứng nổi trên đôi chân. Khi đó họ bị nhốt vào các lán, tới 1.600 người mỗi lán. Cần phải nói là những lán này rộng 7 m và dài 50 m. Họ bị lột hết quần áo vốn đến lúc đó đã còn rất ít. Họ chỉ được phép giữ lại quần dài và áo sơ mi, mà ngoài trời đang là tháng 11. Tại Mauthasen đang âm 10°C. Họ đến rồi, mới biết 24 người trong số họ đã chết khi đi bộ 4 km từ nhà ga về Mauthasen… Vài tuần sau họ đã hoàn toàn kiệt sức, và khi đó chúng bắt đầu áp dụng hệ thống hủy diệt đối với họ. Họ bị bắt làm việc trong những điều kiện khủng khiếp, bị đánh đập, quất bằng gậy, bị chế giễu. Ba tháng sau trong số 7.000 tù binh Nga chỉ còn 30 người sống sót.[52]

Chế độ giam giữ các tù binh Nga và châu Âu cũng được thiếp lập khác nhau, thậm chí trong cùng một trại.

Chỉ thị về cách đối xử với tù binh chiến tranh của bộ chỉ huy quân khu 6 đã dành cho vấn đề này mối quan tâm đặc biệt. Dưới đây là hai điều khoản của cùng một lệnh. Điều khoản đầu tiên liên quan đến tù binh các nước châu Âu:

Tù binh chiến tranh bị nghi ngờ tham gia các tổ chức bí mật hoặc phong trào kháng chiến phải được chuyển đi thẩm vấn theo yêu cầu của Gestapo. Họ vẫn là tù binh chiến tranh và nên được đối xử như vậy.

Người Nga chờ đợi sự trừng phạt nghiêm khắc hơn vì những tội trạng nhỏ hơn.

Tù binh chiến tranh Soviet… không chịu làm việc, thể hiện mình là kẻ kích động và gây ảnh hưởng bất hảo đối với tinh thần làm việc của các tù binh khác, phải bị đưa đến các trại tương ứng ở chi nhánh Gestapo gần nhất và loại khỏi phạm trù tù binh chiến tranh.[53]

Lệnh của trại 44 chi rõ: “Trong những điều kiện đặc biệt, khi tù binh không có điều kiện hít thở không khí trong lành do chỗ ở của họ ngay tại nơi làm việc, có thể cho họ ra ngoài hít thở không khí để bảo đảm khả năng lao động”.

Khi người Nga bị đưa tới trại, ngay lập tức một phụ lục cho lệnh trên được ban hành: “Cần giải thích rõ nó không áp dụng đối với tù binh Liên Xô”.[54]

Thậm chí không khí trong lành bọn hạ đẳng Soviet cũng không được phép! Họ chết như rạ, thế nhưng tốc độ hủy diệt họ vẫn chưa làm Berlin hài lòng. Ngày 25/11/1943 trong một thông tư Bormann đã kêu gọi phải đối xử với tù binh Liên Xô khắc nghiệt hơn. “Một số chính quyền quận trong các báo cáo của mình chỉ ra lính canh đang đối xử quá nương tay với tù binh… Người đứng đầu ban phụ trách tù binh của Bộ tư lệnh tối cao giờ đây đã ban hành đến tất cả các chỉ huy trại một lệnh rõ ràng… Trong trường hợp nhận được những phàn nàn mới về việc không đối xử đích đáng với tù binh, chúng phải được chuyển ngay đến cho chỉ huy các trại tù binh chiến tranh”.[55]

Song dù có thắt chặt chế độ tới đâu chăng nữa, người Soviet vẫn phản kháng. Phá hỏng cỗ máy mà họ đang thao tác, chạy trốn khỏi trại, tự làm mình tàn phế để khỏi phải làm việc cho kẻ thù Đế chế. Và không kém quan trọng hơn việc phá hoại là sự kháng cự về mặt tinh thần. Cô gái bị bán cho nông trại hằng đêm nói thầm trong chuồng gia súc những từ tiếng Nga vì không muốn mất tiếng mẹ đẻ. Trong các lán của những ostarbeiter và tù binh, hằng đêm khẽ vang lên những bài ca Soviet, dù có xảy ra chuyện gì họ vẫn vững tin vào Chiến thắng sắp tới. Và đã đến lúc niềm tin bùng phát.

Làm sao có thể mô tả được chiến công tinh thần? Trong một trại tập trung, cả lán nữ tù binh chiến tranh Soviet từ chối thực hiện một mệnh lệnh nào đó. Họ biết, theo công ước Geneva về tù binh, họ có quyền phản đối thực hiện những mệnh lệnh như thế; nhưng họ cũng biết rõ rằng trong cuộc chiến với Liên Xô, quân Đức đã vi phạm các công ước quốc tế trên mỗi bước đi, rằng rơi vào trại tập trung đôi với các nữ tù binh đã là một thành công lớn, bởi họ thường bị cưỡng hiếp và giết chết ngay trước khi đến được cho dù là điểm trung chuyển. Họ biết, phá hoại có nghĩa là chết; và ống khói lò thiêu là một nhắc nhở rõ ràng về điều đó. Nhưng họ vẫn cự tuyệt và ban chỉ huy trại đã sững sờ không dám đưa tất cả bọn họ tới lò thiêu xác. Những phụ nữ này chỉ bị cắt bữa trưa và bị bắt diễu hành nửa ngày dọc Lagerstrasse – con đường chính của khu trại.

Những gì diễn ra tiếp đó được một trong những nữ tù của trại kể lại.

Tôi nhớ có ai đó hét lên trong lán chúng tôi: “Hãy nhìn xem, Hồng quân đang duyệt binh!” Chúng tôi túa khỏi các lán, lao ra Lagerstrasse. Và chúng tôi thấy gì?

Đó là cảnh tượng không thể nào quên. 500 phụ nữ Soviet mỗi hàng 10 người, đi ngay ngấn như duyệt binh, bước đều. Các bước đi của họ như tiếng trống rền, gõ nhịp đều trên Lagerstrasse. Cả đội hình di chuyển như một khối thống nhất. Bỗng một phụ nữ ở hàng đầu cánh phải ra lệnh hát. Cô đếm: “1, 2, 3!” Và họ bắt đầu hát:

“Vùng lên đất nước rộng lớn,

Đứng lên vào trận sống còn…”.[56]

Trước đây tôi đã từng nghe bài này khi họ hát thẩm trong lán trại, nhưng ở đây nó vang lên như lời hiệu triệu cho cuộc đấu tranh, như niềm tin vào chiến thắng sắp tới.

Sau đó họ bắt đầu hát về Moskva.[57]

Hình phạt đã biến thành sự biểu dương sức mạnh – và cần phải có bao nhiêu dũng khí và niềm tin để làm nên điều như thế!

Dĩ nhiên, mỗi ostarbeiter và mỗi tù binh đều có một phương cách để thoát khỏi địa ngục trại giam hòng cứu mạng sống mình. Thế nhưng không nhiều người đồng tình trả một cái giá được yêu cầu cho sự giải thoát. Mà cái giá so với mạng sống dường như cũng chẳng cao hơn là mấy. Tất cả chỉ vỏn vẹn là phản bội đất nước mình.

Các đơn vị hợp tác với địch do Đức Quốc xã thành lập cần người; và những kẻ tuyển mộ thường xuyên lui tới các trại, kích động tù nhân cầm vũ khí chiến đấu chống lại chính đất nước mình. Thế nhưng không nhiều người đồng tình đứng về phía những tên đao phủ, làm điều phản quốc. Nếu binh lính Mỹ, Anh hay Pháp bị cầm tù không được cho ăn uống, bị buộc làm việc từ 12 đến 14 tiếng mỗi ngày, thường xuyên bị đánh đập, sát hại chỉ vì một sơ suất nhỏ nhất – tóm lại, nếu họ bị đối xử như với bọn hạ đẳng Soviet, rồi sau đó được hứa hẹn cuộc sống, tự do tương đối và khẩu phần quân đội – khi đó có lẽ cả thế giới sẽ trở thành nhân chứng cho việc hợp tác rầm rộ với Đức Quốc xã. Còn các công dân Soviet, trong những điều kiện khó khăn nhất đa số đã chịu đựng một cách xứng đáng thử thách ấy. Ngay cả nhiều người khi đồng ý làm việc này đều vối hy vọng lúc chạy thoát được sẽ nhanh chóng chuyển sang hàng ngũ du kích Soviet: cả đơn vị với vũ khí và các sĩ quan Đức bị bắt làm tù binh.

Mùa hè năm 1944 trọn một đoàn các sĩ quan Soviet cao cấp, các tướng, đại tá, thiếu tá, đã bị đưa đến trại tập trung Dachau. “Những tuần tiếp đó họ bị thẩm vấn ở phòng chính trị, tức là sau mỗi cuộc thẩm vấn như thế họ được đưa vào bệnh viện trong tình trạng hoàn toàn tơi tả, vì thế tôi có thể gặp vài người trong số họ”, một tù nhân của trại tập trung sau này kể lại. “Đó là những người suốt cả tuần chỉ có thể nằm sấp, chúng tôi phải tách phần da và cơ bị hoại tử khỏi người họ bằng cách phẫu thuật. Một số người không chịu nổi các phương pháp thẩm vấn đó đã chết, 94 người còn lại theo chi thị từ tổng cục an ninh Đế chế tại Berlin, đầu tháng 9/1944 bị đưa đến lò thiêu xác và ở đó, họ bị bắt quỳ gối và bắn vào gáy”.[58]

Không chỉ người lính biết thế nào là danh dự. Trong các trại ostarbeiter, các tuyên truyền viên của Vlasov[59] tìm đến đều bị tiếp đón thiếu thiện cảm. L. Sitko, tù nhân của trại lao động Krummel gần Hamburg, nhớ rõ cái ngày hôm đó, khi các ostarbeiter được tập trung tại một quảng trường và Vasily Malyshkin, cựu tướng Soviet, xuất hiện trước họ trong quân phục Đức.

Tất cả diễn ra như trong mơ. Dây thép gai, lính canh, những người mặc quân phục Đức nói tiếng Nga chuẩn về nước Nga vĩ đại. Trong đám đông 2.000 người có cả phụ nữ. Đầu tiên họ hét lên: “Nhục nhã! Nhục nhã!” – tiếng hò reo, những người đàn ông phụ họa theo họ. Dưới những tiếng la hét này Malyshkin và đồng bọn cùng rút lui về văn phòng chỉ huy, còn chúng tôi bị lính canh giải tán. Bọn chúng tôi đã chỉ cho khách biết, họ đang đang đối mặt với ai…

Viên tướng ra về cùng đoàn hộ giá. Đại úy Berezhkov nán lại vài ngày và đi quanh trại, dừng lại ở chỗ người lao động phía Đông, lúc người này lúc người khác, thuyết phục họ gia nhập ‘Quân đội giải phóng Nga’. Rồi cũng lần ra, tìm ra được một số người tình nguyện, chỉ vài ba người, và họ được miễn làm việc, chuyển vào một buồng riêng, chờ được đưa đi.[60]

Còn chế độ trong các “trại công nhân” cũng không kém kinh hoàng so với các trại tù binh, và mong muốn thoát khỏi chúng cũng chẳng ít hơn. Nhưng không phải bằng bất cứ giá nào.

…Các trại dành cho lao động phía Đông trải khắp Đê chế. Những trại lớn nằm cạnh các xí nghiệp lớn, còn những trại nhỏ – chỉ có hai, ba lán. Nhất thiết phải có đội canh gác và dây kẽm gai. Nếu lính canh không xoay xở và không bảo đảm được năng suất lao động thì Gestapo sẽ vào cuộc. Điều này được nói rõ trong hướng dẫn: “Cuộc đấu tranh chống vi phạm kỷ luật, bao gồm cả việc lãn công và biếng nhác, sẽ được cành sát mật quốc gia tiến hành… Trong trường hợp vi phạm nghiêm trọng, tức là khi những phương cách được trưởng bộ phận an ninh sử dụng chưa đủ hiệu quả, thì cảnh sát quốc gia sẽ vào cuộc, sử dụng những phương cách họ được giao phó. Trong những trường hợp đó, về nguyên tắc, sẽ chỉ áp dụng những biện pháp nghiêm ngặt nhất, chẳng hạn: chuyển vào trại tập trung hoặc “biện pháp đặc biệt”.[61]

“Biện pháp đặc biệt” thường xuyên được sử dụng. “Tôi nghĩ mình sẽ không xa rời sự thật”, Franz Blachy, bác sĩ trại tập trung Dachau, nhớ lại, “trong tất cả những người bị hành hình ở trại này hết 75% là công dân Nga, và đặc biệt là nam và nữ giới, được chuyển từ những nơi khác đến đây để xử tử”.[62]

Tại các xưởng của nhà máy, nơi các ostarbeiter bị xua đến làm việc, họ được chào đón bằng những áp phích nhắc nhở thân phận của họ. “Người Slav là nô lệ”.

…Năm 1941, không phải tất cả ostarbeiter đều làm việc trong các trại. Một số may mắn hơn: họ lao động trong những nông trại, chỗ các “bauer”[63]. Ở đó cũng nhiều việc làm, nhiều chuyên quyền hơn, nhưng ít ra không phải chết đói: luôn có thể ăn món súp dành cho lợn. Còn ở nhà máy các ostarbeiter phải gặm vỏ cây.

Năm 1943 đã mang tới chiến thắng Stalingrad từ lâu mong đợi. Đế chế khoác áo tang. Trong trại tập trung Ravensbruck, tù nhân bị đuổi khỏi các lán, bắt xếp thành hàng dọc và giải tới nhà tắm. Nhà tắm nằm gần lò thiêu xác. Mọi người được lệnh cởi trần và bị bỏ đứng đó. Trong cái giá rét tháng 2 họ đứng rúc vào nhau, sưởi ấm cho nhau, chờ chết. Sau đó họ bị dẫn vào nhà tắm, dội nước nóng rồi đưa về lán. Ba ngày không được ăn.[64]

Thất bại của Đức cũng được các ostarbeiter truyền tin cho nhau. Sau khi quân của Paulus đầu hàng, một chỉ thị đặc biệt đã được ban hành: tất cả các công nhân phía Đông phải bị giam trong trại.[65] Từ bấy giờ mỗi người đều có thể cảm thấy, trại của công nhân phía Đông không khác nhiều so với trại tù binh chiến tranh. Sự tương đồng này được đặc biệt nhấn mạnh trong chỉ thị của thống chế Georing: “Sử dụng và đối xử với lao động Nga Soviet thực tế không được khác với cách đối xử với tù binh chiến tranh”.[66]

Chỉ sau chiến tranh, ủy ban đặc biệt Quốc hội Hoa Kỳ mới nghiên cứu vô số trại trên khắp nước Đức. Báo cáo của ủy ban chỉ ra:

Việc đối xử với những tù nhân ấy… thường diễn ra như sau: họ bị giam giữ trong các lán gỗ mà ở những điều kiện bình thường chỉ có thể chứa số người ít hơn tới 10 lần. Họ bị buộc phải ngủ trên những cái phản gỗ 3, 4 tầng, tấm trải và chăn là những miếng giẻ bẩn.

Thức ăn của họ thường chỉ gồm nửa pound[67] bánh mì đen mỗi ngày và nước súp vào buổi trưa và tối, đôi khi họ cũng không nhận được cả những thứ đó. Vì chật chội và thiếu dinh dưỡng nên nạn chấy rận và bụi bẩn tăng lên, bệnh tật lan tràn; những ai trong số tù nhân không chóng chết vì sự ngược đãi và bệnh tật thì sê chết dần mòn và thống khổ vì đói.

Mặc cho chương trình cố tình giảm số tù nhân bằng cách bỏ đói, chúng tôi không tìm thấy dấu hiệu nào cho thấy dân Đức nói chung khổ sở vì thiếu lương thực hoặc quần áo. Sự tương phản này ấn tượng đến độ chúng tôi chỉ có thể đi đến một kết luận – việc đẩy tới cái chết đói là có chủ tâm.[68]

Kết luận của ủy ban chỉ là phát hiện của những người Mỹ ngây thơ. Bất kỳ công dân Soviet nào từng sống dưới ách khổ sai Đức Quốc xã, đều biết: trại tù binh chiến tranh lẫn trại ostarbeiter chỉ khác trại tử thần ở chỗ không có buồng hơi ngạt và lò thiêu xác.

Thường thì các trại ostarbeiter luôn quá tải. “Điều kiện trong những trại này thật khủng khiếp… Trong một số trại, số người nhiều hơn gấp đôi so với những điều kiện sống cho phép”, Wilhelm Jager, bác sĩ trưởng của trại nhớ lại. “Cho dù các cơ quan vệ sinh quy định khoảng cách giữa các giường phải là 50 cm, nhưng chúng hoàn toàn không được tuân thủ, và các giường chỉ cách nhau 20-30 cm”.[69]

Tuy nhiên, đấy đã là một nhượng bộ đáng kể: một lán dành cho 150 người, chỉ nhồi nhét chừng 250 ostarbeiter. ở những trại tù binh nằm gần đó, trong một lán như thế chứa tới 800 con người.

Những ai thấy các điều kiện sinh sống của các ostabeiter đều kinh hãi. “Nhiều phụ nữ và các cô gái Nga làm việc tại các nhà máy Astra Werke”, một phụ nữ Đức viết cho con trai. “Họ bị bắt làm việc 14 tiếng hoặc hơn mỗi ngày. Dĩ nhiên họ chẳng nhận được đồng lương nào. Đến và rời khỏi nơi làm việc họ luôn bị lính canh áp giải. Người Nga mệt đến độ họ gần như không đứng vững. Họ thường bị lính canh quất roi.

Họ không có quyền than phiền về chuyện đánh đập và thức ăn tệ hại”.[70]

Thức ăn tệ hại – đó là còn nói nhẹ nhàng. Các ostarbeiter nhận được ít hơn mức tối thiểu được lập ra cho người Đức 1.000 calories. Ở đâu mà công nhân Đức làm việc nặng nhọc, nhận được 5.000 calories/ngày, thì lao động phía Đông chỉ nhận được 2.000 calories. Thê nhưng tiêu chuẩn chính thức thường cũng không được tuân thủ: thức ăn còn bị lính canh và nhân viên trại lấy cắp.[71]

Tại các nhà máy Krupp, súp được phát một lần mỗi ngày. Dĩ nhiên, nếu có thể gọi là súp. “Thành thật mà nói, đó là nước, trong đó lềnh bềnh vài mẩu củ cải trắng”, một đốc công người Đức viết cho bạn mình. “Và nó giống nước rửa chén thì đúng hơn… Những người này có bổn phận phải làm việc cho chúng ta – tốt rồi, nhưng cũng cần phải quan tâm, sao cho họ nhận được ít nhất là khẩu phần tối thiểu cần thiết. Tôi phải gặp ai đó trong trại, và tôi thấy nổi da gà…”.492 Người công nhân già không biết rằng mọi thứ đang tiến triển theo kế hoạch. Phải vắt kiệt hết mọi thứ từ những ostarbeiter này, những gì có thể, còn khi họ chết, sẽ chẳng ai thương tiếc. Lẽ nào có thể hối tiếc về cái chết của bọn hạ đẳng? – hơn thế nữa bộ phận của Sauckel sẽ đưa tới Đế chế hàng triệu nô lệ mới. Đợt tuyển dụng đầu tiên kết thúc thành công; sau đó sẽ là đợt thứ hai, thứ ba và thứ tư…

Trong chiến dịch tuyển dụng tiếp theo vì sơ suất của ai đó, một lá thư của hai chị em bị bắt đi Đức đã được gửi về Zaporozhye. Không phải loại thư mẫu được in sẵn, chi cần ghi tên người nhận, viết vài lời ấm áp và ký tên.

Lá thư này có thật, đọc nó rất đau đớn, nhất là nêu nó được những người thân yêu của bạn viết.

…Chúng con sống tệ lắm. Gia đình thương yêu, con viết thư này mà chính con cũng không thấy tờ giấy vì nước mắt. Con vừa đi làm về, hầu như không lê nổi vào lán. Con đi mà đầu đau và quay cuồng, nặng đến độ muốn rơi khỏi vai, tay chân đau nhức, tim nhói buốt, cổ họng nghẹt, gần như không thở được, mắt như nhìn qua một màn sương. Gia đình thương yêu, chúng con đi làm, chỉ được uống một cốc trà, hơi ngọt, và 200 gram bánh mì. Họ chỉ cho chúng con cả thảy 300 gram bánh mì. Mẹ yêu ơi, hồi xưa còn ở nhà với mẹ con từng tha hồ được ăn vào mùa hè, còn giờ đây khi nào sẽ được ăn cả chua, dưa leo, những thứ trái cây và những thực phẩm các loại đây! Chúng con không những không được ăn, mà còn tuyệt đối không bao giờ thấy chúng. Vào ngày hè tuyệt vời thế này phải đợi rất lâu cho bữa trưa như thế. Con về lán, ăn mẩu bánh mì và một giá thức ăn đã ôi chua, nóng ran trong ngực đến độ không tìm ra chỗ của mình. Họ bắt làm việc, nếu không làm họ sẽ nện vào gáy đến độ nổ đom đóm mắt, mặc dù không bị nện thì mắt cũng đã nổ đom đóm rồi. Ở đây chúng con là loại hạng bét, ai muốn cười nhạo sao cũng được. Tại sao chúng con bị dày vò như thế vào những năm tháng tuổi trẻ của mình! Không ai xót thương, không ai hỏi han – ăn uống gì chưa, có khỏe không! Khi ngươi Ukraina ở đây bị ốm, người ta sẽ bảo họ giả vờ và không muốn làm việc. Chúng con không có bác sĩ. Với cuộc sống này, khí hậu này, chúng con không bảo đảm sẽ sống qua mùa đông. Hoặc được về nhà vào mùa đông, hoặc chúng con sẽ chết. Họ cho chúng con bánh mì lúa mạch đen, 300 gram mỗi người, có điều chúng trộn lẫn với mùn thông, chỉ chừng 25% là bột; ăn nó giống ăn xác lúa, cứ kêu lạo xạo. Mẹ ơi, họ nấu cho chúng con những thứ đến con lợn nhà ta cũng không buồn ăn thứ súp và khoai tây như thế. Ngoài ra chúng con không còn thấy thức gì khác nữa. Hôm nay là đúng ba tháng chúng con làm việc ở đây, càng về sau chúng con càng thây tệ và tệ hơn.

Các con của mẹ Shura và Galya.493

“Càng về sau càng tệ và tệ hơn”. Vài tháng trôi qua, tối đa là nửa năm – những công nhân phía Đông đã biến thành những cái bóng lắc lư trong gió. Các nghiên cứu tiến hành tại những nhà máy Krupp cho thấy: một số công nhân không đủ sức thậm chí để nhấc một mẩu kim loại đặt nó vào cỗ máy. “Những tình trạng như thế”, như được nêu trong báo cáo, “hiện hữu ở tất cả những nơi công nhân Nga làm việc”.494 Đói là cảm giác chính mà họ chịu đựng. Vì đói mà họ mất ý thức, vì đói mà họ chết.

Ngoài ra, họ còn chết vì bệnh.

Trong các trại ostarbeiter dịch bệnh hoành hành. Đặc biệt lao phổi lây lan mạnh; theo báo cáo của các bác sĩ Đức, người bị lao đông hơn bình thường gấp bốn lần. “Người Tatar và Kirgiz”, bác sĩ Đức Karl Jager báo cáo, “chết như rạ: vì điều kiện sống tồi tệ, vì thức ăn kém về chất lượng và ít về số lượng, vì kiệt sức, vì họ không được nghỉ ngơi đầy đủ”.495 Người Nga, Ukraina và Belarus cũng chết vì những lý do như thế.

Vận may mỉm cười với một số ostarbeiter: họ được công nhận không còn thích hợp trước khi chết. Và khi đó, trải qua địa ngục “những đoàn tàu ngược”, họ trở về nhà. Thậm chí người thân cũng khó lòng nhận ra trong những người trở về này các chàng trai và cô gái trẻ trung của ngày nào. Dĩ nhiên, không nhiều người được quay về, thế nhưng cơ hội hão huyền này là một trong những điểm khác biệt của ostarbeiter so với các tù binh chiến tranh. Tù binh không được trả tự do; điều này bị cấm theo một chỉ thị đặc biệt của OKW. Những ai không còn dùng được: mất khả năng lao động, bị thương hay đau ốm, sẽ được chuyển cho cảnh sát an ninh và SD “để giải quyết số phận của chúng”. Mà giải pháp chuẩn là cái chết.496

Tuy nhiên, thường thì những người bệnh không sống được đến lúc lên những đoàn tàu quay về, cũng chẳng tới lúc được chuyển vào tay SD. Họ cứ thế mà chết – đớn đau, thường tình, âm thầm. “Anatoli sống đến ngày 25/12/1944. Tới lúc đó cậu ta suy kiệt đến độ chỉ còn da bọc xương, xanh mét vì đòn roi. Vào hôm đó sau 4 giờ Anatoli bình thản chết, như ngủ vậy. Khi cậu ngã xuống, tôi bò đến và nắm lấy tay cậu. Tôi dựng cho cậu ngồi và cố nói chuyện với cậu, nhưng đầu cậu đã không còn giữ được, và cậu không nói được một lời nào trước khi chết. Chỉ một lần, rõ ràng là thu hết tàn lực, cậu nhìn tôi, đôi mắt đẫm lệ, rồi đầu gục xuống. Tôi cố giữ đầu cậu, trò chuyện với cậu, nhưng cứ mỗi phút sức lực lại từ bỏ cậu, chỉ còn lại đầu cậu nằm chết trong vòng tay tôi”.497

Khi chôn cất những công nhân phía Đông, chúng lập chứng tử cho họ. Trật tự là trên hết! Văn bản cuối cùng của trại ghi danh những con người bị hủy diệt theo số tù và họ tên. Trong mục “hoạt động tội ác” nêu rõ: người Nga Soviet”.498 Tù binh chiến tranh bị chôn vô danh.

* * *

Sau chiến tranh tại các nước châu Âu người ta bắt đầu đếm mộ của các tù binh và ostarbeiter Soviet. Chỉ riêng ở Đức, Áo, Tiệp Khắc, Hungary và Romania đã đếm được 36.104 điểm chôn cất, đa số là mộ tập thể, phần lớn là ở Đức. Điểm chôn cất lớn nhất có tới hàng trăm ngàn con người bị “lao động hủy diệt”.499

Đến tận ngày nay các sử gia không thể thống kê hết có bao nhiêu công dân Soviet đã bị bắt sang làm việc tại Đế chế. Những phép tính hiện đại đưa ra những con số dao động trong phạm vi từ 8-10 triệu (bao gồm 2 triệu tù binh chiến tranh). Thế nhưng có một điều chắc chắn: chỉ 5,35 triệu người trở về.500

Những tiếng nói chân thực (4) “Cừ đi tự nguyện là như thế đấy”.

Việc bắt các công dân Liên Xô sang lao động cưỡng bức tại Đức được thực biện vô cùng tàn bạo.

Chuyện kể của các nhân chúng về việc này được trích dẫn từ các cuốn sách

Những nhân chứng cuối cùng của Svetlana Alexievich, và Quần đảo OST của Victor Andrianov.

Chúng bắt tôi khỏi làng quê ruột thịt của mình vào mùa đông năm 1942. Gã cảnh sát (nghe nói hắn vẫn còn sống) buộc các cha mẹ đưa con cái ra sân nông trang. Tôi 14 tuổi. Và chúng tôi được chở đến Zolotonosha.

Tôi nhớ mẹ đã chạy theo xe trượt tuyết, muốn đưa cho tôi túi lương khô ăn dọc đường, nhưng bà ngã quỵ xuống tuyết, bất tỉnh. Còn chúng tôi bị chở đi. Chỉ còn mẹ cùng đứa con trai nhỏ, em trai của tôi, ở lại nhà. Bởi chị lớn Tanya đã bị bắt sang Đức đợt trước rồi.

Zinaida Moiseyenko, thành phố Kiev.

Trên những toa tàu bọn phát xít treo các khẩu hiệu: “Ukraina cử những con trai, con gái ưu tú của mình sang nước Đức tươi đẹp để cảm ơn sự giải phóng”. Vào ngày lễ 01/5/1942 ấy chúng tôi biết được tại quảng trường Bogdan Khmelnitsky ở Kiev, chúng đã treo cổ những người phá hoại, là những ai không chịu đi Đức. Đấy cử đi tự nguyện là như thế đấy!

Ekaterina Lutsenko, làng Sunki, tình Cherkasy.

Bọn trẻ trai chúng tôi đang chơi trò “hất gậy” trong sân. Một chiếc xe lớn trờ tới, từ đó những tên lính Đức nhảy xuống, bắt đầu đuổi bắt chúng tôi rồi ném vào thùng xe phủ vải bạt. Chúng chở chúng tôi ra ga, chiếc xe lui lại gần toa tàu, rồi hất chúng tôi như những cái bao lên đó.

Toa tàu đông đến độ đầu tiên chúng tôi chỉ có thể đứng. Không có người lớn, chỉ toàn trẻ con và thiếu niên. Hai ngày hai đêm chúng chở chúng tôi trong những toa tàu đóng kín, chỉ nghe thấy tiếng bánh xe gõ trên những đường ray. Ban ngày, ánh sáng còn len lỏi được qua những kẽ hở, khi đêm xuống thật đáng sợ, đến nỗi mọi người đều khóc: chúng tôi bị chở đi đâu đó xa lắm, cha mẹ chúng tôi không hể biết chúng tôi ở đâu. Đến ngày thứ ba cửa toa mở ra, một tên lính ném lên toa vài ổ bánh mì. Những ai ngồi gần, kịp chụp lấy, chỉ một giây sau đã nuốt sạch bánh mì. Tôi ngồi ở phía đối diện cửa, chưa kịp thấy bánh mì, chỉ có cảm giác ngửi được mùi bánh mì trong thoáng chốc.

Volodya Ampilogov, 10 tuổi.

Ngày 28/8/1943, tất cả thanh niên nam nữ sinh năm 1926 đã bị bắt khỏi làng Milovoye, với tôi ngày này đã hằn sâu vào ký ức hơn bất cứ điều gì khác. Trên tất cả các cánh cửa đều treo những danh sách cư dân và chỉ thị: “Nếu người được tuyển mộ bỏ trốn, cả gia đình sẽ bị bắn”.

Natalya Miroshnichenko, thành phố Severodonetsk.

Chúng bắt đầu chọn chúng tôi để đưa sang Đức. Chúng không chọn theo tuổi, mà theo chiều cao, và tôi, thật không may, cao giống cha, còn em gái tôi, nhỏ con giống mẹ. Xe đến, xung quanh là quân Đức cầm súng máy, chúng lùa tôi lên chiếc xe chở rơm, em gái tôi gào la, chúng đầy em ra, bắn quanh chân em. Không cho chạy lại gần tôi. Và chia cách chúng tôi như thế…

Cả một toa đấy… Chật như nêm… Một toa tàu đầy trẻ con, không đứa nào quá 13 tuổi. Lần đầu chúng tôi dừng ở Warsaw. Không ai cho chúng tôi uống, cũng chẳng cho ăn…

Chúng chở chúng tôi đến một trạm có vẻ là khử trùng. Bắt tất cả cởi trần, cả con trai lẫn con gái. Các cô gái muốn lánh vào một góc, bọn con trai vào góc khác, nhưng chúng dồn lại thành đống, rồi chĩa vòi xịt một thứ gì đó mùi rất khó đoán… – chẳng buồn để ý có xịt vào mắt hay không, vào miệng hay không, vào tai hay không – tiến hành khử trùng. Sau đó chúng phát cho chúng tôi những cái quần sọc và áo khoác kiểu áo vest, chân xỏ những đôi sandal gỗ, trên ngực đính những tấm thẻ sắt có từ “Ost”.

Valya Kozhanovskaya, 10 tuổi.

Chúng cấp cho tôi số thẻ công nhân – 2054, sau đó dẫn về lán. Những cái phản hai tầng, nệm giấy, thay cho gối là những tấm giẻ rách nhồi dăm bào.

3 giờ đêm (hay sáng) cảnh sát hét điếc tai: “Dậy mau!” Chỉ cần một chút trì hoãn là chúng quất bằng gậy bằng hoặc bằng đoạn dây cáp. Ca đầu tiên xuống mỏ lúc 6 giờ sáng, đói. Chúng tôi chỉ được ăn một lần trong ngày, sau giờ làm việc.

Thức ăn được chế biến thế này: trong cái thùng 350 lít chúng ném vào đó một xô khoai tây, ba xô vỏ khoai với củ cải và một gói mỡ thực vật.

Valeri Sokolik, thành phố Dokuchayevsk, tỉnh Donesk.

Ai đó rên rỉ, ai đó hét trong mơ, đâu đó trò chuyện thì thầm. Tôi không thể động đậy cả tay lẫn chân, tim dường như ngưng đập… Dần dà nhận thức trở nên rõ ràng hơn, tôi hiểu, mình còn sống, đang nằm trên tấm phản của mình. Chung quanh người ta cũng nằm mình trần như thế. Họ cởi đống giẻ rách ra khỏi người để tránh đám rận trong đó. Nhưng rất nhiều bọn côn trùng này vẫn di chuyển, sột soạt trong những chiếc lá dương xỉ. Đó là tháng 9/1942. Tháng thứ hai của đời tôi trong trại.

Georgi Kondakov.

Trong xưởng có thợ cả Willy. Một người đáng sợ, không bao giờ tháo dải băng có chữ thập ngoặc, ông ta không trò chuyện với chúng tôi. Chỉ đánh. Đặc biệt vào ban đêm, khi chúng tôi ngã vì đuối sức.

Gần như mỗi ngày đều có ai đó chết. Tôi ngủ cạnh Tamara Varivoda người tỉnh Kirovograd. Đã vài ngày họ không đưa cô đi làm. Cô đã không thể dậy nổi. Đến đêm cô chết. Và cứ thế chúng tôi nằm cạnh nhau đến sáng. Họ mang cô đi vào buổi sáng.

Nina Cherebina, thành phố Moskva.

Chúa ơi, tôi nghĩ mình sẽ không chịu nổi. 26 roi bằng ống cáp. Thêm nữa – bằng gậy sồi bản hẹp. Đau không chịu nổi. Cú quất bằng ống cáp làm da tét ra và những tia máu bắn khắp phía. Còn cú đánh của gậy sồi biến thân thể thành một khối u cứng ngắc. May thay, cơ thể trẻ trung của tôi chịu được. Tôi không xuôi tay trong trại, tôi gắng gượng hết sức có thể, bằng tất cả sức mạnh, nghị lực và kiến thức mình có được…

Bằng mọi cách có thể, chúng tôi tự nâng đỡ bản thân. Lén hát những bài hát yêu thích của chúng tôi. Trên những nhạc cụ tự tạo hằng đêm chúng tôi chơi những giai điệu dân gian. Và mong chờ quân giải phóng từ phía Đông.

Ivan Krivitsky, làng Gusarka, Zaporozhye.

[1] Andriyanov V. I. Quần đảo OST. Trang 26-27.

[2] Thống kê theo: MNP. Var. 1. Tập 4. Trang 660; Nga và Liên Xô trong các cuộc chiến thế kỷ XX. Trang 231-233; Altman I. A. Nạn nhân của lòng căm thù… Trang 303.

[3] Wette W Hình ảnh của kẻ thù… Trang 113; Wette w. Chiến tranh hủy diệt. Trang 7. Wette cũng lưu ý: “Leikauf, một trong những chỉ huy cao cấp nhất của Wehrmacht, có lý do chính đáng khi sử dụng đại từ “chúng tôi”: “chúng tôi”, Wehrmacht và SS, chịu hoàn toàn trách nhiệm về những vụ sát hại người Do Thái, tù nhân chiến tranh, về cái chết đói của nhiều người dân Ukraina”.

[4] Andriyanov V. I. Quần đảo OST. Trang 19.

[5] Như trên. Trang 19-20.

[6] Như trên. Trang 16.

[7] Hitler bí ẩn. Trang 131-132.

[8] Như trên. Trang 132.

[9] MNP. Var 1. Tập 4. Trang 553.

[10] Polyan P. M. Những nạn nhân của hai chế độ độc tài… Trang 162.

[11] Andriyanov V. I. Quần đảo OST. Trang 39.

[12] Plenkov O. Yu. Đệ tam Đế chế. Chiến tranh. Quyển 1. Trang 115; MNP. Var. 1. Tập 4. Trang 614-615, 619.

[13] MNP. Var 1. Tập 4. Trang 537.

[14] Như trên. Trang 560-576.

[15] Polyan P. Những nạn nhân của hai chế độ độc tài… Trang 92.

[16] MNP. Var 1. Tập 1. Trang 433.

[17] Orlovsky s., Ostrovich R. Erich Koch trước tòa án Ba Lan.Trang 185.

[18] MNP. Var 1. Tập 4. Trang 547-548.

[19] Andriyanov V. I. Quần đảo OST. Trang 40.

[20] Như trên. Trang 43.

[21] MNP Var 1. Tập 4. Trang 556.

[22] Như trên.

[23] Như trên. Trang 122.

[24] MNP. Var 2. Tập 4. Trang 123.

[25] Như trên. Tập 5. Trang 150.

[26] Polyan P. M. Những nạn nhân của hai chế độ độc tài… Trang 165.

[27] Shneer A. Tù binh… Trang 287.

[28] ”Vòng cung lửa”: Trận đánh Kursk dưới cái nhìn của Lubyanka / Lời tựa N. Abin, V. Khristoforov. M.: Sách giáo khoa Moskva, 2003. Trang 119.

[29] MNP. Var 1. Tập 1. Trang 608; Tập 4. Trang 572-573; Var. 2. Tập 1. Trang 493.

[30] Như trên. Var. 1. Tập 6. Trang 212.

[31] Như trên. Tập 4. Trang 562.

[32] Polyan P. M. Những nạn nhăn của hai chế độ độc tài… Trang 162.

[33] MNP. Van 1. Tập 4. Trang 562-563.

[34] Như trên. Trang 538.

[35] Andriyanov V. L Quần đảo OST. Trang 42.

[36] Sayer G. Người lính cuối cùng của Đệ tam Đê chế. Nhật ký của một binh nhì Wehrmacht. 1942-1945 / Dịch từ tiếng Anh S. A. Danilin. M. Centrepolygraph. 2003. Trang 31-32.

[37] MNP. Var 1. Tập 4. Trang 539.

[38] Andriyanov V. I. Quần đảo OST. Trang 55-56; Ortenberg D. I. Năm 1942: Truyện ngắn-biên niên / Lời tựa. L. Lazarev. M.: Politizdat, 1988. Trang 288-289.

[39] Polyan P. M. Những nạn nhân của hai chế độ độc tài… Trang 310.

[40] Như trên. Trang 312.

[41] Adriyanov V. I. Quần đảo OST. Trang 56.

[42] Như trên. Trang 57.

[43] Streit c. Đừng coi họ là lính… Trang 18.

[44] Shneer A. Tù binh… Trang 34.

[45] Như trên. Trang 37, 55, 65.

[46] MNP. Var. 1 Tập 4. Trang 200.

[47] Như trên. Tập 5. Trang 562.

[48] Như trên. Tập 7. Trang 219-220.

[49] Như trên. Tập 5. Trang 345-346.

[50] Như trên. Tập 6. Trang 207-208.

[51] ShneerA. Tù binh… Trang 323-324.

[52] MNP. Van 1. Tập 5. Trang 579.

[53] Polyan P.M. Những nạn nhân của hai chế độ độc tài. Trang 113; Andriyanov V. I. Quần đảo OST. Trang 82.

[54] MNP. Van 1. Tập 4. Trang 573-574.

[55] Như trên. Tập 5. Trang 578.

[56] Tôi đã thấy điều này… Trang 109.

[57] MNP. Var. 1. Tập 4. Trang 584.

[58] Cuộc chiến tranh Đức chống Liên Xô. Trang 207.

[59] MNP. Van 1. Tập 4. Trang 586.

[60] Mục tiêu tội ác… Trang 266.

[61] MNP. Van 1. Tập 4. Trang 539.

[62] Mục tiêu tội ác… Trang 267-268.

[63] Andriyanov V. I. Quân đảo OST. Trang 40.

[64] Tỉnh Zaporozhye trong cuộc Chiến tranh vệ quốc vĩ đại, 1941-1945. Tuyển tập tài liệu. Zaporozhye: Zaporozhskizdat, 1959. Trang 80.

[65] MNP. Var. 1. Tập 4. Trang 564-565.

[66] Mục tiêu tội ác… Trang 266-268.

[67] Shneer A. Tù binh… Trang 295.

[68] Tôi đã thấy điêu này… Trang 120-121.

[69] Andriyanov V. I. Quần đảo OST. Trang 53.

[70] Zemskov V. N. Vấn đề của những người di tản Soviet (1944-1945) // Chiến tranh 1941-1945: Những tiếp cận hiện đại. M.: Khoa học, 2005. Trang 513.

[71] Polyan P. M. Những nạn nhân của hai chế độ độc tài. Trang 131-132, 140. Zemskov V. N. Vấn đề của những người Soviet di tản. Trang 513. Cần lưu ý rằng một số công dân Liên Xô bị bắt sang Đế chế sau đó đã không hồi hương về Liên Xô.

Nguồn: tve-4u
Được bạn: Mọt Sách đưa lên
vào ngày: 23 tháng 8 năm 2026

« Lùi Tiến »

💬 Thảo luận (1)

saomai1268
saomai1268 23.08.2026 05:41
🔗 Xem tác phẩm: Người Xô Viết Đã Chiến Đấu Vì Điều Gì

Một dân tộc đã trải qua tất cả những điều này đang làm một hành động tàn ác tương tự với chính anh em mình, trên mảnh đất cũng từng bị đức quốc xã giày xéo. Thật không hiểu tại sao họ lại hành xử như vậy? những cái chết trên đất ukraina và đất Nga trong thế kỉ 21 này thật vô nghĩa, chẳng biết họ nhân danh cái gì để hàng ngày, hàng đêm dội tên lửa vào đầu nhau và ngồi đếm chiến tích là sự tàn phá, chết chóc. Họ đang làm kiệt quệ chính mình, vả những cái tát vào chính những gì mà họ từng tự hào, gìn giữ... Đáng thương thay cho dân tộc Nga và Ukraina. Năm phút mặc niệm cho những người đã nằm xuống và sẽ nằm xuống vì cuộc chiến ngu xuẩn này.
Xem trên diễn đàn »
Đăng nhập để tham gia bình luận.