Người Xô Viết Đã Chiến Đấu Vì Điều Gì

Lượt đọc: 187 | 0 Đánh giá: 0/10 Sao
★★★★★★★★★★
★★★★★★★★★★
« Lùi Tiến »
Chương II: Chuẩn bị diệt chủng

❊ ❊ ❊

Dù có đáng sợ đến đâu, những phát hiện của quân đội Soviet trong thời gian cuộc tấn công mùa đông năm 1941 chỉ là một phần nhỏ những tội ác mà quân phát xít đã thực hiện trên các lãnh thổ bị chiếm đóng, cũng như những tội ác mà chúng sắp ra tay. Còn rất nhiều bằng chứng về những tội ác đó. Từ những trang biên bản của ủy ban nhà nước đặc biệt được lập theo các dấu vết mới nhất, từ những báo cáo nội bộ của các cơ quan an ninh quốc gia, từ thông tin trinh sát của du kích, từ các ghi chép lại những câu chuyện của người dân đã trải qua cơn ác mộng của ách cai trị phát xít, trước mắt chúng ta hiện lên những gì cố bị lãng quên trong thời hậu chiến. Những thứ không thể nào quên trên thực tế, những thứ mãi mãi hằn sâu trong ký ức tập thể: những giá treo cổ, những hố chôn hàng ngàn xác chết, những nông dân bị thiêu sống, những cô gái bị cưỡng hiếp rồi mổ bụng, những cái đầu vỡ nát cửa trẻ sơ sinh, vết giày đinh đẫm máu của bọn phát xít trên đất Liên Xô.

Không một đất nước nào bị Đức Quốc xã chiếm đóng lại diễn ra những, tội ác tương tự như những gì chúng thực hiện trên lãnh thổ Liên Xô. Tại Pháp, Na Uy, Đan Mạch, Hy Lạp, thậm chí tại Ba Lan trong một thời gian dài quân chiếm đóng đã hành xử như những kẻ chinh phạt đàng hoàng, với sự chính xác quy củ của người Đức tuân thủ luật quốc tế và thông lệ chiến tranh.

Trong thời gian diễn ra phiên tòa Nürnberg, một chi tiết lý thú nhưng hết sức tiêu biểu đã được làm sáng tỏ: đặt chân vào lãnh thổ Pháp, Bỉ, Hà Lan, mỗi binh sĩ Wehrmacht đều có một bản ghi nhớ “Mười điều răn về hành vi chiến tranh”, quy định việc hành xử đúng mực với thường dân và không được vi phạm những quy tắc quốc tế về tiến hành chiến tranh.[1] Còn khi Wehrmacht xâm chiếm Liên Xô một năm sau đó, binh lính của chúng lại được trang bị các chỉ thị sử dụng vũ khí đối với thường dân không cần suy tính.

Trong cả hai trưởng hợp, vấn đề không phải là một sự cố riêng biệt, mà là một hệ thống.

Đối với nước Đức Quốc xã, cuộc chiến ở Mặt trận phía Tây là cuộc đấu tranh trong nhà để giành ngôi bá chủ; những hiệp sĩ thời trung cổ đã chiến đấu như thế để giành quyền sở hữu các lãnh địa. Cuộc chiến ở Mặt trận phía Đông mang bàn chất khác hẳn. Không phải những cuộc chiến của các lãnh chúa, mà là những cuộc thập tự chinh trong dạng nguyên mẫu của nó; không phải để giành quyền sở hữu một mảnh đất, mà mục tiêu của nó là hủy hoại một nền văn minh khác, được coi là không đúng đắn.

Đối với giới lãnh đạo Đức Quốc xã, cuộc thập tự chinh về phía đông là điều hoàn toàn tất yếu; điều đó không phải được ước định bằng những sự kết hợp địa chính trị nào đó, mà do chính sự kiện tồn tại của Liên bang Soviet. Chủ nghĩa duy lý và chủ nghĩa thực dụng hiển nhiên của Hitler đã gặp trục trặc thường xuyên khi đề cập đến đất nước trải rộng về phía đông này.

“Tất cả những gì mà tôi thực hiện đều nhắm vào việc chống lại nước Nga”, Quốc trưởng đã phát biểu vào tháng 8/1939. “Nếu phương Tây quá ngu ngốc và mù quáng không hiểu điều này, trước tiên tôi buộc phải đánh bại phương Tây, rồi sau thất bại của nó, tôi sẽ quay sang chống Liên Xô bằng toàn bộ sức mạnh tập trung được”.[2]

Một năm rưỡi sau, khi chuẩn bị tấn công Liên Xô, Hitler biện luận chiến tranh là cần thiết, bởi sau khi từ chối ký hòa ước với Đế chế, giới lãnh đạo Anh đang nuôi hy vọng vào sự hỗ trợ của nước Mỹ ở bên kia đại dương và của nước Nga rộng lớn. Tuy nhiên, quy mô sàn xuất quân sự của Hoa Kỳ sau bốn năm nữa mới có thể đạt tới mức cần thiết; vì thế tạm thời có thể gạt sang một bên. Chỉ còn lại nước Nga. Một khi nó bị đánh bại, Anh sẽ chi còn một mình, và khi đó không còn gì để nghi ngờ gì vào chiến thắng chung cuộc của Đế chế Đức.[3]

Nhưng trên thực tế các nguyên nhân tấn công vào Liên Xô lại khác; ngày 17/02/1941, tướng Franz Halder, tổng tham mưu trưởng OKH, đã ghi trong nhật ký phát biểu sau của Quốc trưởng tại một cuộc họp kín: “Nếu Anh bị thủ tiêu, tôi sẽ không thể xốc dân Đức dậy chống lại nước Nga. Vì thế, trước tiên phải xóa sổ nước Nga”.[4]

Trong mắt giới lãnh đạo Đức Quốc xã, việc tiêu diệt Liên Xô là mục đích tự thân. Chính vì thế sau chiến thắng ở Mặt trận phía Tây, về mặt nguyên tắc thay vì khả năng đổ bộ vào Anh hoặc ít ra là “chiến lược Địa Trung Hải” như theo yêu cầu, Hitler lại chọn tấn công Liên Xô. Theo quan điểm duy lý thì đấy là một quyết định khá đáng ngờ, mà cuối cùng đã dẫn đến sự diệt vong của Đệ tam Đế chế; thế nhưng nếu nhìn vấn đề từ quan điểm cuộc đấu tranh ý thức hệ thì quyết định của Hitler lại hoàn toàn logic.

Việc tấn công Liên Xô cho phép biến cuộc chiến tranh từ cuộc xung đột nội bộ châu Âu thành “cuộc chiến của các nền văn minh”, đoàn kết châu Âu xung quanh nước Đức chống lại “cái ác từ phía Đông”. Không loại trừ khả năng lôi kéo được Anh tham gia vào cuộc thập tự chinh về phía đông này, bởi tiếng nói của dòng máu châu Âu và văn hóa châu Âu còn cao hơn những bất đồng về chính trị nhất thời; ít nhất không chỉ mỗi Hitler tin vào điều đó.[5] ”Một điều gì đó tương tự bầu không khí của cuộc thập tự chinh đang lan tỏa khắp châu Âu”, tiến sĩ Goebbels ghi trong nhật ký một ngày sau khi chiến tranh bắt đầu. “Chúng ta có thể tận dụng tốt điều đó”.[6]

“Tôi tin rằng”, Quốc trưởng lập luận, “việc kết thúc chiến tranh sẽ đặt ra khởi đầu cho tình hữu nghị bền chặt với Anh. Chúng ta và họ sẽ chung sống hòa bình. Đó là dân tộc mà chúng ta có thể kết đồng minh”.[7] Lời nói đi đôi với việc làm: tháng 6/1941, Franz von Papen, đại sứ Đức tại Thổ Nhĩ Kỳ, đã nhận chi thị từ Berlin: vào ngày đầu tiên tấn công Liên Xô phải thảo luận với đại sứ Anh vấn đề về liên minh chống lại chủ nghĩa Bolshevik.[8]

Chẳng ai dự định kết đồng minh với nước Nga; tên tuổi của nó phải biến mất khỏi bản đồ thế giới, tài nguyên của nó phải được đưa vào phục vụ nước Đức, các công dân của nó, không nhiều những người còn sống sót nguyên vẹn, phải bị biến thành nô lệ, phục vụ cho các đại diện của chủng tộc thượng đẳng.

Chúng ta, những đảng viên Quốc xã, hoàn toàn có ý thức đặt dấu chấm hết cho toàn bộ chính sách đối ngoại của Đức trước chiến tranh. Chúng ta muốn quay lại điểm mà sự phát triển trước kia của chúng ta đã bị gián đoạn 600 năm trước đây. Chúng ta muốn chấm dứt khát vọng vĩnh cửu của người Đức vươn về phía nam và phía tây của châu Âu và dứt khoát chỉ tay về hướng những lãnh thổ trải dài về phía đông. Chúng ta dứt khoát đoạn tuyệt với chính sách thuộc địa và thương mại trước chiến tranh và tự giác chuyển sang chính sách xâm chiếm những vùng đất mới ở châu Âu.

Khi nói về việc xâm chiếm những vùng đất mới ở châu Âu, dĩ nhiên ngụ ý của chúng ta trước tiên là nước Nga và những nước chung quanh phụ thuộc vào nó.

<…>

Quốc gia khổng lồ phía đông này ắt phải bị hủy diệt. Mọi điều kiện tiên quyết cho việc đó đã chín muồi. Việc kết thúc sự thống trị của bọn Do Thái tại Nga đồng thời cũng là sự kết thúc của nước Nga với tư cách một quốc gia. Số phận đã định đoạt chúng ta là nhân chứng của thảm họa này, vốn sẽ khẳng định tính đúng đắn về lý thuyết chủng tộc của chúng ta tốt hơn bất cứ điều gì khác.

Nhiệm vụ của chúng ta, sứ mệnh của chúng ta trước tiên là phải thuyết phục nhân dân ta rằng: những mục tiêu tương lai của chúng ta không phải là lặp lại cuộc chinh phạt lừng lẫy của Alexander Đại đế, mà là việc mở ra cho mình những cơ hội lao động cần mẫn trên những vùng đất mới mà lưỡi gươm Đức đã giành được cho chúng ta.[9]

Hitler đã viết những lời này vào năm 1925; có lẽ đây là một trong những trường hợp hiếm hoi nhất mà lời hứa của chính khách cuối cùng cũng được thực hiện. Mười sáu năm sau, quân đội Đức của Đệ tam Đế chế mới đã vượt biên giới Liên Xô – chính là để “lưỡi gươm Đức chiếm những vùng đất mới cho lưỡi cày Đức” và đặt dấu châm hết cho nhà nước Nga.

Năm 1941 Hitler cũng suy luận y hệt như năm 1925: những vùng rộng lớn ở phía đông phải trở thành thuộc địa của Đức. Thế nhưng các phương pháp để chinh phục được nước Nga đã được cụ thể hóa một cách đáng kể.

“Nếu thành công thì sứ mệnh của tôi sẽ là tiêu diệt bọn Slav”, Quốc trưởng đã giải thích với Antonescu, bộ trưởng Romania, “ở châu Âu tương lai chỉ được phép có hai chủng tộc: Đức và Latin. Hai chủng tộc này phải cùng nhau làm việc ở nước Nga để giảm thiểu số lượng người Slav. Không thể tiếp cận vấn đề nước Nga bằng các hình thức pháp lý hay chính trị, bởi lẽ vấn đề nước Nga nguy hiểm hơn chúng ta tưởng nhiều, và chúng ta phải dùng các phương tiện thuộc địa hóa và sinh học để hủy diệt bọn Slav”.[10]

Ý tưởng này từ lâu đã chiếm lĩnh những suy nghĩ của Hitler, ít nhất ông ta đã nhiều lần lặp đi lặp lại nó. “Trước chúng ta chỉ có một nhiệm vụ – thực hiện việc Đức hóa bằng con đường du nhập dân Đức và đối xử với dân bàn xứ như đám thổ dân… Chúng ta phải càn quét lãnh thổ, từng km² một, và thường xuyên treo cổ! Đó sẽ là một cuộc chiến với thổ dân thực thụ…”.[11]

Bằng cách đó, phải thủ tiêu hàng triệu công dân Liên Xô.

Khi nói “hàng triệu”, chúng tôi hoàn toàn không phóng đại chút nào.

Vấn đề là ở chỗ, bọn Quốc xã đã lên kế hoạch cai trị những vùng lãnh thổ chiếm đóng với sự tỉ mỉ đáng kinh ngạc. Tất cả đều được tính toán, xác minh và chuẩn bị trước; rất lâu sau đó sử gia người Pháp Raymond Cartier, một trong những nhà nghiên cứu đầu tiên các tư liệu của phiên tòa Nürnberg, đã hết sức ngạc nhiên nhận xét: “Không có chiến thắng nào được tính toán kỹ lưỡng như chiến thắng mà Hiler không đạt được: chiến thắng của ông ta trước nước Nga”.[12]

Tính quy củ kiểu Đức đã chơi khăm giới lãnh đạo Quốc xã; cuối cuộc chiến nhiều tài liệu về việc chuẩn bị cuộc chiến tranh chống Liên Xô đã rơi vào tay phe chiến thắng. Trong số các phát triển chiến lược của kê hoạch “Barbarossa”, có thể tìm thấy vô số tài liệu mà sau này các sử gia gọi là “những chỉ thị tội ác”. Wehrmacht đã ấn hành những chỉ thị này không nhằm mục đích đảm bảo các chiến dịch ngoài mặt trận hay để tổ chức thông tin ở hậu phương; mục tiêu của chúng là thanh tẩy “không gian sống” ở phía Đông và diệt dân ở các vùng đất Liên Xô.

Một trong những “chỉ thị tội ác” đầu tiên là “Hướng dẫn về các lĩnh vực quan trọng” tìm thấy trong các phụ lục của chỉ thị “Barbarossa”. Được ký ngày 13/3/1941, “Hướng dẫn” quy định:

Tại nơi diễn ra các hoạt động quân sự, theo sự phân công của Quốc trưởng, thống chế SS sẽ nhận những nhiệm vụ đặc biệt chuẩn bị cho việc cai quản về mặt chính trị, những nhiệm vụ ấy xuất phát từ trận chiến quyết định cuối cùng của hai hệ thống chính trị đối kháng. Trong khuôn khổ những nhiệm vụ này, thống chế SS hành động độc lập, trong phạm vi trách nhiệm của mình… Thống chế SS phải đảm bảo sao cho việc thực hiện những nhiệm vụ này không cản trở tiến trình các hoạt động quân sự. Bộ tổng tư lệnh lục quân phải trực tiếp thỏa thuận những chi tiết tiếp theo với thống chế SS.[13]

Những kẻ soạn thảo “Hướng dẫn” này đã thể hiện sự thận trọng đáng gờm: nếu tài liệu rơi vào tay người ngoài, họ sẽ không tài nào hiểu được, chẳng hạn như, “những nhiệm vụ đặc biệt” được giao cho thống chế SS là những nhiệm vụ gì. Dù tin tưởng vào chiến thắng tất yếu trước Liên Xô, dẫu sao Quốc trưởng cũng ưu tiên việc truyền đạt các chỉ thị then chốt bằng miệng. Chúng quá tàn bạo để thể hiện bằng văn bản.

Tất nhiên, kể cả những người ngây thơ nhất cũng đều hiểu, cụm từ “những nhiệm vụ đặc biệt” hàm ý việc thủ tiêu thường dân vô tội Liên Xô – đâu phải tự nhiên mà cuối cùng Quốc trưởng Đức đã có lần nhận xét: “Người dân phải biết những đội quân như SS phải thực hiện những bổn phận hành hình nhiều hơn bất cứ ai khác”.[14] Thế nhưng quy mô được lên kế hoạch của việc thủ tiêu công dân Liên Xô cũng chỉ có thể phỏng đoán.

Các sử gia sẽ không bao giờ biết được, có bao nhiêu người dân trên những vùng lãnh thổ bị chiếm đóng phía đông bị lên kế hoạch thủ tiêu, nếu như mùa xuân năm 1945 đại tướng SS Erich von dem Bach-Zelewski không bị quân đội Hoa Kỳ bắt giữ. Đây là một trong những lãnh đạo SS cao cấp nhất, được Himmler tin cậy; trước cuộc tấn công Liên Xô, tháng 5/1941 ông ta đã được bổ nhiệm làm chỉ huy tối cao SS và cảnh sát ở miền Trung nước Nga. Không thể xác định được con số chính xác các công dân Liên Xô bị thủ tiêu dưới sự lãnh đạo của ông ta.

Tại phiên tòa Nürnberg, Erich von dem Bach-Zelewski đã kể lại nhiều chuyện thú vị; chúng tôi sẽ còn nhiều lần đề cập đến những lời khai của ông ta. Ông ta kể về những kế hoạch định lượng cho cuộc chiến tranh hủy diệt của Quốc xã, được thống chế SS Himmler nêu lên trong cuộc họp các sĩ quan cao cấp SS tại lâu đài Wewelsburg vào tháng 3/1941:

Khi đó Himmler nói, mục tiêu của chiến dịch chống lại Nga là giảm thiểu 30 triệu người Slav.[15]

Chưa bao giờ trong lịch sử nhân loại lại có những kế hoạch tàn sát quy mô đến vậy; thế nên không có gì ngạc nhiên khi giới lãnh đạo Quốc xã không dám thể hiện trên giây con số khủng khiếp những thường dân vô tội dự định bị thủ tiêu, cho dù hoàn toàn tin tưởng vào chiến thắng sắp tới.

Cần phải hiểu là con số 30 triệu người dự định thủ tiêu – trong bất cứ trường hợp nào cũng chưa phải là con số cuối cùng. Đấy chỉ là những gợi ý ban đầu; vài tháng sau thống chế Gerd von Rundstedtt tuyên bố: “Chúng ta phải thủ tiêu ít nhất một phần ba số dân trong các lãnh thổ đã thôn tính”.[16] Quy mô của những kế hoạch hủy diệt là một trong những nguyên nhân mà sau khi kết thúc giai đoạn quân sự ở Mặt trận phía Đông, dự kiến sẽ để lại 56 sư đoàn, trong đó có 12 sư đoàn thiết giáp và sáu sư đoàn xe cơ giới.[17]

Những người dân Liên Xô nào may mắn còn sống sót, theo các kê hoạch của Quốc xã, sẽ bị đối xử như dân bản địa hoang dã.

Hitler đã nhiều lần nói về điều này và lập luận với sự hài lòng trong những bữa ăn trưa. Các thư ký đã ghi lại những phát biểu thiên tài của Quốc trưởng cho hậu thế; và chúng ta cũng sẽ được làm quen với chúng.

Chúng ta sẽ không sống tại những thành phố Nga và sẽ tạo điều kiện cho chúng tan rã thành từng mành mà không cần sự can thiệp của chúng ta. Và cái chính là không được có bất cứ sự thương tiếc nào cho việc đó! Chúng ta không định làm bảo mẫu cho chúng; với bọn người ấy chúng ta không có bất cứ trách nhiệm nào. Đối phó với những túp lều, thủ tiêu bọ chét mà phải cung cấp thầy giáo Đức, in ấn báo chí thì quá là vụn vặt với chúng ta! Có thể, chúng ta sẽ giới hạn bằng việc lắp đặt các máy phát vô tuyến dưới sự kiểm soát của chúng ta, Còn lại chúng ta sẽ chỉ dạy bảo chúng tới mức độ, để chúng hiểu được các biển báo giao thông của chúng ta…

<…>

Các bác sĩ của chúng ta nghĩ gì? Có tiêm chủng đủ không à? Cứ để bọn chúng ngỏm! Cái chính là, vì những kẻ điên rồ này mà chúng ta không thể khử trùng được hết bọn dân bản địa!

<…>

Người Nga sẽ không sống tới già. Chúng khó mà sống quá 50 đến 60 tuổi. Thật là một ý tưởng ngu ngốc khi tiêm chủng cho chúng! Không có vaccine nào cho bọn Nga hết và cũng không có xà phòng để chúng tẩy rửa sự bẩn thỉu. Nhưng cần cho chúng rượu hay thuốc lá bao nhiêu tùy thích.

<…>

Giải pháp lý tưởng là dạy cho bọn người này những quy tắc cơ bản của việc bắt chước. Chúng phải ít thắc mắc hơn cả bọn câm điếc.

Không có sách vở đặc biệt nào cho chúng hết! Đài phát thanh là quá đủ để cung cấp cho bọn chúng những thông tin quan trọng nhất. Dĩ nhiên, chúng có thể nghe nhạc, bao nhiêu tùy thích. Có thể nghe tiếng nước chảy róc rách từ vòi nước. Tôi phản đối việc giao cho chúng thậm chí những công việc đòi hỏi nỗ lực trí tuệ tối thiểu.

<…>

Việc dạy cho bọn Nga, Ukraina, Kyrgyz đọc và viết cuối cùng sẽ quay sang chống lại chính chúng ta; giáo dục sẽ trao cho những kẻ thông minh hơn trong số chúng khả năng nghiên cứu lịch sử, lĩnh hội được ý tưởng lịch sử, và vì thế, phát triển được những ý tưởng chính trị vốn chỉ có thể gây hại cho lợi ích của chúng ta. Tại mỗi thôn sẽ đặt loa phóng thanh để thông báo cho mọi người những tin tức rời rạc, và trước tiên, là để chúng phân tâm. Kiến thức chính trị hay kinh tế thì lợi ích gì cho chúng? Thực hiện các chương trình về những câu chuyện khác nhau trong quá khứ của chúng thì cũng chẳng có ý nghĩa gì – tất cả những thứ cần cho dân làng là âm nhạc, âm nhạc và một lần nữa là âm nhạc. Nhạc vui là nguồn khích lệ tuyệt vời cho công việc nặng nhọc; hãy cho chúng mọi cơ hội để nhảy múa, tất cả dân làng sẽ biết ơn chúng ta…

<…>

Trong lĩnh vực y tế công, không cần truyền bá lợi ích những kiến thức của chúng ta cho đám quần chúng bị chinh phục. Điều đó chỉ dẫn tới việc gia tăng mạnh dân số địa phương, và tôi nghiêm cấm việc tổ chức bất cứ cuộc đấu tranh nào vì sự sạch sẽ, vệ sinh trên lãnh thổ này. Việc tiêm vaccine bắt buộc chỉ hạn chế đối với người Đức…

<…>

Đối với hàng trăm triệu bọn Slav ngớ ngẩn này, chúng ta sẽ nhào nặn những kẻ tốt nhất trong đám ấy thành hình thù thế nào thuận tiện cho chúng ta nhất, bọn còn lại sẽ được nhốt riêng trong những chuồng lợn của chúng; và bất kỳ ai lên tiếng về việc cần phải bảo vệ và trân trọng người bản địa, sẽ lập tức được chuyển thẳng vào trại tập trung![18]

Các quan chức Quốc xã hành động hoàn toàn tương thích với các chỉ thị của Quốc trưởng. “Người Slav phải làm việc cho chúng ta”, Borman trình bày bản chất của chính sách chiếm đóng. “Chúng có thể chết bao nhiêu cũng được, bởi chúng ta không cần chúng. Chúng không được có cơ hội sử dụng hệ thống y tế công của Đức. Chúng ta không quan tâm đến mức sinh sản của chúng. Chúng có thể sử dụng các biện pháp tránh thai hay phá thai, càng nhiều càng tốt. Chúng ta không muốn chúng có giáo dục. Chúng biết đếm tới 100 là đã đủ. Những kẻ dốt nát sẽ có lợi cho chúng ta hơn. Chúng ta vẫn để cho chúng được tín ngưỡng nhằm mục đích phân tâm. Liên quan đến lương thực, chúng sẽ chi nhận đúng những gì thật sự cần thiết. Chúng ta, thưa các ngài, chúng ta đang đứng ở vị trí số l”.[19]

Nhiệm vụ của Quốc xã trên vùng đất Liên Xô bị chiếm đóng là như thế đó – thủ tiêu hàng triệu người, số còn lại bị bỏ mặc cho chết đói và bệnh tật.

Tuy nhiên, việc giải quyết “những nhiệm vụ đặc biệt” ở Mặt trận phía Đông được giao cho lực lượng SS chi có chưa đầy 250.000 người. Kể cả khi tất cả các binh sĩ SS nhất loạt hành động trên những vùng lãnh thổ phía Đông bị chiếm đóng và đồng thời lao động không ngơi tay, thì chúng vẫn không thể nào đủ sức thủ tiêu 30 triệu người trong một thời gian ngắn. Ngoài ra, lực lượng SS không có thẩm quyền giam giữ tù binh; quân đội chịu trách nhiệm việc này. Giới lãnh đạo Quốc xã tư duy theo các tiêu chí chủng tộc; theo quan điểm của họ, việc thủ tiêu 30 triệu người dân là hoàn toàn phi logic, nhưng nhiều triệu tù binh Hồng quân vẫn còn sống sót. Số người Soviet hạ đẳng phải được giảm thiểu đáng kể; trong khuôn khổ nhiệm vụ này, việc thủ tiêu những thanh niên trẻ đơn giản là cần thiết.

Như vậy, ngoài những nhiệm vụ quân sự đơn thuần, có hai yêu cầu đặt ra cho Wehrmatch trong chiến dịch phía Đông sắp tới: thứ nhất, bảo đảm thủ tiêu tù binh, và thứ hai, hỗ trợ SS trong việc hủy diệt thường dân.

Vấn đề là ở chỗ, cho đến đầu chiến dịch phía Đông, Wehrmacht vốn quen với khái niệm danh dự quân đội không chi qua lời nói, không những giữ khoảng cách rõ rệt với những biện pháp trừng phạt của SS, mà còn cản trở họ. Nhiều viên tướng Đức đã thẳng thừng chống đối những cuộc đàn áp chống lại thường dân vô tội, xung đột trực tiếp với chính quyền chiếm đóng dân sự và với chính thống chế SS.

…Tháng 9/1939 các binh đoàn Wehrmacht đã phá vỡ tuyến phòng thủ của Ba Lan. Những sư đoàn Ba Lan trải đọc biên giới đã bị đập tan và phân tán; các đơn vị thiết giáp Đức tiến sâu về phía đông, khép chặt vòng vây quanh những đơn vị vẫn còn chống cự của đối phương.

Tổng tham mưu trưởng OKW Halder hài lòng ghi trong nhật ký: “Khắp nơi quân đội chiến đấu khá cừ. Có những dấu hiệu mệt mỏi riêng lẻ”.[20]

Halder có lý do chính đáng để tự hào về bản thân và quân đội Đức: đây là chiến thắng đầu tiên sau thất bại thảm hại năm 1918, giành được thắng lợi trong thời gian ngắn nhất và với thương vong tối thiểu. Lính Đức đã tỏ ra khéo léo và kiên cường, ban chỉ huy quân sự thì chủ động và quyết đoán. Chỉ có một điều làm u ám tâm trạng vui như ngày hội của viên tướng: lực lượng SS. Sư đoàn thiết giáp của tướng Werner Kempf, tiến quân từ Đông Phổ, có hơn một nửa là quân SS. Không có gì phải than phiền về kỹ năng của họ, thế nhưng ngày 03/9 khi Kempf chiếm một thị trấn nhỏ mang cái tên Bydgosh khó đọc với người Đức, quân SS của trung đoàn pháo binh đã gây ra một vụ thảm sát ở đó: chúng dồn 50 người Do Thái vào một giáo đường của thị trấn rồi giết sạch.

Tội ác này đã gây ra một vụ bê bối không vừa. Tướng Kempf ngay lập tức đã bắt những tên SS này và đưa chúng ra tòa; thế nhưng việc đó cũng không cứu ông khỏi bị khiển trách do sự lãnh đạo quân đội yếu kém. Tòa án binh đã xử những kẻ phạm tội chỉ một năm tù giam – và khi đó chỉ huy quân đoàn 3, tướng Georg von Küchler, đã từ chối phê chuẩn bản án. Halder hoàn toàn đồng tình với Georg von Küchler: các phạm nhân phải chịu hình phạt nặng hơn. Vấn đề được chuyển lên cho OKH xem xét, và người đứng đầu bộ tổng tham mưu đã ghi trong nhật ký: “Những chuyện tệ lậu ở hậu phương – phải tuyên bố với quân đội. Hình phạt nghiêm khắc”.[21] Vụ việc xem chừng bốc mùi án tử hình: Wehrmacht đã từng áp dụng nó trong những vụ vi phạm kỷ luật quy mô tương tự.

Khắp Berlin lan truyền những tin đồn khó chịu cho quân SS. “Tôi nghe nói Blaskowitz với tư cách chỉ huy quân đoàn dự định buộc tội hai chỉ huy đơn vị SS vì cướp bóc và giết người”, nhà ngoại giao về hưu Ulrich von Hassell đã ghi trong nhật ký.[22]

Thống chế SS Himmler phải can thiệp cho cấp dưới của mình. Bộ chỉ huy quân sự rất phẫn nộ trước những chuyện xảy ra, khiến thống chế phải biện hộ. “Nhiều khó khăn. Đã có sai lầm. Báo cáo của chỉ huy ở Mặt trận phía Đông có năm trường hợp. Yêu cầu thông báo về những vụ còn lại. Dự định hoàn thành nhiệm vụ khó khăn sao cho khôn ngoan nhất, ít đổ máu nhất. Muốn thiết lập quan hệ tốt với quân đội”, Halder đã viết những lời biện minh này.[23]

Sau vụ ầm ĩ làm sáng tỏ các mối quan hệ, Wehrmacht và SS đi đến thỏa thuận: chừng nào chính quyền quân sự còn hoạt động trên các vùng lãnh thổ chiếm đóng, SS không được phép tiến hành biện pháp thanh trừng chính trị nào. Thay vào đó, bọn SS đã gây ra vụ thảm sát sẽ được thả; lý do của việc tha bổng thật đặc biệt: hóa ra, các bị cáo đã hành động trong tình trạng kích động.

Là quân SS, họ đặc biệt nhạy cảm trước sự xuất hiện của người Do Thái và thái độ thù địch của người Do Thái với người Đức, vì thế họ đã hành động thiếu suy xét, trong cơn bồng bột của tuổi trẻ.[24]

Ngoài ra, ngày 17/10/1939 một đạo luật đã được thông qua, theo đó binh lính SS sẽ không chịu sự xét xử của tòa án binh. Các vụ phạm tội của quân SS giờ đây sẽ được các tòa án SS xem xét.[25]

Thế nhưng quân đội tiếp tục phản đối quân SS. Tháng 02/1940, tổng tư lệnh quân đội chiếm đóng tại Ba Lan, đại tướng Johannes Blaskowitz đã đệ trình bộ chỉ huy tối cao một bản báo cáo đầy phẫn nộ phản kháng “cuộc thanh trừng chính trị” do quân SS thực hiện; khi đọc nó, không thể không ngạc nhiên trước những lời lẽ gay gắt.

Việc thảm sát vài chục ngàn người Do Thái và Ba Lan là một sai lầm, như đang diễn ra hiện nay. Ngược lại, cách thức hủy diệt đã gây tác hại lớn nhất, làm phức tạp thêm vấn để và khiến chúng trở nên nguy hiểm hơn… Nếu các quan chức cấp cao của SS và cảnh sát đòi hỏi bạo lực cùng sự tàn bạo, và công khai ủng hộ chúng, thì trong thời gian ngắn nhất trong chính quyền sẽ còn toàn những kẻ hiếp dâm. Những kẻ như vậy giống những loại thiểu năng, như ở Ba Lan chúng đã để lý trí phục tùng những bản năng súc vật và bệnh hoạn. Khó lòng giữ chúng trong tầm kiềm soát, bởi chúng cho rằng luật lệ chính quyền đã trao cho chúng quyền hành xử bất kể tàn bạo như thế nào. Cơ hội duy nhất để chống lại bệnh dịch này là phải nhanh chóng giao những kẻ phạm tội và thuộc hạ của chúng vào tay các thượng cấp quân đội và công lý.[26]

Không lâu sau khi viết báo cáo này, tướng Johannes Blaskowitz đã được bổ nhiệm làm chỉ huy các lực lượng chiếm đóng tại Pháp.

Sự miễn cưỡng của bộ chỉ huy Wehrmacht thực hiện công việc đao phủ là rõ ràng; nhưng mặt khác, nếu không có sự hỗ trợ của Wehrmacht thì việc diệt dân và cai trị các vùng đất Liên Xô bị chiếm đóng là bất khả.

Tình huống hóa ra thật nan giải.

Cuối tháng 3, Hitler quyết định tháo gỡ nút thắt rối ren này.

Chủ nhật ngày 30/3/1941, Quốc trưởng phát biểu trước các tướng lĩnh Wehrmacht, ông ta nói về các mục tiêu và nhiệm vụ của chiến dịch phía Đông.

Biên bản cuộc họp này không được lưu giữ; có lẽ, cũng giống như trường hợp với các chỉ thị của thống chế SS, Hitler cho rằng nếu không có những tài liệu bằng văn bàn sẽ có lợi hơn. Dầu sao chúng ta cũng có một cái nhìn rất toàn diện về những điểm chính trong phát biểu của Quốc trưởng. Tổng tham mưu trưởng OKH tướng Halder đã ghi chép trong thời gian họp và sau đưa vào nhật ký. Các ghi chép của Halder được bổ sung bằng những hồi ức của người đứng đầu OKW, thống chế Wilheim Keitel, và thiếu tướng Walter Warlimont. Nhờ những nguồn này mà những luận điểm chính trong bài phát biểu của Hitler được biết đến.

Cuộc chiến này sê là cuộc chiến giữa hai ý thức hệ đối nghịch nhau. Nó là tất yếu, và tôi thà nhận trách nhiệm về mình còn hơn là nhắm mắt trước hiểm họa Bolshevik đối với châu Âu. Chỉ có chiến tranh phòng ngừa mới có thể ngăn chặn cái xe lu chạy bằng hơi nước này trước khi châu Âu trở thành nạn nhân của nó. Bọn Bolshevik Nga phải chịu cái án hủy diệt; đó không phải là một tội ác xã hội, mà chỉ là việc loại bỏ mối hiểm họa to lớn cho tương lai Đế chế chúng ta và toàn châu Âu. Dựa vào điều này, chúng ta không được xuất phát từ nguyên tắc tính đồng đội của ngươi lính. Bọn cộng sản chưa bao giờ và sẽ không bao giờ là đồng chí của chúng ta. Ở đây đang nói về cuộc chiến hủy diệt.[27]

Trong cuộc chiến chống nước Nga phải xuất phát từ nhu cầu thủ tiêu vô điều kiện các chính ủy Bolshevik và giới trí thức bản địa. Chỉ huy các bộ phận và đơn vị quân đội Đức phải hiểu rõ những mục tiêu của cuộc chiến này, có nghĩa vụ phải lãnh đạo cuộc đấu tranh ý thức hệ. Các chính ủy và những nhân viên GPU[28] là tội phạm, cần phải đối xử với chúng như bọn tội phạm.[29]

Cuộc chiến chống nước Nga sẽ là thế này, không cần tiến hành nó với tinh thần hiệp sĩ. Đó sẽ là trận chiến của ý thức hệ và dị biệt chủng tộc, nó cần phải được tiến hành với sự khắc nghiệt chưa từng có và không gì lay chuyển. Mọi sĩ quan phải thoát khỏi những quan điềm lỗi thời về đạo đức. Cuộc chiến này cơ bản khác với cuộc chiến ở Mặt trận phía Tây. Ở Mặt trận phía Đông, bản thân sự tàn bạo là lợi ích cho tương lai.[30]

Tôi không mong các tướng lĩnh của tôi hiểu tôi, nhưng tôi sẽ chờ đợi họ hoàn thành những mệnh lệnh của tôi.[31]

Phát biểu của Hitler trước Bộ tư lệnh tối cao Wehrmacht ngày 30/3/1941 thật sự đã trở thành một bước ngoặt trong quá trình chuẩn bị cho cuộc diệt chủng đối với Liên Xô. Tất nhiên, sau chiến tranh tất cả các tướng lĩnh với sự nhất trí hiếm có đều khẳng định, họ đã kinh ngạc trước đề nghị của Hitler kêu gọi họ nhận về mình những bổn phận đao phủ trái ngược với bất kỳ ý niệm danh dự quân đội nào, và bất chấp những chỉ thị từ trên, họ đã ngăn cản việc thủ tiêu tù binh và dân chúng địa phương trong khả năng có thể.

Sự nhất trí hiếm có này được lý giải một cách đơn giản: trước mỗi viên tướng của Wehrmacht còn sống sót đã lấp ló chiếc thòng lọng cho những tội ác chiến tranh; họ phải nói dối không biết xấu hổ vì cảm giác tự vệ tự nhiên.

Một trong số không nhiều người dám nói lên sự thật là tướng Warlimont. “Về sau nhiều người nói rằng những công kích sắc bén như thế của Hitler đã khiến ai đó trong những người hiện diện ở hội trường bằng cách nào đó bày tỏ sự phản kháng của mình, hay có phản ứng tiêu cực sau khi Quốc trưởng rời đi”, ông ta viết. “Nhưng không có bằng chứng nào cho thấy điều tương tự đã xảy ra, không; chính tôi đã có mặt ở đó, và trong bất cứ tài liệu nào được công bố hiện nay đều không đề cập đến những điều như thế”.[32]

Phần lớn các chỉ huy Wehrmacht đồng ý vô điều kiện với đề nghị của Quốc trưởng về cuộc chiến hủy diệt; số người chống đối có thể đếm trên đầu ngón tay. “Kết quả của phát biểu này”, sử gia Đức Wolfram Wette viết, “là sự đoàn kết của giới tinh hoa quân đội xung quanh Quốc trưởng nhà nước Quốc xã. Để thực hiện những ý đồ tội ác của Hitler, Wehrmacht không cần định chế chính ủy: các tướng lĩnh Đức đã đảm nhận vai trò ấy”.[33]

Từ bỏ những quy luật và thông lệ tiến hành chiến tranh hàng thế kỷ, các tướng lĩnh đồng tình thực hiện mệnh lệnh của Quốc trưởng về việc diệt dân trên những vùng đất Liên Xô. Đã xảy ra điều từng khó lòng mong đợi: những kẻ mới hôm qua còn chống đối bọn trừng giới SS, giờ đây dường như lại đang ganh đua nhau để bày tỏ lòng trung thành với những ý tưởng của cuộc chiến tranh hủy diệt. Điều này được chứng minh triệt để bằng sự kiện sau cuộc họp ngày 30/3, việc soạn thảo “những chi thị tội ác” đã được chuyển sang OKH và OKW.

Quốc trưởng vừa mới phát biểu trước các tướng lĩnh của mình hôm Chủ nhật, thì vào thứ Năm, ngày 03/4, tướng Halder, tổng tham mưu trưởng OKH, đã trình dự thảo chỉ thị về “cuộc chiến ý thức hệ” ở Mặt trận phía Đông. Sử gia Đức Christian Streit đã trình bày nội dung chỉ thị do Halder soạn thảo như sau: “Trong lệnh này có các chỉ thị rõ ràng về cách đối xử với người dân Liên Xô. Trong đó cũng nói về việc tổ chức giam giữ tù binh. Theo lệnh, các nguyên tắc của công ước The Hague về luật pháp và thông lệ chiến tranh lục quân không có hiệu lực đối với Liên Xô… Việc thực hiện yêu sách thống trị của Đức trên lãnh thổ Soviet bằng cách sử dụng bất kỳ phương tiện nào – không cần cân nhắc – đã được trình bày ở đây như một chuyện đương nhiên”.[34]

Rõ ràng, Halder đã chuẩn bị dự thảo của mình từ trước, còn sớm hơn bài phát biểu tháng 3 của Quốc trưởng; bất cứ ai đã biết ít nhiều về những đặc điểm của việc chuẩn bị các văn kiện chính phủ, đều đồng ý rằng không thể có một giải thích khác cho sự linh hoạt bất thường như vậy. Việc soạn thảo và phê duyệt dự thảo các chỉ thị phức tạp như thế trong cơ quan quân sự Đức thường phải mất từ một đến một tháng rưỡi. Chẳng hạn, chi vào ngày 28/4, một tháng rưỡi sau khi ban hành “Hướng dẫn về các lĩnh vực đặc biệt” như chúng ta còn nhớ, cấp trên trực tiếp của Halder, tổng tư lệnh các lực lượng lục quân, thống chế Walter von Brauchitsch, đã ký thỏa thuận phối hợp hành động với các đơn vị Wehrmacht và SS, được soạn thảo trên cơ sở “Hướng dẫn”.[35]

Như ta thấy, Halder đã thể hiện sự thận trọng đáng ganh tị; tuy vậy, không phải chỉ một mình ông ta.

Cục trưởng Cục các vấn đề tù binh chiến tranh của OKW, trung tướng Hermann Reinecke, vào tháng 3 đã cho gọi người phụ trách vấn đề tù binh ở các quân khu lên và thông báo tuyệt mật rằng đầu mùa hè năm 1941, Đức sẽ xâm lăng lãnh thổ Liên Xô.

“Liên quan tới việc này, Bộ tư lệnh tối cao đã soạn thảo những biện pháp cần thiết”, viên tướng nói. “Hàng loạt tù binh Bolshevik sẽ rơi vào tay chúng ta. Việc đối xử với chúng cần xuất phát từ quan điểm chung của công ước chiến tranh ở Mặt trận phía Đông. Đây sẽ là cuộc chiến của ý thức hệ và chủng tộc mà trong đó không cho phép sự ủy mị”.

Có mặt tại buổi huấn thị, tướng Kurt von Esterreich, trưởng bộ phận về tù binh chiến tranh quân khu Danzig, nhớ lại rằng ông ta đã bị sốc vì những chỉ thị của cấp trên: “Reinecke chỉ thị, nếu không dựng kịp tại chỗ các trại tập trung với các lán có mái che thì có thể giam tù binh Nga ngoài trời, được rào chắn bằng dây thép gai. Tiếp đó Reinecke đã hướng dẫn chúng tôi cách đối xử với các tù binh Nga”.[36]

Điều cốt lõi của các chỉ thị là ở chỗ, bọn Nga hạ đẳng về mặt chủng tộc không cần giam giữ trong những điều kiện như người Anh hoặc người Pháp. Theo đó, tiêu chuẩn ăn uống cũng phải ít hơn, còn định mức lao động thì phải nhiều hơn. Kết quả là thuộc cấp của Reinecke đã soạn ra các tỉ lệ dinh dưỡng cho tù binh Liên Xô như sau: chất béo bằng 42% tiêu chuẩn người châu Âu, đường và bánh mì – 66%, còn thịt là 0%.[37]

Trong một tài liệu lưu hành nội bộ của cục còn lưu ý rằng “những thử nghiệm chế biến một loại bánh mì đặc biệt dành cho người Nga chỉ ra rằng hỗn hợp có lợi nhất thu được gồm 50% cám lúa mạch, 20% nước ép củ cải đường, 20% bột cellulose và 10% bột làm từ rơm hoặc lá cây”.[38]

Công tác chuẩn bị cho việc thành lập hệ thống trại tập trung các tù binh Liên Xô đã được khởi đầu từ giữa tháng 4/1941; cho đến thời điểm đó thành phần sĩ quan cấp trung đã được thông báo rằng tù binh Liên Xô sẽ bị đối xử tệ hơn nhiều so với các loại tù binh khác.[39]

Các trưởng bộ phận về tù binh chiến tranh đã được hướng dẫn hành động theo một mật lệnh của chỉ huy các lực lượng dự bị về việc thành lập những trại tập trung ở tuyến trước. Theo lệnh này, để tổ chức những trại tập trung cho các tù binh Liên Xô, các quân khu chỉ được cấp dây thép gai đê làm rào chắn; đề nghị giam giữ bọn hạ đẳng ngoài trời. Chỉ huy các quân khu nhận lệnh vào ngày 10/4; thế nhưng tài liệu này được ban hành sớm hơn nhiều – vào ngày 26/3, tức bốn ngày trước phát biểu của Hitler.[40] Vào hôm đó, một bên là Keitel và Jodi, còn bên kia là thống chế Himmler, đã đạt được thỏa thuận về việc các nhóm trừng giới sẽ tiến hành “các công việc chuẩn bị tái tổ chức chính trị” các tỉnh Liên Xô bị chiếm đóng, theo chỉ thị ngày 13/3 của Quốc trưởng có nghĩa là thủ tiêu bọn hạ đẳng.[41]

Như ta thấy, Bộ chỉ huy Wehrmacht dẫu sao cũng đã dự đoán trước được các chỉ thị ăn thịt người của Quốc trưởng.

Ngày 06/5, các dự thảo của lệnh “Về các chính ủy” và sắc lệnh “Về việc tiến hành thủ tục tô tụng quân sự và những hành động đặc biệt của quân đội” rốt cuộc đã được soạn thào phù hợp với những chỉ thị hồi tháng 3 của Quốc trưởng, đã nằm trên bàn của tư lệnh lục quân, thống chế Walther von Brauchitsch – có lẽ, nổi tiếng nhất trong “các chỉ thị tội ác”.

Lệnh “Về các chính ủy” đã quy định:

  1. Các cán bộ chính trị và các phụ trách chính trị (chính ủy) phải bị thủ tiêu.
  2. Do chúng sẽ bị quân đội bắt giữ nên quyết định về việc có trừ khử hay không sẽ do sĩ quan có quyền thực thi các biện pháp kỷ luật đưa ra.
  3. Để quyết định chỉ cần xác lập rõ đối tượng được nêu có phải là cán bộ phụ trách chính trị hay không.

  4. Các phụ trách chính trị trong quân đội không được xem là tù binh và phải bị thủ tiêu muộn nhất là tại các trại trung chuyển. Không đưa về hậu phương.

<…>

  1. Ở hậu phương, các cán bộ phụ trách chính trị của quân đội và các chính ủy (ngoại trừ chỉ huy chính trị trong các đơn vị quân đội) phải chuyển cho các nhóm trừng giới của cảnh sát an ninh.[42]

Sử gia Christian Streit đã được chúng tôi trích dẫn nhận xét rằng, “bằng quyết định như vậy, giới lãnh đạo quân đội đã bày tỏ sự sẵn sàng giao cho quân đội hiện hành nhiệm vụ thủ tiêu toàn bộ một loại đối thủ chính trị. Nhiệm vụ này trước đó chỉ đo cảnh sát an ninh của Heydrich thực hiện”.[43]

Và nếu những “chỉ thị tội ác” trước đây còn để lại một khoảng trống nào đó cho các thủ thuật, thì khi thông qua mệnh lệnh “Về các chính ủy”, giới lãnh đạo quân sự đã vượt qua điểm không thể quay đầu, hoàn toàn tham gia vào cuộc chiến tranh hủy diệt.

Rõ ràng, OKH hiểu rõ điều đó, bằng chứng gián tiếp là sắc lệnh “Về việc tiến hành các thủ tục tố tụng quân sự và các hành động đặc biệt của quân đội”, được đệ trình lấy chữ ký của Walther von Brauchitsch cùng lúc với lệnh “Về các chính ủy”. Và nếu trong chỉ thị trước chỉ nói về việc thủ tiêu một loại tù binh, thì trong chỉ thị về thủ tục tố tụng đã nói về việc thủ tiêu thường dân vô tội.

Chính lệnh này đã được đọc trên toàn tuyến Mặt trận phía Đông vào đêm rạng sáng ngày 22/6; trong đó lính Đức được trao toàn quyền thực hiện bất kỳ tội ác nào chống lại bọn hạ đẳng Liên Xô. Một phần của sắc lệnh vào những ngày đầu chiến tranh đã dẫn đến việc bùng phát hàng loạt những vụ giết người và hãm hiếp dã man, mà chúng tôi đã trích dẫn.

Mục thứ hai của sắc lệnh liên quan đến quyền xét xử không phải đối với các nhân viên quấn sự Đức, mà là thường dân vô tội Liên Xô sống trên lãnh thổ bị chiếm đóng:

Tội ác của các thường dân phe địch, cho đến khi có những chỉ dẫn tiếp theo, được rút khỏi thẩm quyền xét xử của các tòa án quân sự và tòa án quân sự dã chiến…

Các cuộc tấn công của thường dân phe địch vào các lực lượng vũ trang ta, các thành viên thuộc các lực lượng ấy hoặc nhân viên phục vụ quân đội cũng phải được quân đội trấn áp tại chỗ bằng việc áp dụng những biện pháp cực đoan nhất để thủ tiêu kẻ thù…

Liên quan đến các khu dân cư, nơi các lực lượng vũ trang bị tấn công một cách thâm độc hoặc bị chỉ điểm, phải ngay lập tức áp dụng chỉ thị của sĩ quan không thấp hơn cấp chỉ huy tiểu đoàn, phải thực hiện những biện pháp bạo lực hàng loạt, nếu hoàn cảnh không cho phép nhanh chóng xác định những thủ phạm cụ thể…

Nghiêm cấm tạm giam các đối tượng tình nghi để chờ đưa ra tòa sau khi lập các tòa án để xét xử cư dân địa phương.[44]

Như ta thấy, ở đây không nói về các chính ủy, thậm chí cũng không phải về các du kích. Ở đây nói về việc thủ tiêu tùy tiện thường dân; chỉ như thế mới có thể diễn giải điều khoản về “các biện pháp bạo lực hàng loạt”. Trước đây quân đội Đức chưa từng bao giờ làm những điều như thế.

Sắc lệnh “Về các thủ tục tố tụng quân sự” đã được diễn giải thế nào trong quân đội, chánh án tòa quân sự thuộc sư đoàn 267 bộ binh, đại úy Julius Reichoff, tức là người về mặt chức trách rất am hiểu những tình tiết pháp luật, sau chiến tranh bị bắt làm tù binh, đã chỉ ra.

“Theo lệnh Hitler, không được phép đưa lính Đức ra tòa án binh vì những hành động mà họ gây ra cho công dân Liên Xô”, Reishoff giải thích. “Chỉ có chỉ huy đơn vị của người lính ấy mới có thể trừng phạt anh ta, nếu ông ta cho là cần thiết. Theo lệnh đó của Hitler, người sĩ quan có phạm vi quyền hạn rộng hơn… Ông ta có thể thủ tiêu dân Nga theo xét đoán của mình… Chỉ huy được ban cho toàn quyền áp dụng các biện pháp trừng phạt đối với thường dân vô tội, như đốt rụi những ngôi làng, tịch thu lương thực và gia súc của dân, theo xét đoán của mình được quyền bắt các công dân Liên Xô sang Đức làm việc. Lệnh của Hitler đã được thông báo đến tận cấp bậc binh nhì trong quân đội Đức một ngày trước khi tấn công Liên Xô”.[45]

Ngắn gọn hơn, sử gia Đức Wolfram Wette đã nói về ý nghĩa của sắc lệnh: “Mỗi người tham gia chiến dịch phía Đông của Wehrmacht đều biết mình được phép làm mọi thứ và sẽ không phải ra trước tòa án binh”.[46]

Ký vào một văn kiện như thế cũng ngang bằng với việc thực hiện tội ác chiến tranh.

Chỉ huy OKH đã ký cả hai chỉ thị tội ác mà không hề dao động. Ông ta chỉ có hai mong muốn: thứ nhất, trên các chỉ thị đóng dấu “tuyệt mật”, và thứ hai, những vụ xử bắn người Bolshevik được tiến hành sao cho kín kẽ và bên ngoài phạm vi các hoạt động chiến sự.[47]

Việc ra lệnh bảo mật các tài liệu chứng tỏ thống chế Walther von Brauchitsch rõ ràng đã hiểu tội ác những hành động của mình. Khác với nhiều tướng lĩnh Đức khác, ông ta đã bị trừng phạt vì điều này. Sau chiến tranh, người Anh và người Mỹ dưới những cái cớ hợp lý đã cứu nhiều chi huy quân đội Đức khỏi những hình phạt xứng đáng; kinh nghiệm chiến tranh chống Liên Xô của họ rất có ích cho các đồng minh. Cựu tư lệnh lục quân Walter von Brauchitsch bị người Anh bắt làm tù binh; rất có thể, ông ta sẽ được trả tự do như những người khác. Thế nhưng sự phán xét của Chúa nhanh hơn và công bằng hơn của loài người: trong tù Walther von Brauchitsch bị mù và đã chết mặc cho những nỗ lực cứu chữa của các bác sĩ.

Nhưng từ mùa xuân năm 1941 đến ngày đó còn rất xa. Nhận được sự phê chuẩn của Walther von Brauchitsch cho lệnh “về các chính ủy” và sắc lệnh “Về việc tiến hành tố tụng quân sự”, thống chế Wilhelm Keitel, tư lệnh Bộ chỉ huy tối cao Wehrmacht đã lần lượt ký chúng vào các ngày 12 và 13/5; các chỉ thị lập tức được gửi đến các binh đoàn đang tập trung tại các biên giới phía Đông của Đế chế.

…Sau khi bộ chỉ huy quân sự phê duyệt những “chỉ thị tội ác” chủ chốt, họ đã không thể vờ như mình là hiện thân của sự vô tội. Tất cả những ai có liên quan đều hiểu chuyện gì đang xảy ra. Ngay lập tức ban lãnh đạo RSHA[48] được triệu tập họp tại thủ đô Đế chế. Tại cuộc họp, các chỉ thị cuối cùng về các nguyên tắc hành động trên lãnh thổ Liên Xô bị chiếm đóng đã được đưa ra. “Ở đây lần đầu tiên tôi được nghe thấy mã hiệu của việc chuẩn bị cuộc chiến tranh chống Liên Xô”, Adolf Eichmann, trưởng phòng IV B 4 của Gestapo hồi tưởng. “Các kế hoạch soạn thảo trước đó đã được công bố, toàn bộ công tác tổ chức, và ở đó các nhóm tác chiến “phía Đông” đã được liệt kê cùng với các đơn vị hoạt động của chúng. Các nhóm tác chiến của cảnh sát trưởng an ninh và SD phải hành quân theo sau các binh đoàn Đức tiến công để lập tức thành lập chính quyền cảnh sát sau mặt trận”.[49] Những nhiệm vụ chính thức của các nhóm trừng giới đã được hình thành như sau:

Nhiệm vụ của cảnh sát an ninh và SD là phát hiện mọi kẻ thù của Đế chế và chiến đấu với chúng vì an ninh của quân đội. Ngoài việc thủ tiêu những đối thủ tích cực, tất cả những phần tử còn lại, những kẻ hoặc do các niềm tin hoặc do quá khứ của chúng mà trong những điều kiện thuận lợi có thể trở thành những kè thù tích cực, phải bị loại bỏ thông qua các biện pháp ngăn ngừa.[50]

Như vậy, các nhóm trừng giới được trao toàn quyền hành động để thủ tiêu tất cả những ai chúng muốn.

Và sự toàn quyền ấy phải được sự đồng ý của lãnh đạo Wehrmacht.

Chỉ vài ngày sau khi phê duyệt các “chỉ thị tội ác” then chốt của OKW, thiếu tướng SS Henrich Muller, chỉ huy Cục 4 của RSHA đã đến gặp tướng Eduard Wagner phụ trách hậu cần của lực lượng lục quân. Cuộc trò chuyện nói về việc sử dụng cảnh sát an ninh và SD trong khu vực quân đội đang hoạt động ở Mặt trận phía Đông; yêu cầu Wehrmacht hỗ trợ các nhóm trừng giới SD trong việc giải quyết “những nhiệm vụ đặc biệt”. Mới một năm trước thôi đơn giản là chẳng ai dám đưa ra đề nghị loại này; còn giờ đây Wagner đã ký thỏa thuận: Wehrmacht cam kết sẽ hỗ trợ SS.[51]

Được khích lệ bởi sự ủng hộ của quân đội, ngay ngày hôm sau 15/5, thống chế SS đã gửi lên Hitler một tờ trình, trong đó kêu gọi giải phóng các vùng đất phía Đông. “Hãy trao đất cho người dân!” Himmler viết. “Chúng ta phải Đức hóa và di dân đến Belarus, Estonia, Latvia, Litva, Ingermanland[52] và Crimea trong vòng 20 năm”.[53] Thuật ngữ “Đức hóa” được hiểu là đưa dân Đức thuần chủng đến sinh sống tại những vùng lãnh thổ bị xâm chiếm; còn cư dân bản địa ư, chỉ có cái chết chờ đợi họ.

Vào lúc này, tại ban tham mưu tác chiến của Bộ tư lệnh tối cao, một văn kiện mới đang được soạn thảo, về sau được biết với tên gọi “Chỉ thị về việc hành xử của quân đội tại Nga”. Chỉ huy ban tham mưu tác chiến OKW, tướng Alfred Jodi, đang cạnh tranh với chi huy bộ tổng tham mưu OKH tướng Halder để giành sự chú ý của Quốc trưởng, vì vậy, Jodi rất không hài lòng khi Halder đi trước ông ta một bước trong việc chuẩn bị các lệnh đặc biệt. Việc thiếu tính linh động đã được đền bù bằng sự thừa thãi tính tàn bạo; theo “Chỉ thị” của Jodi, ở đây không chỉ nói về việc thủ tiêu các cán bộ đảng và tù binh, mà là thủ tiêu tất cả những ai dám chống cự dưới bất cứ hình thức nào. “Chỉ thị” kêu gọi quân đội “chiến đấu mạnh mẽ và không thương tiếc với bọn Bolshevik xúi giục, chống cự, phá hoại, bọn Do Thái, đồng thời đàn áp vô điều kiện bất cứ một sự phản kháng tích cực hay tiêu cực nào”.[54] Ngày 23/5 nó đã nằm trên bàn của Keitel và được phê chuẩn không chậm trễ.

Trong khi ý tưởng dọn sạch bọn hạ đẳng khỏi những vùng đất phía Đông vẫn lơ lửng trong không trung; ngày càng có nhiều gương mặt mới hơn tham gia vào việc lên kế hoạch cho biện pháp cao quý này.

Thống chế Gerd von Rundstedt, một người vốn nổi tiếng vì đã phản đối hành động khủng bố của lực lượng SS ở Ba Lan, lần này lại vượt trội Himmler về sự khát máu. Himmler đã nói về sự cần thiết phải thủ tiêu 30 triệu dân Soviet; thống chế còn đi xa hơn. “Chúng ta phải thủ tiêu ít nhất một phần ba dân số các vùng lãnh thổ chuẩn bị sáp nhập”, Rundstedt bày tỏ niềm tin của mình. “Phương cách tốt nhất để đạt được mục tiêu này là bỏ đói. Cuối cùng thì cái đói sẽ hoành hành tốt hơn một khẩu súng máy, nhất là trong giới trẻ”.[55]

Giới lãnh đạo Đức Quốc xã đồng tình với người hùng của các chiến dịch Ba Lan và Pháp này; đầu tháng 5 diễn ra phiên họp của ban tham mưu kinh tế “Oldenburg”, nơi thảo luận các nhiệm vụ khai thác kinh tế những vùng lãnh thổ Liên Xô bị chiếm đóng.

Tướng Jodi ngồi cạnh bộ trưởng Quốc xã Hermann Goering; cuộc thảo luận không lâu. Mọi người đều hiểu không một lực lượng tiễu phạt nào có thể thủ tiêu nhiều người bằng nạn đói; thư ký đã ghi vào biên bản những luận điểm chính của chính sách chiếm đóng kinh tế ở Mặt trận phía Đông:

Thứ nhất. Chỉ có thể tiếp tục cuộc chiến trong trưởng hợp tất cả các lực lượng vũ trang Đức vào năm thứ ba của chiến tranh sẽ được cung cấp lương thực bằng chi phí của phía Nga.

Thứ hai. Để điều đó xảy ra, lê đương nhiên, hàng chục triệu người sẽ chết đói, nếu chúng ta lấy khỏi đất nước tất cả những thứ cần thiết cho chúng ta”.167

Đấy là những phác thảo sơ lược; ban tham mưu kinh tế của chiến dịch “Ost” do Goering phụ trách đã soạn sẵn những dự thảo chi tiết để phá hủy nền kinh tế Liên Xô.

Việc lựa chọn ra những vùng đất mùn ít nhiều sẽ bảo đảm cho chúng ta trong bất cứ tình huống nào đều có lượng lương thực dư thừa đáng kể tại các khu vực này. Kết quả là ngưng cung cấp cho toàn bộ vùng trồng rừng, những trung tâm công nghiệp lớn – Moskva và Sankt Peterburg… Vài chục triệu người trên lãnh thổ ấy sẽ trở thành dư thừa và chết, hoặc bị buộc phải di cư sang Siberia. Những nỗ lực cứu người dân khỏi chết đói bằng cách gửi tới đó thực phẩm thừa từ những vùng đất mùn chỉ có thể được thực hiện bằng cách giảm nguồn cung của châu Âu. Chúng có thể phá hủy khả năng trụ vững của nước Đức trong chiến tranh và làm suy yếu sức mạnh phong tỏa của nước Đức và châu Âu. Vì vậy, cần tuyệt đối rõ ràng về vấn để này.168

Chỉ thị được trích dẫn của ban tham mưu kinh tế “Ost” được phê chuẩn ngày 23/5 – cùng ngày với “Chỉ thị về cách hành xử của quân đội tại Nga”. Ý đồ của nó đã rõ: nền kinh tế Nga phải bị cố tình làm cho tan rã; nền sản xuất ở các vùng bị chiếm đóng phải bị suy thoái một cách tự nhiên, với sự tồn tại hiếm hoi của những cơ sở công nghiệp phục vụ cho nền công nghiệp Đức. Điều này rất có lợi cho đảng Quốc xã: việc tàn phá cấu trúc đã được sắp xếp của nền kinh tế bảo đảm không chỉ cho việc khai thác hiệu quả các vùng lãnh thổ chiêm đóng, mà còn thủ tiêu hàng chục triệu “bọn hạ đẳng” Liên Xô. Việc thủ tiêu có thể được quy cho những lý do “tự nhiên”.

…Các kế hoạch của cuộc chiến tranh hủy diệt chống lại Liên Xô khủng khiếp đến độ thậm chí Hitler cũng phải kìm nén một số dao động nào đó. Ngày 16/6/1941, bộ trưởng Tuyên truyền Goebbels ghi trong nhật ký của mình:

Quốc trưởng nói, dù đúng hay không, chúng ta cũng phải chiến thắng. Đó là con đường duy nhất. Và nó đúng đắn, đạo đức và cần thiết. Một khi chiến thắng, ai sẽ hỏi chúng ta về các phương tiện chứ. Lương tâm chúng ta chỉ còn mỗi việc duy nhất là phải chiến thắng, bằng không thì dân tộc ta, mà chúng ta là đại diện cho tất cả những gì đáng quý nhất, sẽ bị tiêu diệt. Thế nên, hãy bắt tay vào việc!169

Chỉ còn chưa đầy một tuần trước cuộc tấn công Liên Xô.

Ngày càng nhiều đơn vị mới và mối hơn của Wehrmacht được điều tới biên giới phía Đông của Đế chế.

[1] MNP. Var. 1. Tập 8. Trang 31.

[2] Narochnitskaya N. A. Chúng ta chiến đấu vối ai và vì điều gì. M. Minuvsheye, 2005. Trang 54.

[3] Tiết lộ và thú nhận. Trang 116-118,124-126, 129-130.

[4] Halder F. Nhật ký chiến tranh. Tập 2. Trang 440. Xem xét tình huống này, sử gia Đức Sebastian Huffner đã lưu ý đúng đắn: “Cuộc chiến chống Liên Xô vẫn luôn là mục tiêu ấp ủ của ông ta [Hitler]”. -Tham khảo: Huffner S. Cú tự sát của Đế chế Đức// Thế chiến II: Nhìn từ nước Đức. M.: Eksmo; Yauza, 2005. Trang 350; Huffner S. Cuộc chiến chống nước Nga – “một cuộc chiến đúng đắn”: Một quyết định tự sát // Một cuộc chiến khác, 1939-1945. M.: Đại học Nhân văn Nga, 1995.Trang 125. Tham khảo thêm: Nước Đức trong Thế chiến II, 1939-1945 / Blaker w., Drechsler K., Forster G., Hass G.; Dịch từ tiếng Đức, chủ biên M. I. Semiryagi. M.: Nxb Quân Đội, 1971. Trang 107-108.

[5] Bằng chứng tốt nhất cho luận điểm này là chuyến bay của Hess.

[6] Tham khảo thêm: Sarkisyants M. Nguồn gốc Anh của chủ nghĩa phát xít Đức. Trang 320-321; Killian H. Trong bóng tối của chiến thắng: Bác sĩ phẫu thuật người Đức ở Mặt trận phía Đông, 1941-1943 / Dịch từ tiếng Anh S. Babak. M.: Centrepolygraph, 2005. Trang 320.

[7] Piker H. Những cuộc trò chuyện bên bàn ăn của Hitler tại tổng hành dinh Bộ tư lệnh tối cao Đức (1941-1942), do Heinrich Geim và Henry Picker ghi lại, Henry Picker xuất bản / Dịch từ tiếng Đức I. V Rozanov; Lời tựa I. M. Fradkin (sau đây là ZRG.Var. 1). Smolensk: Rusich, 1998. Trang 27; ZRG. Var. 2. Trang 40; Tiết lộ và thú nhận. Trang 137. Tham khảo hồi ký của Walter Schellenberg: Tiết lộ và thú nhận. Trang 431.

[8] Gorlitz V. Bộ Tổng tham mưu Đức: Lịch sử và cơ cấu, 1657-1945 / Dịch, từ tiếng Anh S. V. Lisogorsky. M.: Centrepolygraph, 2005. Trang 379.

[9] Hitler A. Cuộc chiến của tôi/ Dịch từ tiếng Đức M.: Vityaz, 2000. Trang 556-558

[10] Levit I. E. Sự tham gia của Romania vào cuộc chiến chống Liên Xô / Cuộc thập tự chinh chống nước Nga. M.: Eksmo; Yauza, 2005. Trang 217. Tuyên bố của Hitler được trích dẫn theo ghi chép chính thức của Romania.

[11] Sarkisyants M. Nguồn gốc Anh của chủ nghĩa phát xít Đức. Trang 179.

[12] Cartier R. Những bí mật chiến tranh: Hậu Nürnberg / Dịch từ tiếng Pháp. M.: Veche, 2005. Trang 181.

[13] MNP. Var. 1. Tập 1. Trang 592-593; Tập 3. Trang 547; Var. 2. lạp 1. Trang 478; Tập 2. Trang 566-567; Varlimont V. Tại tổng hành dinh của Hitler, Hồi ký của một tướng Đức, 1939-1945/ Dịch từ tiếng Anh I. A. Igoryevsky. M.: Centrepolygraph, 2005. Trang 172; Haupt V. Tập đoàn quân ”Bắc”. Trang 337; Melnikov D. E., Chyornaya L. B. Băng chuyền tử thần. Trang 379.

[14] ZRG. Var.2. Trang 177.

[15] MNP. Var. 1. Tập 1. Trang 634; Tập 5. Trang 267, 270. Tham khảo: Mục tiêu tội ác… Trang 79; MNP. Var. 1. Tập 3. Trang 456; Padfield P. Thống chế SS. Trang 310; Orlovsky s., Ostrovich R. Erich Koch trước tòa án Ba Lan. Trang 221.

[16] ShneerA. Tù binh… Trang 187.

[17] Dashichev V. I. Chiến lược của Hitler – con đường dẫn đến thảm họa, 1933-1945: Các bút ký lịch sử, hồ sơ và tư liệu. M.: Khoa Học, 2005. Tập 3. Trang 162-167.

[18] ZRG. Var. 2. Trang 91, 212, 309, 339, 398, 566.

[19] MNP. Var. 1. Tập 6. Trang 213.

[20] Halder F. Nhật ký chiến tranh. Tập 1. Trang 135.

[21] Như trên. Trang 135-136. Xem thêm: Trang 180-181.

[22] Messenger c. Vệ sĩ của Hitler. Trang 123.

[23] Halder F. Nhật ký chiến tranh. Tập 1. Trang 314.

[24] MNP. Var. 1. Tập 7. Trang 667. Đồng thời, có tin đồn về việc người Ba Lan đã dàn dựng trong thành phố một cuộc tàn sát người Đức, còn khi quân Đức vào thành phố ngày 05/9 họ đã bắt gặp “hàng trăm tử thi lính Đức” (Mellentin E von. Những trận chiến xe tâng, 1939-1945 / Dịch từ tiếng Đức M.: AST; St. Petersburg: Polygon, 2003. Trang 23). Trên thực tế, theo nhật ký của Halder, thành phó đã thất thủ từ ngày 03/9.

[25] Messenger c. Vệ sĩ của Hitler. Trang 123.

[26] Cuộc chiến tranh Đức chống Liên Xô. Trang 40. Xem thêm: Plenkov O. Yu. Đệ tam Đế chế. chiến tranh. Quyển 1. Trang 82, 86; Wette w. chiến tranh hủy diệt. Trang 5-6; Gorlitz V. Bộ Tổng tham mưu Đức. Trang 345-346; Buchheit G. Abwehr – thanh kiếm và lá chắn của Đệ tam Quốc xã: Tình báo quân đội Đức, 1918-1944 / Dịch từ tiếng Đức Yu. Nepodaev; Lời tựa T. Gladkov. M.: Eksmo; Yauza, 2005. Trang 216.

[27] Keitel V. Hồi ức của một thống chế: Thắng lợi và thất bại của Wehrmacht, 1938-1945 / Dịch từ tiếng Anh. P. Yu. Nikishov. M.: Centrepolygraph, 2004. Trang 161; Halder F. Nhật ký chiến tranh. Tập 2. Trang 522.

[28] Halder E Nhật ký chiến tranh. Tập 2. Trang 522.

[29] MNP. Var. 1. Tập 4. Trang 99-100; Utkin A. I. Nước Nga trên bờ vực thẳm… Trang 288; Halder E Nhật ký chiến tranh. Tập 2. Trang 522.

[30] Keitel V Hổi ức của một thống chế… Trang 162; Tiết lộ và thú nhận. Trang 350.

[31] Warlimont w Tại tổng hành dinh của Hitler. Trang 181.

[32] Wette V Wehrmacht của Hitler. Trang 272; Wette V. Chiến tranh hủy diệt. Trang 3.

[33] Streit K. Đừng coi họ là lính… Trang 33-34.

[34] Như trên. Trang 32; Cuộc chiến hủy diệt ở Mặt trận phía Đông. Trang 21.

[35] MNP. Var. 1. Tập 4. Trang 102-103; Var. 2. Tập 3. Trang 22-24.

[36] MNP, Var. 1. Tập 4. Trang 93; Var. 2. Tập 3. Trang 13; Cuộc chiến hủy diệt ở Mặt trận phía Đông. Trang 29.

[37] Mục tiêu tội ác… Trang 171; MNP. Var. 2. Tập 3. Trang 14.

[38] Streit c. Đừng coi họ là lính...Trang 41.

[39] ShneerA. Tù binh… Trang 174.

[40] Buchheit G. Abwehr – thanh kiếm và lá chắn của Đệ tam Đế chế. Trang 250.

[41] MNP. Var. 1. Tập 4. Trang 201; Dashichev V. I. Chiến lược của Hitler… Tập 3. Trang 24-25.

[42] Streit c. Đừng coi họ là lính… Trang 35. Những ai muốn có thể so sánh những lời bào chữa dài dòng của tướng Warlimont với sự rõ ràng trong cách diễn đạt của các bản báo cáo của ông ta “Lệnh về các chính ủy”. Tham khảo: Warlimont W. Tại tổng hành dinh của Hitler. Trang 184-189;Dashichev V. I. chiến lược của Hitler… Tập 3. Trang 24-25.

[43] MNP. Var. 1. Tập 4. Trang 288-290; Tập 7. Trang 300-301.

[44] MNP. Var. 1. Tập 5. Trang 115-116; Var. 2. Tập 3. Trang 241; Cuộc chiến hủy diệt ở Mặt trận phía Đông. Trang 42.

[45] Wette W. chiến tranh hủy diệt. Trang 3.

[46] Streit C. Đừng coi họ là lính… Trang 35.

[47] Lang J. von. Các biên bản của Eichmann: Ghi âm các cuộc thẩm vấn tại Israel / Lời bạt A. Less; Dịch từ tiếng Đức M. Chernenko. M.:Text, 2002. Trang 78-79.

[48] MNP. Var 1. Tập 7. Trang 209.

[49] Schneer A. Tù binh… Trang 415; Wette w Chiến tranh hủy diệt. Trang 3; Dickson, C. o., Heilbrunn O. Phong trào du kích cộng sản. Trang 136-138; Melnikov D. E., Chyornaya L. B. Băng chuyền tử thần. Trang 376-378.

[50] Kovalev B. N. Sự chiêm đóng của Đức Quốc xã và hợp tác với địch tại Nga, 1941-1944. M.: AST; Transitbook, 2004. Trang 183.

[51] Streit C. Đừng coi họ là lính… Trang 36.

[52] Schneer A. Tù binh… Trang 187. Sau chiến tranh, dĩ nhiên thống chế đã quên bẵng những phát biểu ăn thịt người của mình. “Tôi luôn là người ủng hộ sự hiểu biết lẫn nhau với Nga, như những gì chúng ta đã có dưới thời tướng von Sect”, ông ta đã giải thích như thế với các nhà điều tra Mỹ trong các cuộc thẩm vấn (Pechatnov V. Quang cảnh sau trận chiến: Nước Đức bại trận qua con mắt của người Mỹ //Nước Nga XXL 2005. Số 3. Trang 186).

[53] MNP. Var. 1. Tập 2. Trang 166; Tập 3. Trang 556; Tập 4. Trang 361; Cuộc chiến tranh Đức chống Liên Xô. Trang 44; Dashichev V. I. Chiến lược của Hitler… Tập 3. Trang 23.

[54] Cuộc chiến tranh Đức chống Liên Xô. Trang 45; MNP. Van 1. Tập 4. Trang 279-282.

[55] Tiết lộ và thú nhận. Trang 308; Cuộc chiến tranh của Đức chống Liên Xô. Trang 48; Rzhevskaya E. M. Goebbels… Trang 264.

Nguồn: tve-4u
Được bạn: Mọt Sách đưa lên
vào ngày: 23 tháng 8 năm 2026

« Lùi Tiến »

💬 Thảo luận (1)

saomai1268
saomai1268 23.08.2026 05:41
🔗 Xem tác phẩm: Người Xô Viết Đã Chiến Đấu Vì Điều Gì

Một dân tộc đã trải qua tất cả những điều này đang làm một hành động tàn ác tương tự với chính anh em mình, trên mảnh đất cũng từng bị đức quốc xã giày xéo. Thật không hiểu tại sao họ lại hành xử như vậy? những cái chết trên đất ukraina và đất Nga trong thế kỉ 21 này thật vô nghĩa, chẳng biết họ nhân danh cái gì để hàng ngày, hàng đêm dội tên lửa vào đầu nhau và ngồi đếm chiến tích là sự tàn phá, chết chóc. Họ đang làm kiệt quệ chính mình, vả những cái tát vào chính những gì mà họ từng tự hào, gìn giữ... Đáng thương thay cho dân tộc Nga và Ukraina. Năm phút mặc niệm cho những người đã nằm xuống và sẽ nằm xuống vì cuộc chiến ngu xuẩn này.
Xem trên diễn đàn »
Đăng nhập để tham gia bình luận.