Người Xô Viết Đã Chiến Đấu Vì Điều Gì

Lượt đọc: 176 | 0 Đánh giá: 0/10 Sao
★★★★★★★★★★
★★★★★★★★★★
« Lùi Tiến »
Chương I: Chiến tranh kiểu Quốc xã

❊ ❊ ❊

Đêm 22/6/1941, tại biên giới phía tây Liên Xô, quân đội Đức ém binh chuẩn bị cho một cuộc xâm lăng. Các sĩ quan và tướng lĩnh Wehrmacht tại các trạm quan sát nhìn về phía đông, đoán xem trong bóng tối đâu là những khu rừng, những cánh đồng, những thành phố và làng mạc xa xôi, xa hơn, xa hơn và xa hơn nữa… “Không gian dường như vô tận, và đường chân trời hiện ra lờ mờ”, một trong những tướng Đức nhớ lại. “Chúng tôi cảm thấy nặng trĩu vì sự đơn điệu của cảnh quan, sự vô tận của không gian ken chặt những khu rừng, những đầm lầy và những đồng bằng”.[1]

Chỉ còn vài giờ trước cuộc xâm lăng; chẳng bao lâu nữa màn đêm yên tĩnh sẽ bị phá vỡ bởi tiếng gầm rú của máy bay ném bom và những loạt pháo kích. Chẳng mấy chốc bộ binh và xe tăng sẽ vượt qua các con sông biên giới, tiến sâu vào lãnh thổ Liên Xô, đẩy lùi những binh đoàn tiền tiêu, phá vỡ các tuyến phòng thủ Nga bằng những mũi thọc tăng, bao vây và bắt sống hàng trăm ngàn quân địch.

Ngày 22/6 là một ngày tốt lành cho Đế chế; đúng một năm trước, nỗi ô nhục thất bại của cuộc Thê chiến thứ nhất đã được gột rửa. Khi đó tại Compiegne người Pháp đã ký thư đầu hàng, người Nga cũng sẽ không tránh khỏi thất bại. Không còn gì để ngờ: Wehrmacht đã nhanh chóng xử lý quân Ba Lan và Pháp, chiếm đóng Đan Mạch và Na Uy, đánh bại Hy Lạp và Nam Tư. Liên Xô phải được bổ sung vào danh sách các chiến thắng của Đức; tất nhiên, kích cỡ của một đất nước trải dài về phía đông cũng thật ấn tượng, nhưng chỉ thế thôi. “Quốc trưởng nhận định, trận đánh sẽ kéo dài khoảng bốn tháng, tôi cho rằng sẽ ít hơn. Chủ nghĩa Bolshevik sẽ sụp đổ như ngôi nhà bằng giấy. Chúng tôi đang đứng trước một cuộc hành quân thắng lợi chưa từng có. Chúng tôi phải hành động”, Bộ trưởng Bộ Tuyên truyền của Đế chế, Joseph Goebbels, đã ghi trong nhật ký.[2]

Quân đoàn 56 thiết giáp thuộc tập đoàn quân thiết giáp số 4 ém quân trong những khu rừng gần Memel[3]. Vào đêm trước cuộc tấn công, tư lệnh quân đoàn Erich von Manstein không nghĩ gì về chiến thắng sắp tới. Những khoảng không bao la của Đông Phổ trải dài sau lưng viên tướng; ở đó, cách biên giới Xô-Đức vài chục km, trên lãnh địa Lenken nổi tiếng khắp đất nước với những trại ngựa, Erich von Manstein đã sống những ngày trước chiến tranh.

“Khi tới đó, chúng tôi thấy một bãi quây với bầy ngựa thuần chủng được chăn thả”, ông ta đã ghi trong nhật ký. “Đó là một góc nhỏ tràn ngập vẻ đẹp và sự hài hòa. Cảnh tượng ấy đôi với chúng tôi như một điềm lành. Góc xa xôi này của Tổ quốc chúng tôi đẹp làm sao, chốn nương thân cuối đời của chúng tôi trên đất Đức! Khi đi ngang qua một ngôi nhà trang viên bình dị thấp đặc trưng của Đông Phổ, chúng tôi gặp một cô gái trẻ đẹp, đang sốt sắng dọn dẹp hàng hiên. Chiếc khăn rực rỡ viền quanh gương mặt tươi tắn, xinh đẹp. “Ôi!” Một người đồng hành của tôi thốt lên. “Mọi thứ ở đây thật dễ thương!” Anh ta hỏi thăm cô gái trẻ về gia chủ. Và trên gương mặt anh ta lộ vẻ bối rối khi cô đáp lời anh với nụ cười thân thiện: “Là tôi đây. Xin chào mừng!” Mọi người đều bật cười vui vẻ. Cô chủ trẻ của điền trang vừa hạ sanh một bé trai, và tôi trở thành cha đỡ đầu của nó”.[4]

Hồi tưởng về Lenken, Erich von Manstein nghĩ về miền đất Đức tuyệt vời. Nghĩa vụ trước Tổ quốc buộc phải rời xa chốn ấy; viên tướng và các binh lính của mình phải ra đi chiến đấu tại miền đất phía đông hoang dã, nơi sinh sống của những chủng tộc thấp kém và hằng hà sa số những bọn hạ đẳng. Chỉ thế mới có thể bảo vệ được dân tộc Đức và Tố quốc.

Tướng Erich von Manstein nhớ về quê hương xinh đẹp của mình. Vào lúc đó tại các sư đoàn thuộc quân đoàn 56 thiết giáp của ông ta, các sĩ quan đang nghe lệnh của bộ chỉ huy về việc bắt buộc thủ tiêu tất cả các chính ủy, người Do Thái và giới trí thức Soviet.[5]

Vài trăm cây số về phía nam, binh nhì Otto Tischler thuộc trung đoàn công binh chăm chăm nhìn bờ sông Bug. Vào đúng giờ G, lính bộ binh ẩn nấp trong các khu rừng ven bờ sẽ chớp nhoáng băng sông và chiếm cứ điểm ở bờ bên kia. Sau đó công binh sẽ bắt tay vào việc lập những cầu phao để những xe tăng tập đoàn quân thiết giáp số 2 của tướng Guderian tiến lên. Nghệ thuật quân sự số một thế giới của lính tăng Đức đã đi vào huyền thoại; người Nga khó lòng kháng cự nổi các binh đoàn thiết giáp không thể khuất phục của Đế chế. Hơn thế nữa, Otto Tischler biết chính xác điều này – sẽ không ai khách sáo với bọn Bolshevik làm gì.

Binh lính đã được thông báo về điều này vài tiếng trước đó. Trước các hàng dọc xếp theo từng đại đội của trung đoàn công binh, các chỉ huy đã đọc lệnh của Quốc trưởng và Bộ tư lệnh tối cao Wehrmacht:

Thủ tục tố tụng quân sự của Wehrmacht chủ yếu phục vụ việc duy trì kỷ luật.

Phạm vi rộng lớn của các vùng chiến thuật ở Mặt trận phía Đông, hình thức tiến hành các hoạt động tác chiến và những đặc điềm của đối phương đặt ra trước các tòa án binh những nhiệm vụ mà trong thời gian tiến hành các hoạt động quân sự cho đến khi cùng cố tổ chức trên các vùng chiếm đóng, chỉ có thể được giải quyết với thành phần nhân sự tinh gọn trong trường hợp, nếu các thủ tục tố tụng chỉ giới hạn bởi nhiệm vụ chính.

Tuy nhiên, điều này chỉ khả dĩ trong trường hợp nếu quân đội phải thẳng tay để bảo vệ chính mình trước bất kỳ hình thức đe dọa nào từ phía dân sự.

Theo đó đối với vùng “Barbarossa”[6] (vùng hoạt động quân sự, hậu phương của quân đội và vùng chỉ huy chính trị) quy định những luật lệ sau…[7]

Binh lính đều biết rằng vào đúng lúc đó, những lời này đã được thông báo trên toàn Mặt trận phía Đông. Mệnh lệnh của Quốc trưởng được đọc tại những sư đoàn bộ binh lân cận, trong những đơn vị tăng chuẩn bị tấn công của các tướng Hoepner, Hoth, Guderian, Kleist, tại các đơn vị không quân, triển khai trên các sân bay dã chiến gần biên giới Đế chế.

Thứ nhất. Đối với những hành động chống lại thường dân của phe địch do quân nhân và nhân viên dân sự của Wehrmacht thực hiện, sẽ không có truy tố bắt buộc, kể cả khi hành vi là tội ác chiến tranh hoặc hành động sai trái.

Thứ hai. Khi xem xét những hành động như vậy, nên lưu ý rằng sau thất bại năm 1918, giai đoạn khổ sở tiếp theo của nhân dân Đức là cuộc chiến của bọn Bolshevik chống lại chủ nghĩa Quốc xã với vô số nạn nhân hy sinh, và không một người Đức nào quên điều đó.

Thứ ba. Thẩm phán quyết định sẽ áp dụng hay không những hình phạt kỷ luật hoặc xét xử pháp luật cần thiết trong những trường hợp đó. Thẩm phán sẽ quyết định truy tố các hành vi chống lại cư dân địa phương tại tòa án binh chỉ trong trường hợp không tuân thủ kỷ luật quân đội hoặc phát sinh mối đe dọa đến an ninh quân đội. Chẳng hạn, điều này liên quan đến những hành vi sai trái nghiêm trọng trên cơ sở trác táng tình dục, có khuynh hướng tội ác hoặc những dấu hiệu chứng tỏ sự suy đồi của quân đội. Sẽ xử nghiêm những vi phạm hình sự mà hậu quả của chúng dẫn tới việc phá hủy nơi đóng quân, cũng như nguồn dự trữ hoặc những chiến lợi phẩm quân sự gây thiệt hại cho quân đội mình.[8]

Hauptman cẩn thận gấp tờ giấy lại.

Nhìn vào đội ngũ khó phân biệt được trong lúc chạng vạng, ông ta tiếp tục:

“Mệnh lệnh này có nghĩa như sau. Nếu các anh, các chàng trai, bắn một tên Bolshevik nào đó, các anh sẽ không phải ra tòa án binh. Sẽ quá vinh dự cho chúng khi kết án một người lính Đức vì giết chết một con lợn nào đó. Chúng càng ít bao nhiêu, thì càng tốt cho chúng ta bấy nhiêu. Chỉ huy của chúng ta, tướng Guderian hiểu rõ điều đó. Vì vậy ông ấy đã ra lệnh: “Lòng nhân đạo vô căn cứ đối với bọn Cộng sản và Do Thái là không hợp lẽ. Phải bắn chúng thẳng tay”. Với bọn Nga bị thương, không có gì phải bận tâm – đơn giản là kết liễu chúng ngay tại chỗ”.[9]

Binh nhì Otto Tischler nhớ lại những lời này khi nhìn sang bờ đông sông Bug. Trên toàn mặt trận rộng lớn từ biển Baltic đến biển Đen, hàng triệu binh lính Đức ấy đang nhìn về phía đông.

Ở đó, một miền đất trù phú, giàu có và màu mỡ trải dài sau những cột mốc biên giới. Vì sự oái oăm của lịch sử mà vùng đất xinh đẹp này lại là nơi cư trú của bọn người Nga ngu ngốc và bẩn thỉu, xen lẫn với vô số bọn man di châu Á, đã đánh mất ý thức về dòng máu và danh dự. Đám quái thai Slav này lại được bọn quái vật Bolshevik gốc Do Thái[10] ngồi ở thành phố Moskva xa xôi và hoang dã chỉ huy: bọn mũi khoằm, răng vàng bựa hôi thối, tham lam và độc ác, khát máu và cướp bóc.

Mỗi người lính của Wehrmacht đang ém quân chờ đợi đều biết rằng dân tộc Đức cần miền đất này – chứ không phải bọn hạ đẳng đang sống trên đó.

Những bầy đàn Slav – Á châu này phải biến mất, nhường chỗ cho chủng tộc Đức, văn hóa Đức, danh dự Đức.

Chẳng lẽ điều đó lại không công bằng sao?

* * *

Baranovichi[11] bốc cháy. Lính tăng của tướng Guderian tiến vào thành phố vào ngày thứ tư của chiến tranh; đường phố đầy binh lính trong quân phục Đức, tiếng loảng xoàng của xe tăng với những phù hiệu thập ngoặc trên tháp súng và ngôn ngữ giật cục khó hiểu. Những đơn vị tiền phong vội vã tới Minsk: ở đó, tại thủ đô Belarus họ sẽ gặp lính tăng của tướng Hort, khép lại “vòng vây” thứ nhất của cuộc chiến này… Lính tăng đi qua Baranovichi, và thành phố chết lặng trong một dự cảm chẳng lành: theo sau là bộ binh Đức.

Một binh sĩ Wehrmacht hồi tưởng lại tâm trạng của những ngày đầu cuộc chiến: “Vào những ngày đó tất cả chúng tôi đều cảm nhận bản thân như những bộ phận của một cỗ máy chiến tranh khổng lồ, không ngừng lăn về phía đông, về phía những người Bolshevik”.[12]

“Ở đó không có chuyện thương xót”, một người khác kể. “Với chúng tôi đó là bọn cộng sản. Khi đó chúng tôi gọi là “bè lũ Bolshevik”… người Nga – chỉ để thủ tiêu mà thôi. Không chỉ đánh bại, mà là tiêu diệt họ”.[13]

Bộ binh rải khắp Baranichi như châu chấu. Chúng xông vào các tòa nhà, tịch thu chiến lợi phẩm. Bất cứ nhà nào mở cửa, chúng giết người chỉ vì một cái nhìn không thân thiện, nhà nào khóa trái từ bên trong, chúng giết hết cả nhà.[14]

Với những tù binh Soviet đầu tiên rơi vào tay quân Đức, một số phận khắc nghiệt chờ đón họ. Trên phố Pionerskaya, lính Wehrmacht trói bốn chiến sĩ Hồng quân bị bắt làm tù binh vào cột, trải rơm dưới chân họ, tưới xăng rồi thiêu sống.[15]

Các đơn vị của sư đoàn 29 bộ binh cơ giới thuộc tập đoàn quân thiết giáp số 2 của tướng Guderian chạy qua Baranichi và cũng trong ngày hôm ấy đã tiến xa hơn; buổi tối lúc nghỉ chân, binh nhì Emil Goltz đã ghi trong nhật ký:

Ngày 28/6. Sáng sớm chúng tôi đi qua Baranovichi. Thành phố tan hoang. Nhưng vẫn chưa phá xong. Trên đường từ Mir đến Stolbtsy, chúng tôi nói chuyện với dân chúng bằng ngôn ngữ của súng máy. Tiếng la hét, rên rỉ, máu và nhiều xác chết. Chúng tôi không cảm nhận bất cứ sự thương hại nào. Ở mỗi thị trấn, ở mỗi làng, cứ thấy người là tay tôi ngứa ngáy. Chỉ muốn nã súng lục vào đám đông. Hy vọng các đội SS sẽ sớm đến đây và làm nốt những việc chúng tôi chưa kịp làm.[16]

Tất cả những đơn vị mới của Wehrmacht đều đi qua Baranovichi đến Minsk.

Nghỉ chân tại một thôn nhỏ gần Borisov, quân Đức thích thú quan sát các Untermensch[17] sống ở đó. Mối quan tâm về khía cạnh dân tộc học bao nhiêu, thì về khía cạnh thực tế cũng bấy nhiêu: mặt trận chuyển dịch về phía đông, và những kẻ chinh phục muốn giải trí. Bọn lính bắt những phụ nữ không kịp chạy trốn rồi dẫn họ vào rừng – cho mình và cho các ngài sĩ quan. Theo lệnh trung úy Hummer, bọn lính giải vào rừng Lyuba Melchukova một cô gái 16 tuổi; sau khi tay sĩ quan thỏa mãn, hắn giao cô cho đám lính. Một hồi sau chúng lùa vào bãi cỏ trong rừng những phụ nữ mới; trước mắt họ bày ra một cảnh tượng hãi hùng. Tựa vào đám cây mọc san sát nhau là những tấm bảng, họa có Chúa mới biết kiếm được từ đâu. Trên đó treo một cô gái trần truồng bầm dập; bị ghim vào tấm bảng bằng những lưỡi lê, cô đang hấp hối. Trước mắt những phụ nữ khiếp đảm, bọn lính xẻo vú cô.

Trên khu rừng vang lên tiếng thét rợn người không dứt của cô gái đang bị giết.

Chỉ trong ngôi làng nhỏ ấy, quân Đức đã sát hại cả thảy 36 phụ nữ.

Số người bị hãm hiếp còn nhiều hơn.[18]

* * *

Trong khi đám lính tăng của Guderian và Hoth lao về Minsk, các đơn vị bộ binh quân đoàn 9 của tướng Adolf Strauss và quân đoàn 4 của thống chế Gunter von Kluge đã khép vòng vây quanh Belostok. Đó là một chiến dịch bao vây kinh điển, thích hợp để nghiên cứu trong các học viện quân sự. Quân Nga, lâm vào vòng vây, tìm cách phá vây ở hướng đông; nhưng ở đó, gần Minsk, các tập đoàn quân xe tăng Đức đã khép chặt vòng vây.

Trong khi đó, tại Belostok bị bỏ rơi, quân xâm lược đã tiến vào.

Tiểu đoàn cảnh sát 309 tiến vào thành phố ngay sau các đơn vị của Wehrmacht, lập tức tiến hành bình định. Đầu tiên, binh lính tiểu đoàn cướp các cửa hàng rượu chúng gặp dọc đường; đặc biệt nổi bật trong việc này là trung đội do Pipo Schneider chi huy thuộc đại đội 2. Khi các cửa hàng rượu đã trống rỗng, chỉ huy tiểu đoàn, thiếu tà Ernst Weiss, ra lệnh tập trung những người Do Thái sống trong thành phố.

Trung đội của Schneider bắt tay vào lùng sục; và để tiêu khiển, chỉ huy trung đội đã bắn năm người Do Thái bị bắt. Thuộc cấp của hắn cũng cố không bị tụt hậu. “Những gì bắt đầu bằng cuộc thảm sát, đã kết thúc bằng việc xử bắn hàng loạt người Do Thái ở Belostok. Trong công viên thành phố, người Do Thái bị bắn chết từng nhóm. Tiếng súng trên khắp nẻo đường thành phố không ngớt vang lên đến tận khuya. Những người sống sót bị lùa bằng báng súng vào giáo đường Do Thái ở trung tâm thành phố cho đến khi nó chật cứng những người dân không có khả năng tự vệ. Những người Do Thái sợ hãi bắt đầu hát và cầu nguyện… Hơn 700 người đàn ông Do Thái trong giáo đường. Được tưới xăng, trong tích tắc tòa nhà giáo đường bùng cháy như ngọn đuốc khắp mọi phía, lựu đạn bay rào rào qua các cửa sổ”.[19] Những ai chạy ra đều bị bắn.

Những sĩ quan của các đơn vị Wehrmacht khác đóng trong thành phố do chưa quen đã phẫn nộ trước vụ thảm sát diễn ra, và với hy vọng ngăn chặn nó lại, đã lao đi tìm chỉ huy tiểu đoàn cảnh sát. Họ chỉ tìm thấy thiếu tá Weiss vào buổi sáng hôm sau; và như đa số cấc thuộc cấp của mình, hắn say như chết.

* * *

Người Nga đã mất các nước cộng hòa Baltic ở phía bắc gần như ngay lập tức; vào ngày thứ ba của chiến tranh, tướng Halder hài lòng ghi trong nhật ký; “Buổi trưa. Quân ta đã chiếm Vilnius, Kaunas, Kedainiai. Tham khảo lịch sử: Napoleon đã chiếm Vilnius và Kaulnas cũng vào ngày 24/6”.[20]

Quân đoàn 56 thiết giáp của tướng Erich von Manstein, bẻ gãy sự kháng cự của các đơn vị biên phòng Hồng quân, chỉ trong bốn ngày đã hành quân 300 km và chiếm được những cây cầu chiến lược bắc qua sông Tây Dvina[21]. Sau khi chiếm Daugavpils, Erich von Manstein dừng quân, đợi cho đến khi quân đoàn 41 thiết giáp của tướng Georg Reinhardt từ phía bắc xuống yểm trợ ông ta.

…Một tuần rưỡi trước, ngày 16/6, tại Istenburg, chỉ huy tập đoàn quân thiết giáp số 4, tướng Erich Goppner đã đưa ra những chỉ thị sau cùng. Những mũi tên xanh trên bản đồ của các đơn vị xe tăng tiến công lao về Tây Dvina; rất nhiều chuyện phụ thuộc vào việc có chiếm được những cây cầu chiến lược ấy hay không.

“Tôi hy vọng đây sẽ là động lực cho cuộc đua tranh hữu nghị của quý vị”, Göppner cười nói với các chỉ huy quân đoàn thiết giáp của mình.

Erich von Manstein dự trù sẽ thắng: theo tin tình báo, trong phạm vi tấn công của các đơn vị do ông ta chỉ huy, các đơn vị Nga ít hơn nhiều so với quân số của quân đoàn 41. Tuy vậy, tướng Reinhardt cũng không từ bỏ hy vọng thành công: thay vì một, ông ta yêu cầu bộ chỉ huy cung cấp hai sư đoàn thiết giáp và không mảy may nghi ngờ rằng người Nga sẽ không thể chống cự nổi cú đòn của ông ta. Trao đổi với nhau những nhận định thân thiện, hai viên tướng hiểu rằng một điều gì đó hết sức lớn lao sẽ phụ thuộc vào sự thành công từ những hành động của họ hơn là kết quả một trận đọ sức bông lơn.

Sự tồn tại của nước Đức phụ thuộc vào chiến thắng của họ.

Điều đó được nêu rõ trong mệnh lệnh của tướng Göppner, được đọc vào đêm trước cuộc tấn công:

Cuộc chiến chống lại nước Nga là phần quan trọng nhất của cuộc đấu tranh vì sự tổn tại của nhân dân Đức. Đó là cuộc chiến lâu đời của người Đức chống lại người Slav, bảo vệ văn hóa châu Âu khỏi sự xâm lược của bọn châu Á tại Moskva, chống lại chủ nghĩa Bolshevik Do Thái. Cuộc chiến này phải nhằm mục tiêu biến nước Nga ngày nay thành đống đổ nát, và vì thế nó phải dược tiến hành với sự khắc nghiệt chưa từng thấy… Trước hết là không một sự khoan nhượng nào dành cho các đại diện của hệ thống Bolshevik Nga hiện nay…[22]

Cả Manstein lẫn Reinhardt đều đồng tình với các chỉ huy của mình…

Bẻ gãy sự kháng cự quyết liệt của người Nga, quân đoàn 41 thiết giáp của tướng Reinhardt đã đến Tây Dvina ngày 02/7; cùng lúc một đơn vị cơ giới mới – sư đoàn SS “Đầu lâu” đã đến bổ sung cho các đơn vị của Erich von Manstein. Sư đoàn này được thành lập vào tháng 11/1939 từ các đơn vị SS chuyên bảo vệ các trại tập trung; lính SS nổi bật trong quân đội Đức không chỉ bởi sự quyết liệt, mà còn ở thái độ vô cùng tàn nhẫn đối với tù binh. Trong thời gian chiến dịch tại Pháp, lính SS của sư đoàn “Đầu lâu” đã giết sạch vài trăm tù binh trung đoàn Norfolk[23] của Anh bị bắt gần Dunkirk. Sau chiến công rực rỡ này, bộ chi huy Đức đánh giá rất cao sư đoàn “Đầu lâu”; mà sau này tướng Erich von Manstein viết trong hồi ký, “đó là một sư đoàn tinh nhuệ nhất trong tất cả các sư đoàn SS mà tôi từng gặp”.[24]

Ở Mặt trận phía Đông, thái độ tàn ác của lính SS “Đầu lâu” không chỉ đối với các tù binh chiến tranh, mà còn mở rộng đối với tất cả những kẻ hạ đẳng sinh sống nơi đây. Ngày 29/6 binh nhì Walter Trave thuộc sư đoàn viết trong thư gửi về nhà:

Đã đến giờ đền tội của kẻ thù mà từ lâu chúng ta chờ đợi. Bọn Bolshevik sắp bị đập tan, bọn Do Thái sẽ bị thủ tiêu. Chúng con bắn chúng bất cứ nơi đâu chúng con thấy, bất kể giới tính và tuổi tác. Quốc trưởng kêu gọi chúng con làm thế. Con biết, có những biệt đội ở hậu phương sẽ thủ tiêu sạch bọn Do Thái, bởi lẽ chúng con hành quân về phía trước và bỏ sót nhiều tên.

Người Đức ở Mặt trận phía Đông phải là những người Viking chính hiệu, mọi chủng tộc hạ đẳng phải bị thủ tiêu. Chúng ta không có quyền nương tay và nhụt chí.[25]

Tại những điểm dân cư mà các đơn vị của sư đoàn “Đầu lâu” đi ngang qua trên đường ra mặt trận chỉ còn những xác người Bolshevik bị xử bắn, người Do Thái bị sát hại và phụ nữ bị hãm hiếp.

Tuy nhiên, về mặt này, các đơn vị SS cũng không khác nhiều so với các đơn vị của Wehrmacht.

* * *

Ở cực nam của Mặt trận phía Đông, thành công của quân đội Đức không giòn giã như tại Belarus và các nước Baltic; bộ chỉ huy Liên Xô đã làm chậm lại đáng kể nhịp độ tiến công của Tập đoàn quân “Nam”.

Quân Soviet đã rời Lvov vào đêm rạng sáng 30/6; sáng sớm tiểu đoàn “Nachtigall” (Chim sơn ca) do Abwehr[26] thành lập gồm những người Ukraina theo chủ nghĩa dân tộc đã vào thành phố, theo sau là nhóm tác chiến của Yaroslav Stetsko, một trong những thủ lĩnh của OUN[27](B) – tức phái Bandera[28] của Tổ chức dân tộc chủ nghĩa Ukraina.

Gần như ngay lập tức những hoạt động bài Do Thái quy mô lớn được khởi động trong thành phố. Lý do là việc phát hiện trong các nhà tù Lvov thi thể những tù nhân được cho là bị xử bắn trước khi quân Liên Xô rút lui. Đổ lỗi những vụ hành quyết này cho người Do Thái, lực lượng “cảnh sát Ukraina” ngay lập tức tiến hành các vụ bắt bớ. Một số người Do Thái bị bắt đã bị tống vào các nhà tù để chôn xác những người bị bắn. “Họ bắt đầu lùa người Do Thái đi làm việc”, một phụ nữ Do Thái tên Rusya Wagner sau này nhớ lại. “Nhiệm vụ lùa dân Do Thái được giao cho bọn dân tộc chủ nghĩa Ukraina cấp thấp. Công việc đầu tiên của những người bị bắt là dọn dẹp và đưa xác chết ra khỏi nhà tù trên các phố Zamarstinovskaya, Lonsky, Kazimirovskaya (Brigidka). Đó là một công việc khủng khiếp, nhất là khi bọn giám thị Ukraina và Gestapo[29] coi người Do Thái là kẻ giết những tù nhân và hành hạ họ không thương xót…”.[30]

Một cư dân thành phố, người phụ nữ gốc Ba Lan Yaroslava Volochanska thuật lại với nỗi kinh hoàng: “Đó là vụ thảm sát hãi hùng. Chúng xuất hiện vào sáng sớm và xua người Do Thái ra khỏi nhà. Cái đáng sợ nhất là việc chúng giết cả trẻ em. Mọi thứ kinh khủng không sao chịu nổi. Khắp thành phố bốc mùi tử khí và xác chết phân hủy”.[31]

Cùng ngày hôm ấy, đơn vị tiền trạm của biệt đội 4B dưới sự chỉ huy của trung tá SS Gunther Heerman đã tới thành phố. Biệt đội này thuộc Einsatzgruppen “B”[32], nhiệm vụ của nó là thủ tiêu các đối thủ của Quốc xã, trong đó có người Do Thái. Theo lệnh tác chiến số 1 của chỉ huy lực lượng cảnh sát an ninh và SD[33], Reinhard Heydrich, nhiệm vụ của nhóm trừng giới bao gồm tổ chức thảm sát người Do Thái trong dân cư địa phương.[34] Thế nhưng các hoạt động bài Do Thái có quy mô đã được những người dân tộc chủ nghĩa Ukraina triển khai từ trước khi các thành viên nhóm trừng giới đến thành phố. Chỉ huy nhóm trừng giới là thiếu tướng SS Otto Rasch chỉ còn mỗi việc bổ sung cho những hoạt động này quy mô rộng lớn hơn. Các thành viên nhóm trừng giới tham gia vào các vụ hành quyết người Do Thái; ngoài ra, theo một số giả định, nhằm mục đích tuyên truyền, họ đã làm biến dạng thi thể của các tù nhân bị bắn chết trong nhà tù Lvov.[35] Những người Do Thái bị “cảnh sát Ukraina” giết chết vào đêm trước cũng bị cho là “nạn nhân của bọn Bolshevik”.[36] Bằng cách đó, tâm trạng chống Liên Xô và bài Do Thái trong thành phố đã nhận được cú hích bổ sung.

Chiến dịch tuyên truyền bài Do Thái đã được đám dân tộc chủ nghĩa Ukraina triển khai. Sáng ngày 01/7, trên tường các ngôi nhà dán lời kêu gọi của trưởng khu OUN (B), được lãnh đạo OUN (B) tại Tây Ukraina Ivan Klimov (biệt danh “Huyền thoại”) soạn sẵn từ trước chiến tranh:

Hỡi nhân dân! Nên biết! Moskva, Ba Lan, Hungary, Do Thái – đó là kẻ thù của các bạn. Hãy thủ tiêu chúng!

Nên biết! Lãnh đạo của các bạn – đó là Tổ chức dân tộc chủ nghĩa Ukraina, đó là OUN.

Thủ lĩnh của các bạn là Stepan Bandera![37]

Những lời kêu gọi này đã dẫn tới những vụ giết người mới, và không chỉ người Do Thái. Trong sổ tác chiến của sư đoàn sơn cước 1 tiến vào Lvov còn lưu lại ghi chép ngày 01/7: “Tại Lvov ngày 01/7 đã xảy ra một vụ thảm sát thật sự người Do Thái và người Nga”.[38]

Đám dân tộc chủ nghĩa Ukraina và các quân nhân nhóm trừng giới đã tiến hành một cuộc săn lùng thực thụ người Do Thái, “Quân Đức bắt người Do Thái ngay trên đường phố, trong nhà và bắt họ làm việc tại các nhà tù”, giáo sĩ Do Thái David Kakhan nhớ lại. “Ngoài ra, nhiệm vụ truy lùng người Do Thái đã được giao cho lực lượng cảnh sát Ukraina vừa mới thành lập… Mỗi sáng chính quyền xua khoảng 1.000 người Do Thái đi làm việc, phân họ ra ba nhà tù. Một số được giao đập phá bê tông và đào xác, những người khác bị giải vào những khu sân nhỏ bên trong nhà tù và bị bắn ở đó. Song “những kẻ may mắn” được làm việc không phải lúc nào cũng trở về nhà”.[39]

“Lúc ấy, ‘trò vui’ càng tăng lên”, Rusya Wagner nhớ lại. “Những tiếng thét không còn là của con người, những cái đầu vỡ nát, những thân thể dị dạng và những gương mặt biến dạng khủng khiếp của những người bị đánh đập, máu tuôn xối xả, trộn lẫn với bùn đất, đã kích động những bản năng khát máu của bầy quỷ đang tru lên vì khoái lạc… Chúng nóng nảy chọc gậy vào những phụ nữ và người già, gần như tắt thở nằm trên mặt đất, kéo lê và lôi đi…”.[40]

Trò nhạo báng những người bị bắt đôi khi hết sức quái đản. Theo lời khai của Maria Goltsman “vào ngày thứ ba sau khi quân chiếm đóng Đức vào thành phố Lvov, một nhóm cảnh sát Ukraina dưới sự chỉ huy của những sĩ quan Đức đã giải khoảng 20 công dân Lvov vào nhà số 8 trên đường Artsyshevsky, trong đó có cả phụ nữ. Trong số đàn ông có các giáo sư, luật gia và bác sĩ. Bọn xâm lược Đức đã buộc những người bị giải đến phải dùng miệng nhặt rác trong sân (không được dùng tay), trút lên đầu họ những trận mưa gậy”.[41] Chồng của Maria, Bronislav Goltsman, nói rõ tham gia vào trò nhạo báng có những cảnh sát “mang trên tay áo những phù hiệu màu xanh-vàng, có nghĩa họ là người Ukraina”, năm trong những nạn nhân đã bị bắn cùng ngày tại một ụ đường sắt gần đó.[42]

Lực lượng xung kích của các cuộc thảm sát là “cảnh sát Ukraina” của OUN; tham gia vào những vụ giết người còn có các quân nhân của tiểu đoàn “Nachtigall”. Nhiều năm sau, vào năm 1964, một trong những thành viên của đội tác chiến SD “Lvov” khai báo: “Tôi là nhân chứng của những vụ xử bắn người Do Thái đầu tiên do các đơn vị “Nachtigall” thực hiện. Tôi nói là “Nachtigall” bởi vì những tay súng trong cuộc hành quyết này… mặc quân phục Wehrmacht… Việc hành quyết người Do Thái… được thực hiện trong sân trường trung học hoặc trường phổ thông bởi thành viên các đơn vị của Wehrmacht… Chỉ sau này tôi mới hiểu đó là các thành viên của “Nachtigall”, bởi tôi quan tâm đến điều này… Tôi xác định, rằng những tay súng tham gia hành quyết mặc quân phục Đức và nói tiếng Ukraina”.[43]

Chỉ trong những ngày đầu tiên sau khi chiếm được Lvov, đám dân tộc chủ nghĩa Ukraina và các thành viên nhóm trừng giới Einsatzgruppen B đã giết hơn 4.000 người.[44] Thi thể của họ được gom vào một chỗ, để mọi người dân trong thành phố đều có thể thấy. “Bên tường của những ngôi nhà chất đống những tử thi biến dạng, chủ yếu là phụ nữ. Ở vị trí đầu tiên của cuộc “triển lãm” kinh hoàng ấy là xác một phụ nữ và đứa con được xiên vào mẹ bằng lưỡi lê”.[45]

Thủ đô của Tây Ukraina[46] mới sáp nhập vào Liên Xô chưa được bao lâu; nhiều người vì lý do này khác không thích chính quyền Soviet và có thiện cảm với những người dân tộc chủ nghĩa OUN. Thế nhưng vụ thảm sát xảy ra tại thành phố Lvov đã khiến họ rùng mình. Tại thành phố người ta thì thầm với nhau: “Quân Hitler ăn điểm tâm bằng người Do Thái, ăn trưa người Ba Lan và ăn tối người Ukraina”.[47]

Tất cả chỉ mới bắt đầu; ngày 25/7 tại thành phố diễn ra đợt thảm sát người Do Thái tiếp theo. Những ai chạy khỏi thành phố đều bị thủ tiêu. Một binh nhì của đại đội trinh sát “Nachtigall” ghi trong nhật ký:

Tại hai ngôi làng chúng tôi bắn sạch bọn Do Thái bắt gặp… Chúng tôi bắn sạch bọn Do Thái gặp ở đó.[48]

Tại làng Turbov thuộc tỉnh Vinnytsia, bọn dân tộc chủ nghĩa đã tàn sát tất cả đàn ông gốc Do Thái; khi chúng chuẩn bị thiêu sống những phụ nữ và trẻ em còn lại, ngay cả đám lính Đức cũng không thể chịu được, bằng vũ lực đã ngăn chặn vụ thảm sát.[49]

Các tài liệu từ phía Đức chứng minh những hành động bài Do Thái của bọn dân tộc chủ nghĩa Ukraina đã được thực hiện tại mọi điểm dân cư lớn. Một trong số đó là thành phố Zlochev, cách Lvov không xa.

Tại Zlochev hoạt động bí mật của OUN khá mạnh; sau khi quân Liên Xô rút đi, “bộ chỉ huy cách mạng Ukraina” và các đơn vị “cảnh sát Ukraina” trực thuộc được thành lập tại thành phố. Chính cảnh sát đã trở thành lực lượng xung kích chủ yếu trong các hoạt động bài Do Thái sau đó. Đặc biệt, khác với Lvov, việc thủ tiêu hàng loạt người Do Thái tại Zlochev đã diễn ra không có sự tham gia của các nhóm trừng giới Einsatzgruppen, biệt đội 4B không đóng quân tại thành phố.[50]

Ngày 03/7, “cảnh sát Ukraina” và các quân nhân sư đoàn SS “Viking” tập trung những người Do Thái địa phương tại quảng trường gần nhà tù và tổ chức một cuộc thảm sát thực sự. Theo lời khai sau chiến tranh của Abram Rosen: “Ngày 03/7/1941, các đội SS của Đức, cảnh sát và những người dân tộc chủ nghĩa Ukraina do Sagatyi, Antonyak, Vanne, Voronkevich, Alishkevich và những người khác cầm đầu rảo quanh thành phố, đã bố ráp và lùa dân chúng vào tù dưới cái cớ là đi làm việc. Khi dân chúng đã tập trung tại quảng trường gần nhà tù, tất cả những người có khả năng lao động được lệnh đào các hố. Sau đó, khi các hố đã đào xong, mệnh lệnh tiếp theo cho tất cả những người có mặt, trong đó có tôi, là nằm sát nhau vào hố. Rồi bọn đao phủ Đức bắt đầu bắn những người nằm trong hố bằng súng máy, đồng thời ném lựu đạn xuống hố. Bằng cách đó, tại quảng trường cạnh nhà tù, gần 3.500 thường dân đã bị sát hại. Tôi còn sống và chỉ bị thương ở chân nhờ nằm dưới những người khác. Do mưa lớn nên các hố không bị lấp đất ngay. Tôi nằm im trong hố cho đến tối, rồi chạy thoát và từ đó luôn trốn trong các tầng hầm”.[51]

Lời khai của nhân chứng đã được xác nhận bằng báo cáo ngày 03/7 của đơn vị 1C sư đoàn 295 bộ binh: “Trong thị trấn và trong thành đã diễn ra những vụ xử bắn và sát hại hàng loạt người Do Thái và người Nga, kể cả phụ nữ và trẻ em, do những người Ukraina thực hiện”.[52] ”SS cùng bọn băng đảng dân sự cướp bóc, lôi mọi người ra khỏi căn hộ của họ và giết chết một số lượng lớn”, như được nêu trong một hồ sơ khác của Đức.[53]

Những vụ giết chóc dã man đã diễn ra khắp miền Tây Ukraina: giết chỉ vì là người Do Thái, giết chỉ vì là người Ba Lan, giết chỉ vì là bọn “Moskal”[54] hay Cộng sản.[55]

Binh lính Wehrmacht không tụt hậu sau những “đồng minh” Ukraina của chúng. Quả thật, chúng quá bận rộn để tìm hiểu những phân loài khác nhau của các chủng tộc thấp kém. Có gì khác đâu chứ: cuối cùng thì tất cả đều phải bị thủ tiêu. Đột kích chung cư của xưởng may Lvov, quân Đức hãm hiếp và giết chết 32 phụ nữ trẻ.

Bọn lính say rượu đuổi bắt các cô gái Lvov, lôi vào công viên Kostyushko rồi cưỡng hiếp. Ở đó mới đây thị dân còn tản bộ, trẻ em còn chơi đùa và những đôi tình nhân còn hôn nhau, giờ đây bao trùm bạo lực dã thú, không gì kiềm chế. Linh mục của một nhà thờ Lvov V L. Pozmanev với thánh giá trong tay, cô ngăn chặn bạo lực đôi với các cô gái trẻ. Những lời kêu gọi lương tâm và đe dọa sự phán xét của Chúa trời hóa ra bất lực; lính Đức đánh đập ông lão, xé áo choàng, đốt râu và đâm ông bằng lưỡi lê.[56]

* * *

Sư đoàn bảo vệ Quốc trưởng – Leibstandarte-SS “Adolf Hitler” – trực thuộc tập đoàn quân thiết giáp số 1 của tướng Ewald von Kleist. Nhiệm vụ của đơn vị được tuyển chọn tuyệt đối trung thành với Quốc trưởng và Đế chế là đột nhập vào Kiev trong thành phần của quân đoàn thiết giáp. Vào đêm trước cuộc xâm lăng Liên Xô, quân SS đã được giải thích cách thức hành động trong cuộc chiến với người Nga. Nội một cái tên Leibstandarte phải gây ra nỗi kinh hoàng. Các chỉ huy đại đội đọc lớn những điều răn của cuộc chiến tranh hủy diệt.

Đập vỡ sọ bọn Nga, bạn sẽ bảo vệ mình khỏi chúng mãi mãi!

Bạn là chúa tể vô hạn ở. đất nước này! Mạng sống và cái chết của dân chúng nằm trong tay bạn!

Chúng ta cần khoảng bao la của nước Nga không có người Nga![57]

Tại một khu định cư gần Rovno, quân SS gặp phải sự kháng cự mãnh liệt của quân Liên Xô; chúng chỉ chiếm được khu dân cư sau khi sử dụng tất cả xe tăng và pháo binh của sư đoàn. Giận dữ trước những tổn thất, quân Đức đã lùa ra quảng trường hàng chục phụ nữ, trẻ em và người già rồi bắn chết. Khu dân cư bị thiêu trụi.

Một tuần sau đó Sepp Dietrich, chỉ huy sư đoàn Leibstandarte, ra lệnh: không bắt tù binh, mà bắn chết tại chỗ. “Các đội đặc nhiệm được lập tại tất cả các huyện”, một thuộc cấp của Dietrich kể lại sau này. “Nhiệm vụ đặc biệt của các đội là lần lượt đốt sạch hết nhà này đến nhà khác tại các làng bị chiếm đóng, còn cư dân trốn dưới các tầng hầm và hầm trú ẩn thì ném lựu đạn”.[58] Trên đường đi của quân SS chỉ được còn lại vùng đất bị cháy rụi, sao cho Quốc trưởng có thể tự hào phát biểu khi thấy nó: “Sư đoàn Leibstandarte của tôi đã đi qua đây”.

Tuy nhiên, quân SS của sư đoàn Leibstandarte vẫn chưa nổi bật lắm so với bối cảnh chung. Trong tập đoàn quân thiết giáp của Ewald von Kleist còn có sư đoàn 44 bộ binh. Một năm rưỡi sau nó đã bị tiêu diệt hoàn toàn gần Stalingrad; trong lời khai của mình, các tù binh Wehrmacht nhớ lại mùa hè chiến thắng năm 1941:

Cách thành phố Dergachi 15-20 km, tại một khu dân cư mà tôi không nhớ tên, theo lệnh của đại tá Boye, toàn bộ dân chúng bị dồn vào một giáo đường Do Thái. Sau đó giáo đường được gài mìn và cho nổ cùng với mọi người trong đó.

…Ngày 13/7 tại khu dân cư Nesolon, cách Novograd-Volonsky 30 km về phía đông, đại tá Boye ra lệnh cho nổ một nhà thờ.

…Khoảng nửa đầu tháng 8/1941, một nông trường trên đường Krupoli- Berezan đã bị đốt cháy và hơn 300 tù binh Hồng quân đã bị bắn, trong đó phần lớn là phụ nữ. Đại tá Boye vẫn thét lớn: “Phụ nữ với vũ khí có nghĩa là gì – là kẻ thù của chúng ta…”.

…Nửa đầu tháng 8 gần thành,phố Kiev, đại tá Boye lái xe của mình chạy quanh một cánh đồng và bắn các tù binh chiến tranh bằng súng trường, chẳng khác nào đi săn. Ông ta đã giết 10 người ở đó.[59]

Như ta thấy, không có sự khác biệt đặc thù giữa lính Wehrmacht và SS; cả bọn này lẫn bọn kia đều lao về phía trước, bỏ lại sau lưng những tử thi của thường dân, tù binh, những ngôi nhà bị đốt cháy và những nhà thờ bị nổ tung. Sự kháng cự quyết liệt của quân đội Liên Xô không thể ngăn chặn đà tiến quân thắng lợi của đám lính tăng Kleist, đã thắng trong trận đụng độ xe tăng ở vùng Lutsk – Dubno – Brody, các, đơn vị của tập đoàn quân thiết giáp số 1 lao về Dniepr. Chẳng mấy chốc, toàn bộ hữu ngạn sông Dniepr cho đến cửa sông đã rơi vào tay quân Đức, mặc cho sự chống đỡ kiên cường của quân đội Liên Xô tại Kiev. Gần thành phố Dnepropetrovsk, người dân đang đào hào chống tăng khi quân mô tô Đức xuất hiện. Quân Đức đã thực hiện một chuyến săn người thực sự với những người dân chạy quanh cánh đồng. Nhiều người, như Fruma Itskovich, nữ học viên Trường nghệ thuật sân khấu

Dnepropetrovsky không chạy thoát. “Chúng tôi, hai cô gái, bị đám lính mô tô bao vây”, cô nhớ lại. “Chúng bắt đầu chộp lấy, chúng tôi chống trả, thế là chúng đánh chúng tôi bằng báng súng, nện vào ngực, đánh tôi bị thương nặng ở đầu và mặt. Sau đó, chúng bắt đầu tiêu khiển. Chúng tôi chạy, còn chúng đuổi theo và tăng tốc từ phía sau, đánh vào chân. Tóc tôi dài, chúng chụp lấy bím tóc rồi chạy xe đi. Tôi phải chạy theo chúng. Nhưng tôi không thể chạy nhanh và vấp ngã, chúng lôi tôi theo rồi lại đánh…”.[60]

Đến tối cô gái tỉnh lại: bị đánh đập, đẫm máu, quần áo rách bươm. Cạnh cô là cô bạn cùng khóa tại Trường sân khấu nằm trên vũng máu. Quân Đức đã cưỡng hiếp cô ấy rồi bắn chết.

Fruma khóc rất lâu, nhìn cô bạn gái bị giết chết của mình, sau đó đứng dậy và lê bước về thành phố. Cựu nữ diễn viên tương lai, lảo đảo dọc cánh đồng bị bánh xe máy cày nát; không còn sức lực, cô vấp ngã rồi quỵ xuống. Thỉnh thoảng cô lại bắt gặp những thi thể bị giày vò của các bạn gái mà mới hồi sáng họ còn cùng nhau cười đùa, cô bật khóc, nửa lết nửa bò trên cánh đồng tưởng chừng vô tận.

Thành phố đón cô bằng những con đường đêm đã chết.

Nơi ngôi nhà thân thương là một cái hố toang hoác.

Fruma đi đến nhà dì mình – nhưng đã muộn.

Bọn phát xít đã treo cổ dì Rosa ngay ngoài sân, trên cây keo trắng dì đã trồng thuở nào, và bắn chết hai đứa con gái song sinh của dì.

Cô gái chôn cất những người thân ngay trong sân nhà; sáng ra tóc cô bạc trắng.

…25 năm sau tướng Eberhard von Mackensen, người mà quân của ông ta đã chiếm Dnepropetrovsk, viết trong hồi ký: “Dân chúng thành phố khá bình tĩnh, thậm chí còn vui mừng vì thoát khỏi chủ nghĩa Bolshevik”.[61] Lời dối trá tầm thường ấy của viên tướng còn được trích dẫn tới tận bây giờ.

* * *

Ngày 03/7, đại tá Adolf Heusenger, trưởng phòng tác chiến Bộ tổng tham mưu OKH[62] đã ghi trong nhật ký: “Quân đội Đức ở Mặt trận phía Đông đã hành xử như đoàn ô binh của Thành Cát Tư Hãn”.[63]

Vào thời điểm Heusenger viết những dòng này, cấp trên trực tiếp của ông ta, tướng Franz Halder đang khom người trên bản đồ. Trưa ngày 03/7, bức tranh ở Mặt trận phía Đông hiện rõ lên đầy phấn khích. Ở cánh bắc, tập đoàn quân thiết giáp của Hoepner đang ở giữa đường từ Tây Dvina đến Pskov; theo sau là quân đoàn 16 của Bush và quân đoàn 18 của Georg von Küchler đang di chuyển hết sức trật tự. Tập đoàn quân “Trung tâm” cũng đạt được những thắng lợi đáng kể. Buổi sáng, tập đoàn quân của Guderian đã băng qua Berezina, còn đoàn xe tăng của Hoth ở cánh trái đã tới Tây Dvina ở phía tây bắc Polotsk. Quân đoàn 2 của nam tước Maximilian von Weichs và quân đoàn 9 của Strauss cuối cùng đã thắt được “miệng bao” ở gần Novogrudok; rõ ràng, các lực lượng chính ở Mặt trận phía Tây của quân Nga đã bị bao vây. Ở phía nam, thắng lợi có vẻ khiêm tốn hơn, tuy nhiên, kể cả ở đó các đơn vị Đức vẫn tiến quân đúng theo kế hoạch.

Halder ước tính khá lâu liệu người Nga có thể làm gì. Cuối cùng ông ta mỉm cười và mở cuốn nhật ký. Ngòi bút đưa nhanh trên giấy. “Nhìn chung bây giờ có thể nói, nhiệm vụ đập tan các lực lượng chủ chốt của lục quân Nga trước Tây Dvina và Dniepr đã hoàn thành”, tổng tham mưu trưởng OKH đã viết. “Tôi cho rằng lời tuyên bố trước của một chỉ huy nhà tù thuộc quân đoàn là khá chính xác rằng ở phía đông sông Tây Dvina và Dniepr, chúng ta chỉ có thể gặp phải sự kháng cự của những nhóm riêng lẻ mà tính theo số lượng của chúng, sẽ không thể gây trở ngại đáng kể cho việc tấn công của quân Đức. Vì thế sẽ không quá lời khi nói rằng chiến dịch chống nước Nga sẽ thành công trong vòng 14 ngày”.[64]

Đó là một trong những ngày hạnh phúc nhất đời của viên tướng.

Halder đã được báo cáo tường tận về cách quân Đức hành xử trên lãnh thổ chiếm đóng. Tuy nhiên, khác với đại tá Heusenger, viên tướng này không khiếp sợ những tội ác đã gây ra.

Ông ta biết, đây mới chỉ là khởi đầu. Công việc thật sự để xóa sổ dân cư tại những vùng đất phía đông sẽ bắt đầu sau chiến thắng.

* * *

Việc chiếm đóng các nước Baltic diễn ra nhanh đến độ nhiều người không kịp sơ tán. Vào ngày quân Đức tiến vào thành phố Kaunas, nhiều người vẫn đang còn ở trạm xe buýt, hy vọng sẽ rời thành phố. Đa số họ là người Do Thái. Bọn dân tộc chủ nghĩa người địa phương từ Mặt trận các nhà hoạt động Litva đã xông vào một trạm xe buýt đầy người và tiến hành một vụ thảm sát. Chúng dùng dùi cui sắt đánh vào đầu những phụ nữ, trẻ em, người già đang cố rời đi, lôi họ ra đường rồi ném xuống cống. Trạm xe buýt đầy máu, người chết ngổn ngang giữa những gói đồ đạc vặt vãnh, những ai đã nhìn thấy cảnh tượng này sẽ không thể nào quên.

Sự tàn bạo của những “du kích quân quốc gia” Litva đã làm chấn động tâm can một sĩ quan Đức. “Sau khi mọi người bị giết chết”, ông ta nhớ lại “một thanh niên để xà beng sang một bên, đứng trên đống thi thể và hát quốc ca Litva. Cách hành xử đối với thường dân, phụ nữ, trẻ em có mặt ở đó không sao tin nổi, bởi sau mỗi vụ giết người, chúng bắt đầu vỗ tay, và khi quốc ca bắt đầu, chúng hát và vỗ tay”.[65]

Một thời gian sau, khi quân Đức bắt đầu dồn người Do Thái vào ghetto[66] và tuyên bố, rằng chính trong các ghetto này họ muốn cứu người Do Thái khỏi “cơn giận chính đáng” của người Litva, dân chúng đã tin thế. “99% dân Do Thái mang theo đồ đạc, con cái, ai có gì mang nấy, đã đến đó”, nhiều năm sau Kama Ginkas đã kể lại. “Hàng rào kẽm gai đã được xem như sự cứu rỗi”.[67]

Bọn dân tộc chủ nghĩa người địa phương, cũng như các thành viên OUN tại Tây Ukraina, tranh đua với lực lượng SS về mức độ tàn bạo; chi trong vài ngày tại Kaunas, hơn 4.000 người bị giết; đó đây thấy rõ những ngôi nhà và giáo đường bị đốt cháy.[68]

Đến ngày 11/7, theo các báo cáo của SD, tại Kaunas “tổng cộng” khoảng 7.800 người Do Thái bị thủ tiêu. Đại tá Karl Jager, chỉ huy đội đặc nhiệm A-3 lấy làm hài lòng báo cáo với Berlin:

Chúng bị thủ tiêu một phần trong các cuộc tàn sát, một phần trong các cuộc hành quyết của các đội Litva… Sự hợp tác của dân chúng trước tiên thể hiện ở việc phát hiện và chuyển giao cho chính quyền Đức bọn Cộng sản Litva, lính Hồng quân và người Do Thái.[69]

Tại Riga, sau khi chiếm đóng đã bắt đầu những vụ bắt bớ hàng loạt những người trung thành với chính quyền Soviet. Chúng bắt những công nhân vào năm 1940 đã chào mừng việc sáp nhập vào Liên Xô, những đại diện đảng và chính quyền Soviet chưa kịp trôn đi, thường dân các nước cộng hòa liên bang khác.

Theo lệnh của chỉ huy cành vệ Latvia, mọi công dân Nga đến Latvia sau ngày 17/6/1940 đều bị bắt giữ. Họ bị đưa đến các cơ quan tương ứng của cảnh sát Đức đề giam giữ.[70]

Chúng bắt người ở nhà máy, tại nơi làm việc, ở nhà – bất cứ đối tượng tình nghi nào. Những vụ bắt bớ liên tục diễn ra suốt hai tuần. Chúng đưa những người bị bắt đến đồn cảnh sát gần nhất – từ các đồn, họ bị giải đi bằng xe tải đến nhà tù trung tâm. Từ những nhà máy lớn, công nhân bị tống vào tù toàn bộ ca, kíp.[71]

“Ngay đêm đầu tiên, người Latvia, cả cảnh sát lẫn thường dân, có vũ trang, đã xông vào những khu phố Do Thái và Nga, cướp bóc, đánh đập, đôi khi bắn người tại chỗ. Thường thì họ giải theo đàn ông và phụ nữ vào nhà tù hoặc trụ sở quận”, một nhân chứng còn sống sót như một phép mầu hồi tưởng. “Ở đó họ bị đánh gần chết; bị chế nhạo bằng những những kiểu cách tinh vi nhất, chúng buộc đàn ông và đàn bà cởi trần truồng và giao cấu, rồi giết chết, thế nên từ nhà tù, hoặc thường xuyên hơn, từ trụ sở quận, không ai sống sót trở về; họ bị giải vào rừng Bickern rồi giết chết. Bằng cách này, trong vòng từ hai đến ba tuần, khoảng 12.000 người Do Thái và cũng chừng ấy người Nga, đã bị giết chết”.[72]

Ở ngoại ô các thành phố Baltic, những trại tập trung mọc lên như nấm. Một trong số đó được quân chiếm đóng tổ chức ở pháo đài số 9, nằm không xa Kaunas. Nơi này nhanh chóng trở nên khét tiếng.

Dân Kaunas gọi pháo đài số 9 là “pháo đài tử thần”. Pháo đài nằm cách thành phố 6 km về phía tây bắc, là một công trình cũ bằng bê tông cốt thép. Bên trong có nhiều hầm tối, được quân Đức sử dụng như những xà lim giam tù nhân. Bốn bề pháo đài được bao bọc bằng bê tông cốt thép và dây thép gai.

Vào những ngày đầu tiên đến Kaunas, phát xít Đức đã lùa tới pháo đài số 9 gần 1.000 tù binh Liên Xô và buộc họ đào mương trên một cánh đồng rộng hơn 5 ha gần bức tường phía tây của pháo đài. Trong suốt tháng 7-8/1941, 14 con mương đã được đào, mỗi mương rộng gần 3 m, dài hơn 200 m và sâu gần 2 m.[73]

Với sự chính xác ti mỉ kiểu Đức như thế, quân chiếm đóng đã chuẩn bị nơi chôn cất những nạn nhân tương lai của chúng.

Chẳng bao lâu, những người từ xa đã được chở tới các trại tử thần tại Baltic. Đầu tháng 7/1941 tại đường tránh của “km 214” gần thành phố Daugavpils của Latvia, một đoàn tàu dừng lại. Các toa tàu đóng kín bưng; bảo vệ không cho ai lại gần. Thế nhưng dân địa phương đã đoán ra ngay quân Đức chở gì. Các toa tàu mở ra; từ đó bò xuống những người lính Hồng quân đã kiệt sức. “Khi các toa tàu mở ra, các tù binh thèm thuồng há miệng hớp không khí. Nhiều người vừa rời khỏi toa đã gục ngã vì kiệt sức. Những ai không thể đi được, quân Đức bắn ngay tại chỗ, ở chòi gác. Từ mỗi đoàn tàu chúng ném xuống khoảng 400-500 tử thi. Các tù nhân kể lại, trong 6 đến 8 ngày đi đường, họ không được ăn uống gì hết”, một người canh gác kể lại sau này.[74]

Đó là những tù binh Liên Xô đầu tiên được chở tới Baltic.

Họ được đưa tới đó để thủ tiêu.

* * *

Thuật ngữ “Einsatzgruppen” ngay từ những ngày đầu chiến tranh đã mang ý nghĩa thật đáng sợ đối với người dân các tỉnh Liên Xô bị chiếm đóng.

Các biệt đội trừng giới này di chuyển theo sau những đoàn quân Đức tiến về phía đông. Chịu trách nhiệm an ninh ở hậu phương quân đội, các đội tiễu phạt thủ tiêu “những thành phần bất hảo”: người Cộng sản, người Do Thái và tất cả những ai chúng muốn. Mỗi tập đoàn quân đều có một đội tiễu phạt, và trong vùng hoạt động của Tập đoàn quân “Nam” có đến hai đội.

Sự thông cảm lẫn nhau giữa ban chỉ huy quân đội và lực lượng tiễu phạt đầy thiện chí. Thiếu tướng SS Franz Stahlacker, chỉ huy biệt đội trừng giới “A”, sau này hài lòng nhớ lại: “Einsatzgruppen ‘A’ sau khi chuẩn bị cho chiến dịch, đã đến khu vực phải tập trung theo lệnh, ngày 23/6/1941 – ngày thứ hai của chiến dịch Mặt trận phía Đông. Tập đoàn quân “Bắc”, bao gồm các quân đoàn 16,18 và tập đoàn quân thiết giáp số 4, đã rời đi trước ngày này”, Stahlacker viết trong báo cáo. “Nhiệm vụ của chúng tôi là thiết lập ngay liên lạc cá nhân với chỉ huy các quân đoàn này và chỉ huy hậu phương, cần phải nhấn mạnh ngay từ đầu rằng sự hợp tác với các đơn vị vũ trang thường rất thuận lợi; và trong một số trường hợp, chẳng hạn với tập đoàn quân thiết giáp số 4 do đại tướng Hoepner chỉ huy, sự hợp tác rất chặt chẽ. Một số sự hiểu lầm nhau trong những ngày đầu với một số chỉ huy, về sau đã hoàn toàn giải tỏa nhờ những cuộc trò chuyện riêng”.[75]

Sự thấu hiểu lẫn nhau giữa thống chế Karl von Rundstedt, tư lệnh Tập đoàn quân “Nam”, với thiếu tướng Otto Rasch của biệt đội trừng giới phạt được biệt phái cũng không kém phần-khăng khít.[76] Nhờ đó mà những vụ xử bắn tại Ukraina đã diễn ra suôn sẻ, đều đặn theo giờ.

Thiếu tá Reusner, chỉ huy trung đoàn 528 bộ binh được điều đến từ Mặt trận phía Tây, nghe thấy những loạt súng trường đặc trưng vào ngày đến Zhitomir. Tò mò, ông cùng hai sĩ quan tùy tùng đi tìm hiểu sự việc. “Chẳng mấy chốc”, thiếu tá nhớ lại, “chúng tôi cảm nhận được ở đây vừa diễn ra chuyện gì đó thật khủng khiếp”. Các sĩ quan rảo bước; những tiếng súng vang lên từ phía sau một ụ đường sắt.

Khi thiếu tá trèo lên ụ, ông ta thấy, như sau này kể lại, “một cảnh tượng kinh tởm vì sự tàn ác của nó, làm chấn động và kinh hoàng một người chưa được chuẩn bị”. Sau ụ đường sắt là một cái hố được đào, dài khoảng 7-8 m và rộng chừng 4 m, trên một cạnh của nó có một đống đất được xúc lên từ hố. Đống đất và bức tường sát bên hố lênh láng máu, còn trong hố thì đầy xác đàn ông và đàn bà. Không thể biết có bao nhiêu người nằm trong đó. Đến gần sát hố, thiếu tá thấy một ông lão râu rậm bạc trắng nằm giữa những người bị bắn. Ông lão vẫn còn sống và thở rất khó nhọc. “Tôi đã xiên bảy viên đạn vào bụng lão rồi, lão phải sắp tắt hơi bây giờ”, một gã cảnh sát nhe răng cười giải thích với thiếu tá.

Reusner đã trình lên bộ chi huy một kháng nghị đầy phẫn nộ. “Tôi đã tham gia Thế chiến thứ nhất, tham gia các chiến địch nước Pháp và nước Nga trong cuộc chiến này và hoàn toàn không phải là người nhạy cảm thái quá”, thiếu tá đã viết. “Tôi từng phải làm nhân chứng của nhiều điều khó chịu khi là thành viên các đơn vị tình nguyện vào năm 1919, nhưng chưa bao giờ tôi thấy những cảnh tượng như đã mô tả… Tôi cũng xin nhắc lại rằng, theo lời kể của các binh sĩ, những người thường phải thấy những vụ hành hình này, bằng cách đó hàng trăm người đã bị bắn mỗi ngày”.[77]

Báo cáo đã bị bỏ qua; thiếu tá vừa từ Mặt trận phía Tây về được tha thứ vì không biết rằng, ở đây, tại nước Nga, một cuộc chiến tranh đặc biệt đang được tiến hành, cuộc chiến hủy diệt, trong đó không thể chấp nhận sự ủy mị. Tại các chặng nghỉ chân, tuyên truyền viên phổ biến tới các binh sĩ của đội quân chiến thắng những chỉ thị mới của bộ chỉ huy:

Giờ đây cần nhấn mạnh những nhiệm vụ quan trọng, xuất phát từ các đặc điểm của Mặt trận-phía Đông. Ở đây cần phải giáo dục binh lính Đức cảm giác không khoan nhượng nhiều hơn so với các mặt trận khác. Không được phép có biểu hiện ôn hòa nào trong mối quan hệ với bất kỳ ai, bất kể giới tính, tuổi tác… Bằng mọi cách phải động viên và phát huy sáng kiến của mỗi người lính, bằng những hành động của mình phải gây nên nỗi sợ hãi trước chủng tộc Đức.[78]

Trong lúc đó tại Kiev, một tên lính Đức đã ra lệnh cho một ông già gác cổng cầm xẻng đi theo hắn. Hắn dẫn ông lão sợ hãi vào Công viên văn hóa; ở đó một tên lính khác đang canh giữ một cô gái Do Thái. Chỉ một cái liếc mắt cũng đủ hiểu: cô gái vừa bị cưỡng hiếp.

Chúng ra lệnh cho ông lão đào hố.

Khi cái hố đã đào xong,-cô gái bị xô xuống đó, nhưng cô bắt đầu la hét và trèo lên, khi ấy tên lính bắt đầu lấy xẻng nện vào đầu cô và lấp đất. Nhưng cô lại nhổm lên, ngồi dậy, và hắn lại đánh vào đầu cô. Cuối cùng chúng lấp đất rồi giậm cho phẳng.[79]

Khi binh nhất Tra-xler thuộc đại đội 2 tiểu đoàn 675 công binh quan sát những vụ xử bắn người Do Thái ở khu vực Rivne và Dubno và nhận xét cảnh tượng ấy quá khủng khiếp, trung sĩ Graf đã đáp: “Bọn Do Thái là lợn, và thủ tiêu chúng là một biểu hiện văn hóa”.[80]

* * *

Các đơn vị của lữ đoàn kỵ binh SS dưới sự chỉ huy của đại tá Fegelein từ cuối tháng 7 đã “bình định” xong các thôn của quận Starobinsky. Trong hai tuần, trung đoàn 1 thuộc lữ đoàn đã bắn 6.509 thường dân và bắt giữ 239 người. Chỉ huy trung đoàn 2 von Magill thì không thích bắn dân thưởng, mà muốn dìm họ trong đầm lầy; tuy nhiên, ý tưởng này hóa ra bất thành. Y phải báo cáo với cấp trên về sự mất mặt này:

Chúng tôi lùa phụ nữ và trẻ em xuống đầm lẩy, nhưng không đạt được hiệu quả cần thiết, vì đầm không sâu đến mức có thể chết đuối. Trong phần lớn các trường hợp, ở độ sâu 1 m chân có thể chạm đất (có thể là cát).[81]

Đọc xong báo cáo, đại tá SS Fegelein ra lệnh cho thuộc cấp đừng làm những thí nghiệm không cần thiết: đơn giản là cứ bắn những “phần tử bất hảo”, còn số lượng những kẻ bị bắn phải báo cáo hằng ngày.

Quân SS và các đơn vị Wehrmacht được giao hỗ trợ chúng đã không phụ lòng thống chế. Chỉ trong tháng 7, trung đoàn cảnh sát “Trung tâm” đã tiến hành chiến dịch tiễu phạt tại khu vực rừng hoang Belaveshskaya, phá hủy hàng loạt khu định cư. Tháng 8, các đơn vị của sư đoàn cảnh vệ 221 và 286 đã tiến hành các chiến dịch tiễu phạt tại khu vực Ivatsevichi và gần Lepel, còn các đơn vị của sư đoàn bộ binh 162 và 252 thì tại khu vực Bogushevsky. Báo cáo kết quả chiến dịch tại khu vực Bogushevskaya đã đề cập đến việc thủ tiêu 13.788 thường dân và 714 tù binh, thiêu hủy những ngôi làng.[82]

Chiều chiều, hạ sĩ Johannes Herder ghi lại trong nhật ký cảm tưởng về công việc đã làm.

Ngày 25/8. Chúng tôi ném lựu đạn vào nhà dân. Những ngôi nhà cháy rất đẹp. Lửa lan sang những nhà khác. Cảnh tượng thật ngoạn mục! Người dân khóc lóc, còn chúng tôi cười vào những giọt nước mắt ấy. Bằng cách này chúng tôi đã đốt cả chục ngôi làng.

Ngày 29/8. Tại một thôn chúng tôi bắt 12 người dân đầu tiên bắt gặp và giải họ ra nghĩa trang. Buộc họ đào cho chính mình một ngôi mộ rộng và sâu. Không có và không thể có bất cứ sự khoan dung nào cho người Slav. Lòng nhân từ đáng nguyền rủa đó xa lạ với chúng tôi.[83]

Bộ chỉ huy thể hiện mối quan tâm sâu sắc tới lực lượng tiễu phạt. “Các chỉ huy tiểu đoàn và đại đội cần đặc biệt chú ý tới việc duy trì sự quân bình tinh thần cho những người thực hiện các chiến dịch này”, chỉ huy trung đoàn cảnh sát hoạt động trong khu vực Tập đoàn quân “Trung tâm” ra lệnh. “Cần cố gắng loại bỏ những ấn tượng trong ngày bằng việc tổ chức những bữa tiệc đồng đội thân thiện. Sau đó cần giải thích cho mọi người hiểu tính thiết yếu của các biện pháp được ước định do hoàn cảnh chính trị”.[84]

Và điều này đã mang lại những kết quả cần thiết. “Mọi người xoay sở tốt với những khó khăn về thể chất”, chỉ huy một đội tiễu phạt không khỏi hài lòng khi viết trong báo cáo. “Vai trò quan trọng trong việc này là sự căng thẳng tinh thần rất lớn, đòi hỏi ở họ khi thực hiện những hành động thủ tiêu hàng loạt. Đạo đức và sức chịu đựng của họ được duy trì là nhờ mỗi người đều được giải thích về ý nghĩa chính trị của những biện pháp này”.[85]

Ồ, phải, quân tiễu phạt đã giữ gìn được đạo đức và sức chịu đựng! Mặc dù công việc căng thẳng, chúng vẫn tìm được thời gian để giải trí. Chúng xông vào nhà, cưỡng bức phụ nữ ngay trước mắt người thân và con cái họ, chế giễu và trấn áp các nạn nhân của mình. Tại thị trấn Shatsk thuộc tỉnh Minsk, tất cả các cô gái đều bị hãm hiếp và bị lùa trần truồng ra quảng trường và phải nhảy múa. Những ai cự tuyệt đều bị bắn. Tại thôn Rekty, các cô gái bị ép vào rừng, bị hãm hiếp rồi giết chết. Tại thôn Mormal quân Đức hãm hiếp hai cô gái nông trang viên. Tại thôn Khimoye gần Gomel, lính Đức xông vào nhà cưỡng bức cô con gái trước mắt cha mẹ họ.[86] Vào làng Lyady, lính Đức bắt đầu cướp nhà và cửa hàng, sau đó chỉ huy đơn vị yêu cầu dân làng “cung cấp” 18 cô gái đưa vào khu rừng gần nhất. Khi lệnh không được thực hiện, chúng tự bắt họ, dẫn vào rừng, hãm hiếp dã man, rồi bắn chết. Một số thiếu nữ ấy chỉ mới 13-14 tuổi.[87] Tại thôn Berezovka tỉnh Smolensk, lính Đức say rượu đã hãm hiếp và bắt theo mình tất cả đàn bà và thiếu nữ từ 16 đến 30 tuổi.[88]

Tại thôn Kholmy gần Mogilyov, quân phát xít bắt sáu cô gái. Hãm hiếp xong, chúng bắt đầu giải trí: móc mắt và xẻo vú, còn một cô bị buộc hai chân lên ngọn cây rồi xé xác.[89]

Những tấm ảnh đã được chụp để ghi nhớ chiến công.

Nếu không thì lấy gì để khoe sau chiến tranh?

Xem này, các con, cha các con đã có một công việc quan trọng; nếu không có những người như ông, mảnh đất này đã là nơi sinh sống của bọn quái thai Nga đáng kinh tởm. Hãy nhìn những gương mặt ngu ngốc xấu xa này: trên đó không có chút dấu vết trí tuệ nào. Thấy không, chúng chỉ quen với sự phục tùng: tự đào mộ cho mình. Phải, phải, đó là cha đứng trên ngọn đổi nhỏ ở hàng đầu, phía sau là bác Hans, còn cạnh cha là Gunther, sau đó ông đã bị giết ngoài mặt trận. Và đây, cuối cùng, chúng ta đã bắn những con lợn này.

…Chỉ đến tháng 11/1941, sực nhớ ra, thống chế SS mới ra lệnh cấm chụp ảnh hành quyết “những cá nhân”; thế nhưng binh lính Wehrmacht vẫn bấm những tấm ảnh ấy, sau này rơi vào tay các chiến sĩ Hồng quân với số lượng khá nhiều.

“Tôi tìm thấy một loạt ảnh nghiệp dư trong album của một người Đức”, một nhà báo Liên Xô sau này kể lại. “Đây là danh sách: fritz[90], cô dâu của fritz, một cô gái khỏa thân không rõ quốc tịch, một người bị trói vào cột, một túp nhà cháy, cái giá với những người bị treo cổ trên đó, hai fritz đang trò chuyện, các fritz đang đùa giỡn – một người vờ như đang treo cổ người kia, một cô gái trùm khăn bị giết, với bộ ngực trần. Liệu một kẻ như thế có phải là con người hay không?”[91]

* * *

Tại Berlin, Ulrich von Hassell, nhà ngoại giao Đức đã về hưu, ngồi trước lò sưởi. Trên chiếc bàn nhỏ cạnh ghế dựa có một cuốn sách cấm; đó là hồi ký về các cuộc gặp với Hitler của Hermann Rauschning, cựu chủ tịch thượng viện Danzig.[92] Từ khi Ulrich von Hassell biết tin về cuộc chiến tranh với Nga, ông cứ đọc đi đọc lại đúng một đoạn đó:

“Chúng ta phải”, như Hitler đã tuyên bố khi đó, “phát triển kỹ thuật diệt dân. Nếu các ông hỏi tôi hiểu thế nào là diệt dân, tôi sẽ nói là mình ngụ ý việc loại bò toàn bộ vài chủng tộc. Và đấy là những gì tôi dự định thực hiện, nói thẳng ra đấy là nhiệm vụ của tôi. Thiên nhiên khắc nghiệt, thế nên chúng ta có thể khắc nghiệt. Nếu tôi có thể gửi màu da của chủng tộc Đức vào lò lửa chiến tranh, không chút thương tiếc về việc dòng máu cao quý Đức sẽ đổ, thì lẽ đương nhiên, tôi có quyền xóa bỏ hàng triệu người của những chủng tộc hạ đẳng đang sinh sôi như loài giun bọ!”[93]

Những lưỡi lửa táp vào củi trong lò sưởi; Ulrich von Hassell có cảm giác như những thôn làng Nga đang cháy. Nhà ngoại giao về hưu biết những gì đang xảy ra ở Mặt trận phía Đông từ những nguồn trực tiếp; ông ghi vào nhật ký chuyện kể của những sĩ quan trở về từ mặt trận:

Toàn bộ cuộc chiến ở phía Đông thật kinh dị, một sự man rợ tổng thể. Một sĩ quan trẻ được lệnh phải thủ tiêu 350 thường dân bị dồn vào một nhà kho lớn, trong đó có cả phụ nữ và trẻ em, lúc đầu anh ta không chịu làm việc đó, nhưng rồi anh ta được bảo rằng như vậy là không thi hành mệnh lệnh, anh ta bèn xin 10 phút để suy nghĩ và cuối cùng đã làm điều đó, cùng những ngươi khác bắn những loạt súng tiểu liên vào đám đông qua cánh cửa nhà kho để mở, sau đó bắn nốt những người còn sống bằng súng máy. Anh ta bị sốc tới nỗi sau khi bị thương nhẹ, đã dứt khoát quyết định không trở ra mặt trận.[94]

…Vài ngày sau nhà ngoại giao già đã viết vào nhật ký một kết luận chua chát:

Tóc tai dựng ngược khi biết về những biện pháp được lên kế hoạch đề thực hiện tại nước Nga, đồng thời cả việc những đạo luật quân sự sẽ bị vi phạm có hệ thống trên những vùng đất bị chiếm đóng. Trên thực tế, ở đó sẽ phát sinh một hình thức của chế độ chuyên chế không che đậy – bức biếm họa tai ác nhất cười nhạo bất kỳ đạo luật nào. Tình trạng như vậy sẽ biến nước Đức thành một quốc gia chỉ tồn tại trên hình ảnh, được tạo ra bởi tuyên truyền thù địch… Brauchtisch và Halder đã đồng tinh với chiến thuật của Hitler tại Nga.

Theo cách này, quân đội sẽ đàm nhận phần lớn các vụ giết chóc và đốt phá mà trước đây vẫn giao cho SS.[95]

Ulrich von Hassell chi không hiểu nổi một điều: làm thế nào mà quân đội Đức ưu việt như thế lại có thể đồng ý làm điều đó. Ông không tài nào nhận thức được rằng Wehrmacht, từ khi bắt đầu chiến tranh với Liên Xô, đã không giống quân đội Kaiser[96] hồi nào.

Đó là quân đội Đức Quốc xã.[97]

* * *

Tại Minsk, quân chiếm đóng tổ chức trại tập trung đầu tiên, lùa vào đó những tù binh chiến tranh lẫn tất cả những thường dân tình nghi tuổi từ 15 đến 50. Gần 150.000 người bị nhốt trong một khu vực nhỏ, đến độ khó lòng nhúc nhích được, phải giải quyết những nhu cầu tự nhiên của mình ngay tại chỗ đứng. Họ không được cho ăn: sẽ quá vinh dự nếu cho những con lợn Nga nào đó ăn. Mong muốn duy nhất của những người bị bỏ đói trong sáu đến tám ngày là kiếm thứ gì đó ăn được. Mỗi sáng, trước trại trải dài những hàng người – đó là dân Minsk mang thức ăn đến cho tù nhân. Nhưng không thể đủ cho tất cả. Chỉ cần một chút nghi ngờ, hay đơn giản để giải khuây, lính canh Đức nổ súng thủ tiêu; các thi thể nằm giữa những người chết đói.[98]

Cuộc sống trong trại này, cũng như trong nhiều trại khác tương tự, vô nhân đạo đến mức thậm chí gây ra một số chấn động cho bộ trưởng tuyên truyền của Đế chế, Joseph Goebbels. Đến thăm một trại vào cuối tháng 8, Goebbels đã ghi trong nhật ký:

Trại tập trung tù binh là một bức tranh khủng khiếp. Một số người Bolshevik phải ngủ trên nền đất trơ trọi. Mưa như trút nước. Đa số không có mái che nào trên đầu… Đến thăm một trại tập trung tù binh như thế, có thể có một cái nhìn kỳ lạ về phẩm giá con người trong chiến tranh.[99]

Goebbel đã viết những dòng này tại Berlin, trong tòa nhà mới của phủ thủ tướng, và trên bàn bộ trưởng là tờ tạp chí của cơ quan tuyên truyền nội bộ OKW[100] vừa được đưa đến từ nhà in. Tờ tạp chí giải thích rõ sự cần thiết phải bảo vệ các giá trị chung của châu Âu khỏi chủ nghĩa Bolshevik châu Á:

Chủ nghĩa Bolshevik Nga – Do Thái xây dựng sự thống trị của mình trên cơ sở khủng bố và hủy hoại mọi giá trị tinh thần. Mọi người, ai ít nhất một lần nhìn thấy bộ mặt của một chính ủy “đỏ” đều biết bọn Bolshevik là gì. Ở đây không cần làm rõ về mặt lý thuyết. Có thể làm mích lòng những con vật, nếu gọi những tính cách của bọn Do Thái đồ tể đó là thú vật. Chúng là hiện thân của địa ngục, những tạo vật mang lòng căm thù khủng khiếp đối với toàn nhân loại cao quý. Hình ảnh của những chính ủy này dưới mắt chúng ta tượng trưng cho cuộc nồi dậy của bọn hạ đẳng chống lại dòng máu cao quý.[101]

Bộ máy tuyên truyền hoạt động thật rõ ràng, những bài báo và truyền đơn nói về bản chất chủ nghĩa Bolshevik của bọn Do Thái được phát hành hàng triệu bản. Mỗi người lính Đức ở Mặt trận phía Đông biết chính xác rằng mình đang chiến đấu chống lại những kẻ còn tồi tệ hơn thú vật, chống lại lũ Nga – Do Thái châu Á, bọn hạ đẳng, không xứng đáng được bắt làm tù binh.

“Cần phải loại bỏ bọn hạ đẳng ‘đỏ’ cùng với lũ độc tài ở điện Kremlin”, bản tin tuyên truyền số 112 do bộ phận tuyên truyền của Wehrmacht phát hành nêu rõ. “Nhân dân Đức phải hoàn thành nhiệm vụ vĩ đại nhất trong lịch sử của mình, và thế giới sẽ còn nghe thấy nhiệm vụ phải được thực hiện đến cùng”.[102]

Việc thủ tiêu lính Hồng quân bị bắt làm tù binh đã diễn ra khắp nơi. Trước mắt cư dân địa phương, những người bị bắn đã bị ném xuống các hào chống tăng, vốn đã không thể ngăn chặn những binh đoàn thiết giáp bách chiến bách thắng của Đế chế. Từ dưới mặt đất có thể thấy những tay, chân, đầu chưa được lấp kín thò ra…

Thống chế SS Heinrich Himmler đến Minsk trong một chuyến thanh sát, đã dừng chân ở chỗ thiếu tướng Arthur Nebe, chỉ huy nhóm trừng giới Einsatzgruppen “B”. Quốc trưởng đã ban hành chỉ thị đặc biệt về cuộc chiến quyết liệt chống lại du kích quân – và giờ đây chỉ huy Einsatzgruppen cần làm rõ, ai bị xem là du kích. Đó là tất cả những ai chúng muốn.

Sau khi Himmler và Nebe thảo luận những vấn đề cấp thiết, đã đến lúc giải lao. Himmler chưa từng chứng kiến một hoạt động quy mô nào; biết điều đó, Nebe ra lệnh bắn 100 tù binh. Sáng hôm sau, Himmler, Nebe và tướng cảnh sát Bach-Zelewski ra khỏi thị trấn; trước mắt họ, lính SS giải các tù nhân, trong số đó có hai phụ nữ, đến trước một cái hào mới đào. Chúng bắn các tù nhân, đến khi số lượng xác chết trong hào tăng lên, Himmler tỏ ra bồn chồn thấy rõ.

Rốt cuộc, thần kinh của người đứng đầu SS cũng không thể chịu nổi, ông ta phát nôn mửa.

Khi thống chế tỉnh lại, tướng SS Erich von dem Bach-Zelewski, người theo dõi việc quân SS bắn nốt các tù nhân, đã không bỏ lỡ cơ hội chỉ ra rằng, sau khi tiến hành các hoạt động như thế, mọi người đã “hoàn toàn kiệt quệ”. “Hãy nhìn vào mắt những người ấy”, viên tướng SS nói. “Họ sẽ không còn cảm xúc suốt quãng đời còn lại. Chúng ta đang dung dưỡng ở đây những kẻ loạn thần kinh và man rợ”.[103]

Himmler hứa sẽ nghĩ lại vấn đề này.

Vài mươi km về phía tây, tại thành phố Brest bị chiếm đóng, binh nhì Otto Tischler thuộc trung đoàn công binh đã nghe thấy bọn hiến binh chiến trường say rượu khoe khoang những thành tích của chúng: bắn chết vài ngàn tù binh Liên Xô, trong số đó có cả phụ nữ.[104] Giống như mọi người, Otto biết đấy không phải là sự huênh hoang rỗng tuếch.

“Người Nga – chỉ để bị thù tiêu”.

* * *

Đến đầu tháng 10, quân Wehrmacht ở Mặt trận phía Đông đã sẵn sàng cho đợt tiến công mới. Các đơn vị thiết giáp của Kleist, Guderian, Hoth, Goeppner, vượt qua hàng trăm km với những trận đánh, đã được bổ sung đáng kể, khí tài của chúng đã được sửa chữa. Sau những trận đánh ác liệt với quân Nga, các sư đoàn bộ binh đã giảm nhiều về số lượng, nhưng pháo binh đã được bổ sung đầy đủ. Không còn ngờ gì về sức mạnh tấn công của quân Đức; mục tiêu tấn công quyết định là Moskva. Hitler đã căn dặn các tướng lĩnh của mình: “Tín hiệu chấm dứt chủ nghĩa Bolshevik là việc nổ tung điện Kremlin”.[105] Quân đội Wehrmacht phải đặt dấu chấm hết một lần và mãi mãi cho sự tồn tại của nhà nước Nga.

…Gần Sevsky, vượt qua chặng đường dài từ Baranovichi và Borisov, các đơn vị của sư đoàn 29 bộ binh cơ giới đã bẻ gãy sự kháng cự của quân đội Liên Xô. Chúng không bắt tù binh mà xử bắn luôn những binh lính Hồng quân rơi vào tay chúng, xiên bằng lưỡi lê, nghiền nát bằng bánh xích xe tăng để giải khuây.[106] Ngay cả trực tiếp trên chiến trận, binh lính Đức cũng tìm được thời gian không chỉ để bắn chết tù nhân, mà còn nhạo báng họ.

“Khi xe tăng của chúng tiến đến vị trí của các đơn vị Soviet ở gần Sevksy, hai lính Hồng quân sợ hãi bỏ chạy, kéo theo đơn vị của mình. Những thương binh đang nằm chờ cứu thương rơi vào tay quân Đức; một lúc sau, khi quân chúng tôi tái chiếm các vị trí cũ, đã tìm thấy những thương binh ấy. Họ vẫn nằm nguyên chỗ cũ nơi bị bỏ lại, nhưng mắt bị móc, bụng bị phanh, khắp cơ thể bị khoét những hình ngôi sao năm cánh”. Nhiều năm sau chiến tranh, y tá của đơn vị bộ binh ấy vừa khóc vừa kể lại thảm kịch xảy ra: “Thấy cảnh tượng đó, chỉ sau một đêm cả người tôi sạm lại”.[107]

Sư đoàn 7 bộ binh, tiến công mũi Bắc, cũng đạt được thắng lợi. Khi lính trung đoàn 62 bộ binh đi qua một ngôi làng bị lính Liên Xô bỏ lại, chúng thấy vài tù binh Hồng quân. “Trung đội trưởng chúng tôi, trung úy Genbiller quát các binh lính: Các người giải đám lợn ấy đi làm gì, dẫn chúng vào rừng và cho mỗi tên một viên chì”, hạ sĩ Rudolf Latzelsberger nhớ lại. “Binh lính dẫn họ vào rừng, trung úy đi theo họ. Chẳng bao lâu chúng tôi nghe thấy vài phát súng. Khi trung úy quay trở lại, ông ta phán: ‘Bớt được bốn tên’”.[108]

Cách hồ Ladoga không xa, trước mắt các chiến sĩ sư đoàn 310 bộ binh đã đẩy lui các đơn vị Đức là một cảnh tượng hãi hùng. “Càng lúc những thi thể đơn lẻ của các chiến sĩ chúng tôi bị sát hại dã man càng xuất hiện nhiều hơn, rồi sau đó là hàng đống xác”, chính ủy Nikolai Lyashenko nhớ lại. “Nhìn kỹ, chúng tôi phát hiện tất cả những người này đã bị giết bằng đủ loại vũ khí giết người. Như đống xác mới với năm thi thể, bị biến dạng một cách tàn bạo nhất: đầu vỡ, lồng ngực bị rách toạc, mắt bị móc, bụng bị phanh ra. Ở một số người trong miệng còn thò ra những lưỡi lê của lính Đức…”.[109]

Quân Đức đã giải trí như thế trên toàn mặt trận cả ngàn km; vì vậy, khi phải rút lui, những chiến sĩ Hồng quân bị thương đã yêu cầu: “Các anh em, đừng để chúng tôi rơi vào tay bọn Đức, tốt hơn hết là bắn chúng tôi đi!”[110]

* * *

Đi qua thị trấn Soltsy tỉnh Leningrad, quân Wehrmacht bắt hai người dân bị chúng cho là du kích: giáo viên của một trường ở địa phương Ageev và cậu thiếu niên Baranov. Có thể, quả là họ đã chống lại bọn chiếm đóng, mà cũng có thể không. Thế nhưng cái chết của họ thật rùng rợn. Không xử bắn, cũng không phải giá treo cổ – mà những chiếc cọc nhọn chờ đợi hai con người bất hạnh. Giảo hình từ lâu đã bị lãng quên, ký ức về chúng đã lạc mất hàng thế kỷ; các thi thể bị cấm đưa xuống khỏi những cọc nhọn trong suốt hai tuần lễ.95

Vài trăm km về phía nam, tại Oryol bị chiếm đóng, tiến vào một ngôi làng, sau những vụ giết người thông thường, quân Đức bắt đầu chuyển sang màn giải trí bạo tàn. Chúng trói một cô gái 17 tuổi lại, rồi ra lệnh cho bà mẹ lót rơm quanh con gái mình và châm lửa. Làm sao trái tim người mẹ có thể chịu đựng nổi điều đó? – người phụ nữ ngất đi vì khiếp sợ. Khi đó quân phát xít tự làm lấy. Lúc bà mẹ tỉnh lại, bà lao vào lửa để cứu Nadya của mình. Bà lôi con gái ra khỏi lửa; nhưng chung quanh bà chẳng còn ai, ngoại trừ lũ phát xít khát máu. Bà mẹ bị giết bằng báng súng, còn cô gái bị ném ngược vào lửa.96

Với toàn bộ sự hùng mạnh của mình, Wehrmacht tiến quân nhắm hướng Moskva.

Và địa ngục theo sau chúng.

* * *

Trên những cánh đồng phủ đầy tuyết ở ngoại ô Moskva, lác đác những xác xe tăng cháy với chữ thập ngoặc trên tháp súng. Lính Wehrmacht dũng cảm hy sinh bị bỏ lại không được chôn cất: vùng đất Nga đông cứng không tiếp nhận xác chúng. Băng giá đã bó cứng động cơ xe tăng và giết người; cứ như thể chính thiên nhiên của đất nước lạ lẫm rộng lớn này đã cầm vũ khí chống lại kẻ địch. Những người Nga cuồng tín như bám rễ vào đất. Mỗi km về phía đông, tiến về Moskva, tiến về những bức tường đá Kremlin, tiến về những mái vòm dát vàng của các nhà thờ, tiến về những ngôi sao bằng hồng ngọc trên nóc các tòa tháp được giành lại với nỗi khổ nhọc thật khó tin. Người Nga chiến đấu như thể không còn đất cho họ nữa.

Mà có lẽ, phải chăng đúng là như thế?

Cách Tula 50 km, trong thị trấn nhỏ ngập tuyết Plavsk viên tướng mệt mỏi và ủ rũ viết thư cho vợ:

Bọn anh tiếp cận mục tiêu cuối cùng rất chậm, trong băng giá và trong những điều kiện thời tiết hết sức tồi tệ đề hạ trại cho những người lính bất hạnh của chúng ta. Mỗi ngày, độ phức tạp của việc cung ứng bằng đường sắt càng tăng… Tuy nhiên, quân đội dũng cảm của ta đang giành hết thắng lợi này đến thắng lợi khác, khắc phục mọi khó khăn với sự chịu đựng đáng kinh ngạc. Chúng ta phải biết ơn khi người của chúng ta là những binh sĩ gương mẫu như thế…97

Gretel ở phương xa tin những lài này; bà không có cơ hội để thấy bộ mặt thật của những “binh sĩ gương mẫu” Wehrmacht, như những người dân địa phương từng thấy.

Tại thôn Belyi Rast mà lính tăng của Guderian chiếm ngày hôm sau đó, sau khi uống say, chúng đã bắt cậu bé 12 tuổi Volodya Tkachev đứng ở bậc thềm và giải khuây bằng việc dùng súng máy bắn vào tấm bia sống. Giết cậu bé xong, chúng nổ súng loạn xạ vào cửa sổ các nhà, và bà nông dân Mosolova xấu số đã bước ra khỏi nhà và bị bắn chết cùng ba đứa con nhỏ.

Ở thôn lân cận, tên sĩ quan Đức, nghỉ đêm tại nhà một nông dân, đã đập đầu đứa bé hai tuổi vào tường: vì đứa bé khóc quá to, làm phiền hắn nghỉ ngơi. Đó không phải là trường hợp duy nhất: điều tương tự cũng xảy ra ở làng Zlobino.98

Các đơn vị thuộc quân đoàn 4 của tướng Gunther von Kluge, tiến quân từ Mozhaisk và chiếm được Riza hồi cuối tháng 10.

Ngay ngày kế tiếp sau khi chiếm thành phố, quân phát xít đã lập một nhà thổ ngay trong rạp chiếu phim thành phố, và ép các cô gái Nga vào đó.99

Tại làng Korolevka, lính bộ binh của tướng Gunther von Kluge đã giết một phụ nữ có thai vì cô không cho chúng lấy từ bếp lò thức ăn chuẩn bị cho bữa trưa; tại làng bên cạnh chúng tập trung 36 cô gái bắt làm công việc giặt giũ, và cũng không quên lạm dụng họ.100

Ở gần Kalinin, đồng đội chúng từ quân đoàn 9 của tướng Adolf Strauss đã hãm hiếp Olga Tikhonova 25 tuổi, mẹ của ba đứa con và đang ở giai đoạn cuối của thai kỳ. Sau đó, chúng cắt họng cô. Cũng tại làng này, lính Đức đã bắn một cậu bé 13 tuổi và khắc lên trán cậu một ngôi sao năm cánh.101

Sự tàn bạo man rợ phi nhân tính của binh lính Wehrmacht thậm chí cũng khiến Hitler phải lo âu phần nào, vào giữa tháng 10 ông ta đã nói: “Những gì quân đội ta đã làm thật là ngoài sức tưởng tượng. Những người lính của chúng ta, hiện đang trên đường về nhà, sẽ cảm thấy thế nào khi một lần nữa lại đặt chân lên đất Đức?”102 Thực tế, một khi đã quen với bạo lực và giết chóc ở Mặt trận phía Đông, liệu trên mảnh đất quê hương mình, khi say, họ có hãm hiếp phụ nữ và đập đầu trẻ sơ sinh vào tường hay không?

* * *

…Rất lâu sau cuộc phản công thắng lợi gần Moskva, những người lính Soviet, đi dọc vùng ngoại ô Moskva cháy sém, đó đây đều va phải những dấu tích bạo tàn quái vật do những “binh sĩ gương mẫu” của các tướng Guderian, Kluge, Hoth, Gdppner, Strauss để lại.

“Chúng tôi đã giải phóng biết bao ngôi làng khỏi bọn kẻ cướp, những nông trang viên xiết đỗi vui mừng chào đón, kể chúng tôi nghe họ đã bị cướp bóc, chế giễu và hành hạ ra sao”, một người lính Hồng quân đã viết trong thư gửi về nhà. “Thẳng thắn mà nói, bọn băng đảng Hiler không còn chút nhân tính nào, chúng đã biến thành thú dữ”.103

Gần Tikhvin, sau khi đánh bật quân Đức ra khỏi một ngôi làng nọ, Hồng quân đã phát hiện một điều khủng khiếp. Chính ủy Nikolai Lyashenko thấy một đám đông tụ tập gần một ngôi nhà lớn hai tầng. “Binh lính đứng thành một vòng tròn lớn đông nghịt để xem gì đó”, ông nhớ lại. “Len vào giữa để xem điều gì đã làm những người lính chúng tôi phẫn nộ đến thế, tôi kinh hoàng lui lại. Tim tôi nhói lên, mặt nóng bừng, dường như tôi loạng choạng. Trước mặt tôi là một đống tro lớn, vẫn chưa cháy hết, trên đó bọn phát xít thiêu sống các tù binh Hồng quân và thường dân. Giữa đám tro vẫn còn nhiều xương và sọ người chưa cháy hết, ở một bên còn vài thi thể cháy đen: tay chân mỗi xác đều bị trói bằng dây thép – họ đã bị ném vào đông lửa lúc còn sống. Dưới những sợi dây thép bị nung nóng, thân thể và các cơ bắp nứt toác ra, lòi xương trắng hếu. Không thể nhận diện được các thi thể, bởi chúng đã cháy đen… Theo số lượng tro và xương bị cháy, rõ ràng là chúng đã thiêu trên đống lửa này thường xuyên và rất nhiều người. Những ai đã bị sát hại tàn nhẫn và man rợ như vậy, chúng tôi không biết tên, chúng tôi chỉ thấy hài cốt của họ – ở đấy họ đã bị tra tấn, hành hạ và giết chết. Máu sôi lên vì lòng căm thù những con quái vật phát xít đáng nguyền rủa ấy”.104

“Chúng tôi đi qua những miền hoang vắng, nơi mọi thứ đều cháy rụi, không còn một ngôi nhà nào trong làng, chỉ còn hoang mạc”, một người lính Liên Soviet thư về nhà. “Thường dân, những người già và trẻ em tìm nơi trú ẩn trong rừng, bên đống lửa, trong các căn hầm. Đàn ông bị bọn phát xít bắt đi làm việc, sau đó bị chúng bắn bỏ khi rời đi. Sự nhạo báng người dân địa phương vô cùng độc ác. Tại Volokolamsk chúng treo cổ tám người, không cho hạ xuống, và xác họ cứ treo như thế suốt 52 ngày cho tới khi đơn vị chúng tôi đến. Cách Rzhev không xa, tại một ngôi làng, chúng dồn gần hết dân làng và tù nhân vào nhà thờ rồi đốt. Không sao tả xiết nỗi kinh hoàng. Tiến lên phía trước, mỗi ngày tôi đều bắt gặp sự nhạo báng người dân chưa từng thấy”.105

“Đây là những gì chúng tôi chứng kiến”, một người khác viết, “một phụ nữ nằm lăn lóc giữa đường. Tai bị cắt, mắt bị móc, bụng bị xẻ. Gần đó là một nhóm các chiến sĩ và chỉ huy, mất mũi, mắt tai, trên mặt là những vết thương băm nhỏ. Sau những trò nhạo báng đó, họ bị thiêu sống trên ngọn lửa. Mỗi tối chúng tôi lại thấy những quầng hồng lớn của đám cháy từ những thôn làng bị thiêu hủy, trái tim mỗi người chúng tôi rướm máu, nỗi khát khao báo thù ngày càng tăng, mỗi người lính và chỉ huy đều cháy bỏng khát khao này”.106

Kiểm duyệt quân đội đã giữ lại những bức thư này; những dòng chữ có thể gieo rắc kinh hoàng nơi hậu phương, làm nhụt ý chí kháng chiến. Hành động của bọn chiếm đóng tàn bạo đến mức không thể kể hết mọi tội ác của chúng.

“Khi quân chúng tôi đánh chiếm những điểm trước đây đã phải bỏ lại, người dân rất vui mừng, đặc biệt tại làng Padikovo, họ hôn những người lính Hồng quân và cảm ơn vì đã giải phóng khỏi quân Đức”, trong báo cáo của các cơ quan nội vụ ghi rõ. “Người dân tuyên bố, nếu trước kia họ đã không tin các thông cáo trên báo chí về những hành động cướp phá và man rợ của quân Đức, thì giờ đây đối mặt với chúng, họ sẽ ghi nhớ suốt đời”.107

Đêm đêm quân đội Soviet tiến quân trong ánh lửa của những ngôi nhà cháy. Trong khi rút lui quân Đức đã đốt làng. “Ban đêm mà sáng như ban ngày”, những người lính sau này nhớ lại,108 còn nhà biên niên sử của Tập đoàn quân “Bắc”, khi mô tả những sự kiện của mùa đông kinh hoàng đó, đã không khỏi tự hào nhận xét: “Người Soviet đã nhận lại trong tay một miền đất chết”.109

Quả thật là như thế. Chào đón Hồng quần là những ngôi làng, những thị trấn bị tàn phá. “Klin về đêm là một thị trấn kinh dị”, nhà báo Mỹ Gary Cassidy nhớ lại. “Khi chúng tôi tới đó, thị trấn hoàn toàn chìm trong bóng tối, những ngôi nhà cháy đen nhẻm, những căn nhà còn sót lại hoàn toàn không có ánh sáng. Con đường cái ở phía tây còn là một bức tranh hãi hùng hơn. ở ngôi làng đầu tiên dọc đường cái vẫn còn những đống tro bốc khói. Tại đó quân Đức vẫn kịp phóng hỏa trước khi rút đi. Ngôi làng tiếp theo Petrovskoye chưa bị phá hủy… Tại đó quân Đức bị bất ngờ”.110

Trước khi rút khỏi huyện Krasnaya Polyana ở ngoại ô Moskva, binh lính Wehrmacht đã lùa dân làng vào trụ sở ủy ban huyện. Chúng định đưa dân đi theo cho công việc lao động cưỡng bức; tám ngày liền những người già, phụ nữ và trẻ em phải ở trong một căn phòng cửa kính đã vỡ, không có bánh mì và nước uống. Trời lạnh âm 40°C. Đến khi những đơn vị Hồng quân kịp tới giải phóng khu định cư và đánh đuổi quân Đức, chúng đốt tòa nhà ủy ban cùng tất cả người dân trong đó, những đứa trẻ tuổi còn bú mẹ đã chết cóng trên tay bốn bà mẹ!111

Tại thôn Rysino gần Leningrad Hồng quân đã chậm chân. Một hình ảnh khủng khiếp bày ra trước mắt họ: “Hai căn nhà gỗ lớn liền kề nhau đã bị quân Gestapo biến thành các buồng giam. Tại nơi cháy những đống than vẫn còn bốc khói nghi ngút, những ngôi nhà cháy đã chôn theo chúng thi thể người chết trong ngọn lửa. Những cánh tay, những ống chân cháy sém còn thò ra từ dưới những rầm xà cháy đen. Những tù nhân vẫn chưa bị thiêu hết. Một số người, cố tự cứu mình bằng cách phá cửa sổ và cửa cái để thoát ra, đã bị bắn không thương tiếc. Chung quanh, đặc biệt phía sau nhà, là xác những người bị bắn. Nhưng thế vẫn còn chưa đủ cho lũ quái vật. Chúng lôi vài chục xác chết cháy, ném dọc hai bên đường cho đến tận cuối đường, còn phía sau ngôi làng, ngay sát con đường là một đống lớn xác tù binh bị bắn”.112

Quân giải phóng cũng không đến kịp làng Dubovoye ở tỉnh Tula. Hôm trước khi rút đi, từ tất cả các làng lân cận, quân Đức đã lùa về đây những phụ nữ, người già, trẻ em, thiếu niên gốc Do Thái, cả thảy 25-30 người, đều bị đánh đẫm máu. Mọi người đều không giày dép, hầu như không quần áo, đi chân trần trên tuyết, do ba tên canh giữ. Tại cổng làng, gần như không còn ai đứng nổi trên đôi chân mình, tất cả đã bị bắn bằng súng máy và ném xuống một chiến hào chạy ngang đấy.113 Dân Nga trong làng, những ai không kịp trốn, đều bị chúng bắt đi theo.

Trong lúc rút lui, quân Đức đã để lại sau chúng những đống tro tàn, nơi xương của những người bị đốt trộn lẫn với tro cốt. Dọc các con đường là những thi thể đông cứng của người dân bị chúng lùa theo trong các cuộc hành quân; tại những giao lộ trong các thành phố, xấc người bị treo cổ đong đưa trên giá.

…Còn rất lâu sau đó, trong báo cáo của các cơ quan nội vụ vẫn tiếp tục điền thêm ngày càng nhiều những phát hiện khủng khiếp.

Tại thôn Nalitsy, huyện Zvenigorod, thi thể năm cô gái trẻ vô danh được phát hiện gần một đụn rơm, họ bị quân phát xít cưỡng hiếp rồi bắn chết dã man… Tại thôn Vasilskovskoye, huyện Novopetrovsky, ở bìa rừng các chiến sĩ phát hiện xác hai cô gái bị hãm hiếp và hành hạ man rợ. Một trong hai cô bị móc mắt, cả hai đều bị xẻo vú. Họ tên không xác định dược.114

Lần đầu tiên, những binh lính và sĩ quan Hồng quân có thể thấy những gì kẻ thù đã gây ra trên lãnh thổ bị chiếm đóng.

Thực tế hóa ra còn đáng sợ hơn bất cứ câu chuyện tuyên truyền nào.

[1] Liddell-Hart B. Thế chiến II / Dịch từ tiếng Anh V Borisov, P. Viduetsky, E. Tsylyev; Bài báo đi kèm, bình chú S. Pereslegin, R. Ismailov, V. Goncharov, A. Silantyev. M. AST; St. Petersburg; Terra Fantastica, 1999. Trang 183.

[2] Cuộc chiến tranh Đức chống Liên Xô, 1941-1945: Bạch hóa tài liệu / Chủ biên: R. Rürup; Dịch từ tiếng Đức T. Pereverzeva, Berlin: Blank &Reschke, 1994. Trang 48; Tiết lộ và thú nhận: Giới lãnh đạo cao cấp Đức Quốc xã về cuộc chiến của “Đệ tam Đế chế’ chống Liên Xô: Những bài nói chuyện bí mật. Nhật ký. Hồi ký/ Dịch từ tiếng Đức, Lời tựa, bình chú G. Ya. Rudyi. Smolensk: Rusich, 2000. Trang: 307.

[3] Manstein E. von. Chiến thắng vuột mất / Dịch từ tiếng Đức; Bình chú: B. Pereslegin; Bài báo đi kèm V. Goncharov, R. Ismailov, S. Pereslegin, S. Platov. M. AST; St. Petersburg: Terra Fantastica, 1999. Trang 188.

[4] Shneer A. Tù binh: tù binh Soviet tại Đức, 1941-1945. M. Cầu nối văn hóa; Jerusalem: Gesharim, 2005. Trang 413; Ermakov A. Wehrmacht chống người Do Thái: Chiến tranh hủy diệt. M.; Yauza, 2009. Trang 88.

[5] Cuộc chiến tranh Đức chống Liên Xô. Trang 45; MNP. Var 1. Tập 5. Trang 300-301; Mục tiêu tội ác – Phương tiện tội ác. Hồ sơ về chính sách chiếm đóng của phát xít Đức trên lãnh thổ Liên Xô, 1941-1944 / Lời tựa G. F. Zastavenko. M. Politizdat, 1968. Trang 32-33.

[6] Như trên. Trang 288-290. Tập 7. Trang 300-301; Như trên. Trang 32-33.

[7] Hồ sơ buộc tội: Holocaust: những bằng chứng của Hồng quân / Tập hợp và giới thiệu F. D. Sverdlov; Lời tựa I. A. Altman. M. Quỹ “Holocaust”, 1996. Trang 10; MNP. Var. 1, Tập 4. Trang 125-126; Kho lưu trữ Nga: Cuộc chiến tranh Vệ quốc Vĩ đại / Chủ biên V. A. Zolotaryev (sau đây gọi tắt là RAVO). M. Terra, 1999. Tập 24 (13). Quyển 2. Trang 37; ShneerA. Tù binh… Trang 412.

[8] Plenkov O. Yu. Đệ tam Đế chế. Chiến tranh: Wehrmacht, chiến tranh và xã hội Đức. St. Petersburg: Neva, 2005. Quyển 1. Trang 169.

[9] Rürup R. Người Đức và cuộc chiến chống Liên Xô II Một cuộc chiến khác, 1939-1945. M. Đại học Nhân văn Nga, 1996. Trang 365; Cuộc chiến tranh Đức chống Liên Xô. Trang 7.

[10] Bychkov L. N Phong trào du kích trong những năm Chiến tranh Vệ quốc Vĩ đại, 1941-1945: Ký sự ngắn. M. Tư tưởng, 1965. Trang 26-27.

[11] ShneerA. Tù binh… Trang 169.

[12] ShneerA. Tù binh… Tội ác của quân chiếm đóng phát xít Đức tại Belarus, 1941-1944 / Tập hợp z. I. Beluga, N. I. Kaminsky và đồng sự. Minsk: Belarus, 1965. Trang 28-29.

[13] MNP. Var. 1, Tập 5. Trang 95-96; Var 2. Tập 3. Trang 219-220; Không dễ qua mau, không dễ lãng quên… Trang 28.

[14] Knopp G. SS: Pháp đình đen / Dịch từ tiếng Đức A. Chikishev. M.: Olma-press, 2005. Trang 168; Hồ sơ buộc tội: Holocaust… Trang 6.

[15] Halder F. Nhật ký chiến tranh / Dịch từ tiếng Đức I. Glagolyev, M.: AST; St Petersburg: Terra Fantastica, 2002, Tập 3, Trang 24.

[16] Các cơ quan an ninh quốc gia Liên Xô trong cuộc Chiến tranh Vệ quốc Vĩ đại: Tuyển tập tài liệu (sau đây gọi tắt là OGB). M.: Rus, 2000, Tập 1. Quyển 2. Trang 338-339; Cuộc chiến tranh Đức chống Liên Xô, Trang 51; Mục tiêu tội ác… Trang 62; Cuộc chiến tranh hủy diệt ở Mặt trận phía Đông: Tội ác của Wehrmacht tại Liên Xô, 1941-1944: Báo cáo / Chủ biên: G. Gortsik, K. Shtang. M.: AIRO-XXI, 2005; Wette IT. Hình ảnh kẻ thù: Các yếu tố phân biệt chủng tộc trong tuyên truyền của Đức chống Liên Xô II Thế chiến thứ hai: Nhìn từ nước Đức. M.: Eksmo; Yaza, 2005, Trang 105; Ermakov A. Wehrmacht chống người Do Thái, Trang 87; Rezyapkin A. Sĩ quan chính trị áo nâu của Wehrmacht II Cuộc chiến tranh Vệ quốc bí ẩn. M.: Eksmo; Yayza, 2008, Trang 218. Tham khảo thêm: Verbrechen der Wehrmacht. Dimensionen des Vernichtungskrieges 1941-1944. Austellungskatalog. Hamburg: Hamburger Institut fur Sozialforschung, 2002. Trang 42. Từ đây và tiếp theo các bản dịch từ tiếng Đức của Andrei Rezyapkin, tác giả của dự án Internet “Drang nach… Wehrmacht chống nhân dân Liên Xô”. Nhân tiện, xin cám ơn ông.

[17] Messenger C. Vệ sĩ của Hilter: Con đường binh nghiệp của trung tá SS Sepp Dietrich / Dịch từ tiếng Anh I. Shmelev. M.: Eksmo; Isographus, 2004. Trang 137; Padfield R. Thống chế SS / Dịch từ tiếng Anh S. Minkin, S. Samuilov. Smolensk: Rusich, 2002, Trang 289.

[18] Manstein E. von. Chiến thắng vuột mất. Trang 197.

[19] Hồ sơ buộc tội: Holocaust. Trang 3.

[20] Khimka I. Bằng chứng đáng tin cậy: Lời khai của Rusya Wagner về vụ thảm sát Lvov mùa hè 1941 // Holocaust và hiện đại. 2008. 2. Trang 45.

[21] Knopp G. SS: Pháp đình đen. Trang 132.

[22] Cục lưu trữ quân sự nhà nước Nga (sau đây gọi tắt là RGVA). E 500. Op. 1. D. 25. L. 17.

[23] Thực tế này đã diễn ra tại Latvia vào những ngày đầu quân đội Đức Quốc xã chiếm đóng nước cộng hòa này. Tham khảo: Cục lưu trữ trung tâm Cơ quan an ninh Liên Bang Nga (gọi tắt là CA FSB). F. 100. Op. 10. D. 1. L. 225-226; Latvia dưới ách cai trị của phát xít: Tuyển tập hồ sơ lưu trữ. M.: Châu Âu, 2006. Trang 65-67.

[24] Cục lưu trữ trung tâm quốc gia Liên hiệp xã Ukraina (gọi tắt là CD AGO) F. 166. Op. 3. D. 246. L. 80.

[25] Nhà nước Ukraina. Biên bản ngày 30/6/1941. Tuyển tập hồ sơ và tư liệu / Tập hợp O. Dzyuban; Lời tựa V. Kuk, Ya. Dashkevich. Lvov; Kiev: Viện khảo cổ và nghiên cứu nguồn gốc Ukraina NANU, 2001. Trang 129; OUN năm 1941: Hồ sơ / Tập hợp O. Veselov, O. Lisenko, I. Patrilyak, V Sergeichuk; Lời tựa S. Kulchitsky. Kiev: Viện lịch sử Ukraina NANU, 2006. Phần 1. Trang 261, Phần 2. Trang 576. Cục lưu trữ quốc gia trung ương các cơ quan chính quyền và quản lí cao cấp Ukraina (gọi tắt là CDAVOV). F. 3833, Op. 1. D. 63. L. 12; D. 42, L. 35; Op. 2. D. 18. L.87.

[26] Tsarinnik M. Thành phố Zolochiv im lặng H Phê binh. 2005, Trang 10.

[27] Kruglov A. Lvov, tháng 7/1941: Bắt đầu hủy diệt // Holocaust và hiện đại (Kiev). 2003. Số 5. Trang 13; Hủy diệt người Do Thái tại Liên Xô những năm Đức chiếm đóng (1941-1944): Tuyển tập hồ sơ và tư liệu. Jerusalem, 1991. Trang 76.

[28] Khimka L. Bằng chứng xác thực… Trang 46.

[29] Cục lưu trữ quốc gia Liên bang Nga (gọi tắt là GARF). F. R-7021. op. 67. D. 75. L. 106-106 ob.

[30] Cục lưu trữ quốc gia Liên bang Nga (gọi tắt là GARF). E R-7021. op. 67. D. 75. L. 64-64 ob. Trích đoạn các lời khai của B. O. Goltsman, tham khảo Tuyển tập các thông báo của ủy ban nhà nước đặc biệt về tội ác của quân xâm lược phát xít Đức. M.:OGIZ; Gospoliizdat, 1946, Trang 359. Đặc biệt, những dữ liệu về quốc tịch của bọn đao phủ trong tuyển tập các thông báo của ủy ban nhà nước đặc biệt đã không được nêu ra vì sự cân nhắc các yếu tố chính trị.

[31] Kruglov A. Lvov, tháng 7/1941. Trang 13; Sandkuhler Th. ”Endlosung” in Galizien. Der Judenmord in Ostpolen und die Rettungsinitiativen von Berthold Beitz 1941-1944. Bonn, 1996. Trang 488. Ann. 21.

[32] Holocaust: Bách khoa toàn thư. M.: 2005, Trang 634.

[33] MNP. Var. 1, Tập 5. Trang 93; Không dễ qua mau, không dễ lãng quên… Trang 26.

[34] Melnikov D. E., Chernaya L. B. Băng chuyên tử thẩn: Bí mật của SS và Gestapo. M.: Veche, 2005. Trang 392.

[35] CDAVOV. E 3833. Op. 1. D. 57. L. 17; Patrilyak I. K. Nhũng binh đoàn dân tộc chủ nghĩa Ukraina, 1941-1942: Lịch sử thành lập và hoạt động. Kiev, 1999. Trang 26.

[36] Altman I. A. Những nạn nhân của lòng căm thù. Trang 223.

[37] Boll B. Zloczow, Juli 1941: Die Wehrmacht und der Beginn des Holocaust Ở Galizien // Zeitschrift fur Geschichtswissenschaft. 2002. So 10. Trang 8.

[38] GARF. F. R-7201. Op. 67. D. 86. L. 22-23.

[39] Boll B. Zloczow, Juli 1941. Trang 7.

[40] Như trên. Trang 10.

[41] Phân tích chi tiết các khía cạnh bài Do Thái trong ý thức hệ và thực tiễn của những người dân tộc chủ nghĩa Ukraina được nêu trong cuốn sách: Dyukov A. R. Kẻ thù thứ yếu: OUN, UPA và giải pháp “vấn đề Do Thái”. M.: Quỹ “Ký ức lịch sử”, 2009. Về các kế hoạch chống Ba Lan của OUN, tham khảo: Dyukov A. R. ”Vấn để Ba Lan” trong các kế hoạch của OUN(B): Từ đồng hóa cưỡng bức đến thanh lọc sắc tộc// Nạn diệt chủng bị lãng quên. ”Vụ thảm sát Volyn” 1943-1944: Tài liệu và nghiên cứu. M.: Alexey Yakovlev, 2008.

[42] MNP Van 1. Tập 5. Trang 95-96; Var. 2 Tập 3. Trang 219; Không dễ qua mau, không dễ lãng quên...Trang 28.

[43] Hitler bí ẩn: Hổ sơ mật của NKVD, được lập trên cơ sở các biên bản thẩm vấn sĩ quan tùy tùng của Hitler, Otto Günsche và hầu cận của Hitler, Heinz Linge tại Moskva 1948-1949 / Lời tựa M. Ulya, H. Eberle, V. Haustov, H. Möller; Dịch và chú thích từ tiếng Đức A. Chikishev, E. Kulkov. M.: Olma-press, 2005. Trang 118.

[44] Hitler bí ẩn. Trang 118.

[45] Luzan N. Nhật ký của đại tá Boye: SMERSH đã chứng minh tội ác của chỉ huy trung đoàn 134 Wehrmacht ra sao // Người đưa tin công nghiệp quân sự, 2005. Số 40. Trang 11.

[46] Những nhân chứng cuối cùng / Lời tựa. B. Halt, E. Gologorsky. M.: Kovcheg; Tuyệt mật, 2002. Trang 237.

[47] Geyer G. Từ Bug đến Kavkaz: Quân đoàn IX trong chiến dịch phía Đông 1941, Mackensen E. von. Từ Bug đến Kavkaz: Quân đoàn III thiết giáp trong chiến dịch chống Liên Xô 1941-1942 / Dịch từ tiếng Đức K. Stepanchikov, E. Pervushina; Bài báo đi kèm. A. Isaev; Bình chú V. Goncharov, A. Isaev, K. Stepanchikov. M.: AST; Transitbook, 2004. Trang 256.

[48] Plenkov O. Yu. Đệ tam Để chế. Chiến tranh. Quyển 1. Trang 330.

[49] Halder F. Nhật ký chiến tranh. Tập 3, Trang 77.

[50] Ermakov A. Wehrmacht chống lại người Do Thái. Trang 112-113.

[51] Những nhân chứng cuối cùng… Trang 120-121.

[52] Chernov V. E., Shlyakhtunov A. G. Lực lượng SS tại các nước Baltic: Anh hùng hay đao phủ? M.: Lin-Inter, 2004. Trang 73-74.

[53] OGB. Tập 2. Quyển 1. Trang 607.

[54] Chúng tôi tố cáo: Hổ sơ và tư liệu. Riga: Liesma, 1967. Trang 69-70.

[55] Chúng tôi tố cáo: Hồ sơ và tư liệu. Riga: Liesma, 1967. Trang 117-119; Tổng quan các biện pháp của chính quyền lâm thời Đức trên lãnh thổ chiếm đóng, được chuẩn bị trên cơ sở các tài liệu chiến lợi phẩm, ấn bản nước ngoài và tư liệu tình báo, nhận được từ tháng 06/1941 đến 03/1943 II Tentsov N. V. ”Hồ sơ xanh” của Goering: Chứng cớ tư liệu về chính sách kinh tế của những kẻ xâm chiếm nước Nga. M.: Dự án “Lubyanka”, 2005. Trang 45.

[56] Latvia dưới ách chiếm đóng phát xít. Trang 44.

[57] MNP. Var. 1. Tập 5. Trang 164-165; Không dễ qua mau, không dễ lãng quên… Trang 87-88.

[58] Shneer A. Tù binh… Trang 181.

[59] MNP. Var. 1. Tập 7. Trang 307-308,727. Xem thêm: Haupt V. Tập đoàn quân “Bắc”: Trận đánh Leningrad, 1941-1944 / Dịch từ tiếng Anh E. N. Zakharov. M.: Centrepolygraph, 2005. Trang 337.

[60] Streit C. Đừng coi họ là lính: Wehrmacht và những tù binh chiến tranh của Liên Xô năm 1941 / Bản dịch rút gọn từ tiếng Đức. M.: Tiến bộ, 1979. Trang 50.

[61] Mục tiêu tội ác… Trang 108-112; MNP. Var. 1. Tập 5. Trang 143-144; Var. 2. Tập 3. Trang 270-272; Ermakov A. Wehrmacht chống lại người Do Thái. Trang 123-124.

[62] Bychkov L. N. Phong trào du kích… Trang 27.

[63] Kuznetsov A. V. Thảm sát Babi Yar. M.: Zakharov, 2005. Trang 108.

[64] Sử thi Stalingrad: Dựa trên các tài liệu được giải mật của FSB Liên Bang Nga II Lời tựa Yu. V. Sighachyev. M.: Zvonnitsa – MG, 2000. Trang 112.

[65] MNP. Var. 1. Tập 5. Trang 125; Tập 7. Trang 702; Không dễ qua mau, không dễ lãng quên… Trang 37-38; Muller N. Wehrmacht và sự chiếm đống… Trang 142; Knopp G. SS: Pháp đình đen. Trang 208.

[66] Chính sách diệt chủng và “tiêu thổ” của Đức Quốc xã tại Belarusia 1941-1944. Minsk: Belarus, 1984. Trang 234.

[67] Bychkov L. N. Phong trào du kích… Trang 26-27; Tội ác của quân xâm lược Đức Quốc xã tại Belarusia. Trang 29.

[68] Adamovich A., Bryl J., Kolesnik V. Từ xóm thôn khói lửa…Minsk: Văn học Mastatsky, 1977. Trang 433. Với tài liệu tham khảo Glowenej komisji badania zbrodni hitlerowskih w Trince. Tài liệu ghi ngày 11/07/1941.

[69] Brukhfeld s., Levin P. Hãy kể điều này cho con bạn… Lịch sử Holocaust ở châu Âu, 1933-1945 Ị Dịch từ tiếng Thụy Điển D. Vedenyapina; Lời tựa J. Persson; V. I. Matvienko; Lời bạt I. Altman, A. Asmolova. M.: Text, 2001. Trang 88.

[70] RAVO. Tập 20 (9). Trang 52.

[71] OGB. Tập 2. Quyển 1. Trang 363.

[72] MNP. Var. 1. Tập 5. Trang 95-96; Khống dễ qua mau, không dễ lãng quên… Trang 28.

[73] Không dễ qua mau, không dễ lãng quên… Trang 37.

[74] Erenburg I. G. Chiến tranh: tháng 4/1942 – 3/1943: Các bài báo. M.:Voenizdat, 2002. Trang 38.

[75] MNP. Var, 1. Tập 1. Trang 597-598; Tập 2. Trang 224; Tập 5. Trang 84-85; Tập 8. Trang 399; Var. 2. Tập 1. Trang 483.

[76] Cuộc chiến tranh Đức chống Liên Xô. Trang 48; Dickson c. o., Heilbrunn O. Phong trào du kích cộng sản / Dịch từ tiếng Anh, chủ biên A. A. Prokhorov; Lời tựa A. A. Prokhorov; R. Denning. M.: Nxb Văn học nước ngoài, 1957. Trang 227- 228. Nhật ký của von Hassel được in ở London năm 1948.

[77] Utkin A. I. Nước Nga trên vực thẳm, 1918-12/1941.Smolensk: Rusich, 2000. Tr. 289; Plenkov O. Yu. Đế chế thứ ba. Chiến tranh. Quyển 1, Trang 134.

[78] Tham khảo, chẳng hạn: Plenkov O. Yu. Đệ tam Đế chế. Chiến tranh. Quyển 1. Trang 46; Wette w. Quân đội của Hitler: Các giai đoạn của cuộc thảo luận quanh một huyền thoại Đức II Tài nguyên bất khả xâm phạm. 2005. Số 2-3. Trang 270 -274. Vẽ cách các tư tưởng Đức Quốc xã thâm nhập lực lượng vũ trang Đức;xem chuyên khảo: Ermakov A. Những kẻ hộ vệ dân tộc: Wehrmacht tại Đức Quốc xã. M.: Eksmo; Yauza.

[79] OGB. Tập 2. Quyển 1. Trang 605-606; MNP. Var. 1. Tập 4. Trang 202, 203; Var. 2. Tập 3. Trang 64, 98 -99; Không dễ qua mau, không dễ lãng quên… Trang 33; Mục tiêu tội ác… Trang 159-160; Tội ác của quân xâm lược phát xít Đức tại Belarus. Trang 23.

[80] Rzhevskaya E. M. Goebbels: Chân dung qua nhật ký. M.: AST-press Book, 2004. Trang 314.

[81] Streit c. Đừng coi họ là lính. Trang 46; Shneer A. Tù binh…Trang 411; Ermakov A. Wehrmacht chống lại người Do Thái.Trang 89- 90.

[82] Wette w. Chiến tranh hủy diệt: Wehrmacht và Holocaust II Lịch sử mới và mối đây. 1999. Số 3. Trang 72-79.

[83] Knopp G. SS: Pháp đình đen. Trang 175, 88-89; Padfield P. Thống chế SS. Trang 324.

[84] Hồ sơ buộc tội: Holocaust… Trang 10.

[85] Liddell-Hart B. Những trận đánh của Đệ tam Đế chế: Hồi ký của các tướng lãnh cao cấp Đức Quốc xã / Dịch từ tiếng Anh S. V. Lisogorsky. M.: Centrepolygraph, 2004. Trang 225.

[86] MNP Var. 1. Tập 4, Trang 126-127.

[87] Alexievich S. chiến tranh không mang khuôn mặt phụ nữ.Trang 140.

[88] RAVO. Tập 24 (13). Quyển 2. Trang 45.

[89] Lyashenko N. I. chiến tranh từ hồi chuông này đến hổi chuông khác. Trang 18.

[90] Tôi đã thấy điều này… Trang 92.

[91] Không dễ qua mau, không dễ lãng quên… Trang 35.

[92] Như trên.

[93] Guderian G. Hồi ức của một người lính / Dịch từ tiếng Đức; Lời tựa M. Rabinovich. Smolensk: Rusich, 1998. Trang 337.

[94] MNP. Var. 1. Tập 5. Trang 93-94; Var. 2. Tập 3. Trang 217; Không dễ qua mau, không dễ lãng quên… Trang 26.

[95] Lubyanka trong những ngày chiến trận Moskva: Theo các tài liệu giải mật của FSB Liên bang Nga / Lời tựa V. K. Kurkov, Yu. V. Sigachev. M.: Tháp chuông-MG, 2002. Trang 154.

[96] Như trên. Trang 383.

[97] MNP. Var. 1. Tập 5. Trang 93-94; Var. 2. Tập 3. Trang 218; Không dễ qua mau, không dễ lãng quên… Trang 27.

[98] Trevor Roper H. Những cuộc trò chuyện bên bàn ăn của Hitler, 1941-1944 / Dịch từ tiếng Anh A. S. Tsyplenkova (gọi tắt là ZRG. Var. 2). M.: Centrepolygraph, 2004. Trang 93.

[99] Lubyanka trong những ngày chiến trận Moskva. Trang 315.

[100] Lyashenko N. I. Chiến tranh từ hổi chuông này đến hồi chuông khác. Trang 141.

[101] Tôi đã thấy điều này. Trang 139.

[102] Lubyanka trong những ngày chiến trận Moskva. Trang 347.

[103] Như trên. Trang 286.

[104] Qua ngọn lửa của trận đánh vĩ đại: Văn học dân gian Nizhny Novgorod trong thời kỳ Chiến tranh Vệ quốc vĩ đại / Tập hợp, Lời tựa, Chú thích V. N. Morokhin. Nizhny Novgorod, 1995. Trang 113.

[105] Haupt W Tập đoàn quân ”Bắc”. Trang 181.

[106] Muller N. Wehrmacht và sự chiếm đóng… Trang 153.

[107] MNP. Var. 1. Tập 5. Trang 93; Không dễ qua mau, không dễ lãng quên… Trang 26.

[108] Lyashenko N. I. Chiến tranh từ hồi chuông này đến hồi chuông khác. Trang 154.

[109] Altman I. A. Những nạn nhân của lòng căm thù. Trang 269.

[110] Lubyanka trong những ngày chiến trận Moskva.

Nguồn: tve-4u
Được bạn: Mọt Sách đưa lên
vào ngày: 23 tháng 8 năm 2026

« Lùi Tiến »

💬 Thảo luận (1)

saomai1268
saomai1268 23.08.2026 05:41
🔗 Xem tác phẩm: Người Xô Viết Đã Chiến Đấu Vì Điều Gì

Một dân tộc đã trải qua tất cả những điều này đang làm một hành động tàn ác tương tự với chính anh em mình, trên mảnh đất cũng từng bị đức quốc xã giày xéo. Thật không hiểu tại sao họ lại hành xử như vậy? những cái chết trên đất ukraina và đất Nga trong thế kỉ 21 này thật vô nghĩa, chẳng biết họ nhân danh cái gì để hàng ngày, hàng đêm dội tên lửa vào đầu nhau và ngồi đếm chiến tích là sự tàn phá, chết chóc. Họ đang làm kiệt quệ chính mình, vả những cái tát vào chính những gì mà họ từng tự hào, gìn giữ... Đáng thương thay cho dân tộc Nga và Ukraina. Năm phút mặc niệm cho những người đã nằm xuống và sẽ nằm xuống vì cuộc chiến ngu xuẩn này.
Xem trên diễn đàn »
Đăng nhập để tham gia bình luận.