Người Xô Viết Đã Chiến Đấu Vì Điều Gì

Lượt đọc: 184 | 0 Đánh giá: 0/10 Sao
★★★★★★★★★★
★★★★★★★★★★
« Lùi Tiến »
Chương V: “Không phát sinh khó khăn gì với người dân…”
Những tiếng nói chân thực (3): “Tôi chỉ thấy cái chết khủng khiếp…”

❊ ❊ ❊

Quân Đức tới thôn Yaskino gần Smolensk vào một ngày mưa thu. Chúng bao vây thôn và xua người dân ra khoảng đất trống. Sau đó chúng chọn ra tất cả đàn ông và đem bắn ở rìa làng. Đàn ông, nói cho to tát thế thôi, chứ lúc đó trong thôn chỉ còn toàn ông già và thiếu niên. Xác họ nằm trong bùn bẩn, chung quanh những phụ nữ gào khóc thảm thương, thôn bị đốt trụi, lửa bốc từ ba phía.

Tại thôn Pochinok cách đó không xa, chẳng còn ai để mà khóc. Quân tiễu phạt Đức đã xua toàn bộ dân làng vào văn phòng điều hành nông trang, chặn cửa bằng nhũng cây cọc rồi phóng hỏa. Những ông già bà lão, phụ nữ và trẻ em lăn lộn trong lửa; tiếng thét rùng rợn của những người bị thiêu sống vang vọng khắp vùng, quân tiễu phạt đứng ngắm việc do tay chúng gây ra, chỉ có bầu trời khóc thương cho những người đang chết.[1]

Nhiều năm sau, tướng Herman Geyer, tư lệnh quân đoàn 9 bộ binh, khi mô tả hoạt động chiến sự của các đơn vị mình gần Smolensk, nhân đó đã nhận xét: “Nói chung không phát sinh khó khăn gì với người dân, vì chúng tôi đã kịp thời ban hành những mệnh lệnh nghiêm khắc”.[2] Những lời ấy là tinh túy của chính sách hủy diệt đã được quân phát xít thực hiện với người dân tại các tỉnh chiếm đóng.

Ngay từ đầu chiến tranh, quân Đức đã được phép thực hiện bất kỳ tội ác nào đối với thường dân tại các vùng lãnh thổ chiếm đóng. Chỉ một đoạn sắc lệnh “Về thủ tục tố tụng quân sự” đã miễn trừ trách nhiệm cho binh lính Đức khỏi tội giết người và hãm hiếp; còn đoạn khác tước hết mọi quyền của công dân Soviet sống dưới ách chiếm đóng. Giờ đây có thể bắn giết tùy tiện vì bất cứ lầm lỗi thật hay giả nào.

Chẳng có gì ngạc nhiên khi ngay từ những ngày đầu chiến tranh, quân đội Wehrmacht đã thể hiện sự tàn bạo đương nhiên với thường dân vô tội. “Công cuộc chiếm đóng làng mạc và thành phố thường bắt đầu bằng việc dựng các giá treo cổ, tại đó bọn đồ tể Đức sát hại những thường dân vô tội đầu tiên rơi vào tay chúng. Đồng thời quân phát xít vẫn để người bị treo trên giá nhiều ngày, thậm chí nhiều tuần. Chúng cũng làm thế với những ai chúng bắn trên đường tại các thành phố và làng mạc, bỏ mặc xác chết nhiều ngày không được thu dọn”, tình báo du kích đã báo cáo với Moskva,[3] còn một viên tướng Đức đã giải thích hành động của thuộc cấp trong báo cáo gửi bộ chi huy như sau:

Lính Đức không thể xem cư dân đất nước này như những con người bình đẳng… Liên quan tới điều đó là những đám cháy thường xuyên và sự phá hủy tại các thành phố – quá thường xuyên và quá quy mô so với tại Ba Lan và Pháp.[4]

Thật vậy, con người không thể xem súc vật là bình đẳng, mà bọn hạ đẳng Soviet gần như là súc vật. “Những cánh thư tới được tay chúng tôi từ mặt trận”, các đài phát thanh loan báo khắp nước Đức, “chứng minh rằng cuộc chiến ở Mặt trận phía Đông không phải là một chế độ chính trị chống lại chê độ khác, không phải thế giới quan này chông lại thế giới quan khác, mà là văn hóa, văn minh và phẩm giá con người chống lại những nguyên tắc quỷ dữ của bọn hạ đẳng”.[5]

Vả chăng, nói gì súc vật! Người Nga còn ghê tởm hơn nhiều. Gần Kherson một mảnh đạn pháo đã giết chết con chó của chỉ huy tiểu đoàn trinh sát Leibstandarte SS của thiếu tá Meyer. Meyer đã trả thù cho con chó của mình như cho một người Aryan thực thụ: dồn hơn 30 người dân địa phương ra quảng trường rồi đích thân bắn họ.[6] Chẳng lẽ một con chó của người Aryan lại không đáng giá hơn những con lợn Nga?

Chạy qua một thôn gần Velizh, binh lính của một đơn vị thuộc trung đoàn 11 sư đoàn cơ giới 14 quyết định giải khuây đôi chút. Dưới sự chỉ huy của một trung úy, chúng lùa cư dân ở những ngôi nhà gần đấy ra, trong đó có phụ nữ và trẻ em, rồi ném họ xuống sông. Những ai không chết đuối, chúng ném đá, những ai cố bơi đi, chúng bắn. Không ai sống sót.[7]

Dân chúng thôn Bolshaya Beryozka gần Bryansk đã trốn vào rừng khi thấy quân Đức tới. Họ được lệnh quay về. “150 người già, phụ nữ và trẻ em đã quay về nhà. Sau đó chúng dồn họ vào kho lúa nông trang, đâm tất cả bằng lưỡi lê và đập bằng báng súng. 11 đứa trẻ ở độ tuổi 12-13 bị chôn sống”.[8]

Những binh lính giải khuây gần Velizh, Bryansk và ở Ostrova, cùng nhiều trăm ngàn người như chúng thuộc chủng tộc Quốc xã chúa tể. “Chúng ta sẽ tạo ra con người kiểu mới, một chủng tộc chúa tể và một dòng dõi phó vương”, Hitler có lần đã phát biểu như thế về việc này và dường như sực nhớ ra, bổ sung thêm. “Dĩ nhiên, không thể nói về việc sử dụng ở Mặt trận phía Tây những con người loại đó!”[9] Lời bổ sung ấy hết sức quan trọng: chủng tộc chúa tể ở Mặt trận phía Đông đã gây ra những tội ác mà chỉ cần chúng phạm phải những tội ác tương tự đâu đó ở Mặt trận phía Tây, ắt hẳn người châu Âu sẽ khắc ghi thảm trạng ấy vĩnh viễn.

Khi mặt trận tiến về phía trước, người dân những khu vực bị chiếm đóng lúc đầu ngỡ rằng điều tồi tệ nhất đã qua. Những đơn vị Wehrmacht đã rời đi, và có thể hy vọng tất cả những gì đã xảy ra – hãm hiếp, cướp bóc, bắn giết hàng loạt – chỉ là những sự cố không tránh khỏi trong chiến tranh. Thay cho tình trạng hỗn loạn của chiến tranh, một trật tự nào đó cũng sẽ tới.

Trật tự quả thật đã tới – song đó lại là trật tự Quốc xã.

Theo những kế hoạch đã vạch trước chiến tranh, toàn bộ chính quyền quân sự chiếm đóng trên những vùng lãnh thổ Soviet bị xâm lược ban đầu đã được chuyển cho ban chỉ huy quân sự. Các chỉ huy ở hậu phương các tập đoàn quân được đích thân Quốc trưởng bổ nhiệm và hoạt động theo các chỉ thị của ông ta, được truyền qua tham mưu trưởng OKW. Nghĩa vụ của họ là bảo đảm an ninh trên lãnh thổ chiếm đóng.[10]

Một trong những nhân vật này là tướng bộ binh Karl von Roques, chỉ huy hậu phương tác chiến của Tập đoàn quân “Nam”. Ngày 14/6 ông ta ban hành lệnh, theo đó tất cả nam giới trên lãnh thổ chiếm đóng đều bị giam trong các trại tập trung đành cho tù binh.

Tù binh Hồng quân trong trang phục dân sự đang quanh quần trên các con đường hoạt động chiến sự và trước hết là đang lang thang trong các thành phố lớn, cần bắt giữ… Cần đối xử với những người bị bắt như với tù binh chiến tranh… Đối tượng dân sự nào phủ nhận có liên quan tới Hồng quân thì đối xử với chúng như với du kích quân.[11]

Cách tiếp cận như sau: nếu người nam ở lứa tuổi quân dịch bị bắt không nhận mình là lính Hồng quân, người đó sẽ bị bắn như một du kích quân; còn nếu thừa nhận – sẽ bị đưa vào trại tập trung. Tuy nhiên, nhiều tướng Đức trong các lệnh đã nói thẳng thừng hơn Karl von Roques: “Bắt giữ tất cả đàn ông có khả năng mang vũ khí và đưa đến các trạm tập trung tù binh”, thiếu tướng Walther Nehring, tư lệnh sư đoàn thiết giáp 18 ra lệnh.[12] Nhờ sáng kiến này, số tù binh trong báo cáo của OKW tăng liên tục, gợi nên sự thán phục cho các tuyên truyền viên của Goebbels. Không thể tính được có bao nhiêu thường dân vô tội bị xua vào các trại tập trung tù binh; chỉ riêng một trại tại Minsk dành cho 100.000 binh lính và chỉ huy bị bắt, theo các số liệu của Đức, đã có 40.000 thường dân “tuổi từ 15 đến 50”.[13] Và chỉ trong sáu tháng của năm 1941, có thể suy ra từ các số liệu gián tiếp là hơn 1 triệu thường dân đã bị ném vào các trại tù binh, đa số họ đã bỏ mình ở đó.

Những hoạt động đầu tiên của chính quyền chiếm đóng là như thế.

Tuy nhiên, lúc đầu không phải tất cả các sĩ quan Wehrmacht đều hiểu rằng ở Mặt trận phía Đông đang tiến hành một cuộc chiến đặc biệt, chiến tranh hủy diệt. Vì thế vào những tháng đầu tiên phổ biến một thực tiễn, khác về cơ bản so với các chỉ thị từ Berlin. Các chỉ huy quân sự địa phương bắt đầu thả những đàn ông bị đưa vào trại tù, nếu họ có vợ hoặc người thân của đến lãnh; đồng thời có khi chúng tha không những chỉ thường dân, mà còn cả lính Hồng quân may mắn bị bắt tại quê hương của họ.

Ngoài ra, tại một số khu vực bị chiếm đóng, thay vì giam giữ tất cả đàn ông có khả năng lao động, những cách tiếp cận khác đã được áp dụng. Chẳng hạn, tướng Albert Wodrig, tư lệnh quân đoàn 26, đã chỉ thị chia dân chúng trên lãnh thổ ông ta quản lý ra thành ba loại.

Loại thứ nhất gồm các nhà hoạt động nhà nước và đảng, các đại biểu hội đồng nhân dân cấp địa phương và cấp huyện, các “đương sự, nằm trong danh sách du kích”. Khi phát hiện phải lập tức bắn bỏ.

Loại thứ hai gồm những đảng viên cộng sản, đoàn viên thanh niên, các chủ tịch nông trang tập thể và nông trường quốc doanh, các “đương sự không có nơi cư trú cố định”, những người che giấu tài sản kinh tế và kích động bất tuân chính quyền chiếm đóng. Trại tập trung đang chờ họ.

Loại thứ ba gồm các cư dân “công khai thể hiện sự chống đối thụ động”, trốn tránh lao động bắt buộc hoặc tham gia tụ tập và hội họp. Với những đối tượng này sẽ áp dụng hình phạt “bắt giữ và đánh đập”, trong trường hợp tái phạm sẽ bị giam trong trại tập trung.[14]

Thế nhưng chẳng bao lâu sau những biểu hiện của chủ nghĩa nhân đạo đáng ngờ như thế đã bị ngăn chặn, còn quân đội Đức nhận được lệnh chuyển từ việc cách ly những bộ phận tích cực hơn của người dân Soviet trong các trại tập trung sang các hoạt động thủ tiêu.

Lệnh được ban xuống từ bộ tư lệnh tối cao. Đúng một tháng sau khi xâm lăng Liên Xô, thống chế Keitel đã ký chỉ thị liên quan đến người dân các vùng lãnh thổ bị chiếm đóng. “Quân đội được phân bố để thực hiện nhiệm vụ an ninh ở những khu vực phía Đông đã chiếm đóng”, Keikel viết, “chỉ đủ để hoàn thành nhiệm vụ trong trường hợp nếu bất cứ sự kháng cự nào sẽ bị loại bỏ không phải bằng hình phạt pháp lý đối với người vi phạm, mà bằng cách gieo rắc sợ hãi và kinh hoàng từ phía chính quyền chiếm đóng, vốn sẽ dập tắt bất cứ mong muốn phản kháng nào… Các chỉ huy phải tìm cách bảo đảm trật tự tại các khu vực chiếm đóng, không bổ sung các đơn vị an ninh mới mà phải áp dụng những biện pháp hà khắc thích hợp”.[15]

Hai hôm sau, bộ tham mưu OKH đã cụ thể hóa những chi thị này. Quân đội chỉ huy ở hậu phương các tập đoàn quân nhận được những chỉ thị đặc biệt về cách đối xử với thường dân và tù binh.

Việc mở rộng đáng kể không gian hoạt động ở Mặt trận phía Đông, sự xảo quyệt và đặc thù của đối thủ Bolshevik, đặc biệt tại các vùng lãnh thổ thuần Nga, ngay từ đầu đã đòi hỏi những biện pháp rộng rãi và hiệu quả để quản lý và sử dụng phần lãnh thổ chiếm đóng.

Biết rằng không phải mọi nơi đều hoạt động với sự nghiêm ngặt cần thiết. Một phần điều đó được lý giải bằng việc các tổ chức và quân đội mới được đưa vào sử dụng vẫn chưa được huấn luyện đầy đủ…

Việc bình định nhanh chóng cần thiết một đất nước chỉ có thể đạt được trong trường hợp bất cứ mối đe dọa nào từ phía dân chúng có tâm trạng thù địch sẽ bị loại trừ thẳng tay. Bất cứ một sự khoan nhượng hay thiếu cương quyết nào cũng là sự nhu nhược tượng trưng cho hiểm họa…

Ở đâu xuất hiện sự chống đối tiêu cực hoặc ở đâu xuất hiện những vụ tắc đường, bắn súng, tấn công hay những hành động phá hoại khác, phải lập tức phát hiện kẻ vi phạm, và nếu không trừng phạt đích đáng, thì phải nhanh chóng áp dụng những biện pháp bạo lực tập thể trên cơ sở mệnh lệnh của sĩ quan giữ vị trí từ tiểu đoàn trưởng trở lên. Dứt khoát chỉ rõ rằng không đòi hỏi phải bắt giữ trước các con tin nhằm ngăn chặn những hành động vi phạm luật pháp có thể. Người dân chịu trách nhiệm cho sự yên bình trên lãnh thổ của mình không cần những cảnh báo hay bắt giữ đặc biệt…

Bất cứ sự ủng hộ hay giúp đỡ nào của thường dân cho du kích, cho những binh lính lạc đơn vị, v.v. đều phải bị trừng phạt như chính hoạt động du kích.

Những phần tử tình nghi chưa bị kết án trong những vụ tội phạm nghiêm trọng, nhưng quan điểm và hành vi tỏ ra nguy hiểm, phải được chuyển giao cho các nhóm tác chiến, tức các đơn vị cảnh sát an ninh và SD. Nghiêm cấm công dân đi lại mà không có giấy phép thích hợp.[16]

Gần như cùng lúc thống chế SS cũng ban hành chỉ thị tương tự với tên gọi “Những nhiệm vụ chính của việc rà soát và kiểm tra các vùng đầm lầy”. “Nếu người dân có thái độ thù địch từ quan điểm dân tộc, còn trong quan hệ con người và chủng tộc tỏ ra thấp kém hoặc thậm chí có thể đang ủng hộ quân du kích, như thường xảy ra giữa những vùng đầm lầy nơi bọn tội phạm ẩn náu, thì tất cả bọn chúng phải bị xử bắn”, Himmler chỉ thị.[17]

Như thế, các đơn vị Wehmacht được sử dụng để bảo vệ hậu phương lẫn những nhóm SS nhận cùng một nhiệm vụ là bắn càng nhiều dân càng tốt. Vì vậy không có gì ngạc nhiên khi binh lính Wehrmacht và quân SS hợp tác với nhau chặt chẽ. Chẳng hạn, tại thành phó Avgustova của Belorus, những vụ xử bắn được hợp tác thực hiện: ngoài quân SS, biệt đội trinh sát của sư đoàn 87 bộ binh cũng tham gia. Binh nhì Fritz Goiseler nhớ lại: “Bằng cách nào đó trong một ngày đã bắn 269 người. Đó là người Belarus, Nga, Do Thái và Ba Lan, trong đó có 14 đàn bà và con gái. Những người bị kết án tử được giải thành từng nhóm 25 người tới con mương… và bị bắn từng cặp… Nếu ai đó còn sống, quân SS sẽ kết liễu nốt”.[18]

Bộ tham mưu OKH than phiền về việc “quân đội chưa được huấn luyện đầy đủ”, vì vậy mà các đơn vị chiếm đóng có lúc chưa thể hiện được sự ác liệt thích đáng. Thê nên những khóa huấn luyện đặc biệt cho binh lính của những đơn vị Wehrmacht phục vụ ở hậu phương đã được tiến hành, nơi chúng được giảng giải các nguyên tắc hoạt động tại những vùng lãnh thổ Soviet bị chiếm đóng. “Tại các khóa học”, Retzlaff Reinhard, hạ sĩ Wehrmacht, đã kể lại, “thậm chí đã tổ chức một số bài giảng của các sĩ quan lãnh đạo cảnh sát dã chiến mật của Đức, những người trực tiếp khẳng định các dân tộc Soviet, và người Nga nói riêng, là những kẻ thấp kém và phải bị thủ tiêu trong đa số các trường hợp, còn ở một mức độ đáng kể phải được sử dụng như nô lệ. Cần phải thừa nhận là những chỉ thị xuất phát từ chính sách của nhà cầm quyền Đức liên quan đến người dân ở các vùng bị chiếm đóng này đã được mỗi nhân viên quân sự Đức, trong đó có tôi, triệt để thực hiện trong công tác thực tể”.[19]

Tuy nhiên, vào mùa hè năm 1941, những nỗ lực chính của quân SS và các đơn vị bảo vệ Wehrmacht tập trung vào việc thủ tiêu tù binh chiến tranh và người Do Thái; dòng người Nga, Belarus và Ukraina bị đưa tới di trú trên những vùng đất chiếm đóng, vẫn chưa đến.

Việc thủ tiêu cư dân địa phương được tiến hành vẫn chưa mang tính phổ biến cũng như mục tiêu: chỉ thủ tiêu những người dân mà theo đánh giá của Đức Quốc xã là trung thành với chính quyền Soviet.

Thế nhưng kể cả những ai không có thiện cảm đặc biệt với chính quyền Soviet cũng rất nhanh chóng hiểu rằng quân phát xít đối với họ như với loài súc vật nào đó. Hành động của quân chiếm đóng đã nói rõ hơn bất cứ thứ tuyên truyền nào; những người Đức chưa bị tiêm nhiễm nọc độc của thế giới quan phát xít đều cảm thấy kinh hoàng.

“Tôi tới nước Nga, tại Berdichev”, Hans Prudhoff, nhân viên quân sự của sư đoàn 11 thiết giáp, nhớ lại. “Dọc đường tôi thấy tù binh Nga bị đánh bằng báng súng chỉ vì họ nhận nước từ cư dân địa phương… Các sĩ quan Đức đánh phụ nữ Nga bằng gậy, đuổi họ đi làm những công việc đường phố. Con của những phụ nữ này trong giờ làm việc bị khóa trong nhà. Những đồ đạc cuối cùng còn lại của dân chúng, đã bị phá hủy, còn người dân đơn giản là bị đuổi ra khỏi nhà của họ, bởi lẽ “chủng tộc văn minh” Đức không thể sống chung một mái nhà với bọn hạ đẳng Nga…”.[20]

“Có một chuyện tôi không thể nào quên”, một phụ nữ tại khu định cư Bukov của Ukraina kể lại. “Có hai đứa bé chừng bốn và hai tuổi đang đi trên đường, phía sau một chỉ huy Đức đang đi trên xe ngựa. Bọn trẻ đã tránh ra, nhưng tên người Đức đã kịp chụp tay đứa nhỏ hơn và bằng hết sức ném nó vào cái rãnh bên đường. Làm gãy tay đứa bé”.[21]

Ở trung tâm Kharkov, quân phát xít giết chết một cậu bé 12 tuổi. Cậu bé giấu hai chiến sĩ Hồng quân trong nhà kho. Ai đó đã tố cáo, cậu bé bị tra tấn, lần lượt bị chặt các ngón tay. Hiện nay tại nơi ấy có một đài tưởng niệm, một trong những nấm mồ được gọi là “mộ trẻ em”.[22]

Những vụ cướp bóc diễn ra: các đơn vị hậu phương không có ý định từ chối chiến lợi phẩm. “Tại thành phố Lyuban các sĩ quan và binh lính sục sạo khắp nhà dân địa phương để tìm máy hát đĩa và máy may, thể hiện sự nhiệt tình đặc biệt trong việc lùng sục”, tình báo Soviet báo cáo về Trung ương. “Chúng đưa những thứ cướp được về Đức trong bưu kiện”.[23] Chúng cướp cả ở những nước cộng hòa Baltic tương đối trung thành với quân chiếm đóng; ở đó quy mô cướp bóc lớn đến mức làm phiền lòng cả tổng tham mưu trưởng lục quân. Halder đã ghi trong nhật ký: “Đại tá Gall (tham mưu trưởng quân khu 1) trình diện để báo cáo… Ông ta thông báo những sự kiện đáng tiếc về các vụ cướp bóc do binh lính Đức thực hiện ở Litva và việc họ gửi những ‘chiến lợi phẩm’ cướp được về nhà”.[24]

“Dân chúng địa phương rên xiết”, tình báo du kích đã báo cảo, “vì việc cướp bóc quá mức của quân chiếm đóng. Những đơn vị tiền tiêu đi qua điểm dân cư, đôi khi phân phát tài sản hợp tác xã cho nông dân địa phương (thôn Ivanovskoye thuộc tỉnh Kanilin), nhưng các đoàn quân thứ hai, theo sau các đoàn đầu tiên, đã tước đoạt toàn bộ. Quân Đức đã tịch thu gia súc, quần áo ấm, đồ vải của dân cư các thôn Popovka, Orekhovka, và sự kiện đó không phải riêng lẻ, mà là hàng loạt… Nên ấn tượng đầu tiên mà quân Đức muốn tạo dựng với cư dân địa phương như những ‘binh lính gương mẫu’ đã biến mất như trong chuyện thần thoại”.[25]

Những vụ cưỡng hiếp và giết người sau đó vẫn tiếp tục. “Chúng tôi dừng lại nghỉ đêm tại một thôn ở Tây Nam Velikiy Luk”, hạ sĩ Albert Niederviser thuộc sư đoàn cận vệ 201 nhớ lại. “Trong ngôi nhà có một phụ nữ và một cô giáo sinh sống. Nữ giáo viên là một cô gái đẹp như tranh, tuổi độ đôi mươi. Chỉ huy tiểu đoàn thiếu tá Kunhold và trung úy Alex người Đức ở Volga sống trong nhà này. Buổi sáng từ ngôi nhà vang lên những phát súng, sau đó ngôi nhà bốc cháy. Tất cả chúng tôi đều cho rằng ở đó đã xảy ra tội ác đối với phẩm giá phụ nữ, sau đó người đàn bà và cô giáo đã bị bắn…”.[26]

Tại những thành phố lớn, những nhà thổ thường trực được tổ chức. Đó là một thực tế bình thường của Wehrmacht. Nhưng nếu như tại những nước châu Âu các nhà thổ của Wehrmacht được hình thành ít nhiều tự nguyện, thì trên đất Soviet quân chiếm đóng không có ý định thể hiện sự tế nhị đó. Phần lớn các cô gái và phụ nữ bị gom về đấy một cách cưỡng ép, những cảnh tượng mà người dân phải sống trong vùng chiếm đóng nhớ mãi. Chẳng hạn, tại Smolensk, phụ nữ bị kéo tay, túm tóc, lôi dọc vỉa hè đến nhà thổ sĩ quan, được tổ chức trong một khách sạn.[27] Nếu không chịu ở lại nhà chứa sẽ bị bắn.[28]

Sau khi Hồng quân đánh bật quân Đức ra khỏi Kerch, một cảnh tượng hãi hùng đập vào mắt lính Hồng quân: “Trong sân nhà tù phát hiện một đống không ra hình thù thi thể các thiếu nữ trần truồng bị cắt xẻo, bị quân phát xít hành hạ dã man và vô liêm sỉ”.[29] Lâu lắm về sau may mắn thoát khỏi sự trừng trị, thống chế Erich von Manstein, người mà quân của ông ta đã lưu dấu ấn quá nổi bật tại Kerch, đã ghi trong hồi ký rằng ông ta đã ngăn chặn những tội ác kiểu này và thậm chí đã xử tử hai tên lính hãm hiếp và giết một bà già.[30] Khó thể đánh giá tuyên bố kiểu này là gì khác hơn một sự nhạo báng vô liêm sỉ.

Tuy nhiên, binh lính hậu phương cũng không bỏ qua bạo lực riêng lẻ. Nữ sinh trung học M. Kolodetskaya tại thành phố Tikhvin tỉnh Leningrad bị thương vì mảnh đạn lạc được đưa vào bệnh viện. Bệnh viện nằm trong một tu viện cũ; binh lính Đức đóng ở đó không thể bỏ qua một cơ hội may mắn như thế. Như sau này các nhân chứng kể lại, “mặc cho vết thương, Kolodetskaya đã bị một nhóm lính Đức hãm hiếp, nguyên nhân chính gây ra cái chết của cô”.[31]

Đến mùa thu năm 1941 nạn khủng bố của quân chiếm đóng gia tăng. Tìm hiểu tâm trạng dân chúng địa phương theo kiểu “người thật việc thật” chứ không qua chuyện kể của những kẻ bạch vệ đào thoát, chính quyền Đức rút ra cho mình những kết luận rất không dễ chịu. Có lòng căm thù nào đâu đối với chủ nghĩa Bolshevik! Có sự biết ơn nào đâu cho việc giải thoát khỏi chính quyền Soviet! “Người dân nói năng hết sức chừng mực. Những người thuộc thế hệ lớn tuổi dễ tiếp cận hơn, và nếu nói chuyện riêng với họ, họ biểu hiện sự căm ghét hệ thống Bolshevik cũ… Nhóm lứa tuổi nguy hiểm nhất là từ 17 đến 21 tuổi. Hết 99% chúng bị tiêm nhiễm và phải bị loại bỏ khỏi danh sách sống…”.[32]

Nói là làm. Ngày 16/9 thống chế Wilhelm Keitel đã ký lệnh về cuộc chiến chống du kích.

Các biện pháp được thực hiện cho đến nay để chống lại phong trào cộng sản này vẫn còn chưa đủ. Nay Quốc trưởng ban hành mệnh lệnh để chúng ta cùng bắt tay vào hành động, vận dụng những phương tiện khắc nghiệt nhất đề nghiền nát phong trào này trong thời gian ngắn nhất. Chỉ có thể vãn hồi trật tự theo cách mà những dân tộc vĩ đại trong suốt chiều dài lịch sử đã truyền bá ảnh hưởng của họ.

Những hành động được sử dụng trong việc này phải phù hợp với những hướng dẫn nêu dưới đây:

a) bất kỳ phát biểu nào chống lại chính quyền chiếm đóng Đức phải được xem như biểu lộ mưu toan cộng sản bất kể hoàn cảnh cụ thể nào;

b) để bóp nghẹt những đòn công kích này từ trong trứng nước, cần phải áp dụng những biện pháp hà khắc nhất ngay từ những biểu hiện đầu tiên để gìn giữ uy tín của các lực lượng chiếm đóng. Ngoài ra, không được quên rằng ở những quốc gia đã nêu, mạng sống con người chẳng đáng giá gì, và chúng ta được quyền thể hiện sự tàn bạo chưa từng có đề đe nẹt người dân…

Quân đội trên những lãnh thổ chiếm đóng phải bảo đảm sao cho các nguyên tắc này được thông báo tức thì đến tất cả các tổ chức quân sự có liên quan tới các biện pháp chống lại phong trào nổi dậy cộng sản.[33]

Bộ tư lệnh tối cao Wehrmacht đã yêu cầu “sự tàn bạo chưa từng có”; nên những hành động của các đơn vị bảo vệ địa phương quả thật làm kinh hãi ngay cả các sĩ quan Đức. Đi ngang qua Staraya Rossia, bác sĩ phẫu thuật quân y Hans Killian đã chứng kiến một cảnh tượng khiến ông ta khiếp đảm tận đáy lòng. Ở một giao lộ tôi vô tình ngước mắt lên. Trên ban công một tòa nhà đong đưa thi thể ba người bị treo cổ, tả tơi trong dúm quần áo rách nát. Gustel cũng nhận thấy. Run rầy bấu chặt vô lăng, cậu ta tiếp tục lái xe. Bức tranh kinh tởm cứ theo sát gót chúng tôi. Trên mỗi cột đèn chúng tôi lại phát hiện những người bị treo cổ mới, đầu gục sang bên, lưỡi thè ra. Nhìn vào chúng tôi là những gương mặt xám-xanh với những đôi mắt đóng băng, hướng về khoảng không vô định”.[34]

Những cái giá treo cổ trở thành một phần của phong cảnh chiếm đóng. Vài tuần sau khi chiếm Odessa, cả thành phố treo đầy những xác người bị hành hình. “Chúng bắt mọi người liên tục. Treo cổ ngay trên các đường phố”, nữ sinh Alexandra Stroina kể lại. “Trên Đại lộ Hòa Bình, Quảng trường Nhà ga, đường Lenin, người bị hành hình treo khắp nơi trên cây, trên cột điện. Chúng bắt cả mẹ tôi”.[35]

Ở thành phố Pushkin cách đó hàng trăm km về phía bắc, nơi thuở nào đó từng được gọi là Hoàng Thôn, những người bị hành hình treo ở mỗi ngã tư. Cư dân của thành phố bị chiếm đóng, đi trên đường phố, có thể thấy những tấm biển trên cổ những kẻ bị hành quyết, kể tội của người bị xử tử trước Đế chế Đức. “Bị treo cổ vì tội do thám”. “Vì tội cộng tác với du kích”. “Hắn là cộng sản”. “Đây là tên Do Thái”.[36] Trong những công viên tiếp giáp với Cung điện Yekateringburg vĩ đại chúng đã bắn những người Do Thái – 800 đàn ông, đàn bà và trẻ em.[37]Những người không phải Do Thái cũng bị giết khắp nơi. Tổng cộng trong số 40.000 cư dân của Pushkin trước chiến tranh, chỉ sau hai năm chiếm đóng, Đức Quốc xã đã thủ tiêu 18.368 người.[38]

Khi các đơn vị của sư đoàn 35 bộ binh hành quân qua Volokolamsk, binh lính thấy sáu người bị treo cổ: bốn người đàn ông và hai cô gái. “Trung úy Schwartz ra lệnh dừng lại và xếp chúng tôi theo hình bán nguyệt xung quanh những người bị treo cổ. Ông ta nói với chúng tôi: bọn du kích sẽ bị treo ở đây cho đến khi thối rữa”, binh nhì Edmund Bednarik nhớ lại. “Trung sĩ Perlz còn giải khuây bằng cách đong đưa tử thi của hai cô gái, buông những lời cợt nhả tục tĩu”.[39]

Giờ giới nghiêm cũng lấy đi nhiều mạng sống. “Đây đó nghe tiếng súng nổ cả đêm”, một cư dân của Kiev bị chiếm đóng kể lại. “Bà nhìn thấy một phụ nữ trẻ bị giết trên đường Bessarabka, với đồi mắt bất động, cô nằm vắt ngang vỉa hè, người ta đi vòng qua cô. Họ bảo buổi tối cô vội về nhà sau giờ giới nghiêm, bị đội tuần tra bắn và để nằm đó làm gương cho mọi người”.[40]

Ấy vậy mà bộ chỉ huy Đức còn đòi hỏi phải bạo tàn hơn nữa. Ngày 10/10 thống chế Walter von Reichenau, tư lệnh quân đoàn 6 ban hành lệnh “Về việc hành xử của các đơn vị ở Mặt trận phía Đông”.

Tài liệu này xứng đáng được trích dẫn rộng rãi.

Mục tiêu chính của cuộc hành quân chống lại hệ thống Bolshevik Do Thái là trấn áp toàn diện lực lượng vũ trang của chúng và nhổ tận gốc sự ảnh hưởng châu Á lên văn hóa châu Âu.

Do vậy nên những nhiệm vụ đặt ra cho các đơn vị quân đội đã vượt ra khỏi các khuôn khổ nhiệm vụ trước đây của binh lính. Ở Mặt trận phía Đông, người lính không chỉ là chiến binh theo các quy luật của nghệ thuật quân sự, mà còn là người truyền bá tư tưởng Đức và là người báo thù cho tội ác [kẻ thù] đã gây ra cho người Đức và những dân tộc thân cận họ. <…>

Cuộc chiến chống lại kẻ thù ở hậu phương hiện được tiến hành chưa đủ nghiêm túc. Vẫn còn các nhận định xem bọn du kích ác độc, thâm hiểm và những phụ nữ trác táng như tù binh chiến tranh, vẫn tiếp tục xem những thiếu niên vũ trang mặc trang phục bán dân sự hay thường dân và những kẻ lang thang như những người lính thực thụ và đưa họ vào các trại tù binh. <…>

Việc bếp ăn quân đội cấp phát thức ăn cho người dân địa phương và tù binh, những người không làm việc vì lợi ích của quân đội Đức, là nhân đạo sai lầm. <…>

Nếu xác định được có du kích hoạt động ở hậu phương quân đội, cần lập tức áp dụng những biện pháp hà khắc. Phải mở rộng biện pháp này lên cả nam cư dân vốn có thể gây hại. <…>

Trước mọi nhiệm vụ chính trị khác, trong tương lai binh lính Đức phải thực hiện hai nhiệm vụ sau:

Thứ nhất. Thủ tiêu hoàn toàn học thuyết Bolshevik dối trá, nhà nước Bolshevik và lực lượng vũ trang của nó.

Thứ hai. Nhổ tiệt gốc không khoan nhượng sự thâm hiểm và tàn ác và chính bằng cách đó bảo vệ mạng sống các lực lượng vũ trang Đức tại Nga.

Chỉ như thế ta mới hoàn thành được nhiệm vụ lịch sử của chúng ta và giải phóng một lần và mãi mãi dân tộc Đức khỏi hiểm họa châu Á – Do Thái.[41]

Như ta thấy, Walter von Reichenau đã kêu gọi phải khắc nghiệt hơn, và trước tiên là phải bắn bỏ vô điều kiện mọi đối tượng tình nghi, cho dù đó là thường dân. Đồng thời cần lưu ý những lời về “các phụ nữ trác táng”; điểm này vô hình trung đã hợp pháp hóa việc cưỡng hiếp và giết người theo sau đó.

Chỉ thị đã tạo âm hưởng không nhỏ trong giới chỉ huy quân sự Đức. Chỉ hai ngày sau cấp trên trực tiếp của Walter von Reichenau là chỉ huy Tập đoàn quân “Nam” thống chế Walter von Rundstedt đã giới thiệu nó cho tất cả các chỉ huy cấp dưới của quân đoàn mình, bổ sung rằng ông hoàn toàn đồng tình với nội dung mệnh lệnh.[42] Và ông ta là tấm gương để noi theo! Chúng ta nhận ra chính thống chế Walter von Runstedt, người hai năm trước ở Ba Lan từng tích cực ngăn cản hoạt động của quân SS, đã ủng hộ chỉ thị tội ác này.

Chỉ thị của Walter von Reichenau bắt đầu có hiệu lực ở các đơn vị khác. Tư lệnh quân đoàn 18 thống chế Georg von Küchler, tư lệnh quân đoàn 17 đại tướng Goth và tư lệnh quân đoàn 11 đại tướng Erich von Manstein đã ban hành nó cho các đơn vị mình.[43] Tư lệnh quân đoàn 51 bộ binh, tướng Georg Reinhardt, ra lệnh các điều khoản của lệnh này “nhất thiết phải được giao cho mỗi binh lính”[44], còn tướng Goth đã viết như sau để biện giải cho sự cần thiết của mệnh lệnh ăn thịt người này:

Chiến dịch ở Mặt trận phía Đông phải được kết thúc khác với cuộc chiến tranh với Pháp. Vào mùa hè năm nay chúng ta càng thấy rõ hơn là tại đây, Mặt trận phía Đông, hai quan điểm mâu thuẫn nội tại đang đấu tranh chống lại nhau: ý thức danh dự và chủng tộc Đức, những đạo quân Đức lâu đời chống lại tư duy kiểu châu Á và những bản năng nguyên thủy: sự khiếp nhược trước đòn roi, sao lãng những giá trị đạo đức, mặc cảm hạ đẳng, khinh miệt cuộc sống vô giá trị của mình.

Mạnh hơn bất cứ khi nào, chúng ta tin vào bước ngoặt lịch sử, khi quyền lãnh đạo châu Âu sẽ chuyển cho dân tộc Đức vì ưu thế chủng tộc và những thành tựu của nó. Rõ ràng hơn chúng ta nhận ra thiên chức của chúng ta là cứu rỗi văn hóa châu Âu khỏi sự man di châu Á. Giờ đây ta hiểu chúng ta có nghĩa vụ chiến đấu với kẻ thù hung tợn và ngoan cố. Cuộc đấu tranh này chỉ có thể kết thúc một mất một còn; không thể có một thỏa thuận nào.

…Chính vì thế mà ta chiến đấu và lao động.[45]

Hai tuần sau, các điều khoản của lệnh “Về việc hành xử của các đơn vị quân đội ở Mặt trận phía Đông” đã được phổ biên cho tất cả đội quân hoạt động ở Mặt trận phía Đông.[46]

Thế nhưng Reinchenau vẫn chưa yên tâm và kêu gọi thuộc cấp đến với những chiến công mới.

Các binh sĩ quân đoàn 6! Các bạn phải trở thành những kẻ báo thù trong một cuộc chiến có tồ chức với những vụ giết người hung tợn vô lương tâm. Để có thể làm việc đó, thứ nhất, hãy lưu lại sự vô tâm của mình ở đất nước quỷ quyệt này, và thứ hai, sử dụng những phương tiện hủy diệt của việc sát nhân, vốn không tiêu biểu cho chúng ta và chưa bao giờ quân đội Đức áp dụng, để chống lại dân cư phe địch.

Vì thế tôi ra lệnh:

  1. Tất cả nam nữ du kích quân bị bắt trong quân phục hay thường phục đều phải treo cổ công khai. Bất cứ sự kháng cự nào khi thẩm vấn hay khi di chuyển phải bị triệt hạ bằng biện pháp tàn bạo nhất.
  2. Tất cả các làng mạc thôn ấp mà du kích lẩn trốn hoặc tiếp tế cho du kích, phải bị tịch thu hết thực phẩm, phóng hỏa các ngôi nhà, bắn chết các con tin và treo cổ các đồng phạm để trừng phạt nếu người dân không trình ra được bằng chứng thuyết phục chống lại quân du kích và các nạn nhân từ phía chúng…
  3. Nỗi khiếp sợ của dân chúng trước những biện pháp trừng phạt của chúng ta phải mạnh hơn nỗi sợ trước quân du kích.

  4. Tất cả các đội quân, kể cả hậu cần và công binh, có nghĩa vụ tiến hành cuộc chiến chống du kích trong trường hợp chúng xuất hiện hoặc phát hiện ra chúng…

Phải báo cáo riêng cho tôi về mọi biện pháp thù tiêu từ 10 tên du kích trở lên. Tôi bào lưu cho mình quyền tưởng thưởng tất cả những ai nổi bật trong cuộc chiến chống du kích, và tôi trao cho các chỉ huy quyền được đánh đồng nội dung tưởng thưởng cho sự dũng cảm trong cuộc chiến chống du kích với nội dung tưởng thưởng cho chiến công trong những trận chiến quy ước.

Thống chế Walter von Reichenau.[47]

Khi quân SS được làm quen với tất cả những lệnh này, chúng rất đắc ý. “Các lực lượng vũ trang đã tiếp thu kinh nghiệm của cảnh sát an ninh và phương pháp của họ trong cuộc chiến chông du kích”, nhóm trừng giới “A” hài lòng nhận xét trong báo cáo.[48] Phương pháp này cực kỳ đơn giản: chủ yếu là thực hiện những chiến dịch hủy diệt hàng loạt.

Việc đối xử khắc nghiệt với người địa phương đã trở thành thói quen. “Đâu đâu cũng làm như nhau, và bạn nhanh chóng quen với việc này”, một người lính của tiểu đoàn cảnh sát dự bị 105 nhớ lại. “Khắp nơi người dân bị truy bắt, sau đó bị kiểm tra để hỏi về du kích quân, tất cả những ai tình nghi đều bị bắt. Thường những hoạt động này không mấy hiệu quả, bởi quân du kích sống trong rừng chứ không ở trong làng”.[49]

Để hiểu điều gì đằng sau những dòng chữ vô cảm này, cần tìm đến bằng chứng của “phía bên kia”. Và đây là chuyện kể của chỉ huy một đơn vị Hồng quân rơi vào vòng vây nhưng phá vây chạy thoát về đơn vị mình. Câu chuyện về một thảm kịch bình thường mà “những người trong vòng vây” là nhân chứng.

Chúng tôi tới gần Olkhovka. Vào lúc ấy một toán tiễu phạt phát xít Đức đang ở đấy. Sau đó được biết, một kẻ phản bội đã khai báo chỉ huy đội du kích địa phương, người đã nghỉ đêm trong gia đình ruột thịt của mình. Chỉ huy du kích kịp chạy thoát, nhưng vợ và con gái anh rơi vào tay bọn đồ tể. Quân Đức bắt đầu tra khảo người vợ và giễu nhại đứa con. Cuối cùng bọn đao phủ đâm chết bé gái, còn người vợ phát điên.

Vừa biết được chuyện này, ngay lập tức chúng tôi tấn công ngôi làng bằng tất cả sức mạnh của minh, và nói thật, vì đứa bé tôi đã không tha một kẻ nào trong số chúng, chúng tôi đã giết chết hết không chừa một tên![50]

Bác sĩ phẫu thuật người Đức Hans Killian không bắt gặp những vụ sát hại trẻ em, nhưng ngay việc xử bắn những người được cho là du kích cũng gây cho ông ta những ấn tượng không kém nặng nề.

Gustel chậm chạp chạy ngang những ngôi nhà gỗ. Bất thình lình chúng tôi thấy một nhóm SS trùm áo mưa với súng máy và carbine trên tay. Họ canh giữ vài ngươi đàn ông Nga đang đứng thành hàng tay giơ lên trời, mặt úp vào tường. Tôi hỏi một người lính SS:

“Chuyện gì xảy ra ở đây? Họ là ai?”

“Bọn lợn du kích”, câu trà lời vang lên, “giờ bọn tôi cho chúng đi nằm đây”.

Và cậu ta toe toét cười như thể chuyện đó mang đến cho cậu ta sự thỏa mãn. Một cảm giác thắt nghẹn trong cổ họng. Tôi hối Gustel nhanh nhanh chạy khỏi đấy.[51]

Thường dân kinh hoàng chứng kiến những chuyện xảy ra; thật khó tin một sự hung hãn như vậy thậm chí có thể tồn tại. Ở làng Agrophenovka tỉnh Rostov quân tiễu phạt đã bắt tất cả nam giới tuổi từ 16 đến 70 và cứ ba người thì bắn một.[52] Ở thôn Basmanovo tinh Smolensk quân Đức “đuổi ra đồng hơn 200 học sinh đang về làng thu hoạch vụ mùa, bao vây chúng rồi bắn chết hết. Chúng giải một nhóm lớn các nữ sinh về hậu phương của mình “cho các ngài sĩ quan”.[53]

Thôn Perelom thuộc quận Tosnensky bị lính Đức phong tỏa. Quân tiễu phạt tập hợp nam giới và bắt đầu đánh đập, bắt khai báo du kích. Quân Đức đến ngôi làng với một danh sách ghi tên tất cả các người dân đi làm du kích và những người cộng sản. Vợ những người cộng sản bị thiêu sống trong những ngôi nhà gỗ.[54]

Sư đoàn vệ binh 285 đã thủ tiêu 1.500 “du kích”; tổn thất của chúng là 7 người chết và 11 bị thương. Sư đoàn 707 bộ binh trong một tháng đã bắn chết 10.431 người ở Belarus, còn chúng chết hai và bị thương 5 người. Những đơn vị vệ binh hậu phương của Tập đoàn quân “Nam” cùng thời gian đã bắn chết 2.400 người, tổn thất của chúng là 7 chết và 5 bị thương.[55] Chúng giết cả những phụ nữ, người già, trẻ em không vũ khí – thật an toàn làm sao!

Nhiều thôn làng bị thiêu hủy hoàn toàn; trong những đống tro tàn xương lẫn cùng tro, và chỉ những chiếc ống khói bếp lò mới nhắc nhở về nơi sinh sống của con người mà giờ đã thành một lò thiêu tập thể. Thôn Audrina thuộc Latvia, mà cư dân ở đó đã giúp quân du kích Soviet, bị thiêu rụi, tất cả cư dân của nó, gồm cả những bé sơ sinh và những cụ già trăm tuổi, đều bị bắn.[56] Audrina trở thành ngôi làng nổi tiếng nhất bị thủ tiêu vào thời gian đó; nổi tiếng nhất nhưng không phải là duy nhất. Nếu tại Pháp trong cuộc chiến với quân du kích những ngôi làng bắt đầu bị đốt vào mùa hè năm 1944,[57] thì ở Mặt trận phía Đông chúng chỉ là một hoạt động thường ngày, không gợi lên trong lòng quân Đức những xúc cảm đặc biệt nào. Đến cuối năm 1941, số những ngôi làng bị quân tiễu phạt đốt đã lên tới hàng trăm.

…Khi quân đội Wehrmacht rút lui dưới những đợt tiến công của các đơn vị Soviet, phụ nữ, người già và trẻ em bị lùa về hậu phương của quân Đức. Ở đó họ bị đưa vào hoặc những trại tù binh hoặc bất cứ nơi đầu tiên bắt gặp nào vốn không dành cho việc cư trú: chuồng heo, nhà kho. Những ai không chết vì đói thì chết vì rét. “Đa phần họ không nhận được thực phẩm gì hoặc nhận chỉ tối thiểu. Chẳng hạn, ở trại Chudovsky của tỉnh Leningrad năm 1942, những người di tản chỉ được cấp cháo loãng một lần trong ngày. Vì đói ăn và đau ốm mà tỷ lệ tử vong trong trại rất cao”.[58]

Thường thì các chiến dịch dồn dân có mã hiệu khá đặc trưng. “Ghetto” là bằng chứng tiêu biểu của việc đối với Đức Quốc xã, không có khác biệt rõ ràng giữa những phân loài hạ đẳng khác nhau, người Do Thái hay người Nga.[59]

Các biện pháp thủ tiêu hàng loạt thường dân vô tội về thời gian trùng khớp với kết quả chủ yếu các hoạt động của chính quyền chiếm đóng dân sự: nạn đói khủng khiếp do chúng gây nên.

Theo sự dịch chuyển của mặt trận về phía Đông, thay cho chính quyền chiếm đóng quân sự là chính quyền dân sự. Và nếu nhiệm vụ của nhà cầm quyền quân sự đa phần chỉ nằm ở việc bình định các phần đất chiếm đóng, thì nhiệm vụ của chính quyền dân sự nằm ở việc tổ chức khai thác chúng hiệu quả. “Tôi nổi tiếng như chó dữ. Vì vậy họ cử tôi đi làm toàn quyền Đức tại Ukraina”, Erich Koch được bổ nhiệm làm thủ hiến Ukraina tuyên bố. “Nhiệm vụ của chúng tôi là bòn rút tất cả từ Ukraina, bất chấp cảm xúc hay đạo đức, hay tình trạng tài sản của người Ukraina. Hỡi quý ngài, tôi mong đợi ở quý ngài sự tàn nhẫn tuyệt đối đối với tất cả những người bàn địa Ukraina”.[60]

Tại tỉnh Lvov miền Tây Ukraina, khi các đơn vị của tổ chức Todt thuê người địa phương làm việc và bắt đầu trả cho công nhân đồng lương ít ỏi, từ Berlin vang lên tiếng thét chói tai.

Như tôi đã giải thích chi tiết với tất cả các nhân viên trong chuyến đi vừa rồi, trên lãnh thổ Nga vận hành những quy tắc sử dụng lao động khác với ở Tây Âu. Việc sử dụng nhân công cần được thực hiện theo quy định của chế độ lao dịch và không có thù lao. Công nhân sẽ nhận được thực phẩm khiêm tốn cho công lao động.[61]

Buộc con người làm việc trong những điều kiện khủng khiếp như thế cũng đơn giản. Trên tường văn phòng ban quân quản treo những cảnh báo đe dọa: “Ai không chịu đi làm sẽ bị xem là kẻ thù của nhà nước Đức và sẽ bị bắn”.[62]

Và không phải chuyện đùa, tại khu định cư Mizikheyev Polyana gần Krasnodar người dân không chịu đi làm ở xưởng gỗ, 207 người đã bị bắn ngay lập tức. Điều tương tự cũng xảy ra ở Amavir.[63] Thức ăn phân phát cho công việc như thế khó lòng đủ cho một người. Tiêu chuẩn bánh mì được phân là 200-300 gram/ngày cho một thành viên lao động của gia đình, còn những người phụ thuộc, trong số đó có cả trẻ em, được cấp 100 gram.[64] Nhưng ngay cả các tiêu chuẩn này cũng không được tuân thủ, khiên những người buộc phải chia sẻ khẩu phần này với gia đình đang đứng trên bờ vực của nạn đói.

Một sĩ quan Leibstandarte-SS nhớ lại người dân đã sống ra sao trong một ngôi làng bị chiếm đóng của Dnepropetrovsk: “Những người dân sống sót sau các vụ nổ súng đã bị dồn như súc vật vào một số nhà kho. Mỗi ngày họ bị lùa đi làm những công việc bẩn thỉu và bị đánh đập tàn nhẫn. Tài sản của công dân bị cướp sạch”.[65]

Báo cáo của tình báo Soviet chỉ ra người dân tại các lãnh thổ bị chiếm đóng ở trong một tình thế thật sự vô vọng.

Ngày làm việc tại các cơ sở công nghiệp được quân chiếm đóng quy định là 12 tiếng, thù lao thấp và không cách nào bảo đảm được mức sống tối thiểu của người lao động…

Người dân thành phố và nông thôn không được chu cấp gì. Thị dân và thôn dân phải chịu khan hiếm đặc biệt nghiêm trọng những mặt hàng thiết yếu như muối, xà phòng, dầu hỏa, diêm quẹt, v.v. những thứ mà họ không sao kiếm được số lượng cần thiết kể cả khi trả nhiều tiền…

Dân thành phố đang chết đói. Một bộ phận khá giả hơn sống nhờ đổi những vật gia dụng và quần áo đề lấy thực phẩm. Một số lớn dân thành thị về làng và đơn giản đi xin ăn.

Những người ủng hộ phát xít và một bộ phận không đáng kể công nhân và viên chức được bảo đàm những khẩu phần bánh mì. Như được biết, công nhân và nhân viên giao thông đường sắt mỗi ngày nhận được 300 gram bánh mì, còn những người phụ thuộc họ được 150 gram.

Trên lãnh thổ tỉnh Vinitsa không tồn tại việc buôn bán có tổ chức.[66]

“Một tình cảnh kỳ lạ”, một cư dân Kiev nhớ lại. “Những cửa hàng đổ nát, không ở đâu bán thứ gì, trừ ở ngoài chợ, nhưng kể cả cửa hàng có hoạt động đi chăng nữa thì cũng lấy gì mà mua?

Trước chiến tranh bánh mì trong cửa hàng giá 90 kopek một ký. Bây giờ ngoài chợ đôi khi bán bánh mì tự làm tới 90 ruble một ký.”[67]

Tuy nhiên, những ai bị bắt vào các trại lao động, còn được gọi là các đội lao động, thì tình cảnh còn tồi tệ hơn. Bị tách biệt khỏi nhà, không có khả năng tìm được những nguồn thức ăn bổ sung, những người này bị buộc làm việc từ sáng tinh mơ đến chiều tối. Gần Leningrad người dân phải làm ở những công trình sửa chữa đường sá, khai thác than bùn và khai thác gỗ từ 6 giờ sáng đến tối để nhận được cho công việc đó chi 200 gram bánh mì mỗi ngày.[68] Nói rằng mức tử vong ở những đội lao động rất cao cũng như không. Người ta chết như rạ, như tù binh trong các trại tập trung. Thế nhưng chuyện đó chẳng làm những kẻ chiếm đóng nao lòng.

Trên bàn của tướng Thomas đứng đầu ban kinh tế quân sự và vũ trang của OKW có một ghi chú đặc trưng cho chính sách chiếm đóng.

Việc trưng thu thặng dư nông nghiệp của Ukraina nhằm mục đích cung ứng cho Đế chế chỉ có thể với điều kiện nhu cầu nội địa của Ukraina bị hạ xuống mức tối thiểu. Điều kiện này sẽ đạt được bằng những cách thức sau:

1) Thủ tiêu những miệng ăn thừa (người Do Thái, cư dân các thành phố lớn ở Ukraina, như Kiev, nói chung sẽ không nhận được lương thực);

2) Giảm tối đa tiêu chuẩn lương thực của người Ukraina – cư dân những thành phố khác;

3) Giảm thiểu tiêu dùng lương thực của nông dân.

Nếu người Ukraina có bổn phận lao động, chúng ta phải bảo đảm sự tồn tại thực thể của họ tuyệt nhiên không phải vì những cảm xúc mềm yếu, mà vì những tính toán kinh tế tỉnh táo.[69]

Trước khi xâm lược Liên Xô, cơ quan của Goering đã thảo một kế hoạch khai thác kinh tế những lãnh thổ chiếm đóng. Các hướng dẫn và chỉ thị về vấn để nêu trên đã được tập hợp trong cái gọi là “Hồ sơ xanh”; các bản sao của nó được gửi tới tất cả các cơ quan có liên quan tới việc tiến hành “chính sách phía Đông”. Nguyên tắc chù đạo của chính sách kinh tế trên các lãnh thổ Soviet được trình bày như sau trong “Hồ sơ xanh”.

Quan điểm cho rằng dường như cần phải nhanh chóng vãn hồi trật tự và phục hồi kinh tế ở các tình chiếm đóng hoàn toàn không thích hợp. Ngược lại, thái độ đối với những phần riêng biệt của đất nước phải khác nhau. Việc phát triển kinh tế và duy trì trật tự chỉ cần tiến hành ở những vùng chúng ta cần khai thác nguồn dự trữ quan trọng các sàn phẩm nông nghiệp và dầu mỏ. ở những phần còn lại của đất nước này, nơi người ta không thể tự nuôi bản thân mình… hoạt động kinh tế phải giới hạn ở việc sử dụng nguồn dự trữ được tìm thấy…[70]

Những lãnh thổ bị chiếm đóng đã được định đoạt sẽ trở thành vùng của “đại nạn đói”.[71] Tháng 11/1941 trong cuộc thảo luận với ngoại trưởng Ý, Goering đã thốt lên cụm từ gây sốc cho người đối thoại. “Trong năm nay ở Nga sẽ có từ 20 đến 30 triệu người chết đói”, thống chế nói.

“Thậm chí có thể cũng hay nếu chuyện này xảy ra; bởi cần phải giảm bớt một số dân nào đó”.[72]

Đây không phải là những luận bàn trừu tượng, mà đây là kế hoạch.

Khi Goering thảo luận với người Ý, các nhân viên cơ quan của ông ta đã hoàn tất dự thảo “Những cơ sở chung của chính sách kinh tế tại các tỉnh phía Đông bị chiếm đóng”.

“Nhờ giá thành rẻ của sản phẩm, nhờ duy trì mức sống thấp của cư dân địa phương”, tài liệu nêu rõ, “mục tiêu đặt ra là đạt được số lượng sản phẩm cao hơn để cung cấp cho Đế chế và các nước châu Âu khác. Bằng cách này, bên cạnh việc đáp ứng rộng rãi nhất có thể nhu cầu lương thực và nguyên liệu thô của châu Âu, cùng lúc sẽ mở ra những nguồn lợi cho Đế chế, cho phép trong vài thập niên trang trài một phần đáng kể chi phí tài trợ cho chiến tranh, khoan sức nhiều nhất có thể cho người đóng thuế Đức”.[73]

Nhằm đạt được mục tiêu này, những giải pháp sau được đề ra: thủ tiêu ngành công nghiệp chế biến và biến đất nước này thành nguồn cung nguyên liệu thô; kiềm chế phi tự nhiên mức lương; ngăn chặn việc gia tăng mức sống của người dân. Công thức rõ ràng theo kiểu Đức là như sau:

Không có chuyện bảo đảm sản phẩm tiêu dùng giá trị cho cư dân địa phương. Ngược lại, tất cả các xu hướng nâng cao mức sống xã hội phải bị trấn áp trước bằng những phương pháp hà khắc nhất.[74]

Để giải thích cho những người thừa hành ý đồ của “Các cơ sở chính sách chiếm đóng”, bộ trưởng được ủy quyền đặc biệt về các lãnh thổ chiếm đóng với sự hộ tống của “một nhà hoạt động đảng cao cấp” nào đó đã tới thăm bộ tham mưu của Tập đoàn quân “Trung tâm” đóng ở Borisov. Trong bữa trưa ở chỗ tư lệnh Tập đoàn quân Fedor von Bock, hai người này đã trình bày mục tiêu của chính sách chiếm đóng thẳng thắn hơn so với những gì được nêu trong văn kiện.

“Người Nga đông hơn mức cần thiết tới 40 triệu người, và họ phải biến mất”. – “Bằng cách nào?” – “Chết đói. Cái đói đã sờ sờ ngay trước cửa”. – “Còn ở bên kia biên giới mới, ở phía Đông?” – “ở đó bọn Do Thái, bọn Nga và bọn hạ đẳng khác còn sống sót sẽ lay lắt “tồn tại như dã thú đồng hoang”. Và “đồng hoang” ấy sẽ không còn là hiểm họa cho Đức và châu Âu nữa”.[75]

Nạn đói quả thật đã rập rình ngay trước cửa. Chính quyền chiếm đóng cố tình đưa khỏi các lãnh thổ bị xâm chiếm tất cả những tài nguyên cần cho sự sống còn của cư dân bản địa; binh lính Wehrmacht cào cấu nốt số ít ỏi những gì còn lại.

Bộ trưởng phụ trách vấn đề các lãnh thổ chiếm đóng Rosenberg giải thích với cấp dưới của mình: “Các ông không được quên rằng ở đó [các vùng lãnh thổ Liên Xô bị chiếm đóng] chẳng dễ dàng gì, và các ông không tưởng tượng nổi tải trọng ấy nặng nề đến mức nào, khi vào những ngày này 3-000 đoàn tàu chở lương thực từ phía Đông đổ về Đức; xin bổ sung thêm rằng tất cả quân đội ở Mặt trận phía Đông được cung cấp lương thực tại chỗ, và nguồn cung này không bao gồm những gì mà binh lính tự kiếm được.

Điều này không được phép nói công khai”.[76]

”Hệ thống Bolshevik Do Thái phải bị thủ tiêu”. Tướng Erich von Manstein nhắc nhở ông ta. “Tình hình lương thực trong nước đòi hỏi nuôi quân bằng tài nguyên địa phương, và nếu có thể phải để số lượng lớn hơn nguồn dự trữ lương thực cho Đế chế. Tại các thành phố của kẻ thù, phần lớn dân chúng buộc phải chịu đói. Không được cho phép cảm xúc nhân đạo giả dối dẫn dắt để cấp cho tù binh hay người dân thứ gì đó, nếu những người này không phục vụ cho quân đội Đức”.[77]

Những vụ cướp bóc của các đơn vị quân đội ngày càng lộng hành. Có thể gặp đủ thí dụ cho tình hình này trong các tài liệu Soviet.

Các đối tượng cướp bóc là: doanh nghiệp tập thể của những nông trường quốc doanh, nông trang tập thể và tài sản cá nhân của tất cả cư dân những làng bị chiếm đóng… – từ thực phẩm đến vật dụng nhà bếp, từ tấm trải giường đến quần áo trẻ em. Chẳng hạn, nữ nông trang viên làng Kuzovlevo Dvortsova lính Đức đã bị tịch thu “hai túi lúa mạch đen, trứng, đường, bột mì, thịt, chảo rán, một đèn dầu năm bấc, xô, núm cầm của ngăn tủ kéo…

“Tất cả các nông trang viên của làng Petrovo đều bị cướp hết bánh mì – đã nướng hoặc còn là bột, lúa mạch đen. Chẳng hạn, nông trang viên của làng Orekhov, Ivan Filippovich bị cướp hai bao lúa mạch. Tôi bị lấy mất một con lợn con, hai cái chăn bông, ba cặp đồ lót nam, áo váy của con gái Anna tôi, quần dài, áo khoác và thắt lưng của con rể tôi Stepan Belyakov, giày của cháu Yuri (4 tuổi) và nhiều đồ gia dụng khác. Chúng tôi chỉ còn lại đúng những gì trên người, những thứ còn lại lính và sĩ quan Đức đã lấy đi” (chuyện kể của Alexeyev M. A.).

Không hài lòng với chiến lợi phẩm trong các túp nhà gỗ, binh lính và sĩ quan Đức còn buộc dân làng đào những cái hố mà họ chôn giấu đồ đạc của mình dưới đó lên… Khắp nơi đi kèm với việc cướp bóc của chúng là đe dọa bắn bỏ của binh lính và sĩ quan Đức.[78]

Lời nói đi đôi với việc làm: nêu cố bảo vệ tài sản của mình, có thể mất mạng. Trong khi quân chiếm đóng tước đoạt những thực phẩm cuối cùng mà không có chúng người ta không thể sống qua mùa đông vừa chớm, lựa chọn hóa ra rất ít. Người ta chỉ có thể chọn lựa giữa cái chết nhanh dưới tay quân Đức hoặc cái chết dần mòn vì nạn đói. Một số người đã chọn cái thứ nhất.

“Tại làng Vasilyevka thuộc huyện Zemlyansky nữ nông trang viên Kuleshova T. không thể đáp ứng yêu cầu sữa uống của lính Đức do bà không có bò cái. Vì thế mà quân Đức đã đốt nhà và thiêu sống bà trong ngọn lửa.

Tại làng Vereika huyện Zemlyansky quân Đức đã bắn nữ nông trang viên Boganova do bà không chịu giao thực phẩm cho chúng…

Tại làng Krynnitsa huyện Ostrogozhsky, một nông trang viên (tên họ không xác định) đã bị quân Đức đánh đập và bắn chết vì không chịu đào khoai tây cho chúng”.[79]

Cuối cùng thì vào mùa đông năm 1941, nạn đói kinh hoàng nhất trong lịch sử đã đến trên lãnh thổ bị chiếm đóng. Lan tới Đức những lời đồn đại mù mờ, dân chúng rỉ tai nhau: “Hình như người Nga không có gì để ăn, lũ đáng thương. Họ ăn cả cỏ vì đói!”[80]

Những người thạo tin biết rằng mọi việc còn tồi tệ hơn. Trong báo cáo của bộ trưởng phụ trách các vấn đề lãnh thổ chiếm đóng phía Đông thật sự đã phác họa bức tranh tận thế.

Các tiêu chuẩn lương thực được định ra cho người Nga ít ỏi đến độ không đủ để bảo đảm sự tổn tại của họ, chúng chỉ cung cấp dinh dưỡng tối thiểu trong một thời gian hạn chế. Người dân không biết liệu ngày mai họ còn sống nổi hay không. Họ lâm vào nguy cơ chết đói. Những con đường đầy cả trăm ngàn con người lang thang đi tìm thức ăn; đôi khi con số này lên tới một triệu người, như một số chuyên gia khẳng định.[81]

Tại tỉnh Leningrad bị Đức Quốc xã chiếm đóng, nạn đói không kém khủng khiếp so với thành phố Leningrad bị phong tỏa. Nữ cư dân thành phố Pushkin, tên cũ là Hoàng Thôn ghi trong nhật ký:

24/12. Lạnh cắt thịt da. Một ngày có hàng trăm người chết đói trên giường. Tại Hoàng Thôn trước khi quân Đức đến có 25.000 dân. 5.000 đến 6.000 người trong số đó bị đưa về hậu tuyến hay các làng lân cận, 2.000 hay 2.500 bị giết bằng súng đạn, và theo điều tra dân số mới nhất của hội đồng vừa mới tiến hành, còn lại đâu khoảng hơn 8.000 người. Những người còn lại đã chết. Bạn không còn ngạc nhiên khi nghe thấy người này hay người khác trong số những người quen đã chết…

27/12. Những chiếc xe ngựa tải đi dọc các con đường thu thập tử thi từ nhà dân. Chúng được xếp dưới các hào phòng không. Người ta nói tử thi được đặt hai bên vệ đường dài suốt con đường đến tận Gatchina. Những kẻ bất hạnh này nhặt nhạnh những đồ đạc cuối cùng của họ đi đổi thức ăn. Dọc đường ai đó trong số họ ngồi xuống nghỉ, và đã không còn tỉnh dậy nữa… Những cụ già ở Nhà thương binh quẫn trí vì đói đã viết yêu cầu chính thức gửi cho chỉ huy quân sự của khu phố chúng tôi và cách nào đó yêu cầu này đã được chuyển tới ông ta. Trong đó viết: “xin phép được dùng những người già đã chết trong nhà chúng tôi làm thức ăn”.[82]

Bọn hợp tác với địch tại Baltic đã đóng vai trò tích cực trong việc tổ chức nạn đói, bằng cách đó đã thủ tiêu hàng trăm ngàn người vô tội bởi cái đói dày vò. “Việc tiến hành phòng vệ ở biên giới phía đông Estonia đặc biệt quan trọng, bởi từ nước Nga những kẻ tình nghi và đói khát bắt đầu kéo đến”, như được nêu trong báo cáo tháng 02/1942 của ban điều hành tổ chức hợp tác với địch “Omakaitse” của Estonia. “Để ngăn chặn tình trạng này, lần đầu tiên “Omakaitse” được đưa vào hoạt động… Khi biên giới chưa bị đóng cửa, mỗi ngày có khoảng 300-400 kẻ đi qua biên giới, mang thức ăn ra khỏi Estonia. Việc tăng cường an ninh chẳng bao lâu đã mang lại kết quả tốt”.[83] Báo cáo hằng năm tiếp theo của “Omakaitse” tự hào nhận xét thành tựu của những cộng tác viên Estonia trong cuộc chiến chống lại những người đói: “Lực lượng biên phòng “Omakaitse”… là một nhân tố đáng được nhắc đến để ngăn chặn đám đông đói khát Nga tràn vào Estonia và mang thực phẩm ra khỏi đây”.[84]

Nạn đói năm 1941 đã được chính quyền chiếm đóng lên kế hoạch trước và lạnh lùng chuẩn bị. Nạn đói đã làm cái việc tương tự quân đội chiếm đóng đang thực hiện dưới chiêu bài “cuộc chiến chống du kích”: thủ tiêu bọn hạ đẳng Soviet. Tuyên bố từ lâu của thống chế Karl von Rundstedt về việc “cái đói còn hiệu lực hơn khẩu súng máy rất nhiều”[85] đã tìm được sự khẳng định thích đáng.

* * *

Tổng kết nửa năm đầu chính sách chiếm đóng, thống chế Walter von Reichenau – tác giả của những mệnh lệnh ăn thịt người nhất được bộ chỉ huy quân đội ban hành trong chiến dịch phía Đông, – phũ phàng nhận xét: “Người nông dân Nga cuối cùng giờ đây đã hiểu, người Đức tới đất nước mình không phải để giải phóng họ khỏi chủ nghĩa Bolshevik, – mà theo đuổi những mục tiêu riêng… rằng nạn đói hay sự diệt vong của hàng triệu người không có một ý nghĩa nào đối với người Đức”.[86]

Theo tính toán của các nhà nghiên cứu hiện đại, tại các vùng lãnh thổ bị quân Đức chiếm đóng vào mùa đông năm 1941 đã có không dưới 1,5 triệu người Soviet chết chỉ vì đói. Thêm 1 triệu thường dân bị các đơn vị Wehrmacht, SS và cảnh sát phụ trợ thủ tiêu trong thời gian diễn ra các chiến dịch tiễu phạt.[87]

Sau khi giải phóng Rzhev, học sinh phổ thông địa phương được đề nghị viết bài luận về hai năm chiếm đóng bất tận đã diễn ra. Trích đoạn các bài luận này đã được đưa vào cuốn sách của Elena Rzhevskaya Những lối vào gần.

Chuyện ở thôn Shandalovo huyện Rzhevsky. Trong căn nhà gỗ mà các chủ nhân cho chúng tôi ở nhờ, bọn băng đàng phát xít Đức ngủ qua đêm. Giữa đêm em trai 6 tuổi của tôi nằng nặc đòi mẹ tôi gì đó. Em còn khóc, phá vỡ sự yên tĩnh của những con quái vật phát xít. Chúng bắt em tôi, dẫn ra nhà kho và bắn em ở đó.

Nữ sinh Kolchanova.

Khi quân Đức chiếm thị trấn, chúng bắt đầu thể hiện quyền lực của mình bằng việc đi hoặc chạy xe dọc những ngôi nhà còn nguyên vẹn và tước đoạt của người dân tất cả những gì chúng thích. Và khi mùa đông đến, chúng lột ủng ấm ngay trong chân bạn, bất kể bạn đang ở đâu – ngoài phố hay trên đường cách xa nơi sinh sống.

Có lần chúng tôi nghe tiếng thét. Tôi nhảy ra đường và thấy quân Đức đánh một cụ già bằng báng súng. Hóa ra cụ già mang đôi ủng dạ đi lấy nước. Và mặc dù đôi ủng của cụ đã cũ, quân Đức đã vui mừng khi bắt gặp của hiếm này. Chúng giằng co khá lâu để tháo đôi ủng khỏi cụ ông chống cự. Chúng giật đôi ủng khỏi chân ông rồi bỏ đi, còn chế giễu theo kiểu đều cáng của mình. Cụ già chạy trên tuyết trong mỗi đôi xà cạp. Cụ chạy đến khu nhà chúng tôi. Chúng tôi đưa cụ vào căn hộ, cho đôi tất cùng một đôi giày sợi, rồi cụ ông đi về nhà mình. “Tệ hơn bất cứ sự mất mát nào là phải chịu đựng sự sỉ nhục của bầy chó đáng nguyền rủa”, ông cụ nói.

Khrenov Vladimir, nam sinh lớp 4.

Tôi sẽ viết thêm về một trường hợp ở Rzhev. Một sáng sớm nọ tôi đi lấy nước, ngay lúc đó chúng đang lùa tù binh của ta đi ngang qua. Những người tù đói bứt lấy những lõi bắp cải đã thối, vì vậy mà họ bị đánh bằng gậy và báng súng. Trong túi tôi có một thỏi kẹo. Tôi cho một chiến sĩ của ta. Tên lính canh Đức đã đánh ông bằng báng súng và người chiến sĩ ngã xuống. Tôi đã vùng chạy vì hành động tàn bạo này.

A. Novikova, nữ sinh lớp 4.

Tháng 9/1942, khi quân ta tiến gần tới Rzhev, theo lệnh của ủy ban quân quản, tất cả dân chúng Liên Xô bị buộc phải rời khỏi nhà. Người dân không muốn đi. Họ bị đánh bằng roi, báng súng, bị ép ra khỏi nhà, đưa lên xe rồi chở sang Đức. Cha tôi đã bị giải đi như thế. Bây giờ ông ở đâu? Chuyện gì đã xảy ra với cha? ông còn sống hay không? Tôi và mẹ về làng. Ở đó trưởng thôn làm việc cho người Đức. Có lần một nông trang viên, láng giềng của chúng tôi, không đi làm việc theo yêu cầu của trưởng thôn: ông bảo mình bị ốm. Trưởng thôn báo cảnh sát, gã này xuất hiện cùng chiếc roi. Người nông trang viên tiếp tục không chịu đi làm. Khi đó cành sát vũ trang tập trung lùa tất cả mọi người ra đường. Họ dẫn người ốm ra và ra lệnh cho ông nằm lên cái băng ghế được mang tới. Ông không chịu. Chúng trói tay ông, cởi quần áo, cột ông vào băng ghế và trước mặt mọi người đánh ông 25 roi.

Ông đã không thể rên la nổi. Chúng cởi trói cho ông. Chúng dẫn ông đến bộ tham mưu Đức, ở đó chúng lại đánh lần nữa. Chẳng bao lâu chúng đã đưa ông được trùm kín rời khỏi bộ tham mưu đi đâu đó. Chúng tôi không còn thấy người nông trang viên ấy nữa.

Ivanov Pavel, nam sinh lớp 6.

Chúng tôi sống ở thôn Timopheyev. Quân Đức đã bắt chú tôi, em của cha tôi. Chú là đoàn viên Komsomol. Quân Đức dẫn chú lên ban quân quản. Chú không trả lời câu hỏi nào của sĩ quan trong cuộc thẩm vấn. Chúng bèn dẫn chú ra kho chứa và bắn chú ở đó, vùi xác trong tuyết. Bất chấp lệnh cấm, bà của tôi vẫn ra khỏi nhà tìm xác con trai mình. Rất lâu và lặng lẽ tránh quân Đức, bà tôi đào tuyết khắp nơi để tìm người con trai yêu dấu. Nhưng quân Đức đã phát hiện. Chúng bắn bà vào lúc bà đã chạm tới được báu vật được kiếm tìm bằng đôi tay già nua của mình.

Kudryavtsev Anatoli, nam sinh lớp 4B.

Anh họ tôi, một cậu bé 12 tuổi, khi đó đã mất mẹ, bố chết vì bom, chỉ còn anh là trụ cột cho những đứa em nhỏ. Không có gì nuôi các miệng ăn, anh quyết định lấy cắp một ít bánh mì từ một ô tô Đức. Bọn Đức bắt được và trả thù tàn bạo. Đầu tiên chúng đánh đập, sau đó để anh ngồi trên sân băng. Mỗi ngày tay chỉ huy đến và ra lệnh cho binh lính đánh anh 10 roi buổi sáng, 5 roi buổi trưa và 10 roi buổi tối. Chỉ được cấp 100 gram bánh mì mỗi ngày, anh ngồi trong tầng hầm hết 10 ngày đêm. Sau đó tay chỉ huy quyết rằng chẳng có gì nữa để làm với con chó con Nga, bèn ra lệnh treo cổ anh. Bốn tên lính được giao thực hiện việc treo cổ, đầu tiên chúng đánh đập anh trong kho chứa, sau đó kéo lê anh một lúc lâu qua vũng nước băng tan mùa xuân ngập phân chuồng. Khi chúng kéo anh đi treo cổ, người dân không kiềm chế nổi. Những người Nga nổi giận tập trung ở nhà kho la ó, khóc lóc, đe dọa bọn ký sinh trùng và với tiếng thét lao về nhà kho, nơi thực hiện vụ hành hình. Thấy phản ứng của dân chúng, tay chỉ huy xuất hiện ra lệnh thả anh ra. Đám đông lao tới anh. Anh bị đánh và người đẫm máu đến độ không thể chạm vào, cũng không thể cởi quần áo ra. Phải cắt mọi thứ trên người anh. Chúng tôi không hy vọng anh sẽ phục hổi.

Lapina Tamara, nữ sinh lớp 6.

Khi quân Đức tới Rzhev, chúng bắt buộc tất cả các bà mẹ của chúng tôi phải đi làm. Nhiều người trốn được. Nhưng cần nước và thức ăn. Khi các bà đi lấy nước, chúng bắn họ bằng súng trường hoặc súng máy. Có lần tôi thấy chúng giết cùng lúc mấy phụ nữ đi lấy nước. Trong số những người bị giết có mẹ của một cậu bé tôi quen, Vitya. Khi Vitya thấy mẹ bị giết và đang nằm trên đường, cậu khóc và chạy bổ đến mẹ. Nhưng cậu không chạy được tới chỗ bà, cậu đã ngã xuống những viên đá của con đường vắng, cũng không phải bên xác mẹ. Cậu bị một tên Đức bắn bằng súng trường.

Kovaleva Galina, nữ sinh lớp 4B.

Tôi chỉ thấy cái chết khủng khiếp.

Tháng 01/1942 một tên Đức đến căn hộ chúng tôi và bắt mẹ đi làm. Mẹ cự tuyệt. Tên Đức dùng hết sức bình sinh nện báng súng vào lưng mẹ. Không kịp la một tiếng, mẹ gục xuống. Chúng tôi khóc, nhưng lặng lẽ: khi đó tên Đức vẫn còn trong căn hộ. Mẹ đau một tuần rồi mất. Chỉ còn chúng tôi với bà ngoại. Một tháng sau khi mẹ mất, chúng tôi cùng bà về làng tìm thực phẩm, bởi chúng tôi chẳng có gi ăn. Chúng tôi kiếm được một ít lúa mạch đen và hạt giống. Trên đường về một phụ nữ và một bé trai còn nhỏ hơn tôi đuổi kịp chúng tôi, rồi chúng tôi đi cùng nhau. Bà mang túi khoai tây trên vai. Ở lối vào thành phố một tên lính Đức chặn lại, hắn tước túi đổ quý báu của người phụ nữ: bà mang thức ăn về cho các con. Tên Đức giật cái bao của bà và ném lên tuyết. Cậu bé lao theo cái bao, nằm lên nó để giữ lấy, không muốn giao cho tên Đức. Nhưng tên Đức đã giáng báng súng xuống đầu cậu. Cậu chết. Bà mẹ phát cuồng lao vào đánh đấm tên Đức. Cuộc đời của người phụ nữ bất hạnh đã đứt lìa do phát đạn từ khẩu súng trường của kẻ thù.

Merkuryev Victor, nam sinh lớp 4B.

[1] MNP. Var. 1. Tập 5. Trang 96.

[2] Từ Bug tới Kavkaz… Trang 131.

[3] MNP. Var. 1. Tập 5. Trang 95.

[4] Từ Bug tới Kavkaz… Trang 87,

[5] MNP. Var. 1. Tập 6. Trang 522-523.

[6] Hitler bí ẩn… Trang 119.

[7] RAVO. Tập 24 (13). Quyển 2. Trang 46.

[8] Chiến tranh hủy diệt ở Mặt trận phía Đông. Trang 45.

[9] ZPG. Var. 2. Trang 46.

[10] Chiến tranh hủy diệt ở Mặt trận phía Đông. Trang 27.

[11] Shneer A. Tù binh… Trang 162.

[12] MNP. Var. 1. Tập 5. Trang 312.

[13] OGB. Tập 2. Quyển 1. Trang 605-606; MNP. Var. 1. Tập 4. Trang 202-203; Mục tiêu tội ác… Trang 159-160.

[14] Muller N. Wehrmacht và sự chiếm đóng… Trang 139-140.

[15] Mục tiêu tội ác… Trang 62-63; OGB. Tập 2. Quyển. 1. Trang 638-639; Cuộc chiến tranh Đức chống Liên Xô. Trang 82.

[16] OGB. Tập 2. Quyển 1. Trang 641-642.

[17] Knopp G. SS: Pháp đình đen. Trang 208.

[18] RAVO. Tập 24 (13). Quyển 2. Trang 46.

[19] MNP. Var. 1. Tập 5. Trang 87.

[20] Heer H. Stets zu erschießen sind Frauen… Trang 81.

[21] Tôi đã thấy điều này… Trang 207.

[22] Như trên. Trang 29.

[23] OGB. Tập 2. Quyển 2. Trang 280.

[24] Halder F. Nhật ký chiến tranh. Tập 3. Trang 145.

[25] Lubyanka trong những ngày chiến trận Moskva. Trang 149-150.

[26] Heer H. Stets zu erschießen sind Frauen… Trang 78.

[27] MNP Var. 1. Tập 5. Trang 95-96.

[28] Chiến tranh hủy diệt… Trang 47.

[29] MNP Var. 1. Tập 5. Trang 121; Var. 2. Tập 3. Trang 246.

[30] Mainstein E. Von. Chiến thắng vuột mất. Trang 250.

[31] MNP Var. 1. Tập 5. Trang 95-96.

[32] Cuộc chiến tranh Đức chống Liên Xô. Trang 87.

[33] MNP. Var. 1. Tập 6. Trang 417; Tập 7. Trang 302-303; Mục tiêu tội ác… Trang 89-91; OGB. Tập 2. Quyển 2. Trang 534-535; Dashichev V. I. Chiến lược của Hitler… Tập 3. Trang 574-575; Chiến tranh hủy diệt ở Mặt trận phía Đông. Trang 32; Tội ác của quân chiếm đóng phát xít Đức trên lãnh thổ Belarus. Trang 26-28.

[34] Kilian H. Trong bóng tối của chiến thắng. Trang 82.

[35] Andriyanov V. I. Quần đảo OST. Trang 24.

[36] Kovalev B. N. Ách chiếm đóng của Đức Quốc xã… Trang 69.

[37] Altman I. A. Những nạn nhân của lòng căm thù… Trang 252.

[38] Như trên.

[39] RAVO. Tập 24 (13). Quyển 2. Trang 45.

[40] Kuznetsov A. V. Thảm sát Babi Yar. Trang 108.

[41] OGB. Tập 2. Quyển 2. Trang 549-550; MNP. Var. 1. Tập 5. Trang 310-311; Mục tiêu tội ác… Trang 66-67; Cuộc chiến tranh Đức chống Liên Xô. Trang 122; Lubyanka trong những ngày chiến trận Moskva. Trang 368-370; Cuộc chiến hủy diệt ở Mặt trận phía Đông. Trang 33; Wette W. Hình ảnh kẻ thù… Trang 107; Dickson C. O., Heilbrunn O. Phong trào du kích cộng sản. Trang 148-149.

[42] Những ai muốn có thể so sánh chỉ thị ăn thịt người này với những chuyện cổ tích về thái độ nhân đạo với nông dân Ukraina mà ngài von Rundstedt sẵn sàng thể hiện sau chiến tranh. Xem: Blumentrit G. Thống chế von Rundstedt: Những chiến dịch quân sự của các tập đoàn quân ”Nam” và ”Tây”, 1939-1945 / Dịch từ tiếng Anh I. A. Igoryevsky, M.: Centrepolygraph, 2005. Trang 117-118.

[43] ShneerA. Tù binh… Trang 427.

[44] Phong trào du kích: Theo kinh nghiệm của cuộc Chiến tranh Vệ quốc vĩ đại năm 1941-1945: Bút ký lịch sử quân sự / Azyassky N. E, Dolgiy M. S., Knyazkov A. S., Perezhogin V. A., Chernov Yu. I.; Chủ biên V. A. Zolotarev; Lời tựa V. Govorova. M.: Kuchkovo Pole, 2001. Trang 88.

[45] Cuộc chiến tranh Đức chống Liên Xô. Trang 60-61;Volkovsky N. L. Lịch sử chiến tranh thông tin. M.: AST; St. Petersburg: Polygon, 2003. Quyển 2. Trang 251. Xem thêm: Không dễ qua mau, không dễ lãng quên… Trang 47.

[46] Muller N. Wehrmacht và sự chiếm đóng… Trang 138-139;Phong trào du kích… Trang 88; MNP. Var. 1. Tập 5. Trang 266; Không dễ qua mau, không dễ lãng quên… Trang 37.

[47] Cuộc chiến tranh Đức chồng Liên Xô. Trang 129-130; MNP. Var 1. Tập 7. Trang 303-305.

[48] MNP. Var 1. Tập 7. Trang 308.

[49] Cuộc chiến tranh Đức chống Liên Xô. Trang 129.

[50] Qua ngọn lửa của trận đánh vĩ đại. Trang 78.

[51] Killian H. Trong bóng tối của chiến thắng. Trang 79.

[52] MNP. Var 1. Tập 5. Trang 96.

[53] Như trên. Trang 94-95; Var 2. Tập 3. Trang 218; Không dễ qua mau, không dễ lãng quên… Trang 27.

[54] OGB. Tập 2. Quyển 2. Trang 281.

[55] Phong trào du kích… Trang 95.

[56] Mục tiêu tội ác… Trang 112-114; Krysin M. Yu. Binh đoàn SS Latvia. Trang 65-66.

[57] MNP. Var 1. Tập 6. Trang 419-420.

[58] Kovalev B. N. Ách chiếm đóng của Đức Quốc xã… Trang 35.

[59] Mục tiêu tội ác… Trang 304; OGB. Tập 2. Quyển 2. Trang 596.

[60] Andriyanov V. I. Quần đảo OST. Trang 19. So sánh với một phát biểu khác của Koch: “Nếu tôi tìm thấy một người Ukraina xứng đáng ngồi chung bàn với tôi, tôi sẽ phải ra lệnh bắn hạ hắn”. Xem: Breininger V. Các đối thủ của Hitler. Trang 275.

[61] MNP Van 1. Tập 4. Trang 658-659; Mục tiêu tội ác… Trang 207; Kovalev B. N. Ách chiếm đóng của Đức Quốc xã… Trang 168.

[62] Kovalev B. N. Ách chiếm đóng của Đức Quốc xã… Trang 171.

[63] Như trên. Trang 173.

[64] Phong trào du kích… Trang 91.

[65] Hitler bí ẩn. Trang 119.

[66] OGB. Tập 3. Quyển 2. Trang 375-376.

[67] Kuznetsov A. V. Thảm sát Babi Yar. Trang 113.

[68] Phong trào du kích… Trang 169.

[69] MNP. Var. 1. Tập 4. Trang 262.

[70] Mục tiêu tội ác. Trang 40.

[71] Dashichev V. I. Chiến lược của Hitler… Tập 3. Trang 11.

[72] Như trên. Trang 14; Wette w. Hình ảnh kẻ thù… Trang 109.

[73] Mục tiêu tội ác… Trang 70.

[74] Như trên. Trang 71.

[75] Strik-Strikfeldt w. Chống Stalin và Hitler. Trang 40-41.

[76] MNP. Var 1. Tập 4. Trang 664.

[77] Vert A. Nước Nga trong chiến tranh… Trang 429.

[78] OGB. Tập 2. Quyển 2. Trang 286.

[79] OGB. Tập 3. Quyển 2. Trang 139.

[80] ZRG. Var 1. Trang 117; Tiết lộ và thú nhận. Trang 142.

[81] MNP. Var 1. Tập 1. Trang 433.

[82] Lomagin N. A. Cuộc phong tỏa bí ẩn. St. Petersburg: Neva, 2003. Quyển 2. Trang 454-456.

[83] NKVD – Bộ nội vụ Liên Xô trong cuộc chiến chống thổ phỉ và lực lượng dân tộc chủ nghĩa bí mật ở Tây Ukraina, Tây Belarus và các nước Baltic (1939-1956): Tuyển tập tài liệu. M.: Phiên bản thống nhất của Bộ nội vụ Nga, 2008. Trang 77.

[84] Như trên. Trang 91.

[85] Shneer A. Tù binh… Trạng 187.

[86] Plenkov O. Yu. Đệ tam Đế chế. Quyển 1. Trang 331. Các sĩ quan Đức khác cũng đi đến kết luận tương tự. Chẳng hạn, đại tá Abwehr Schmalschleger viết, chẳng bao lâu sau khi quân chiếm đóng đến, người Ukraina hiểu rằng nước Đức “chỉ cần đất đai màu mỡ của Ukraina, chứ không phải người dân Ukraina”: Buchheit G. Abwehr – thanh kiếm và lá chắn của Đệ tam Đế chế. Trang 255.

[87] Nga và Liên Xô trong các cuộc chiến của thế kỷ XX. Trang 231-233; Dân số Nga thế kỷ XX: Bút ký lịch sử. M.: ROSSPEN, 2001. Tập 2. Trang 58-59. Con số này không bao gồm 1,2 triệu người Do Thái bị giết trong cùng thời gian, cũng như khoảng 1 triệu thường dân ở tuổi quân dịch bị ném vào các trại tù binh và hầu hết đã chết ở đó.

Nguồn: tve-4u
Được bạn: Mọt Sách đưa lên
vào ngày: 23 tháng 8 năm 2026

« Lùi Tiến »

💬 Thảo luận (1)

saomai1268
saomai1268 23.08.2026 05:41
🔗 Xem tác phẩm: Người Xô Viết Đã Chiến Đấu Vì Điều Gì

Một dân tộc đã trải qua tất cả những điều này đang làm một hành động tàn ác tương tự với chính anh em mình, trên mảnh đất cũng từng bị đức quốc xã giày xéo. Thật không hiểu tại sao họ lại hành xử như vậy? những cái chết trên đất ukraina và đất Nga trong thế kỉ 21 này thật vô nghĩa, chẳng biết họ nhân danh cái gì để hàng ngày, hàng đêm dội tên lửa vào đầu nhau và ngồi đếm chiến tích là sự tàn phá, chết chóc. Họ đang làm kiệt quệ chính mình, vả những cái tát vào chính những gì mà họ từng tự hào, gìn giữ... Đáng thương thay cho dân tộc Nga và Ukraina. Năm phút mặc niệm cho những người đã nằm xuống và sẽ nằm xuống vì cuộc chiến ngu xuẩn này.
Xem trên diễn đàn »
Đăng nhập để tham gia bình luận.