Người Xô Viết Đã Chiến Đấu Vì Điều Gì

Lượt đọc: 172 | 0 Đánh giá: 0/10 Sao
★★★★★★★★★★
★★★★★★★★★★
« Lùi Tiến »
Lời kết: Các hướng nghiên cứu

❊ ❊ ❊

Cuộc chiến ở Mặt trận phía Đông là cuộc chiến tranh đặc biệt đối với Đức Quốc xã. Tại đây, ở những vùng rộng lớn với những cư dân hạ đẳng, không luật pháp và luật đạo đức nào có hiệu lực; chỉ có sự tàn bạo mới có thể đảm bảo được sự an toàn của Đế chế và toàn bộ châu Âu. Tại các cuộc họp kín, giới lãnh đạo Đức Quốc xã đã tuyên bố thẳng về sự cần thiết phải hủy diệt hàng triệu công dân Soviet. Những kế hoạch này không chỉ nằm trên giấy – chúng đã được hiện thực hóa một cách kiên quyết và tích cực.

Những binh đoàn Hồng quân ngoài mặt trận và lực lượng du kích ở hậu phương đã không để cho các kế hoạch diệt chủng của Đức Quốc xã được thực hiện hoàn toàn; tuy nhiên, những gì Đức Quốc xã đã làm thật là khó tin về mức độ kinh hoàng. Hậu quả sự cai trị của Đức Quốc xã trên các vùng đất Liên Xô thật sự khủng khiếp. Quân đội Hồng quân đã thấy các khu vực được giải phóng hoang tàn không một bóng người theo đúng nghĩa đen. Khắp nơi là những thôn làng bị thiêu rụi, những thành phố gần như đổ nát và những nấm mồ. Theo số liệu chính thức của Liên Xô, 1.710 thành phố và thị trấn, 70.000 thôn làng, 30.000 xí nghiệp công nghiệp, khoảng 100.000 nông trang tập thể, 40.000 bệnh viện và cơ sở y tế, 84.000 trường học đã bị phá hủy hoàn toàn hoặc một phần. Khoảng 25 triệu người mất nơi trú ngụ.[1] Cần phải khôi phục nền kinh tế của các vùng lãnh thổ được giải phóng từ đống đổ nát theo đúng nghĩa đen của từ này. Mặc dù chính sách ‘tiêu thổ’ của Đức Quốc xã đã không thể cứu được Đệ tam Đế chế trước thất bại không tránh khỏi, song hậu quả của nó là một cuộc sống gần như bị chết đói tại Liên Xô vào những năm đầu sau chiến tranh.

Tổn thất về con người còn khủng khiếp hơn nhiều so với tổn thất về vật chất. Trong số 70 triệu công dân Soviet dưới ách cai trị của phát xít chỉ còn một phần năm sống sót. Khoảng 7,5 triệu người đã bị bắn và bị thiêu xác, 2,1 triệu người chết vì lao động cưỡng bức tại Đức, hơn 4 triệu người tại các vùng bị chiếm đóng chết vì đói và không có chăm sóc y tế. Ngoài ra, phát xít Đức đã thủ tiêu khoảng 3 triệu tù binh chiến tranh Soviet.[2]

Dường như không thể nào quên được nỗi kinh hoàng ấy; tuy nhiên, chỉ hơn 60 năm trôi qua, nạn diệt chủng người dân Soviet đã bị lãng quên, song chẳng phải tại một nơi nào đó ở phương Tây, nơi người ta còn chưa thật sự biết rõ về nó, mà là ngay tại nước Nga.

Ngày nay chúng ta không muốn nói về chính sách hủy diệt đầy máu lạnh của phát xít Đức trên các vùng đất Liên Xô. Hơn thế nữa, nhiều người còn cố làm ra vẻ rằng lực lượng chiếm đóng của Đức không hề thực hiện tội ác nào cả, chẳng qua đó chỉ là những sự cố không thể tránh khỏi trong chiến tranh.[3]

Nếu như kẻ nào đó rít qua kẽ răng về những “chiến công” của phát xít Đức, kẻ đó ngay lập tức cũng sẽ nhảy sang vạch trần đường lối Stalin nói riêng và chế độ Liên Xô nói chung. Mặc dù, chế độ Soviet thì có liên quan gì ở đây?

“Ký ức lịch sử chân chính cố tình bị xóa bỏ”, nhà sử học Natalya Narochnitskaya nhận xét về vấn đề này, “dự án địa chính trị của Hitler: hủy diệt toàn bộ các quốc gia và dân tộc, tước đoạt sinh mệnh của họ lại bị lãng quên. Tuy nhiên, nếu chúng ta không bao giờ quên được sự đau khổ của người Do Thái, thế thì tại sao cộng đồng thế giới và chính người Do Thái lại nhìn nhận một cách đầy nghịch lý với lòng trung thành ngày càng tăng đối với những kẻ thừa kế của các lực lượng phát xít tại các nước Baltic, Ukraina, Belarus, mà bàn tay của chúng còn dính máu hàng ngàn người Do Thái và hàng ngàn người Slav? Tại sao người Slav nói chung không được nhắc đến như là những nạn nhân của nạn diệt chủng Hitler? Phải chăng là vì chính những người đã thể hiện sự kháng cự mạnh mẽ nhất trước nạn xâm lược của Hitler và đã khiến không thể nào có chuyện lặp lại một trại tập trung như Auschwitz, thì không thể buộc tội chủ nghĩa phát xít?”[4]

Một chiến dịch tuyên truyền rầm rộ được tổ chức ở phương Tây và trên hàng loạt phương tiện truyền thông đại chúng tại Nga trước thềm kỷ niệm 60 năm ngày Chiến thắng hoàn toàn xác nhận giả định này.[5]

Tuy nhiên, không thể không thừa nhận rằng ở một mức độ đáng kể, tình huống tương tự có thể xảy ra chính là do sự quản lý yếu kém của Nga.

Trong thời kỳ chiến tranh, hàng ngàn bài báo và hàng chục cuốn sách đã được viết về tội ác của phát xít Đức. Alexey Tolstoy và Mikhail Sholokhov, Ilya Erenburg và Konstantin Simonov, với toàn bộ sức mạnh tài năng của nhà văn, đã thuật lại cho đất nước và thế giới về địa ngục trần gian mà phát xít Đức đã tạo dựng trên các vùng đất Liên Xô bị chiếm đóng. Sự thật còn khủng khiếp hơn bất cứ sự bịa đặt nào; các nhà văn và nhà báo Soviet đã trích dẫn những mệnh lệnh của chỉ huy các lực lượng Wehrmacht và SS, nhật ký và thư từ của binh lính và sĩ quan Đức – và như thế là quá đủ. Khi có cơ hội, những tuyển tập hồ sơ tài liệu có cơ sở vững chắc được xuất bản ra công chúng; bây giờ thậm chí những kẻ hoài nghi mạnh mẽ nhất cũng không thể cáo buộc phía Liên Xô về việc tuyên truyền xuyên tạc sự thật.[6]

Tuyển tập các hồ sơ tài liệu vẫn tiếp tục được xuất bản 15 tới 30 năm sau đó.[7] Những tài liệu vô cùng quan trọng đã được lưu hành cho mục đích nghiên cứu khoa học, song việc sử dụng chúng còn nhiều điều chưa đạt mong muốn. Có hai nguyên nhân.

Thứ nhất, cú sốc tâm lý mà xã hội Soviet nhận được là quá mạnh. Nghiên cứu nó trong tình trạng tươi mới tựa như khoét sâu thêm vết thương còn chưa lên da non; cần phải có thời gian trước khi tấn bi kịch đã trải qua có thể trở thành chủ đề để suy ngẫm.[8]

Thứ hai, Liên Xô thời hậu chiến dường như không quan tâm đến những nghiên cứu tương tự, bởi lẽ ngoài quân đội và cảnh sát Đức, sự hình thành đội ngũ hợp tác với địch từ các nước cộng hòa còn tham gia tích cực hơn vào việc hủy diệt thường dân.

Trong thời kỳ lãnh đạo đất nước, chính quyền Soviet đã làm rất nhiều việc để ngăn chặn sự phát triển của mầm mống hận thù giữa các dân tộc mà phát xít Đức gieo mầm. Sau chiến tranh, Kremlin đã thể hiện sự nhân đạo đáng ngạc nhiên theo mọi tiêu chuẩn, ân xá tất cả cộng tác viên và cảnh sát phục vụ cho quân Đức giữ chức vụ nhỏ, nếu như không có nợ máu và không chạy trốn cùng người Đức. Những ai bỏ trốn chỉ bị xử sáu năm lưu đày.[9]

Việc này được thực hiện vì những lý do hoàn toàn thực dụng: một đất nước bị chiến tranh tàn phá vô cùng nặng nề cần hòa bình, thống nhất chứ không phải sự chia rẽ. Cũng vì lý do tương tự, một thời gian sau, một lệnh câm bất thành văn đã được áp dụng cho những nghiên cứu về sự chiếm đóng của phát xít Đức: nghiên cứu tỉ mỉ về chủ đề này có thể phá vỡ nền hòa bình trong nước và làm nghiêm trọng thêm vấn đề giữa các dân tộc.

Kết quả là, lợi ích chính trị hóa ra còn được đặt cao hơn sự trung thực lịch sử. Nỗi kinh hoàng của ách chiếm đóng phát xít vẫn còn lưu lại trong ký ức người dân, nhưng không được các sử gia ghi nhận đánh dấu, mà chỉ trong các tác phẩm viết về phong trào du kích Soviet mới có thể bắt gặp những phần nhỏ về chính sách chiếm đóng của phát xít, những phần ấy rõ ràng chỉ có tính chất thứ yếu và mang tính minh họa.[10]

Ngoại lệ đáng chú ý duy nhất là Belarus, một trong những nước cộng hòa chịu nhiều đau thương nhất trước nạn diệt chủng của phát xít Đức. Cụ thể là tại thành phố Minsk năm 1984, chuyên khảo Chính sách diệt chủng và ‘tiêu thổ’ của Đức Quốc xã tại Belarus đã được xuất bản với một số lượng không đáng kể. Những tranh ảnh về các ngôi làng bị tàn phá, các trại tử thần được lập trên lãnh thổ nước cộng hòa và các hoạt động “phản du kích” lớn nhất chiếm gần 70% nội dung sách.[11]

Tại Đức, Ba Lan và Israel, các nghiên cứu về những khía cạnh khác nhau của cuộc chiến tranh hủy diệt ở mặt trận phía Đông còn có căn cứ hơn nhiều so với tại Liên Xô và sau đó là ở Nga. Chỉ riêng ở Đức (cả hai phía của Bức tường Berlin) trong vòng 30 năm, vài chục chuyên khảo về chủ đề này đã được xuất bản. Hans-Adolf Jacobsen đã nghiên cứu lịch sử sự xuất hiện và thi hành mệnh lệnh tàn khốc “đối với các chính ủy”, Manfred Messerschmidt đã trình bày việc Wehrmacht đã thấm nhuần ý thức hệ Đức Quốc xã như thế nào, Norman Muller và Andreas Hilgruber đã kể về cuộc chiến tranh hủy diệt, Christian Streit – về việc thủ tiêu các tù binh chiến tranh Soviet, Helmunt Krausnik và Hans-Heinrich Wilhelms – về tội ác của lực lượng đặc nhiệm Einsatzgruppen.[12]

Khoa học lịch sử Soviet đã cao ngạo bỏ qua các nghiên cứu này, trong khi đó lại không tiến hành nghiên cứu riêng của mình. Tuy vậy, thảng hoặc cũng được phép dịch một số chuyên khảo của nước ngoài. Bản dịch ra tiếng Nga công trình của nhà nghiên cứu người Ba Lan S. Datner Tội ác của phát xít Đức Wehrmacht đối với tù binh chiến tranh đã xuất bản năm 1963; chuyên khảo tiếp theo của sử gia Đông Đức N. MullerWehrmacht và sự chiếm đóng đã phải chờ 11 năm mới được xuất bản. Trong một thời gian dài, hai công trình này vẫn là những nghiên cứu duy nhất có thể có được tại Liên Xô. Thật ra, vẫn còn bản dịch rút gọn một chuyên khảo xuất sắc của c. Streit Đừng coi họ là lính – công trình này đã được xuất bản dưới tiêu đề “Được phân phối theo danh sách đặc biệt”; không chỉ những độc giả bình thường, ngay cả các nhà nghiên cứu cũng không thể có được tác phẩm này.

Không có gì đáng ngạc nhiên khi vào thời kỳ đầu cải tổ (perestroika), cuộc chiến tranh hủy diệt nhân dân Nga do phát xít Đức tiến hành đã bị lãng quên. Chẳng bao lâu sau, việc phát xít Đức hủy diệt thường dân và tù binh chiến tranh Soviet bất ngờ được cáo buộc là do chính quyền Liên Xô đã khiêu khích những người Đức đứng đắn thực hiện hành vi giết người hàng loạt thật tàn bạo, còn những ai sống sót dưới thời kỳ chiếm đóng đều bị đày vào trại lao động cải tạo Siberia. Tất cả những điều này không có gì khác hơn là sự lặp lại luận điệu tuyên truyền của Goebbels; tuy nhiên, khoa học lịch sử chính thống tự nguyện buông vũ khí đã không thể đáp lại một cách thỏa đáng trước sự tân công của phe tuyên truyền chống Soviet; các cuộc tấn công càng hung hăng bao nhiêu thì càng xảo trá bấy nhiêu.

Và giờ đây, nước Nga bị buộc tội chiếm đóng các nước vùng Baltic – và những lời buộc tội này xuất phát từ miệng những kẻ kế thừa của đội quân tiễu phạt, đã hủy diệt hàng trăm ngàn người Do Thái, người Nga, người Belarus và người Ukraina, những kẻ đã rắc muối vào thùng chứa thủ cấp bị chặt của những nông dân và ném trẻ con xuống giếng. Chúng đã đòi hỏi nước Nga hàng tỷ tiền bồi thường và sự “sám hối” – mà chúng ta không thể trả xứng đáng.

Giờ đây Liên Xô được xem như là hiện thân của cái ác, tương tự Đệ tam Đế chế của Đức Quốc xã.

Giờ đây, những kẻ thuộc Quân đội giải phóng Nga[13] còn sống sót, bằng mọi cách đang lớn tiếng về tội ác huyền thoại của du kích Soviet và Hồng quân. Cho dù chúng có lớn tiếng hay không nữa – thì suy cho cùng, chính những người lính kháng chiến Soviet đã ngăn chặn tội ác của phát xít Đức và đồng bọn tại địa phương!

Nhưng chúng ta lại không nghe thấy lời phản đối trước sự vu khống đầy ác ý ấy.

Không phải vì không có gì để phản đối – mà vì không có ai để phản đối.

Tại Israel, nhiều viện khoa học chuyên ngành đã nghiên cứu lịch sử Holocaust; còn ở Nga không thể nêu tên được một nhà nghiên cứu nào, đã nghiên cứu một cách có hệ thông lịch sử chính sách hủy diệt của phát xít Đức trên các vùng đất Soviet bị chiếm đóng – mà theo định nghĩa của các sử gia Đức, là một Holocaust thứ hai.

Ngày nay nhiều người đang tìm hiểu vấn đề hợp tác với địch, viết về những người “lính Nga của lực lượng Wehrmacht” đã chiến đấu “dưới ngọn cờ của quân thù”. Tất nhiên, kiến thức về cấu trúc và nguyên tắc tập hợp các đơn vị cộng tác viên rất hữu ích – nhưng phải chăng việc biết tất cả những tiểu đoàn phía Đông này, lực lượng SS người Baltic và cảnh sát phụ trợ đã thực hiện những nhiệm vụ gì há không quan trọng hơn sao? Nhưng người ta lại thích nói về điều này với kiểu nói liến thoắng không rõ ràng – nếu không, thay vì nhìn thấy những chiến sĩ cao quý chống lại chế độ Stalin, mọi người sẽ thấy ra bọn đao phủ dã man đã hành quyết chính đồng bào mình.[14]

Đã có hàng loạt những cuốn sách và bài báo viết về tấn thảm kịch của tù binh chiến tranh và Ostarbeiter Soviet; tuy nhiên, rất thường gặp, thay vì nghiên cứu chính sách hủy diệt của Đức Quốc xã, các tác giả của những công trình này bắt đầu lặp lại điệp khúc những huyền thoại chống Liên Xô giả dối và vô vị. Không có gì đáng ngạc nhiên, khi một lần nữa, như vào thời Soviet, công trình nổi bật nhất về số phận của các tù nhân Soviet không phải là chuyên khảo của một nhà nghiên cứu trong nước mà của một nhà nghiên cứu nước ngoài. Vì những lý do hoàn toàn dễ hiểu, các sử gia Israel luôn rất quan tâm đến chính sách hủy diệt của Đức ở Mặt trận phía Đông. Lẽ tất nhiên, điều họ quan tâm hơn hết là lịch sử của Holocaust; tuy nhiên, “giải pháp cuối cùng cho vân đề người Do Thái” mà phát xít Đức đã thực hiện được tích hợp vào khái niệm chung về cuộc chiến tranh hủy diệt ở Mặt trận phía Đông chặt chẽ đến mức không thể bỏ qua những mối quan hệ này. Đấy chính là những gì mà sử gia Israel Aron Shneer đã trình bày trong tác phẩm Tù binh của mình, được xuất bản bằng tiếng Nga năm 2005.

Thật nghịch lý, tuyển tập báo cáo trong nước duy nhất về chính sách hủy diệt của Đức Quốc xã lại phải có sự xuất hiện của các sử gia nước ngoài. Tại Đức, các nhà khoa học luôn cố không quên về tội ác của phát xít Đức trên đất Liên Xô; sau khi Liên Xô tan rã, lương tri khoa học tự nhiên đã buộc người Đức cô tìm hiểu những nghiên cứu của họ phù hợp với công trình của các đồng nghiệp Nga ở mức độ nào. Nhằm mục đích ấy, Trung tâm khoa học “Đông – Tây” thuộc Đại học Kassel đã tổ chức một cuộc hội thảo về đề tài “Cuộc chiến tranh hủy diệt ở Mặt trận phía Đông. Tội ác của Wehrmacht tại Liên Xô dưới quan điểm của các nhà khoa học Nga”. Hội thảo đã được tổ chức vào tháng 6/1998; không phải là để các nhà khoa học Nga có thể phát biểu điều gì đó mới mẻ về cơ bản; tuy nhiên để dẫn nhập vào vấn đề, thì báo cáo của họ có vẻ xứng đáng hơn. Vì vậy, vào năm 1999, các tài liệu của hội thảo đã được xuất bản bằng tiếng Đức. Một thực tế đặc trưng cho khoa học lịch sử Nga một cách đầy đủ nhất là ấn phẩm có giá trị này bằng tiếng Nga chỉ xuất hiện sáu năm sau đó, vào tháng 5/2005.

Để so sánh, có thể xem xét sự việc tại Belarus, nơi không ai có thể quên được địa ngục trần gian mà những kẻ xâm lược đã tạo ra. Trong thời kỳ hậu Soviet, chỉ trong một thời gian ngắn, các tuyển tập hồ sơ tài liệu đã được chuẩn bị và xuất bản: Nạn diệt chùng của phát xít Đức tại Belarus những năm 1941-1944, Ostarbeiter người Belarus (gồm 4 tập); Vàng của Đức Quốc xã tại Belarus-, sổ tay tra cứu về các trại tập trung của phát xít, nhà tù và những địa điểm giam cầm thường dân trên lãnh thổ bị chiếm đóng tạm thời của Belarus (xuất bản hai lần) và Trại tử thần Ozarichi.

Tại Nga, trong một thời gian dài việc nghiên cứu chính sách hủy diệt của Đức Quốc xã thực tê không được thực hiện – ngoại trừ một nghiên cứu về lịch sử Holocaust, mà kết quả chủ yếu được tóm tắt trong chuyên khảo cơ bản của sử gia Ilya Altman xuất bản năm 2002 Những nạn nhân của lòng căm thù: Holocaust tại Liên Xô, 1941-1945.[15]

Mối quan tâm đến việc nghiên cứu nạn diệt chủng của Đức Quốc xã chỉ được bắt đầu nhân dịp lễ kỷ niệm 60 năm ngày Chiến thắng, mà phản ứng đầy kích động của các chính trị gia Đông Âu và truyền thông phương Tây trước sự kiện này cho thấy rõ ràng cần phải từ bỏ một thực tê về sự lãng quên mang màu sắc chính trị của Liên Xô đối với các nạn nhân của chính sách hủy diệt Đức Quốc xã.

Tuyển tập Cuộc chiến tranh hủy diệt ở Mặt trận phía Đông đã được đề cập, thực tế là ấn phẩm đầu tiên của thời kỳ hậu Soviet về chủ đề này, nhưng câu chuyện không chỉ giới hạn ở đó. Năm 2006, nhà xuất bản Châu Âu đã xuất bản ba tuyển tập hồ sơ tài liệu về tội ác của những kẻ hợp tác với phát xít ở các nước Baltic.[16] Bắt đầu từ năm 2009, quỹ “Ký ức lịch sử” bắt đầu thực hiện một chương trình đại chúng về nghiên cứu chính sách hủy diệt của Đức Quốc xã, bao gồm việc tổ chức các hội nghị và triển lãm quốc tế, xuất bản các tuyển tập hồ sơ tài liệu và bài báo.[17]

Cuốn sách mà quý vị đang cầm trong tay là công trình đầu tiên của nước Nga, trong đó những khía cạnh chủ yếu về chính sách hủy diệt của phát xít Đức tại vùng lãnh thổ Soviet bị chiếm đóng được xem xét tương đối toàn diện. Trong mọi trường hợp, đây chưa phải là một công trình hoàn thiện; về bàn chất, đó chỉ là bản phác thào ngắn gọn và mang tính bề mặt. Các nhà nghiên cứu chỉ phân tích động lực và quy mô chính sách hủy diệt của phát xít Đức, những đặc điểm của nó tại các nước cộng hòa khác nhau của Liên Xô, mức độ tham gia vào việc hủy diệt công dân Soviet của các lực lượng Wehrmacht, SD, SS và (cuối cùng nhưng không kém phần quan trọng) những đơn vị hợp tác với địch.

Tất cả những điều này là công việc của tương lai (tôi muốn tin rằng sẽ không xa); trong khi đó, cần xác định những hướng nghiên cứu chính.

Thứ nhất, cái được gọi là những “hoạt động chống du kích” trong một mức độ đáng kể đã được quy về sự hủy diệt hàng loạt dân cư tại khu vực đã bình định, cần biết rằng quân đội Đức từng phát triển một phương cách khá hiệu quả để đối phó với chiến tranh du kích. Các “đội săn” đặc biệt (Jagdkommando) được thành lập đã tiến hành một cuộc chiến âm thầm trong rừng, hủy diệt toàn bộ các đơn vị du kích; trong khi dân cư hầu như không phải chịu thiệt hại.[18] Tuy nhiên, các hoạt động tiễu phạt quy mô lớn đã được phát xít Đức thực hiện từ tháng 7 đến tháng 8/1941 và chỉ liên quan gián tiếp đến cuộc chiến chống du kích. Trong đó, nhiệm vụ thực sự của những chiến dịch tương tự là thủ tiêu càng nhiều “bọn hạ đẳng” Soviet càng tốt, đã được giới lãnh đạo và lực lượng thực thi của Đức Quốc xã ý thức rõ ràng.[19] Chúng ta nên lưu ý rằng tại các nước phương Tây bị chiếm đóng, việc thủ tiêu thường dân trong khuôn khổ “cuộc chiến chống du kích” chỉ bắt đầu từ năm 1944 và có quy mô không đáng kể.

Vấn đề thứ hai – việc phát xít Đức hủy diệt các công dân Soviet gốc Do Thái đã được nghiên cứu kỹ lưỡng hơn nhiều – có lẽ tốt hơn bất cứ hướng nghiên cứu nào khác về chính sách hủy diệt của Đức Quốc xã. Tuy nhiên, nghiên cứu về vấn đề thủ tiêu người Soviet gốc Do Thái kết hợp với các biện pháp hủy diệt khác của Đức Quốc xã sẽ cho phép chúng ta đi đến những kết luận mới và vô cùng quan trọng. Chẳng hạn, “giải pháp cuối cùng cho vấn đề Do Thái” đã trở thành một trong những hậu quả của “những mệnh lệnh tội ác” được áp dụng trước khi tấn công Liên Xô nhằm thủ tiêu tù binh chiến tranh Soviet và hủy diệt con người trên các vùng đất chiếm đóng.[20] Cũng cần xác định thành phần tuyên truyền của Holocaust; căn cứ vào một số tuyên bố của giới lãnh đạo Đức Quốc xã, việc thủ tiêu người Do Thái đã giúp chiêu mộ thêm những đồng minh mới trong cuộc chiến chống lại chủ nghĩa Bolshevik Do Thái, đồng thời tuyên bố rằng những người không có gốc Do Thái không hề bị đe dọa. Nói chung, nên đồng ý với ý tưởng của Christian Streit: “Mặc dù trong ý thức của công chúng Tây Đức đã khắc sâu xu hướng vạch một lằn ranh giữa việc hủy diệt người Do Thái và cuộc chiến chống Liên Xô ở một mức độ đáng kể”, ông viết, “thực tế ‘cuộc chiến của Hitler ở Mặt trận phía Đông’ và ‘giải pháp cuối cùng cho vấn đề Do Thái’ liên quan chặt chẽ với nhau cả về thời gian lẫn bàn chất”.[21]

Cuộc phong tỏa Leningrad là một trong những yếu tố thiết yếu của chính sách hủy diệt Đức Quốc xã. Giới lãnh đạo Đức Quốc xã đã lên kế hoạch hủy diệt dân cư của thành phố này từ trước; số phận hệt như thế đang chờ đợi người dân Moskva. Khởi đầu nghiên cứu tội ác này của Đức Quốc xã đã được đặt ra vào thời kỳ Soviet; đến nay, nó đã được các chuyên gia Nga cũng như nước ngoài nghiên cứu một cách toàn diện.

Chính sách hủy diệt tù binh chiến tranh Soviet của Đức Quốc xã được nghiên cứu khá tốt: trong số bốn chuyên khảo được dịch sang tiếng Nga có liên quan đến chính sách hủy diệt của Đức Quốc xã, đã có ba chuyên khảo viết về số phận của các tù binh. Tuy vậy, việc nghiên cứu vấn đề này vẫn còn mang tính cấp thiết, vì nó giúp có cái nhìn khác về nguồn gốc của cái gọi là “phong trào giải phóng Nga”. Những nỗ lực của các sử gia xét lại như Joachim Hoffmann nhằm mục đích trực tiếp làm sai lệch vị thế của tù binh chiến tranh Soviet trong nhà tù Đức Quốc xã không phải là vô cớ.[22]

Cái gọi là bạo lực ở cấp độ ‘phân tử’ của quân chiếm đóng Đức Quốc xã hoàn toàn chưa được nghiên cứu. Như đã biết, trước cuộc tấn công vào Liên Xô, bằng một loạt các mệnh lệnh, Bộ chỉ huy Đức Quốc xã đã miễn cho binh lính Đức khỏi trách nhiệm hình sự đối với công dân Soviet. Điều này dẫn đến việc giết hại hàng loạt thường dân vô tội, bạo lực không kiểm soát nổi và lan rộng đối với phụ nữ. Những tội ác không bị trừng phạt có quy mô lớn đến mức chúng bắt đầu gây ra những e ngại nghiêm trọng trong Bộ chỉ huy quân sự Đức, mà chúng ta có thể thấy phần nào được phản ánh qua nhật ký của tổng tham mưu trưởng quân đội, tướng Halder; thậm chí sự tàn bạo thể hiện qua những tội ác ấy còn khiến cả Hitler lo ngại. Những tội ác thuộc loại này được ghi lại trong hồi ký của các nhân chứng, và cả trong nhiều hồ sơ của lực lượng tình báo, cơ quan an ninh và liên quân du kích Soviet.

Các biện pháp gom dân và hủy diệt do Đức Quốc xã thực hiện vào những năm 1943-1944 trong khuôn khổ chiến lược ‘tiêu thổ’ hầu như chưa được nghiên cứu. Những chiến dịch như thế thường được mang cái tên mã hóa là “ghetto”. Những mô tả về các trại tập trung mà dân được lùa đến tạo ra một ấn tượng thật rùng mình; ngoài ra, ở khắp mọi nơi, những binh đoàn Hồng quân tiến hành phản công đã bắt gặp những ngôi làng với những ngôi nhà đầy xác của trẻ em, phụ nữ, người già bị bắn chết.

Các biện pháp do Đức Quốc xã thực hiện để cướp bóc về mặt kinh tế những vùng lãnh thổ bị chiếm đóng có liên quan trực tiếp đến chính sách hủy diệt của chúng. Các biện pháp này chưa được nghiên cứu đầy đủ; ở một mức độ nào đó có thể hiểu là chúng không chỉ nhắm vào việc “bòn rút” các nguồn tài nguyên cần thiết từ những vùng bị chiếm đóng mà còn nhắm vào sự phá hủy có mục tiêu rõ rệt cấu trúc kinh tế xã hội Soviet, phi công nghiệp hóa và phân mảnh kinh tế các vùng bị chiêm đóng. Hậu quả là một nạn đói thực sự, dẫn đến việc toàn bộ dân số của các vùng bị chiếm đóng, theo hồ sơ tài liệu của Đức, bị đặt dưới “nguy cơ bị chết đói”, và hàng triệu người đã chết vì đói.

Việc sử dụng sức lao động của những Ostarberter bị bắt sang Đức ở một mức độ đáng kể cũng mang tính hủy diệt; khía cạnh này chưa được nghiên cứu đầy đủ, tuy đã được nhắc đến trong một số công trình. Trước tiên, cần đề cập đến một chuyên khảo lớn của Pavel Polyan; tuy nhiên, ngay chính nhan đề của nó – “Những nạn nhân của hai chế độ độc tài” – cho thấy thành kiến về ý thức hệ của tác giả.[23] Thật đáng tiếc, thành kiến ấy đôi khi lại ảnh hưởng nghiêm trọng đến sự thích đáng của những kết luận. Quần đảo OST của Victor Andriyanov[24] cũng nhận được những lời khen ngợi. Tuy nhiên, không thể gọi cuốn sách này là một nghiên cứu: việc thuật lại số phận của những công dân Soviet bị bắt sang Đức lao động khổ sai là một điều tốt, nhưng không thể thay thế cho phân tích được.

Mà phân tích là cần thiết – xét cho cùng, thậm chí một sự tiếp cận hời hợt với vấn đề này cũng cho phép kết luận về trường hợp ngoại lệ của chính sách hủy diệt mà Đức Quốc xã đã thực hiện với người Soviet ”Quân Đức một mặt chiến đấu với quân Anh, quân Pháp, quân Mỹ theo cách khác, và mặt khác – với người Nga”, Andrei Fursov, giám đốc Viện nghiên cứu Lịch sử Nga thuộc Đại học Nhân văn Nga đã viết. “Điều này đập ngay vào mắt. Như nhà triết học và nhà tư tưởng chính trị nổi tiếng người Đức Karl Schmitt đã nhận xét, trong Thế chiến thứ hai, Đức đã tiến hành hai cuộc chiến tranh: một cuộc chiến thông thường ở Mặt trận phía Tây và một cuộc chiến hoàn toàn khác ở phía Đông. Cuộc chiến thứ nhất có mục tiêu chiến tranh thông thường; mục tiêu của cuộc chiến thứ hai là hủy diệt về mặt vật chất đại diện một nhóm sắc tộc khác, hủy diệt đối phương như kẻ thù không đội trời chung”.[25]

Trên thực tế, khi Wehrmacht tiến hành chiến tranh tại châu Âu, phát xít Đức đã không tiến hành hủy diệt hàng loạt thường dân vô tội. Tiến quân vào lãnh thổ Pháp, Bỉ và Hà Lan, mỗi người lính đều có một bản ghi nhớ với “10 điều răn về việc tiến hành chiến tranh của binh sĩ Đức”, trong đó quy định phải đúng mực với thường dân vô tội và không vi phạm các quy tắc chiến tranh quốc tế. Việc đối xử với tù binh chiến tranh người Pháp và người Anh, nói chung cần được thảo luận riêng. Ngày 26/4/1940, Halder đã viết: “Tôi đã cảnh báo [Wilhelm Keitel] về sự không mong muốn của những biện pháp liên quan đến các tù binh chiến tranh người Anh. Điều này có thể ảnh hưởng đến các tù binh là sĩ quan Đức”.[26] Bạn nghĩ gì về những biện pháp ngoài ý muôn đang được nhắc tới? Phải chăng có lẽ người Anh cũng muốn tùy tiện bắn chết tù binh hoặc phát cho một bát cháo loãng mỗi ngày rồi buộc họ làm việc từ sáng tới tối?

Không có chuyện tương tự như thế.

“Những biện pháp ngoài ý muốn” – đó là cuộc thẩm vấn với sự có mặt của các phóng viên.

Chỉ có Ba Lan và Nam Tư là những ngoại lệ khẳng định quy luật, Đức Quốc xã và đồng bọn của chúng đã áp dụng chính sách hủy diệt tương tự, y hệt như trên những vùng lãnh thổ bị chiếm đóng của Liên Xô.

Thiếu sự hiểu biết về những gì đã diễn ra trên vùng lãnh thổ bị chiếm đóng, chúng ta sẽ không đời nào hiểu được những sự kiện khủng khiếp nhất và quan trọng nhất trong lịch sử chiến tranh, chúng ta sẽ không hiểu được điều gì chờ đợi ông cha chúng ta trong trường hợp thất bại.

Chỉ khi nhớ về chính sách hủy diệt tàn bạo, được thực hiện trên vùng lãnh thổ bị chiếm đóng, chúng ta mới có thể hiểu đầy đủ sự xuất hiện của phong trào du kích và sự hợp tác với địch, vai trò lịch sử của lực lượng du kích trong việc ngăn chặn tội ác của phát xít và việc tích cực tham gia thực hiện những tội ác này của những kẻ hợp tác với địch.

Chỉ khi hiểu rõ về quy mô của việc hủy diệt công dân Soviet mà phát xít Đức đã thực hiện, chúng ta mới có thể ngưỡng mộ chiến công về mặt đạo đức của Hồng quân sau khi tiến vào đất Đức, nói chung là biết kiềm chế việc trả thù.

Chìa khóa để hiểu rõ toàn bộ cuộc Chiến tranh Vệ quốc Vĩ đại nằm ở việc nghiên cứu chính sách hủy diệt của phát xít Đức đối với nhân dân đa dân tộc chúng ta. về phần mình, lịch sử cuộc Chiến tranh Vệ quốc Vĩ đại lại là “điểm tập hợp” của lịch sử giữ nước trong thế kỷ 20 và của cả xã hội Nga hiện đại.[27] Đấy chính là tính thực dụng thiết yếu của các nghiên cứu tương tự.

Song bên cạnh tính thực dụng còn có nghĩa vụ đạo đức.

Những con người bị hủy diệt tại các vùng lãnh thổ bị chiếm đóng thuộc nhiều dân tộc khác nhau, tín ngưỡng khác nhau và độ tuổi khác nhau. Họ không giống nhau về tính cách hay màu mắt. Tất cả họ đều là công dân nước Nga. Vì điều này mà Đức Quốc xã đã kết án tử họ.

Và nếu như Đệ tam Đế chế chiến thắng cuộc chiến ấy, thì số người bị hủy diệt sẽ không phải là hàng triệu, mà là hàng chục triệu.

Hãy buông sách xuống và lại gần cửa sổ.

Ở đó, đằng sau ô cửa kính là những con người.

Ai đó đang hối hả bận bịu vì công việc của mình. Trẻ em đang nô cười và những đôi tình nhân đang hôn nhau. Những người già đang thong thả dạo bước.

Nếu như hơn 60 năm trước đây, thế hệ cha, ông của người Nga đã không giành được chiến thắng, thì không một ai trong số những người ấy còn sống sót.

Ngày nay, không thể cho phép ký ức về hàng triệu con người bị sát hại một cách lạnh lùng biến mất chỉ vì họ từng là công dân Soviet. Chúng ta phải nhớ về họ – người Nga và người Ukraina, người Belarus và người Do Thái, đàn ông và phụ nữ, người già và trẻ em.

Chừng nào còn sống, chúng ta sẽ còn nhớ mãi.

Hoặc đúng hơn là – chúng ta sẽ sống đến chừng nào còn nhớ mãi tất cả những điều này.

[1] Tuyển tập các thông báo của ủy ban nhà nước đặc biệt. Trang 429.

[2] Nga và Liền Xố trong các cuộc chiến tranh thế kỷ XX. Trang 231-234, 454-463; Dân số nước Nga thế kỷ XX. Trang 50.

[3] Taratukhin K. L. Huyện Libny dưới thời quấn Đức II Thời kỳ chiếm đóng 1941-1944: Những bài báo và hồi ký. M. Posev, 2004. Trang 54-75.

[4] Narochnitskaya N. A. Chúng ta đã chiến đấu với ai và vì điều gì. Trang 66.

[5] Krestovsky V. Chiến tranh và những dấu ấn ý thức hệ mới trong truyền thông Anh-Mỹ // Kỷ niệm 60 năm kết thúc Thế chiến thứ hai và cuộc Chiến tranh Vệ quốc vĩ đại: Người chiến thắng và kẻ bại trận trong bối cảnh chính trị, thần thoại và ký ức. Tư liệu tại diễn đàn quốc tế (Moskva, tháng 9/2005). M.: Quỹ Friedrich Naumann; AIRO-XXI, 2005. Trang 147-161.

[6] Để có tính thuyết phục, chỉ cần so sánh những tài liệu được xuất bản sau này với những trình bày các nhà tuyên truyền Soviet trong những bài viết của họ trước kia. Bất cứ ai cũng đều có thể thấy: hầu như không có gì thay đổi, ngoại trừ một số hiệu đính biên tập. Bản thân các tài liệu đã nói lên thực chất vấn đề. Chẳng hạn, Erenburg I. G. Chiến tranh, 1941-1945.Trang 304-310; Pavlov V. V. Nhật ký Gestapo II Lubyanka: niên giám lịch sử và báo chí. M., 2005. Tập 2, trang 91-112.

[7] Hồ sơ buộc tội. M., 1945. Tập 1-2; Tuyển tập các thống báo của ủy ban nhà nước đặc biệt vê tội ác của quân xâm lược phát xít Đức. M., 1946; chế độ chiếm đóng của phát xít Đức, 1941-1944.M., 1965; chúng tôi buộc tội. Riga, 1967; Mục tiêu tội ác – phương tiện tội ác. M., 1968; Những mục tiêu tội ác của phát xít Đức trong cuộc chiến chống Liên Xô. M., 1987.

[8] Đúng như những gì đã xảy ra với ký ức về trại tập trung Holocaust, mà nghiên cứu tường tận chỉ bắt đầu vào những năm 1970. Harald Welzer. Lịch sử, ký ức và hiện thực của quá khứ: Ký ức như một vũ đài đấu tranh chính trị II Tài nguyên bất khả xâm phạm. 2005. Số 2-3. Trang 34.

[9] Dyukov A. R. Nhân từ với kẻ có tội: Sự trấn áp của Liên Xô với đồng bọn của phát xít Đức tại các nước cộng hòa Baltic. M. Quỹ “Ký ức lịch sử”, 2009.

[10] Khuynh hướng này đặc trưng cho những nghiên cứu hậu Soviet. Cuộc chiến tranh Vệ quốc vĩ đại. Tập 4. Trang 115-167; Phong trào du kích. Trang 83-101; Popov A. Yu. NKVD và phong trào du kích. M. olma-press, 2003. Trang 69-77; Chiến tranh và xã hội. Tập 2. Trang 264-293.

[11] Chính sách diệt chủng và ”tiêu thổ” của Đức Quốc xã tại Belarus, 1941-1944. Minsk, Belarus, 1984.

[12] Cuộc chiến tranh hủy diệt ở Mặt trận phía Đông. Trang 9. Xem thêm: Boroznyak A. Cộng hòa liên bang Đức: làn sóng ký ức lịch sử II Tài nguyên bất khả xâm phạm. 2005. Số 2-3. Trang. 61-63; KoningH. Ký ức về chủ nghĩa xã hội dân tộc, Holocaust và Thế chiến thứ hai trong ý thức chính trị của Cộng hòa Liên bang Đức H Tài nguyên bất khả xâm phạm. 2005. Sò 2-3. Trang 96-103; SchtangK. Tội lỗi và thú nhận tội lỗi: Những khó khăn tiếp theo khi suy ngẫm về vấn đề cũ II Chiến tranh hủy diệt ở Mặt trận phía Đông: Tội ác của Wehrmacht tại Liên Xô, 1941-1944. M. AIRO-XXI, 2005. Trang 70-88.

[13] Ngay cả một nhà khoa học khách quan như B. N. Kovalev cũng ngả theo cái mốt này. Trong chuyên khảo đáng chú ý của ông “Sự chiếm đóng của phát xít và hợp tác với địch tại Nga” (2001, tái bản 2004) đã mô tả chi tiết sự phân chia địa giới vùng lãnh thổ chiếm đóng, hoạt động của các cơ quan tình báo Đức Quốc xã, sự hình thành các cơ cấu hợp tác với địch, phát triển kinh tế của vùng lãnh thổ bị Đức chiếm đóng, chính sách chiếm đóng về nông nghiệp, thuế, dân tộc và xã hội, các phương pháp cải tạo ý thức hệ cho dân chúng. Bất cứ vần đề gì – chỉ có điều không phải là chính sách hủy diệt của những kẻ chiếm đóng.

[14] Altman I. A. Những nạn nhân của lòng căm thù: Holocaust tại Liên Xô, 1941-1945. M. Quỹ “Kovcheg”; Tuyển tập “Tuyệt mật”, 2002.

[15] Latvia dưới ách cai trị của phát xít: Tuyển tập hồ sơ lưu trữ. M. châu Âu, 2006; Tấn thảm kịch Litva: Tuyển tập hồ sơ lưu trữ về tội ác của những kẻ hợp tác với địch tại Litva trong Thế chiến thứ hai. M. châu Âu, 2006; Estonia. Dấu vết đẫm máu của chủ nghĩa phát xít, 1941-1944: Tuyển tập hồ sơ lưu trữ về tội ác của những kẻ hợp tác với địch tại Estonia trong Thế chiến thứ hai. M. châu Âu, 2006.

[16] Năm 2009-2010 đã tổ chức hai hội nghị quốc tế (“Cuộc chiến tranh hủy diệt của phát xít Đức ở phía Tây Bắc Liên Xô: phương diện khu vực”, Pskov, ngày 10-11/12/2009; “Cuộc chiến tranh hủy diệt: chính sách diệt chủng của Đức Quốc xã tại Đông Âu”, Moskva, ngày 26-28/4/2010), một cuộc triển lãm (“Hủy diệt càng nhiều càng tốt: Chính sách hủy diệt của Đức Quốc xã ở phía Tây Bắc Liên Xô. Moskva”, ngày 25-30/4/2010), xuất bản ba tuyển tập hồ sơ tài liệu và ba tuyển tập các bài báo.

[17] Middeldorf E. chiến dịch nước Nga: chiến thuật và vũ trang / dịch từ tiếng Đức. M. AST, St. Petersburg, Polygon, 2001. Trang 432-433; Dickson C. O., Heilbrunn O. Phong trào du kích cộng sản. Trang 170-172; Cuộc chiến nhỏ: Tổ chức và chiến thuật hoạt động quân sự của các đơn vị nhỏ. Minsk, Harvest, 1998. Trang 400-406, 427-456; Chiến tranh chống du kích… Trang 103-116.

[18] Các sử gia Đức đã đi đến kết luận tương tự trước đây khá lâu. Chẳng hạn, Heer H. Die Logik des Vernichtungskrieges: Wehrmacht und Partisanenkampf // Vernichtungskrieg:Verbrechen der Wehrmacht, 1941-1944. Hamburg, 1995. Trang 104-156.

[19] Tuyên bố sau đây của Hitler vào tháng 01/1942 rất đặc trưng theo ý nghĩa này: “Tôi không thấy một giải pháp nào khác ngoại trừ việc thủ tiêu chúng. Tại sao tôi buộc phải thấy ở bọn Do Thái điều gì khác biệt so với các tù binh chiến tranh Nga? Tại các trại giam tù binh chiến tranh đã có nhiều người chết. Đó không phải là lỗi của tôi. Tại sao bọn Do Thái lại kích động cuộc chiến này?” ZRG. Var. 2. Trang 237-238.

[20] Streit c. Đừng coi họ là lính… Trang 24. Nhiều sử gia Do Thái đã đi đến kết luận, rằng “việc hủy diệt bọn hạ đẳng Slav và nạn diệt chủng Do Thái – là một tiến trình duy nhất”. Xem: La Libre Belgique. 19.05.2005. Trích đoạn bản dịch của InoSMI.ru.

[21] Hoffmann J. Vlasov chống lại Stalin. Trang 170-174.

[22] Polyan P. M. Những nạn nhân của hai chế độ độc tài: Đời sống, lao động, tủi nhục và cái chết của cấc tù binh chiến tranh và ostarbeiter Soviet ngoài xứ lạ và tại quê hương / Lời tựa của D. Granin. M.: ROSSPEN, 2002.

[23] Andriyanov V. I. Quần đảo OST: Số phận những nô lệ của Đệ tam Đế chế qua những bằng chứng, thư từ và hồ sơ / Lời bạt của A. Urban. M.: Cận vệ thanh niên, 2005.

[24] Fursov A. I. Đệ tam Đế chế La Mã và Đệ tam Đế chế (Ván bài poker Xô-Đức trong ván bài preferans của Mỹ) // Giai cấp chính trị. 2006. Số 7. Trang 89. Xem thêm: Drozhzhin S. N. ”Nắm vững lịch sử”: Sự đánh giá cuộc Chiến tranh Vệ quốc vĩ đại tại Đức II Mưu đồ đối với Chiến thắng vĩ đại. M.: Eksmo; Algorithm, 2005. Trang 268-269.

[25] Halder F. Nhật ký chiến tranh. Tập 1. Trang 449.

[26] Kurginyan S. Điểm tập hợp: Chiến thắng là nút thần kinh chính của mọi vấn đề tinh thần, văn hóa và chính trị của Nga II Nước Nga XXL 2005. Số 3. Trang 4-47.

[27] Quân đội giải phóng Nga là lực lượng quân sự được thành lập trong Thế chiến thứ hai gồm các binh sĩ có tư tưởng chống Liên Xô do nguyên trung tướng Hồng quân Andrei Vlasov chỉ huy. Quân đội giải phóng Nga đã giải tán vào năm 1944 khi phát xít Đức liên tiếp thất bại tại Liên Xô.

Nguồn: tve-4u
Được bạn: Mọt Sách đưa lên
vào ngày: 23 tháng 8 năm 2026

« Lùi Tiến »

💬 Thảo luận (1)

saomai1268
saomai1268 23.08.2026 05:41
🔗 Xem tác phẩm: Người Xô Viết Đã Chiến Đấu Vì Điều Gì

Một dân tộc đã trải qua tất cả những điều này đang làm một hành động tàn ác tương tự với chính anh em mình, trên mảnh đất cũng từng bị đức quốc xã giày xéo. Thật không hiểu tại sao họ lại hành xử như vậy? những cái chết trên đất ukraina và đất Nga trong thế kỉ 21 này thật vô nghĩa, chẳng biết họ nhân danh cái gì để hàng ngày, hàng đêm dội tên lửa vào đầu nhau và ngồi đếm chiến tích là sự tàn phá, chết chóc. Họ đang làm kiệt quệ chính mình, vả những cái tát vào chính những gì mà họ từng tự hào, gìn giữ... Đáng thương thay cho dân tộc Nga và Ukraina. Năm phút mặc niệm cho những người đã nằm xuống và sẽ nằm xuống vì cuộc chiến ngu xuẩn này.
Xem trên diễn đàn »
Đăng nhập để tham gia bình luận.