Ủy ban nhà nước đặc biệt về xác lập và điều tra tội ác của quân xâm lược phát xít Đúc được thành lập vào tháng 11/1942. Nhiệm vụ của ủy ban là điều tra những hành động của quân xâm lược trên lãnh thổ Liên Xô bị chiếm đóng, xác lập nhân thân tội phạm, xác định những thiệt hại vật chất đã gây ra cho công dân Soviet, các nông trang tập thể, các tổ chức xã hội và nhà nước. Vào nửa cuối năm 1945 ủy ban này đã được giải thể. Một số trích đoạn tù hồ sơ của ủy ban đặc biệt được công bố dưới đây. Có khoảng hàng chục ngàn nhũng hồ sơ tương tự như thế trong kho lưu trữ của Nga.
1. Trích Biên bản của ủy ban đặc biệt thành phố Leningrad về tội ác của quân xâm lược phát xít Đức tại Leningrad và các vùng phụ cận.
“Sau 900 ngày bao vây thành phố Leningrad vô tiền khoáng hậu, trong thời gian chiếm đóng vùng ngoại ô, quân xâm lược phát xít Đức đã gây ra vô số tội ác và hành động tàn bạo đối với thường dân vô tội…
Suốt 29 tháng phát xít Đức chiếm đóng thành phố Pushkin (Hoàng Thôn) hoàn toàn là một sự lăng mạ phẩm giá con người Soviet. Đó là một thời kỳ hoàn toàn vô luật lệ và bạo lực, hủy hoại và đói khát. Quân Đức mặc tình bắn giết và treo cổ dân lành vô tội. Tại những địa điểm nhộn nhịp sầm uất nhất (góc Quảng trường Tháng Mười và đại lộ Soviet, đường Moskovskaya và đường 1/5), các giá treo cổ được dựng lên và trong nhiều ngày thi thể của công dân Liên Xô bị treo ở đó với những tấm biển ghi dòng chữ trên ngực: “Tội phá hoại”, “Tội hoạt động du kích”, v.v..
Đức Quốc xã đã thủ tiêu công dân Soviet một cách có hệ thống. Không cần bất cứ lý do nào, chỉ cần họ là người Nga, kỹ sư Kapustin, thủ kho Ivanov, giáo viên Korolyov và những người khác đã bị treo cổ. Giám đốc Viện nghiên cứu Thực vật toàn liên bang Vatgan cùng vợ đi trên đường, không dừng lại trước hiệu lệnh của một sĩ quan Đức. Vì thế họ đã bị bắn. Công dân Bokova đã chứng kiến vụ thảm sát dã man một cậu bé 12 tuổi. Quân Đức buộc tóc cậu rồi treo lên bằng một sợi dây thừng và đứng đó với chiếc đồng hồ trong tay để kiểm tra xem cậu chịu đau được bao lâu. Tháng 9/1941 quân Đức đã giết chết 50 trẻ em; tháng 10,400 công dân bị bắn tại công viên Babolovsky; tháng 02/1942, 200 cư dân thành phố đã bị thiêu sống.
Quân Đức đã tuyên bố một loạt quận huyện trong thành phố là “khu vực cấm” và bắn tất cả những ai dám xâm phạm. Các bà mẹ, để cứu sống những đứa con đang đói khát, buộc phải tìm đường qua “khu vực cấm” đến những thôn làng lân cận để kiếm thực phẩm. Họ đã bị bắt và bị bắn. Nhân chứng Tarakanova (sau này là nhân viên hộ tịch) đã ghi sổ 123 trường hợp thường dân vô tội bị bắn khi đi qua “khu vực cấm”. Tổng cộng tại thành phố Pushkin 18.368 người đã bị bắn, bị tra tấn, bị chết vì pháo kích và ném bom, 17.968 người bị bắt sang Đức.
Tại thành phố Petrodvorets, 4.265 người bị chết và 30.783 người bị bắt sang Đức. Trốn trong hầm trú ẩn, đôi khi người dân buộc phải ra ngoài để kiếm thức ăn, nước uống, v.v.. Quân Đức rình bắn chết họ.
Chẳng hạn, 200 người đã trú ẩn dưới tầng hầm của một xưởng mài đá. Quân Đức liên tục nổ súng ở khu vực này. Người dân chết vì vết thương và đói khát. Khi đó cư dân quyết định chuyển đến một nơi an toàn hơn. Nhưng quân Đức bắt đầu xả súng máy, đại liên và súng cối vào đám đông không vũ trang. Phần lớn đều bị giết. Hơn 200 người đã trốn dưới tầng hầm tòa nhà số 13 đường Leningradskaya. Quân Đức phóng hỏa tòa nhà này và bít lối ra của tầng hầm. Người dân trốn dưới tầng hầm bị ngộp khói. Gần 500 người già, trẻ em và bệnh nhân đã thiệt mạng vì đạn pháo tại Nhà thờ Chúa Ba Ngôi.
Tháng 5/1942, bệnh viện thành phố Petrodvorets được quân Đức chuyển đến làng Volodarskoye, ở đó quân Đức đã tiêm thuốc độc vào dưới da 80 bệnh nhân, sau đó thiêu hủy bệnh viện cùng với những thi thể bên trong. Nhân chứng của tội ác ghê rợn này là nữ hộ lý Yekaterina Orlova, người đã may mắn trốn thoát. Quân Đức đã thực hiện những tội ác khủng khiếp tại bệnh viện Kashenko, nơi chúng đã giết 1.250 người bằng thuốc độc và chôn xác họ dưới một con hào chống tăng tại thôn Ruchya.
Quân Đức đã lập những trại tập trung gần thành phố để giam giữ các công dân Soviet vô tội và tù binh chiến tranh. Tại các trại, Đức Quốc xã đã thiết lập một chế độ khủng bố khắc nghiệt. Chúng bắt người dân Soviet phải chịu những nhục hình chưa từng thấy, hành hạ họ, bắt phải chịu đói và làm việc quá sức. Những lời khai của nhân chứng cho thấy tại các trại tập trung ở làng Rozhdestvenskoye và Vyrya, chỉ từ tháng 5 đến tháng 8/1942 đã có khoảng 3.000 người bị thiệt mạng.
Nhân chứng Samovarov Sergei Ivanovich, một bác sĩ, đã tuyên bố, “tại trại Rozhdestvenskoye vào tháng 10/1941 đã có 500 người chết, tháng 11 – 700 người chết và tháng 12 – 1.024 người chết. Vào tháng 12, dịch phát ban đã bùng phát khiến tỷ lệ tử vong tăng lên đáng kể…”.
Không dễ qua mau, không dễ lãng quên…
Theo tư liệu phiên tỏa Nürnberg. M., 1983.
Trang 52-55.
2. Về sự hủy diệt và tội ác của quân xâm lược phát xít Đức tại thành phố Novgorod và quận Novgorodsky tỉnh Leningrad.
“…Ủy ban đặc biệt đã xác lập vô số sự kiện về sự thủ tiêu có hệ thống của quân chiếm đóng phát xít Đức đối với các thường dân Soviet và tù binh chiến tranh. Tại bệnh viện tâm thần Kolmovo có 800 bệnh nhân đang được chữa trị. Từ tháng 11-12/1941, tất cả các bệnh nhân này đều bị quân Đức giết sạch. Tháng 10/1941, bọn quái vật phát xít đã tra tấn và giết chết 250 bệnh nhân tại bệnh viện Khutyn. Tại các thôn Kshentitsy và Zaoleshye, quân Đức đã sát hại 30 người, trong đó có phụ nữ, người già, thậm chí cả hai trẻ sơ sinh. Vô số những sự kiện về sự hủy diệt các thường dân Soviet vô tội đã được ghi chép lại. Chẳng hạn, mùa xuân năm 1942, tại nông trường “Zaveryazhskye Pokosy” quân Đức đã bắn chết Masalsky Semyon Vasilyevich, một cư dân thành phố Novgorod, cùng gia đình và người thân của ông. Cũng tại nông trường nói trên, quân Đức đã bắn 25 người nữa, phần lớn là phụ nữ và trẻ em. Tại làng Zhestyanaya Gorka, một đội quân tiễu phạt của Đức đã thủ tiêu hơn 2.000 thường dân.
Tại quận Novgorodsky quân Đức đã lập 10 trại tập trung để nhốt các tù binh chiến tranh Soviet trong những lán trại và kho bãi. Những trại tập trung này nằm trong khuôn viên các nông trường quốc doanh “Zaveryazhskye Pokosy”, “Chaika”, tại nhà máy gạch, tại các thôn Vyazhishe, Lyubolyady, Grigorovo và những nơi khác: Các tù binh chiến tranh bị giam giữ nơi đây trong điều kiện kém vệ sinh nặng nề và bị đánh đập, tra tấn.
Do hậu quả của việc bị bỏ đói, làm việc quá sức, bị bắn chết nên tại sáu trại tập trung ở quận Novgorodsky, đến cuối năm 1943 chỉ còn 336 người sống sót trong số 5.000 tù binh chiến tranh.
Bọn quái vật phát xít Đức đã khiến người dân Soviet và đặc biệt là các chiến sĩ quân đội Soviet lọt vào tay quân Đức phải chịu sự hành hạ và tra tấn dã man. Tại thôn Osya, ủy ban đã phát hiện 30 thi thể các tù binh chiến tranh Soviet, trên cơ thể họ có dấu vết bị tra tấn…”.
Không dễ qua mau, không dễ lãng quên…
Theo tư liệu phiên tòa Nürnberg. M., 1983.
Trang 55-56.
3. Về tội ác của quân xâm lược phát xít Đức tại các thành phố Vyazma, Gzhatsk và Sychevka, tỉnh Smolensk và thành phố Rzhev, tỉnh Kalinin.
“Trên đường rút lui trước các đòn giáng trả của Hồng quân, quân đội phát xít Đức đã tàn phá dã man các thành phố và làng mạc của Liên Xô, dùng bạo lực, tra tấn, đánh đập và thực hiện các hành động giết hại thường dân vô tội, cũng như tù binh chiến tranh Soviet.
Lịch sử chưa ghi nhận hết việc giết người hàng loạt mà quân xâm lược phát xít Đức đã thực hiện. Lòng thương hại và trắc ẩn là thứ mà chúng không hề biết tới. Với sự tàn ác quái đản, chúng chế nhạo những người già bất lực. Nước mắt của các bà mẹ, những bàn tay khẩn cầu của trẻ thơ chìa ra cũng không ngăn được chúng. Được huấn luyện theo tinh thần của Hitler, quân đội Đức đã tra tấn và giết hại tất cả những người mà chúng không cần, còn những ai có thể làm việc phục vụ chúng, sẽ được áp giải sang Đức như gia súc để đến các chợ buôn nô lệ.
Chủ tịch ủy ban đặc biệt nhà nước N. M. Shvernik và thành viên của ủy ban đặc biệt Nikolai, tổng giám mục giáo phận Kiev và Galitsky, đã đích thân xác lập những sự kiện tại các quận Vyazemsky, Gzhatsky, Sychevsky, Rzhevsky về tội ác dã man của quân xâm lược Đức, hành hạ, tra tấn, tàn sát, biên công dân Soviet thành kẻ nô lệ cho quân Đức, tàn phá các thành phố, làng mạc, thôn quê.
Tội ác của phát xít Đức và đồng bọn của chúng được xác nhận bằng lời khai của các công dân Soviet sồng dưới thời kỳ chiếm đóng tại các quận huyện này, cũng như những biên bản do các ủy ban gồm đại diện các tổ chức nhà nước, kinh tế, hợp tác xã, công đoàn và các tổ chức xã hội khác, công nhân, nông trang viên, các tổ chức thành thị, nông thôn và quân đội lập ra.
Đặt mục tiêu là tiêu diệt nhà nước Soviet, tước đoạt mái ấm và văn hóa dân tộc của người dân Liên Xô, biến họ thành nô lệ cho quân Đức, Bộ chỉ huy quân đội Đức đã ra lệnh cho các đơn vị của mình trừng phạt tàn nhẫn không chỉ các tù binh chiến tranh, mà cả thường dân vô tội tại các làng mạc và thành phố của Liên Xô.
Tại các quận Vyazma và Gzhatsk, Rzhev và Sychevka, đại tướng Heinrich, tư lệnh quân đoàn 4, và đại tướng Model, tư lệnh quân đoàn 9 quân đội Đức, phớt lờ mọi luật lệ về đạo đức con người, đã chế giễu, tra tấn và sát hại thường dân vô tội Soviet. Theo lệnh của chúng, các sĩ quan và binh lính các đơn vị quân đội Đức đã tra tấn, móc mắt, chặt tay chân, cắt tai, giết hại phụ nữ, trẻ em và người già.
Các đơn vị hiến binh của tướng Schiman, chỉ huy trưởng Arnold Stammp và sĩ quan chỉ huy Gestapo, nam tước Adler, đã tra tấn và giết hại hàng ngàn thường dân tại thành phố Vyazma.
Ngày 10/12/1942, chúng đã đưa lên xe 34 người cả đàn ông và phụ nữ Soviet ra khỏi thành phố, bắt họ tự đào huyệt rồi bắn chết.
Ngày 25/02/1942, phát xít Đức đã bắn chết bác sĩ phẫu thuật bệnh viện thành phố Vyazma, Birstein M. D., 65 tuổi, bác sĩ nhãn khoa Lopyrev A. Y., 62 tuổi và đứa con trai 16 tuổi của ông.
V. I. Murashevsky, 74 tuổi, đã phải chịu đựng sự nhạo báng và tàn bạo vô nghĩa, ông lấy một xô nước từ giếng nước ngoài đường về nhà. Một lính Đức đóng ở nhà bên cạnh đã gọi ông sang chỗ hắn và sát hại ông một cách dã man. Khám nghiệm tử thi của Murashevsky cho thấy má bên phải của ông bị rạch đến tận mang tai, tai phải bị cắt, mắt trái bị móc ra, mí mắt bị khoét một hình tam giác, môi trên bị cắt, một miếng da hình tam giác bị khoét ở gáy bằng dao cạo.
Quân xâm lược phát xít đã buộc các nữ bác sĩ phải làm công việc của hộ lý tại bệnh viện. Hạ sĩ Richter, chỉ huy khoa truyền nhiễm của bệnh viện, đã đánh đập đến bất tỉnh các y tá và hộ lý chỉ vì những lỗi cỏn con. Các bác sĩ và y tá người Nga không được sử dụng nhà vệ sinh, trẽn các cánh cửa đều treo tấm biển: “cấm người Nga vào, nếu vi phạm sẽ bị bắn bỏ”.
Tại Sychevka, trung úy Kisler, chỉ huy trưởng thành phố, đã đàn áp không thương tiếc phụ nữ, trẻ em và người già.
Ngày 07/01/1943, hắn lùa khoảng 100 người Do Thái gồm phụ nữ, người già và trẻ em, lúc đầu đánh đập họ, sau đó đưa ra ngoại ô thành phố và bắn chết.
Ngày 28/02/1943, bọn quái vật phát xít Đức đã lùa những bệnh nhân thương hàn đến tòa nhà số 57 đường Naberezhnaya thành phố Sychevka, nói là để hỗ trợ y tế, rồi nhốt chặt họ ở đó và phóng hỏa. Y tá Popova và các nhân viên y tế khác đã dùng hết nỗ lực mới cứu sống được một số bệnh nhân trong vụ cháy.
Gần thôn Kholmets, quận Sychevsky, cần phải rà phá bom mìn tại một đoạn đường. Theo lệnh của thiếu tướng Fisler, tư lệnh sư đoàn 102 bộ binh, quân Đức đã lùa dân làng Kholmets bắt họ đi dọc con đường có gài mìn. Tất cả những người này đã chết trong vụ nổ mìn.
Chính quyền phát xít nghi ngờ dân làng Korbutovka có liên lạc với quân du kích nên đã thiêu rụi ngôi làng. Nông trang viên Baranova, lên tiếng phản đối sự tàn phá ấy, đã bị quân Đức dùng dao mổ bụng, rạch mặt, còn con cái của cô bị bẻ gãy tay và đập vỡ sọ.
Tại thôn Zaychiky, Gestapo đã lùa Mikhail Zaikov, 61 tuổi, Nikifor Belyakov, 69 tuổi, Ekaterina Begorova, 70 tuổi, Ekaterina Golubyova, 70 tuổi, Egor Dadonov, năm tuổi, Mira Zernova, bảy tuổi và những người khác, tổng cộng 23 người, vào một ngôi nhà rồi thiêu sống mọi người trong đó.
Tại thôn Klima, quân Đức đã ném đứa con của nông trang viên Bogdanova vào đống lửa, rồi sau đó thiêu sống cô.
Tại thôn Vasilyevka, bọn đồ tể Đức đã dùng móc sắt móc hàm chủ tịch nông trang Tarbin và thủ kho Yermolinsky rồi treo lên. Giá treo cổ với thi thể của họ còn phơi ngoài đường một thời gian dài. Khi quân Đức rút khỏi thôn Drachevo, quận Gzhatsky vào tháng 3/1943, trung úy Boss, trợ lý của sĩ quan chỉ huy hiến binh Đức, đã lùa 200 dân làng Drachevo, Zlobino, Astakhove, Mishine vào nhà của nông trang viên Chistyakova, đóng chặt cửa rồi đốt ngôi nhà nhốt toàn bộ 200 người. Trong đó có cả người già, phụ nữ và trẻ em: Platonov M. p., 63 tuổi; Platonova P. L, 59 tuổi; Platonov Vasily, 35 tuổi và các con của anh: Vyacheslav, năm tuổi, Alexander, ba tuổi; Vasilieva P. I., 42 tuổi, các con gái của cô: Maria, 11 tuổi, Anna, chín tuổi và con trai Arkady, năm tuổi; mẹ của Vasilyev M. S., 72 tuổi; Chistyakova K. G., 64 tuổi, con trai của bà Ivan, 13 tuổi và cháu trai Yuri, bốn tuổi; Smirnov M. L, 63 tuổi và vợ Smirnova E. M., 58 tuổi, con gái của họ Smirnova A. M., 27 tuổi, các con của cô ba tuổi và một tuổi rưỡi, con gái của Smirnov M. M., 15 tuổi và những người khác.
Tại thôn Stepaniki, quận Gzhatsky, quân chiếm đóng Đức đã nhốt Elena Fyodorovna Ilyina 35 tuổi vào nhà tắm, hành hạ, tra tấn cô suốt bảy ngày, đánh bằng roi da, bằng gậy, rồi xối nước lạnh cho tỉnh lại.
Ngày 08/01/1943, chúng lùa hết dân làng Stepaniki đến chứng kiến vụ hành quyết và treo cổ Ilyina trên cây.
Tại các thôn Kulikovo và Kolesniki quận Gzhatsky, phát xít Đức đã thiêu rụi một ngôi nhà và toàn bộ những người sống trong nhà từ nhỏ đến lớn.
Tại thành phố Rzhev ở quảng trường trung tâm, nơi trước kia dựng tượng đài Lenin, theo lệnh của thiếu tướng Weiss, tư lệnh quân đoàn 27 Đức Quốc xã, thiếu tá Kurtfeld, chỉ huy trưởng thành phố, đã dựng một giá treo cổ để hành quyết hàng chục thường dân: Alexander Drozdov, Anna Pozharskaya, Medotsyev và những người khác. Vài ngàn người đã bị bắn.
Ngày 20/3/1943, tại tòa nhà số 47 đường Vorovsky, ba phụ nữ và ba trẻ nhỏ đã bị phát xít Đức giết hại. Tài sản bị cướp sạch.
Tại tòa nhà bên cạnh đã tìm thấy gia đình Sadov bị lính Đức tra tấn: cha và mẹ bị bắn, con gái Raya 12 tuổi bị đâm bằng lưỡi lê, con trai Valentin 15 tuổi bị bắn vào mắt phải, con gái Zina 18 tuổi bị hiếp rồi bị bóp cổ, con gái Katya năm tháng tuổi bị bắn vào thái dương.
Tại một khoảnh sân của khu nhà số 116 đã phát hiện tám thi thể công dân Soviet trong hố ngoài vườn rau, đã bị biến dạng đến mức khó lòng nhận dạng: Solovyova I. V 30 tuổi, bị cắt môi, Andreeva A. K. 28 tuổi, bị đâm bằng lưỡi lê và những người khác.
Nhằm mục đích thủ tiêu hàng loạt các tù binh chiến tranh Soviet, chính quyền quân đội Đức đã bắt các chiến sĩ Hồng quân phải chịu chết đói, chết vì bệnh thương hàn và kiết lỵ. Các tù binh chiến tranh không được chăm sóc y tế.
Tại thành phố Vyazma có một bệnh viện dành cho các tù binh chiến tranh trong một nhà kho xây bằng đá không có lò sưởi. Hoàn toàn không có một sự chữa trị hay chăm sóc bệnh nhân nào hết. Con số tử vong hằng ngày từ 20 đến 30 người. Bệnh nhân được cho ăn nửa cả mèn súp không có bánh mì một ngày. Theo số liệu của bác sĩ Mikheev E. A., có ngày trong bệnh viện này có 247 người chết vì kiệt sức và bệnh tật. Ngoài ra, binh lính Đức còn chọn bệnh nhân Hồng quân để làm bia tập bắn khi họ đi ngang qua sân bệnh viện.
Bác sĩ phẫu thuật Razderhin V N. cùng một nhóm bác sĩ đã phải ở qua đêm trong một trại tập trung dành cho tù binh chiến tranh. Các bác sĩ thuật lại rằng suốt đêm từ khắp trại vọng tới tiếng kêu khóc của những người bị tra tấn “cứu tôi với”, “xin hãy giúp tôi”, “tôi bị đánh vì tội gì”, “ôi, tôi chết mất”.
Ban ngày vào giờ phát khẩu phần ăn, các tù binh chiến tranh chen chúc quanh bếp. Để khôi phục trật tự, lính canh Đức đã gỡ một quả lựu đạn từ thắt lưng và ném vào đám đông. Một số người đã thiệt mạng và nhiều người bị thương.
Tháng 02/1943, trước khi rút lui khỏi Vyazma, phát xít Đức đã đưa một nhóm thường dân bị bắt giam và tù binh Hồng quân tới nhà ga Novotorzhskaya gần thành phố Vyazma. Trong khi những người kiệt quệ vì đói đang được chuyển từ ga Novotorzhskaya đến trại tập trung, nhiều người trong số họ đã ngã gục vì kiệt sức. Lính hộ tống Đức đã bắn chết những người này. Từ ga Novotorzhskaya đến thành phố Vyazma đã có 43 người bị bắn chết.
Sĩ quan chỉ huy trại tập trung số 2 Rauutenberg đã khiến các tù binh chiến tranh Soviet phải chịu những cực hình và hành quyết mất hết tính người.
Sau khi giải phóng thành phố Sychevka khỏi ách chiếm đóng của quân Đức, hơn 3.000 thi thể các tù binh Hồng quân và thường dân Soviet đã được tìm thấy dưới một con hào lớn trong trại. Khám nghiệm tử thi chứng tỏ họ đã phải chịu những cực hình đầy thú tính: nhiều người bị bè gãy tay chân, hộp sọ bị đập vỡ, mũi, tai bị cắt, mắt bị móc, bộ phận sinh dục bị cắt rời.
Tại thôn Kharino, tháng 01/1943, phát xít Đức đã lùa 79 tù binh chiến tranh ra bãi nhốt gia súc rồi thiêu sống họ.
Tại thôn Korytovka, tháng 11/1941, lính Đức đã dùng tù binh Hồng quân làm bia tập bắn, giết chết 14 người.
Tháng 6/1942, theo lệnh của đại úy Schulz, đội trưởng hiến binh, năm tù binh Hồng quân được đưa ra khỏi trại tập trung Vyazemsky, đội hộ tống ra lệnh cho họ chạy rồi nhắm bắn họ – ba người bị giết ngay lập tức, còn hai người bị thương được bắn bồi bằng súng trường.
Trên đường Komsomolskaya thành phố Vyazma, một tù binh Hồng quân tách khỏi nhóm để uống nước từ một khe nước chảy bên vệ đường; lính hộ tống Đức dùng báng súng đánh anh ta, sau đó kéo sang một bên và bắn chết tại chỗ.
Gần nhà ga Vyazma, một tù binh Hồng quân đã bước vào phòng ăn dành cho công nhân và xin một đĩa súp. Lính hộ tống bước vào theo anh ta và bắt tù binh Hồng quân lập tức phải rời khỏi phòng ăn. Người tù xin phép được ăn hết đĩa súp. Lính hộ tống lôi anh ta khỏi phòng ăn ra đường và bắn ngay tại cửa.
Tháng 12/1942, một lính hộ tông Đức đã bắn chết hai tù binh Hồng quân trên đường Sofia Perovskaya. Thi thể họ còn bỏ mặc trên đường nhiều ngày sau…”.
Không đễ qua mau, không dễ lãng quên…
Theo tư liệu phiên tòa Nürnberg. M„ 1983. Trang 56-59.
4. Về tội ác của quân xâm lược phát xít Đức tại thành phố Oryol và tỉnh Oryol.
“Theo các dữ liệu chưa đầy đủ, tại 19 quận huyện thuộc tỉnh Oryol, chúng đã tiêu hủy và phá hoại 583 tòa nhà của các tổ chức nhà nước, 317 tòa nhà của các xí nghiệp công nghiệp, 316 tòa nhà của các cơ sở đường bộ, 881 tòa nhà của các tổ chức giáo dục và văn hóa, 181 tòa nhà của các tổ chức y tế, 284 tòa nhà công cộng, 493 tòa nhà của doanh nghiệp kinh doanh, 56.866 công trình nông nghiệp.
Đột nhập vào các thành phố và làng mạc tỉnh Oryol, các sĩ quan và binh lính Đức, theo chỉ thị trực tiếp của Bộ chỉ huy quân sự và chính quyền chiếm đóng dân sự, đã cướp bóc tài sản và lương thực của thường dân, và chỉ cần một sự phản khảng nhẹ là chúng đốt cháy nhà cửa của dân và thực hiện những vụ đàn áp đẫm máu. Chúng đã tịch thu của dân và nông trang: 11.986 con ngựa, 17.161 gia súc lớn, 38.004 con cừu và dê, 10.994 con lợn, 334.415 gia cầm, 82.054 tấn ngũ cốc và thực phẩm. Chúng đã tịch thu tất cả mọi thứ lọt vào mắt: thực phẩm, quần áo, giày dép, đồ vải, đồ gỗ, bát đĩa, thậm chí cả đồ chơi trẻ em.
Trong cơn hung bạo điên cuồng với nhân dân Soviet do thất bại ở mặt trận, tướng Rudolf Schmidt, tư lệnh quân đoàn 2 thiết giáp Đức Quốc xã, và thiêu tướng Hamann, chỉ huy khu hành chính Oryol và thành phố Oryol, đã thành lập các đội đặc nhiệm đánh thuốc nổ để phá hủy các thành phố, làng mạc và nông trang tập thể ở tỉnh Oryol. Những đội này đã phá hủy và đốt cháy mọi thứ trên đường rút lui của chúng. Chúng đã phá hủy các đài tưởng niệm văn hóa và nghệ thuật của nhân dân Nga, đốt chây các thành phố, làng mạc và thôn quê.
Tại nhà tù thành phố Oryol, quân xâm lược phát xít Đức đã lập trại tập trung để nhốt các tù binh chiến tranh và thường dân. Theo lời khai của các tù nhân được phóng thích, cụ thể là Tolubeev, Ravkin, Kabaldin, Zhiltsov và những người khác, đã xác định rằng tại trại Oryol, quân Đức đã hủy diệt các công dân Soviet. Thức ăn cho các tù binh chiến tranh thậm chí không đảm bảo được mức độ tồn tại tối thiểu. Mỗi ngày các tù nhân được phát 200 gram bánh mì trộn với mùn cưa và một lít súp nấu bằng đậu nành thối và bột bị mục.
Có những vụ chết hàng loạt tại trại tập trung. Trong tổng số những người thiệt mạng có 3.000 người chết vì đói và những biến chứng do suy dinh dưỡng.
Dân thường chết vì những vụ xử bắn được thực hiện tại sân nhà tù theo lịch trình với sự chính xác của quân Đức, vào các ngày thứ Ba và thứ Sáu, theo từng nhóm gồm 5-6 người. Quân Đức cũng áp giải những người bị xử ra những địa điểm xa, nơi có những chiến hào do quân đội Nga đào trước khi rời khỏi thành phố, và bắn họ ở đó. Những người bị bắn trong thành phố được chở ra và ném xuống các chiến hào, phần lớn trong khu vực có rừng cây. Việc hành quyết tại nhà tù được thực hiện như sau: đàn ông đứng úp mặt vào tường, bọn hiến binh dùng súng lục bắn vào gáy họ. Phát đạn này làm thương tổn các trung tâm của sự sống và cái chết đến ngay lập tức. Phần lớn các trưởng hợp, phụ nữ nằm úp mặt xuống đất, và bọn hiến binh bắn vào gáy họ. Cách thứ hai: một nhóm người được chở đến chiến hào, đứng quay mặt về một hướng, quân Đức dùng súng máy nhắm bắn vào vùng gáy của họ. Trong các chiến hào đã tìm thấy những thi thể của trẻ em, theo lời của các nhân chứng, chúng đã bị chôn sống.
Theo lời khai của các nhân chứng, ít nhất 5.000 tù binh chiến tranh và thường dân Soviet đã được chôn tại nghĩa trang gần nhà tù thành phố trong thời kỳ quân Đức chiếm đóng thành phố Oryol. Có hàng chục ngôi mộ tập thể những nạn nhân của quân xâm lược phát xít Đức tại thành phố Oryol và tỉnh Oryol…”.
Không dễ qua mau, không dễ lãng quên…
Theo tư liệu phiên tòa Nürnberg. M., 1983. Trang 62-63.
5. Về tội ác của quân xâm lược phát xít Đức tại vùng Stavropol.
“Những hành động tội ác của quân chiếm đóng Đức tại Stavropol, Georgievsk, Kislovodsk, Essentuky, Mineralnye Vody, Zheleznovodsk và Teberda đã được chứng minh bằng các biên bản của ủy ban, đơn tố cáo của các nạn nhân, lời khai của các nhân chứng, kết luận của các chuyên gia y tế, các hồ sơ tài liệu, và được sự xác nhận của Aleksei Tolstoy, viện sĩ Viện Hàn lâm khoa học, thành viên ủy ban nhà nước đặc biệt, người đã đích thân đến các thành phố này và các quận, huyện của vùng lãnh thổ Stavropol và xác lập những sự kiện về tội ác khủng khiếp và việc thủ tiêu hàng loạt các thường dân vô tội Xồ viết…
Một đội đặc nhiệm thuộc Gestapo gồm 25 người được thành lập để trấn áp công dân Soviet. Đội này do trung úy Katzendorf và trợ lý của hắn, trung úy Benzel, chỉ huy; sau này đội đặc nhiệm được đặt sự chỉ huy của trưởng đơn vị SD-12, trung úy Kleiber và trợ lý của hắn, sĩ quan Knor thuộc Gestapo. Người đứng đầu nhà tù Gestapo là một sĩ quan Đức, đội trưởng Wilhelm Schmidt và đội phó của hắn kiêm phiên dịch tiếng Hungary, Engel Nikolai.
Tại vùng Stavropol, quân Đức đã giết hàng ngàn thường dân Soviet vô tội trong những xe ô tô.
Sự việc được xác định là vào tháng 12/1942, theo lệnh của trung úy Otto Weber, chỉ huy Gestapo tại thành phố Mikoyan-Shakhar, một vụ giết hại vô cùng tàn bạo những bệnh nhân trẻ em Soviet bị lao xương, đang được chữa trị tại viện điều dưỡng Teberda đã được thực hiện. Những người chứng kiến tội ác này gồm nhân viên của viện điều dưỡng trẻ em, nữ y tá Ivanova S. E. và nữ hộ lý Polupanova M. I. – đã tường thuật:
“Ngày 22/12/1942, một ô tô của quân Đức đã đến lối vào khu đầu tiên của viện điều dưỡng. Bảy tên lính Đức trên xe này đã kéo 54 trẻ em ở độ tuổi từ ba tuổi bị bệnh nặng ra khỏi viện điều dưỡng, đặt chúng nằm trong các ngăn xếp thành tầng trong xe, sau đó đóng chặt cửa, xả hơi ngạt vào (khí CO) rồi rời khỏi viện. Khoảng một tiếng sau, chiếc xe trở lại làng Teberda. Tất cả những đứa trẻ đều đã chết, chúng bị quân Đức giết hại và ném vào khe núi Teberda gần Gunachgir”.
Sự việc được xác định là từ ngày 5-10/8/1942, lính Đức từ sở chỉ huy SS, dẫn đầu là thượng sĩ Gering và trung sĩ Schmitz, đã đưa 660 bệnh nhân ra khỏi bệnh viện tâm thần Stavropol và giết chết họ bằng hơi ngạt (khí CO) trong xe.
Để che đậy dấu vết tội ác đẫm máu của chúng trước cư dân thành phố, bọn quái vật phát xít đã thông báo cho bác sĩ trưởng của bệnh viện, bác sĩ Gambarov D. S. và nhân viên y tế, rằng chúng sẽ chuyển tất cả các bệnh nhân từ thành phố Stavropol đến bệnh viện của làng Donskoye và Proletarskoye, nơi được trang bị mọi phương tiện cần thiết để chữa trị – thiết bị chuyên dụng và nhân viên y tế người Đức có chuyên môn cao, song thực tế là tất cả bệnh nhân đều bị giết.
Sự việc được xác lập tại thành phố Kislovodsk ở trường phổ thông số 16 vào tháng 8/1942, Gestapo đã lập một nhà ngục, nơi đó công dân Soviet đã bị tra tấn dã man. Từ Bugurstan và Bekeshevka chúng đã chở đến nhà ngục 150 người, bị bắt và bị chuyển từ Crimea và từ nhà ga Kavkazskaya. Ngày 06/9/1942, những tù nhân được giam giữ tại trụ sở trường phổ thông số 16 có lính Đức canh gác xung quanh. Sau đó, bốn chiếc xe tải đã đến, quân Đức bắt đầu cho tù nhân lên xe. Toán tù nhân đầu tiên được chất lên xe chỉ toàn đàn ông và được chở đi. Một lúc sau, những chiếc xe ấy quay lại để chở những phụ nữ và trẻ em còn lại. Gestapo đã chở các nạn nhân của chúng qua sông Podkumok và dùng súng máy bắn họ ở đó tại một khe núi. Trong số những người bị bắn có 47 trẻ em từ sơ sinh đến 15 tuổi.
Việc xử bắn 150 công dân Soviet bị giam giữ tại nhà ngục của Gestapo trong khuôn viên trường phổ thông số 16 được thực hiện theo lệnh của thiếu tá Lidtke, sĩ quan chỉ huy thành phô.
Ngày 22/6/1943 gần thành phố Kislovodsk sau trận mưa lớn ở núi Koltso, tại khu vực nông trại mang tên Kirov, cư dân tìm thấy 26 thi thể công dân Soviet bị bắn chết.
Trong quá trình kiểm tra và khám nghiệm pháp y tử thi, đã xác định trong số đó gồm có: hai xác nam, 15 xác nữ và chín xác trẻ em từ hai đến 12 tuổi. Trên toàn bộ 26 thi thể đều phát hiện dấu vết của bạo lực, tra tấn: gãy chân tay và vỡ sọ.
Khi kiểm tra một khe núi khác cách núi Koltso không xa, khoảng 250 m đường bộ từ Kislovodsk đến làng Pervomaisky, đã phát hiện một gò đất bị sạt lở sâu khoảng 10 m, từ đó có thể nhìn thấy những bộ phận của thi thể.
Tại địa điểm này từ ngày 26-29/7/1943 đã tiến hành khai quật, kết quả là 130 thi thể đã được moi ra. Khám nghiệm pháp y cho thấy: thi thể của một bé gái bốn tháng tuổi không có dấu hiệu chết do bạo lực, đứa trẻ còn sống trước khi bị chôn và đã bị chết ngạt; một xác đàn ông trong đồng phục Hồng quân với cánh tay phải và chân trái bị băng bó, đôi nạng được tìm thấy bên cạnh xác này. Khi khám nghiệm tử thi những trẻ sơ sinh, chuyên gia y tế xác định tất cả trẻ em đều còn sống khi bị ném xuống khe núi cùng với các bà mẹ bị bắn của chúng. Dấu vết của sự hành hạ và tra tấn được tìm thấy trên mọi thi thể khác: hàm dưới bị cắt, chân tay bị gãy, trật khớp và khuôn mặt bị biến dạng.
Kết quả tiến hành khai quật tại khu vực núi Koltso trong khoảng thời gian từ ngày 26/6 – 07/7/1943 đã phát hiện 322 thi thể các công dân Soviet, đã bị bắn và tra tấn dã man theo lệnh của Paul, chỉ huy trưởng quân đội thành phố Kislovodsk, thiếu tá Lidtke, chỉ huy phó, Welben, chỉ huy trưởng Gestapo, Weber, trợ lý chỉ huy Gestapo, với sự tham gia của những người trực tiếp thực hiện mệnh lệnh của chúng, thanh tra thứ nhất Gestapo Goering, thanh tra thứ hai Cije, phó chỉ huy Gestapo Keller, trưởng ban hậu cần Gestapo Hausman, và phó ban hậu cần Hushe.
Tại thành phố Pyatigorsk, chính quyền Đức chiếm đóng đã tiến hành thủ tiêu hàng loạt công dân Soviet.
Gần đài tưởng niệm tại địa điểm đấu súng của nhà thơ Lermontov trên núi Mashuk, đã khai quật được năm hố chôn, trong đó phát hiện được 75 thi thể.
Tại cánh rừng Komsomolskaya, cách thành phố Pyatigorsk khoảng 6 km, dưới chân núi Mashuk, đã phát hiện được trong tám hố chôn 125 thi thể những công dân Soviet đã bị tra tấn dã man và bị bắn chết.
Tại quận Belaya Romashka, trên đường Kuznechnaya, đối diện chuồng ngựa, đã phát hiện sáu thi thể chiến sĩ Hổng quân, bị quân Đức bắn chết ngày 10/8/1942. Tại cùng khu vực, gần bệnh viện thành phố số 1, khai quật được thi thể 16 học viên trường kỹ thuật quân sự thiết giáp. Sự việc được xác lập là quân Đức đã giết chết những học viên bị thương.
Tổng cộng trong các hố được khai quật tại khu vực Pyatigorsk phát hiện 356 thi thể các công dân Soviet đã bị tra tấn và bắn chết, trong đó gồm 283 xác đàn ông, 66 xác phụ nữ và trẻ em. Đây chưa phải là số liệu đầy đủ. Nhiều ngôi mộ còn chưa được phát hiện.
Ngày 07/9/1942 theo chỉ thị của sở chỉ huy số 12 của quân Đức, người Do Thái được yêu cầu trình diện vào ngày 09/9 tại nhà ga vận chuyển hàng hóa Kislovodsk, mang theo hành lý không quá 20 kg, những thứ có giá trị nhất và thực phẩm dự trữ trong hai ngày để khởi hành đến những địa điểm ít dân cư tại Ukraina. Chìa khóa căn hộ được yêu cầu giao cho sở chỉ huy số 12 với địa chỉ căn hộ được ghi chú trên tờ phiêu đặc biệt.
Căn cứ lời khai của cư dân thành phố Mineralnye Vody – những nhân chứng của tội ác phát xít Đức: Lisipin F. M., Mikheev N. V., Belousova E. E., Rozanov A. N. và những người khác, cũng như những tài công đầu máy xe lửa thành phố Mineralnye Vody: Pavlov A. M., Sapunov A. V., đi theo đoàn tàu từ ga Kislovodsk, chở người dân gốc Do Thái trên 18 toa mui trần và hai toa kín, đã xác định vào ngày 09/9/1942, khoảng 2.000 công dân Soviet có gốc Do Thái đi trên đoàn tàu từ ga Kislovodsk, theo lệnh của Welben – chỉ huy trưởng thành phố Kislovodsk Polya, chỉ huy Gestapo tại Kislovodsk, Weber – trợ lý của hắn và thiếu tá Bart – chỉ huy trưởng thành phố Mineralnye Vody, đã bị bắn tại con hào chống tăng đôi diện nhà máy kính, cách thành phố Mineralnye Vody 2,5 km. Tại đấy hàng ngàn người Do Thái cùng với gia đình, được chở đi khỏi Essentuky và Pyatigorsk, đã bị bắn chết.
Ngày 10/7/1943, Alexei Tolstoy, thành viên ủy ban nhà nước đặc biệt, viện sĩ Viện hàn lâm khoa học, đã tiến hành khai quật con hào chống tăng này một đoạn dài 551 m. ủy ban đã xác định trong hào chống tăng ấy có ít nhất 6.300 thi thể công dân Soviet đã bị bắn chết một cách dã man…”
Không dễ qua mau, không dễ lãng quên…
Theo tư liệu phiên tòa Nürnberg. M., 1983. Trang 63-66.
6. Về việc thủ tiêu hàng loạt công dân Soviet tại các thành phố Artyomovsk, Kramatorsk và stalino trong thời kỳ chiếm đóng của quân xâm lược phát xít Đức tại tỉnh Stalin.
“…Theo lệnh của thiếu tá von Zobel, chỉ huy trưởng quân Đức tại thành phố Artyomovsk, hơn 3.000 công dân Soviet, gồm phụ nữ, trẻ em và người già, đã bị tra tấn và bị bắn chết. Thi thể của công dân Soviet được chôn trong đường hầm của các mỏ đá nhà máy Alebastrovyi. ủy ban đã xác định:
“Khoảng 2 km về phía đông thành phố Artyomovsk, trong đường hầm mỏ đá của nhà máy Alebastrovyi, ở khoảng cách 400 m từ lối vào, có một lỗ nhỏ được xây kín bằng gạch. Sau khi mở lỗ này, đã phát hiện đoạn tiếp theo của đường hầm, phần cuối là một hang động hình bầu dục khá lớn. Toàn bộ hang động chất đầy xác người, chỉ còn một khoảng trống nhỏ ở lối vào và một dải hẹp ở chính giữa là không có xác chết. Tất cả các thi thể ép chặt vào nhau và quay lưng về phía lỗ cửa hang. Các thi thể áp sát vào nhau đến mức thoạt nhìn cứ ngỡ đó chỉ là một khối thi thể lớn”.
…Ở vùng phụ cận phía bắc thành phố Kramatorsk, tại một mỏ đất sét cũ đã tiến hành khai quật ba hố lớn.
“Sau khi bóc những lớp đất đá phía trên ở độ sâu từ 20 cm đến 1 m”, trong một biên bản của ủy ban ghi nhận, “đã phát hiện các thi thê công dân Soviet nằm úp mặt xuống. Từ ba hố này đã đào lên được 812 thi thể. Khám nghiệm cho thấy trong đó gồm 740 xác đàn ông, 50 xác phụ nữ và 22 xác trẻ em”.
Cách thành phố Stalino 1 km, bọn khốn phát xít Đức đã tra tấn và bắn chết hàng chục ngàn thường dân Soviet và ném xác họ vào thân trục hầm mỏ Kalinovskaya số 4-4 bis. Để che đậy dấu vết tội ác đẫm máu của chúng, quân Đức đã cho nổ tháp hầm mỏ và bằng cách đó lấp luôn trục hầm mỏ. Ủy ban đặc biệt của tỉnh về điều tra tội ác của quân xâm lược phát xít Đức đã tiến hành khai quật và lấy lên các thi thể.
Tại thành phố Stalino, quân xâm lược phát xít Đức đã lùa cư dân của tòa nhà các giáo sư vào một nhà kho, bít chặt lối vào, tưới vật liệu dễ cháy lên nhà kho rồi phóng hỏa. Toàn bộ người trong kho đều chết cháy, ngoại trừ hai cô gái tình cờ được cứu sống.
…Trong khuôn viên trại tập trung được lập tại câu lạc bộ mang tên Lenin và bệnh xá trung tâm đã chôn ít nhất 25.000 công dân Soviet. Việc thủ tiêu và nhạo báng người dân Soviet được thực hiện theo chỉ thị và với sự tham gia trực tiếp của người đứng đầu trại tập trung, sĩ quan Đức Gafbel.
…ủy ban đã xác định “trong 25 ngôi mộ trên lãnh thổ của thành phố quân sự Artyomovsk có tới 3.000 thi thể công dân Soviet, đã bị nhốt trong trại tập trung nằm trên lãnh thổ của thành phố quân sự”.
Không dễ qua mau, không dễ lãng quên…
Theo tư liệu phiên tòa Nürnberg. M., 1983. Trang 67.
7. Về tội ác của quân Đức trên lãnh thổ tỉnh Lvov.
“Sau khi chiếm thành phố Lvov vào ngày 30/6/1941, quân xâm lược Đức đã tuyên bố tỉnh Lvov là “một quận của Galicia”, và áp dụng ở đó cái gọi là “trật tự mới” bằng sự cướp bóc tràn lan, bạo lực, tra tấn, bắn bỏ hàng loạt và giết hại thường dân vô tội.
Các vụ giết hại công dân Soviet được thực hiện không phải do các băng đảng ngẫu nhiên gồm các sĩ quan và binh lính Đức, mà do các quân đoàn, cảnh sát và an ninh SS của Đức, có tính tổ chức, theo kế hoạch do chính phù Đức hoạch định trước đó. Để thủ tiêu hàng loạt người dân Soviet, một bộ máy đặc biệt được thành lập và toàn bộ mạng lưới trại tập trung để hủy diệt con người được tổ chức.
Để hạ thấp nhân phẩm, quân Đức đã áp dụng những cách thức tra tấn tinh vi nhất các nhà khoa học bị bắt giữ, rồi sau đó mới bắn chết họ… Tháng 7/1941, bọn SS đã giải đi 20 người, trong đó có bốn giáo sư, luật sư và bác sĩ. Trong số những người bị giải đi có năm-sáu phụ nữ. Bọn SS buộc họ phải dùng miệng để rửa cầu thang ở bảy lối vào của tòa nhà bốn tầng. Sau khi tất cả các cầu thang đã được rửa sạch, những người ấy buộc phải nhặt rác ngoài sân bằng miệng của họ… Toàn bộ rác thu lượm phải được chuyển đến một chỗ trong sân…
Đại úy SS Gebauer đã thiết lập một hệ thống hủy diệt con người một cách dã man trong trại tập trung Yanovsky, sau đó khi hắn đã thuyên chuyển đến vị trí mới, bọn sĩ quan SS chỉ huy trại kế cận, trung úy Gustav Wilgauz và đại úy Franz Wartzok đã “hoàn thiện” hệ thống ấy.
“Chính mắt tôi đã thấy”, Ash, một cựu tù của trại, đã tường thuật với ủy ban, “đại úy SS Fritz Gebauer đã bóp cổ phụ nữ và trẻ em, ngâm đàn ông vào những thùng nước lạnh mùa đông. Các thùng chứa đầy nước, nạn nhân bị trói chặt tay chân và nhúng xuống nước. Kẻ bị kết án bị nhúng trong thùng nước cho đến khi bị đông cứng hoàn toàn”.
Theo lời khai của nhiều nhân chứng là tù binh chiến tranh Soviet, cũng như tù binh người Pháp trong các trại tập trung của quân Đức, đã xác định rằng bọn giặc cướp Đức đã “phát minh” ra những phương pháp hủy diệt con người tinh vi nhất, việc đó đối với chúng được xem là vấn đề danh dự đặc biệt và được Bộ tổng tham mưu quân đội và chính phủ khích lệ.
Chẳng hạn, đại úy SS Franz Wartzock thích treo ngược chân tù nhân lên cột rồi để yên như thế cho đến chết; trung úy SS Rokita đích thân mổ bụng các tù nhân; trưởng ban điều tra của trại Yanovsky, Gayne, đã khoan thân thể tù nhân bằng que sắt hay mẩu sắt, dùng kìm nhổ móng tay phụ nữ, sau đó lột quần áo của nạn nhân, buộc tóc họ treo lên, cho lắc lư để nhắm bắn “mục tiêu đi động”. Để là trò thể thao và mua vui cho vợ và con gái, chỉ huy trại Yanovsky, trung úy SS Wilgauz, đã dùng súng máy từ ban công văn phòng trại để bắn một cách có hệ thống các tù nhân làm việc tại các xưởng, sau đó chuyển súng máy cho vợ mình để ả bắn. Đôi khi, để làm hài lòng đứa con gái chín tuổi của mình, Wilhaus buộc thủ hạ ném những đứa trẻ hai-bốn tuổi lên không trung rồi nhắm bắn chúng. Đứa con gái vỗ tay reo hò: “Bố ơi, bắn nữa, bố ơi, bắn nữa đi!” – và hắn tiếp tục bắn.
Các tù nhân trong trại bị thủ tiêu không cần bất cứ lý do nào, thường là để thắng cược. Nhân chứng Kirchner R. S. đã tường thuật với ủy ban điều tra về việc sĩ quan Gestapo Wepke đã cược với những tên đao phủ khác của trại rằng chỉ cần một nhát rìu là hắn ta sẽ chẻ đôi một đứa bé. Bọn kia không tin hắn. Sau đó, hắn bắt một cậu bé 10 tuổi ngoài đường, buộc nó quỳ xuống, đan hai tay vào nhau và cúi đầu về phía hắn, hắn ước lượng, chỉnh lại đầu cậu bé, rồi bằng một nhát rìu chẻ dọc thân mình thằng bé. Bọn Đức nhiệt liệt chúc mừng Wepke, bắt tay hắn thật chặt và khen ngợi.
Năm 1943 nhân dịp sinh nhật Hitler (54 tuổi), chỉ huy trại Yanovsky, trung úy SS Wilgau, đã chọn ra 54 tù nhân và đích thân y bắn chết để mừng sinh nhật.
Tại trại tập trung đã lập ra một bệnh viện dành cho tù nhân. Bọn đao phủ Đức Brambauer và Birman cứ ngày 01 và 15 mỗi tháng đều tiến hành kiểm tra bệnh nhân, nếu xác định trong số đó có những bệnh nhân đã nhập viện hơn hai tuần, thì họ sẽ bị bắn ngay lập tức. Cứ mỗi lần kiểm tra như thế, khoảng từ sáu đến 10 người đã bị bắn.
Bọn Đức đã thực hiện việc tra tấn, hành hạ và xử bắn dưới tiếng nhạc. Nhằm mục đích ấy, chúng đã thành lập một ban nhạc đặc biệt gồm các tù nhân. Dàn nhạc do giáo sư Schtrix và nhạc trưởng nổi tiếng Munt điều khiển. Quân Đức đặt hàng cho các nhà soạn nhạc sáng tác một giai điệu đặc biệt, mang tên là Khúc Tango của Tử thần. Không lâu trước khi giải tán trại tập trung, quân Đức đã bắn chết toàn bộ thành viên dàn nhạc.
Tại trại Yanovsky, phát xít Đức đã bắn chết hơn 200.000 thường dân Soviet. Mandel, một cựu tù nhân trại này, đã khai báo: “Trong vòng hai tháng tôi ở trại, quân Đức đã giết tới 60.000 tù nhân, trong đó có khoảng 8.000 trẻ em”.
Tháng 7/1941, Bộ chỉ huy quân sự Đức đã lập tại trung tâm thành phố Lvov, trong phạm vi một pháo đài được gọi là “Thành cổ” một trại tập trung dành cho các tù binh chiến tranh. Bằng sự đe dọa xử bắn, quân Đức buộc các tù nhân phải làm việc từ sáng đến tận khuya. Các phòng giam của trại không được sưởi ấm. Hàng chục ngàn tù nhân đã bị chết vì đói, vì bị đánh đập, vì bệnh tật và bị bắn.
Căn cứ lời khai của các nhân chứng, đã xác định được trong suốt thời gian tồn tại, trại tập trung “Thành cổ” đã giam giữ hơn 280.000 tù binh chiến tranh, trong số đó hơn 140.000 người chết vì đói, bệnh tật, tra tấn và xử bắn.
Tiến hành khám xét trại “Thành cổ”, ủy ban đã tìm thấy những dòng chữ của các tù nhân bị tra tấn trong buồng giam của họ:
“Tại đây hàng ngàn tù nhân Nga đã chết vì đói. Ngày 22/01/1944”.
“Quân đội Nga dũng cảm, không chỉ nhân dân đang mong đợi các anh, mà cả những tù binh chiến tranh đang phải chết dần mòn vì đói khát. Cái chết thật nặng nề”.
Quân Đức cũng thực hiện việc xử bắn hàng loạt thường dân và tù binh chiến tranh tại khu rừng Lisenitsky ở ngoại ô thành phố Lvov theo hướng đi Ternopol. Hằng ngày quân Đức dùng ô tô để chở vào rừng những nhóm đông người các tù binh chiến tranh Soviet từ trại tập trung “Thành cổ”, tù nhân từ trại Yanovsky, nhà tù Lvov, cũng như các thường dân Soviet bị bắt tại các quảng trường và đường phố thành phố Lvov trong vô số các cuộc bố ráp.
Khi khám nghiệm nơi xử bắn các tù binh chiến tranh Soviet, ủy ban chuyên gia pháp y đã tìm thấy tro cốt và xương người chưa cháy hết, răng giả, vật dụng cá nhân, tóc người trên mặt đất và trong nhiều hố. “Những phần còn lại của hộp sọ, tóc, vật dụng cá nhân và mùi thi thể nồng nặc trong các hố cho thấy xác người lúc đầu đã bị chôn vùi trong một thời gian dài, sau đó được đào lên và đốt cháy”.
Trên cơ sở điều tra đã xác định được quân Đức đã bắn chết hơn 200.000 người trong khu rừng Lisenitsky…
Suốt thời gian tồn tại các trại tập trung từ ngày 07/9/1941 đến ngày 06/6/1943, quân Đức đã thủ tiêu hơn 130.000 người, một phần trong số đó đã bị bắn ngay trong trại tập trung, một phần khác trong trại Yanovsky, phần còn lại bị đưa đến trại tử thần Belzec (Ba Lan) để thủ tiêu.
Quân Đức đã thực hiện việc thủ tiêu hàng loạt thường dân Soviet tại các thành phố khác của tỉnh Lvov. Tại thành phố Rava-Russkaya quân Đức đã lập một trại tập trung tù binh chiến tranh. Từ tháng 6/1941 đến tháng 4/1942 hơn 18.000 tù binh chiến tranh Soviet đã bị giam trong trại này. Đến cuối giai đoạn này toàn bộ tù nhân đã bị thủ tiêu…”.
Không dễ qua mau, không dễ lãng quên…
Theo tư liệu phiên tòa Nürnberg. M., 1983’
Trang 74-76.
8. Về sự hủy diệt, cướp bóc và tội ác của quân xâm lược phát xít Đức và đồng bọn tại thành phố Rovno và tỉnh Rovno.
Thực hiện kẽ hoạch tàn khốc để thủ tiêu thường dân Soviet, bọn đao phủ Đức Quốc xã tại thành phố Rovno đã hủy diệt một cách dã man và có hệ thống các thường dân Soviet vô tội. Nhà tù thành phố Rovno liên tục quá tải các tù nhân bị kết án tử. Điều này được xác nhận bằng lời khai của nhiều nhân chứng và hồ sơ tài liệu…
Làm việc tại một cơ sở của Đức không xa đường Belaya, Karpuk Ya. đã kể lại: “Đã nhiều lần tôi thấy quân Đức hủy diệt công dân Soviet, người Ukraina, người Nga, người Ba Lan, người Do Thái. Việc này thường diễn ra như sau: bọn đao phủ Đức đưa những tù nhân ra nơi hành quyết, buộc họ phải đào một cái hố, ra lệnh cho họ cởi hết quần áo và nằm úp mặt xuống hố. Quân Đức dùng súng máy bắn vào gáy những người nằm dưới hố. Sau đó, lớp người thứ hai bị bắt nằm lên xác của những người đã bị bắn rồi cũng bị giết như thế, kế tiếp là lớp người thứ ba, cho đến khi nào hố đã đầy xác. Sau đó, các xác chết được tưới dung dịch khử trùng chlorine rồi lấp đất lên”.
A. Morozovskaya, người dân làng Vydumka đã tường thuật lại: “Từ nhà mình tôi đã thấy quân Đức bắn người dân Soviet tại các mỏ đá gần làng chúng tôi. Tháng 6/1943, bốn xe ô tô đã đến khu vực mỏ đá này, quân Đức bắt đầu đầy những đàn ông và phụ nữ chi mặc đồ lót từ trên xe xuống. Chẳng bao lâu sau tiếng súng đã vang lên.
Khi những chiếc xe đã đi khỏi, tôi đi ra mỏ đá và một hình ảnh khủng khiếp hiện ra trước mắt tôi: những xác người được phủ đất sơ sài và những vũng máu vương vãi khắp nơi. Tháng 7/1943,10 chiếc xe chở đầy công dân Soviet đã đến mỏ đá. Tiếng súng máy vang lên, tiếng la hét và rên rỉ, rồi một lúc sau khi trời sẩm tối, tại mỏ đá nghe tiếng lách tách của ngọn lửa và có mùi thịt khét lan tỏa trong không khí. Các xác chết bị đốt cháy trong hai ngày. Tôi đã thấy những hành vi dã man tương tự của quân Đức vào tháng 9 và tháng 10/1943 và vào tháng 01/1944”.
Có rất nhiều những lời khai như thế. Sự dã man của quân Đức cũng được xác nhận bằng rất nhiều lời khai của những tù binh Đức bị Hồng quân bắt. Chẳng hạn, tù binh chiến tranh Franz Jarbot đã khai: “Giữa tháng 11/1943, tôi là một trong số 30 binh sĩ thuộc tiểu đoàn công binh dự bị 68, đã đến Rovno. Ở vành đai phía đông của thành phố, chúng tôi bắt đầu thiết lập các tuyến phòng thủ. Khoảng 300 đàn ông và phụ nữ là cư dân của các tỉnh Rovno và Lvov, chủ yếu là người Ukraina và người gốc Ba Lan, được điều động làm việc này. Một chế độ lao động khổ sai được áp dụng với họ. Họ bị bỏ đói, bị đánh nếu không hoàn thành định mức. Sáng ngày 15/12, chúng tôi có mặt tại nơi làm việc và không thấy một ai trong số những người này. Chúng tôi hỏi những người lính thuộc tiểu đoàn an ninh là các công nhân đã biến đi đâu hết rồi, và câu trả lời chúng tôi nhận được là: “Đêm qua họ đã bị giết sạch trong chiếc xe hơi ngạt”.
Adolf Matzke, một người lính thuộc đại đội 4, trung đoàn 17, sư đoàn 8 kỵ binh thuộc lực lượng SS, đã khai: “Đại đội chúng tôi tham gia xử bắn thường dân ở thị trấn Kolka. Bản thân tôi đã tham gia xử bắn ba công dân. Sau đó chúng tôi đã đốt một phần thị trấn. Lúc rút lui, khi vượt qua sông Styr, chúng tôi đã đốt trụi ngôi làng đầu tiên bên kia sông. Tại làng này trung đội 2 của chúng tôi, do thiếu úy SS Korn chỉ huy đã bắn chết 25 người. Cá nhân tôi đã bắn hai người. Trong số những người bị bắn có cả phụ nữ… Những vụ xử bắn được thực hiện theo lệnh của đại tá trung đoàn trưởng SS Zehender”.
Quân xâm lược phát xít Đức đã thủ tiêu dã man các sĩ quan và binh lính Hồng quân lọt vào tay chúng và bị giam giữ tại ba trại tập trung ở Rovno, nơi mà điều kiện sống tệ hại đến mức không thể chịu đựng nổi đối với các tù binh chiến tranh.
Linh mục của thành phố Rovno Felix Savitsky, người đã tận mắt quan sát những gì diễn ra trong các trại này, đã kể lại: “Do hậu quả của điều kiện sống không thể tin nổi trong các trại và việc bỏ đói có hệ thống, đã xảy ra tỷ lệ tử vong cao trong số các tù binh chiến tranh. Hàng ngàn người đã chết vì bệnh phát ban và các dịch bệnh khác. Song phần lớn họ đã chết vì lưỡi lê và báng súng, vì đạn đồng và sự tra tấn của bọn ác quỳ phát xít Đức. Hầu như mỗi ngày, các xe ô tô chất đầy xác tù đều được lái ra khỏi trại. Nhiều người còn bị chôn sống…”.
Không dễ qua mau, không dễ lãng quên…
Theo tư liệu phiên tòa Nürnberg. M., 1983. Trang 78-79.
9. Về tội ác của quân xâm lược phát xít Đức tại thành phố Minsk.
“Thực hiện mệnh lệnh của Hitler, bọn man rợ phát xít đã tra tấn, cướp bóc và giết hại tất cả những ai lọt vào tay chúng. Tại thành phố Minsk và các vùng phụ cận, chúng đã thiết lập một hệ thống trại tập trung để thủ tiêu người dân Soviet.
Hàng ngàn công dân Soviet tại các trại tập trung đã bị sát hại dưới tay bọn đao phủ Đức. Hiếm có người nào còn sống sót thoát khỏi trại tập trung Minsk, nằm trên đường Shirokaya. “Trong thời gian ở trại trên đường Shirokaya từ ngày 21/8/1943 đến ngày 30/6/1944”, Moisievich L. A. đã tường thuật với ủy ban, “bọn đao phủ Đức đã thủ tiêu khoảng 10.000 người dân Soviet. Chúng giết người già, phụ nữ, thiếu niên, không tha cả phụ nữ mang thai và các bà mẹ có con nhỏ. Tôi đã chứng kiến bọn Đức giết người trong “buồng hơi ngạt”. Chúng đã dùng bạo lực lùa từ 70 đến 80 người vào mỗi “buồng hơi ngạt” rồi chở họ đi không biết theo hướng nào. Tôi đã thấy các giáo sư Klumov và Anisimov, bị giam giữ tại trại Minsk, đã bị tống vào “buồng hơi ngạt”.
Lời khai của Moisievich đã được Belyaev G. L, một nhân chứng khác cũng bị giam giữ tại trại trên đường Shyiokaya, xác nhận: “Tôi biết”, ông ta kể lại, “nhiều người đã bị giết trong một cỗ xe đặc biệt được gọi là “buồng hơi ngạt”. Tôi đã có mặt ở đó nhiều lần khi rửa cỗ xe ấy và thấy thùng xe được bọc bằng sắt mạ kẽm, các cửa đều được đóng rất chặt, một đường ống được nối từ ống xả của động cơ vào thùng xe, qua đó khí thải được xả vào, một tấm lưới bằng gỗ được đặt trên sàn xe. Từ 3-4 lần một ngày các tù nhân được cho vào “buồng hơi ngạt” và chở ra khỏi trại. Từ ngày 17-26/02/1943, quân Đức cho vào “buồng hơi ngạt” 3-000 công dân Soviet, được đưa đến từ thành phố Polotsk. Tôi còn biết là bọn đao phủ Đức, gồm Wax chỉ huy trại và các trợ lý của hắn, đã treo cổ và xử bắn tù nhân trong trại này”.
Để thủ tiêu hàng loạt người dân, bọn ác quỷ Đức còn sử dụng nhà tắm bình thường, chúng lùa người dân Soviet vào đó và đầu độc họ bằng khí CO. Tháng 9/1941, bằng cách đó chúng đã thủ tiêu 200 bệnh nhân đang điều trị tại bệnh viện ngoại ô Novinka. Các nhân viên bệnh viện, Kolonitskaya E. K. và Naumenko V L, đã tường trình với ủy ban: “Bọn phát xít lùa các bệnh nhân vào nhà tắm, nhốt chặt họ trong đó, rồi xả hơi ngạt qua những lỗ chuyên dụng trên cửa, được nối bằng vòi ông với ô tô. Vài phút sau chúng lấy xác chết ra và đưa vào một loạt bệnh nhân mới”.
Tại một trại tập trung đặc biệt ở khu vực phía tây thành phố Minsk, quân Đức đã giam giữ tới 100.000 người Do Thái. Các tù nhân bị bầy chó dữ xé xác, bị đâm bằng lưỡi lê và dao găm, bị bắn, bị thiêu sống.
Tại làng Malyi Trostinets cách thành phố Minsk 10 km, quân xâm lược phát xít Đức đã lập một trại tập trung của lực lượng mật vụ, tại đó giam giữ những thường dân bị kết án tử. Tại cánh rừng Blagovshina cách trại 1,5 km, chúng bắn chết tù nhân trong trại rồi chôn xác dưới hào. Mùa thu năm 1943, để che đậy dấu vết tội ác của chúng, quân Đức bắt đầu đào các hố chôn, lôi thi thể những người bị bắn chết ra rồi đốt xác. Golovach P. N., một cư dân của làng Trostinets, đã chứng kiến “tại khu rừng Blagovshina, bọn đao phủ Đức đã giết chết đàn ông, phụ nữ, người già và trẻ em; tôi đã thấy chúng đặt các xác chết dưới những hào được đào sẵn… chúng dùng máy kéo bành xích đầm xuống, sau đó đặt một lớp xác mới và rồi lại dùng máy kéo đầm xuống tiếp”.
Khi kiểm tra một nhà kho tại thôn Malyi Trostinets bị quân Đức đốt cháy, ủy ban điều tra đã tìm thấy một lượng lớn tro cốt và một phần những thi thể côn nguyên. Gần đông gỗ có 127 xác chưa cháy hết của đàn ông, phụ nữ và trẻ em. Những vật dụng cá nhân được tìm thấy ở gần nơi cháy.
Khám nghiệm pháp y cho thấy trên các thi thể có những vết thương do đạn bắn ở phần đầu và cổ. Trong nhà kho và trên các đống gỗ quân Đức đã bắn và đốt xác 6.500 người.
Cách thành phố 5 km, tại tuyến đường sắt Minsk – Molodechno, gần làng Glinishe, ủy ban điều tra đã phát hiện 197 ngôi mộ của người dân Soviet bị quân Đức bắn chết. Các thi thể được đổ lộn xộn vào hố chôn, không có áo ngoài, trần truồng hoặc chỉ mặc đồ lót. Ở đấy đã chôn các tù binh chiến tranh Soviet, bị giam giữ tại trại “Stalag số 352”, bị đội bảo vệ an ninh trại thủ tiêu, đứng đầu là đại úy Lipp, chỉ huy trưởng của trại.
Khám nghiệm pháp y đã xác định tại một số thi thể có dấu hiệu tổn thương hộp sọ và não do bị đập bằng một vật rắn không sắc với lực mạnh. Trong hai trường hợp đã phát hiện khung ngực bị uốn cong với các tổn thương cột sống diện rộng gây chết người và nhiều xương sườn bị gãy. Tại nghĩa trang gần làng Glinishe đã chôn khoảng 80.000 tù binh chiến tranh Soviet.
Tại cánh rừng Blagovshina đã phát hiện 34 hố chôn được che đậy bằng những cành thông. Một số hố chôn có chiều dài đến 50 m. Khi khai quật từng phần năm ngôi mộ ở độ sâu 3 m đã tìm thấy những thi thể cháy dở một lớp tro dày khoảng nửa mét đến 1 m. Gần các hố, ủy ban đã tìm thấy nhiều mẩu xương người nhỏ, tóc, răng giả và rất nhiều loại vật dụng cá nhân lặt vặt. Việc điều tra xác định tại đấy phát xít Đức đã thủ tiêu đến 150.000 người.
Cách trang ấp Petrashkevichi trước kia khoảng 450 m đã phát hiện tám hố chôn có kích thước: chiều dài 21 m, chiều rộng 4 m và chiều sâu 5 m. Trước mỗi hố có những đống tàn tro lớn còn sót lại từ những xác cháy dở. Trong đống tro tàn tìm thấy những phần xương chưa cháy hết, những mớ tóc, vật dụng nhỏ bằng kim loại, giày dép của phụ nữ và trẻ em chưa cháy hết. Việc điều tra đã xác định tại trang ấp Petrashkevichi trước kia, quân Đức đã đốt xác đã bị bắn chết của khoảng 25.000 thường dân thành phố Minsk.
ở cột km số 9 dọc theo đường cao tốc Minsk – Moskva tại cánh rừng Uruchye đã phát hiện 10 hố chôn tập thể. Trong đó: tám hố chôn có kích thước 21 X 5 m, một hố – 35 X 6 m và một hố khác – 20 X 6 m, tất cả các hố đều có độ sâu từ 3 đến 5 m. ủy ban phát hiện trong các hố chôn có ba hàng xác đặt dọc, gồm bảy lớp mỗi hàng. Tất cả các xác đều nằm úp mặt xuống, nhiều xác còn mặc quân phục Hồng quân của các đơn vị thiết giáp. Trong túi quần áo của một số xác còn tìm thấy giấy tờ, đồng hồ, tiền Liên Xô và những vật dụng cá nhân khác. Độ tuổi chủ yếu của những người chết từ 20 đến 30. Một số thi thể phụ nữ mặc quần áo dân sự cũng được tìm thấy trong các ngôi mộ. Bên trên mộ và trong mộ cũng tìm thấy một số lượng lớn vỏ đạn của quân Đức.
Theo khám nghiệm pháp y trên 120 thi thể được khai quật một cách có chọn lọc, đã xác định được nguyên nhân cái chết của người dân Soviet trong hầu hết các trường hợp là do vết đạn bắn xuyên vào đầu, kèm theo sự phá hủy đáng kể xương vòm và nền sọ. Tất cả điều này cho thấy việc bắn các tù binh chiến tranh được thực hiện bằng súng trường hoặc tiểu liên chĩa thẳng vào mục tiêu ở cự ly gần. Tổng số người bị bắn và bị chôn trong phạm vi cánh rừng Uruchye, theo lời khai của nhân chứng và số liệu của chuyên gia, vượt quá 30.000 người.
Phía đông bắc của trại tập trung, thuộc phạm vi khu định cư Drozdy, đã phát hiện một con hào dài 400 m, rộng 2,5 m và sâu 2,5 m. Trong lúc khai quật một số địa điểm dưới hào ở độ sâu 0,5 m, đã tìm thấy phần còn lại của hài cốt (hộp sọ, xương) và quần áo đã mục nát. Việc điều tra đã xác định khoảng 10.000 công dân Soviet đã bị quân Đức chôn vùi trong hào này. Những ngôi mộ tập thể của người dân Soviet bị quân Đức tra tấn cũng được phát hiện tại nghĩa trang của người Do Thái ở Minsk, ở Tuchinka tại nghĩa trang Calvary, trong công viên văn hóa nghỉ dưỡng và những nơi khác.
Việc điều tra đã xác định tại Minsk và các vùng phụ cận, quân Đức đã thủ tiêu khoảng 300.000 công dân Soviet, không kể những người bị đốt trong lò thiêu xác…”.
Không dễ qua mau, không dễ lãng quên…
Theo tư liệu phiên tòa Nürnberg.
M, 1983. Trang 82-84.
10. Về tội ác của quân xâm lược phát xít Đức tại nước Cộng hòa Litva.
Trong thời gian chiếm đóng nước Cộng hòa Litva, bọn khốn Đức đã thiết lập một chế độ khủng bố đẫm máu. Nhằm dập tắt mọi sự phàn kháng của người dân bằng chính sách thực dân phát xít, quân Đức đã thủ tiêu một cách có hệ thống và có phương pháp người dân Soviet, khiến họ phải chịu đựng mọi thủ đoạn quấy nhiễu, tra tấn và bạo lực. Theo số liệu chưa đầy đủ, chúng đã thủ tiêu 165.000 tù binh chiến tranh tại các trại tập trung ở Litva, bắn chết, thiêu sống và tra tấn hơn 300.000 thường dân.
Ngay sau khi chiếm được thủ đô Vilnius của nước Cộng hòa Litva, quân chiếm đóng Đức đã bắt đầu thủ tiêu hàng loạt người dân. Một trại tập trung đặc biệt đã được lập tại thị trấn Paneriai (Ponary), cách Vilnius 8 km. Những vụ thảm sát hàng loạt trong trại này bắt đầu từ tháng 7/1941 và kéo dài đến tháng 7/1944.
“Bắt đầu từ tháng 7/1941”, nhân chứng Senyuts Stanislav Stepanovich, sống tại nhà ga Paneriai, cho biết, “hằng ngày những nhóm khoảng vài trăm người đã được đưa vào trại này và bị bắn chết. Khi người được chuyển đến trên các xe, từ xa tôi đã nghe thấy những tiếng thét lớn của họ. Những vụ xử bắn được thực hiện hầu như mỗi ngày, từ sáng đến tối, và còn kéo dài cho đến tận lúc Hồng quân giải phóng thành phố Vilnius”.
“Tháng 12/1943”, nhân chứng Zaidel Matvey Fyodorovich tường thuật, “chúng tôi bị buộc phải đào xác chết lên rồi đốt. Lúc đầu, chúng tôi chất củi, sau đó xếp các xác thành hàng gồm 100 người, tưới xăng dầu dễ cháy lên rồi tiếp tục đặt những xác khác. Bằng cách đó, chúng tôi đặt khoảng 3.000 xác chết trên mỗi đống củi, tưới dầu lên, đặt bom xăng tứ phía rồi bắt đầu phóng hỏa.”
Việc đốt xác kéo dài từ cuối năm 1943 đến tháng 6/1944. Trong thời gian ấy, trong số chín hố với tổng thể tích là 21.179 m³, ít nhất 100.000 xác chết đã được moi lên và đốt cháy trên đống lửa.
Trong những ngày cuối trước khi rút lui, quân Đức không kịp đốt xác người đã bị bắn, chúng vứt các thi thể xuống hố rồi phủ một lớp cát mỏng lên trên. Theo các tài liệu được tìm thấy trong quần áo người chết, căn cứ vào lời khai của nhân chứng, đã xác định được trong số người chết có các nhà khoa học và công nhân, kỹ sư và sinh viên, linh mục và tu sĩ Chính thống giáo – những cư dân không những của thành phố Vilnius, mà còn của các thành phố, thị trấn và làng mạc khác của nước Cộng hòa Litva.
Ủy ban chuyên gia pháp y đã xác định bọn đồ tể phát xít Đức đã bắn chết và thiêu sống ít nhất 100.000 người tại Paneriai.
Người dân thành phố Kaunas gọi pháo đài số 9 là “Pháo đài tử thần”. Pháo đài nằm cách thành phố 6 km về phía tây bắc và là một công trình cũ bằng bê tông cốt thép. Bên trong có nhiều hầm tránh đạn được quân Đức dùng làm buồng giam tù nhân. Khắp bốn phía pháo đài được bao bọc bằng bức tường bê tông cốt thép và hàng rào thép gai.
Từ những ngày đầu tiên chiếm đóng Kaunas, quân Đức đã đưa khoảng 1.000 tù binh chiến tranh Soviet đến pháo đài số 9 và buộc họ phải đào hào trên cánh đồng có diện tích hơn 5 ha, gần bức tường phía tây của pháo đài. Trong thời gian từ tháng 7 đến tháng 8/1941,14 con hào đã được đào, mỗi hào rộng khoảng 3 m, dài hơn 200 m và sâu hơn 2 m. Tất cả những ai đã lọt vào pháo đài số 9 đều không thể sống sót.
Quân Đức lùa vài ngàn người gồm phụ nữ, trẻ em, thiếu niên, đàn ông và người già đến đấy, xếp thành nhiều hàng, để bắn chết rồi đốt xác.
Chỉ trong hai ngày của tháng 11/1941, tại pháo đài số 9,7.000 thường dân vô tội Soviet đã bị bắn chết, và trong hai ngày của tháng 12/1941, khoảng 22.000 người…
Đến tháng 10/1943, tất cả những hào phía tây của pháo đài số 9 đã chất đầy xác chết của những người bị bắn. Trong mỗi hào này có từ 3.000 đến 4.000 xác chết. Tổng cộng đến tháng 10/1943, quân Đức đã thủ tiêu hơn 50.000 người ở đấy, trong đó hơn 40.000 là công dân Soviet và khoảng 10.000 là người nước ngoài…
Trên lãnh thổ nước Cộng hòa Litva, quân Đức đã thủ tiêu một số lượng khổng lồ không những cư dân địa phương, mà còn cả cư dân từ các tỉnh Oryol, Smolensk, Vitebsk và Leningrad bị đưa tới đây. Có tới 200.000 người đi qua trại tập trung dành cho dân di tản gần thành phố Alytus (trước kia là trại số 133 dành cho tù binh chiến tranh Soviet) từ mùa hè năm 1943 đến tháng 6/1944.
Tình trạng mất vệ sinh nghiêm trọng, mật độ đông đúc không thể tin được, thiếu nước, đói khát và bệnh tật, cũng như các vụ xả súng hàng loạt đã dẫn đến cái chết của 60.000 thường dân Soviet tại trại này trong vòng 14 tháng…
Tại cánh rừng Lysaya Gora, quân Đức đã bắn chết 10.000 người.
Tháng 9/1941 tại thị trấn Eisiskis, 800 người đã bị bắn bằng súng máy. Tại thành phố Prenai, bọn đao phủ Đức, đứng đầu là chi huy trưởng thành phố, đại úy SS Reinart, đã tra tấn và giết chết hơn 3.000 người dân. Tại Vilyampole, ngoại ô thành phố Kaunas, quân Đức đã thiêu sống khoảng 8.000 công dân Soviet. Ngày 03/6/1944, quân Đức đã tràn vào thôn Perchyup, hạt Trakai; chúng bao vây ngôi làng và cướp phá tràn lan, sau đó lùa hết đàn ông vào một ngôi nhà, còn phụ nữ và trẻ em vào ba ngôi nhà khác, rồi đốt hết những ngôi nhà đó. Những ai cố vùng ra và chạy trốn đều bị bọn quái vật phát xít bắt lại và ném vào những ngôi nhà đang cháy. Toàn bộ cư dân của ngôi làng gồm 119 người đã bị thiêu sống, trong đó có 21 đàn ông, 29 phụ nữ và 69 trẻ em.
Quân chiếm đóng Đức đã thực hiện việc thủ tiêu hàng loạt đã man các thường dân tại khu vực thành phố Mariampol, nơi 7-700 người đã thiệt mạng. Tại thị trấn Seirijai hạt Alytus quân Đức đã bắn chết 1.900 người, và tại Pilviskiai – hơn 1.000 người. Theo số liệu chưa đầy đủ, khoảng 3.830 người đã bị sát hại tại hạt Šiauliai. Tại các thành phố Trakai, Panevezys, Ukmerge, Kedainiai và Birzai, quân Đức đã thủ tiêu 37.640 thường dân vô tội.
Tại Kaunas, trại tập trung số 336 dành cho các tù binh chiến tranh Soviet nằm trong khuôn viên pháo đài số 6. Trong trại áp dụng hình thức tra tấn và quấy nhiễu tàn bạo đối với các tù binh chiến tranh theo đúng “Chỉ thị đối với lãnh đạo và đội hộ tống thuộc các đội công tác” được tìm thấy ở đó do chỉ huy trưởng trại số 336, đại tá Ergardt đã ký.
…Ủy ban đã xác định việc cố tình thủ tiêu hàng loạt có hệ thống các tù binh chiến tranh Soviet tại trại Nauion bằng cách bỏ đói, làm việc quá sức đến kiệt quệ, tra tấn và xử bắn. Tổng số nạn nhân bị quân Đức thủ tiêu tại trại này hơn 60.000 người.
Cách nhà ga Bezdany thuộc giáo phận Nemenchinsk hạt Vilnius 5 km, một trại tập trung dành cho các tù binh chiến tranh Soviet được lập ra. Tổng số tù binh chiến tranh bị thiệt mạng tại đấy, theo hồ sơ và lời khai của các nhân chứng, lên tới 25.000 người.
Sự việc được xác lập tại tất cả các trại được tính đến trên lãnh thổ nước Cộng hòa Litva, quân Đức đã thủ tiêu không ít hơn 165.000 tù binh chiến tranh Soviet…”.
Không dễ qua mau, không dễ lãng quên…
Theo tư liệu phiên tòa Nürnberg.
M., 1983. Trang 86-88.
11. Về tội ác của quân xâm lược Đức trên lãnh thổ nước Cộng hòa Latvia.
Căn cứ số liệu điều tra và rất nhiều lài khai của các nhân chứng, ủy ban nhà nước đặc biệt đã xác định bọn xâm lược Đức đã cố tình thủ tiêu hơn 250.000 thường dân, 327.000 tù binh chiến tranh Soviet.
Bọn quái vật Đức không hề nương tay với bất cứ ai. Chúng giết chết đàn ông và phụ nữ, cả khỏe mạnh lẫn bệnh tật, cả trẻ em và người già. Tại nhà tù trung tâm thành phố Riga, chúng đã giết hơn 2.000 trẻ em, bị tách khỏi cha mẹ, và tại trại Salaspils – hơn 3-000 trẻ em. Tại các bệnh viện tâm thần số 1 và số 2 ở Riga, chúng đã giết toàn bộ các bệnh nhân tâm thần. Theo lời khai của bác sĩ bệnh viện tâm thần số 2 Hermanis Saltups, ngày 29/01/1942, quân Đức đã đưa hơn 350 bệnh nhân tâm thần ra khỏi bệnh viện và thù tiêu họ. Bác sĩ bệnh viện tâm thần số 1 là Drikitis V I. đã khai báo: “Ngày 14/4/1942, bọn SS đã đến bệnh viện và đưa đi hơn 200 bệnh nhân. Theo chỉ thị của chính quyền, tôi đã ghi chú vào bệnh sử “Đã được cảnh sát SS sơ tán”. Tháng 10/1942, quân Đức đã đưa đi thêm khoảng 100 bệnh nhân tâm thần”. Tất cả các bệnh nhân đều bị quân Đức bắn chết trong rừng Bikerneksky…
Ngày 22/8/1941, tại thị trấn Aglon, những bệnh nhân từ bệnh viện tâm thần Daugavpils đã bị bắn chết, khoảng 700 người lớn và 60 trẻ em, trong đó có 20 trẻ em khỏe mạnh, tạm thời được chuyển đến bệnh viện từ trại trẻ mồ côi… Tại trại tập trung Salaspils, quân Đức đã tra tấn hơn 56.000 thường dân. Quân Đức cũng đã thủ tiêu cư dân của thành phố Riga các vùng phụ cận tại các khu rừng Bikerneksky Dreilinsky và Rumbulsky.
Tại khu rừng Bikerneksky, ở ngoại ô thành phố Riga, quân Đức đã bắn chết 46.500 thường dân. Trên xác của phụ nữ và trẻ em vẫn còn dấu vết tra tấn và hành hạ: nhiều người bị bầm tím trên mặt, trầy xước trên đầu, ở một số người tay và ngón tay bị chặt đứt, mắt bị móc và bụng bị rạch.
Tại khu rừng Dreilinsky, cách thành phố Riga 5-7 km về phía đông, đọc theo đường Lubansky, quân Đức đã bắn chết hơn 13.000 thường dân và tù binh chiến tranh.
Tại Daugavpils (Dvinsk) mỗi ngày quân Đức đã bắn hàng trăm người dân Soviet bị giam giữ trong các nhà tù và trại tập trung. Tại khu vực “Zolotaya Gorka” (Đồi Vàng), nằm giữa làng Pogulyanka và khu nhà nghỉ Budrevich, gần khu vực nhà tù, quân Đức đã bắn hơn 40.000 đàn ông, phụ nữ và trẻ em.
Ngay từ những ngày đầu chiếm đóng, quân Đức đã bắt đầu chiến dịch đàn áp đẫm máu người gốc Do Thái tại nước Cộng hòa Latvia. Người Do Thái đã bị hành hạ, phải chịu những trò nhạo báng và tra tấn, bị bắn trong các nhà tù, ngoài đường phố, trong căn hộ riêng của họ… Quân Đức đã lùa người Do Thái vào giáo đường, khóa chặt tất cả các lối thoát rồi sau đó đốt cháy tòa nhà cùng với người bên trong. Các giáo đường trên đường Stolbovaya và Gogolevskaya, trong nghĩa địa cổ của người Do Thái và tại Yugek đã bị đốt cháy cùng với 2.000 người Do Thái bên trong.
Tháng 10/1941, một trại tập trung được lập ra tại thành phố Riga, nơi quân Đức đã lùa 35.000 người Do Thái vào trại.
Tháng 11/1941, quân Đức đã chọn ra 4.500 đàn ông và 300 phụ nữ đủ khả năng lao động trong trại, những người còn lại đã bị bắn vào ngày 30/11 và 08/12/1941.
Tại trại tập trung Daugavpils, bọn đao phủ Đức đã thực hiện năm vụ xử bắn hàng loạt người Do Thái. Vụ xử bắn cuối cùng được thực hiện vào ngày 01 và 02/5/1942. Trong tổng số 30.000 người bị giam trong trại, chỉ còn 400 người sống sót, được chuyển đến pháo đài.
Tất cả những gì bọn quái vật phát xít Đức đã gây ra đều không thể tả xiết. Người dân bị đánh và bị chôn sống dưới hố. Trẻ em bị xé làm đôi trước mặt mẹ chúng. Thật khó để mô tả tấn thảm kịch tháng 5/ 1942. Trại tập trung đã vẽ nên một bức tranh khủng khiếp nhất. Thi thể biến dạng của trẻ em lăn lóc trên sàn nhà, khắp nơi vương vãi máu đã đông của người chết. 30 người không chịu lên xe tải đã bị bắn ngay tại sân trại tập trung…”.
Không đễ qua mau, không dễ lãng quên…
Theo tư liệu phiên tòa Nürnberg.
M., 1983. Trang 89-91.
12. Về tội ác của quân xâm lược phát xít Đức tại nước Cộng hòa Estonia.
“…Theo báo cáo hằng tháng của bác sĩ trưởng trại tập trung, trung úy SS von Bodman, tính đến ngày 01/02/1944, tại Estonia có hơn 20 trại. Chỉ riêng trong bốn trại, Ereda-Asundus, Kiveli, Varvara và Klog, vào tháng 02/1944, đã có hơn 6.000 tù nhân bị giam giữ.
Các tù thường dân Soviet tại các trại tập trung được đánh số và tước bỏ tên họ, họ bị đánh bằng roi, bằng gậy sắt và bị bắt làm việc quá sức. Tổ chức “Todt” đã điều hành việc lao động. Ngày làm việc kéo dài 16-18 giờ. Do không hoàn thành định mức, các tù nhân đã bị nhịn ăn, bị đánh đập đã man và bị bắn. Để phi tang dấu vết tội ác, quân Đức đã đốt xác của những người bị giết hại trên đống lửa, còn phần xương chưa cháy hết được nghiền nát và được rải cùng với tro cốt trên các cánh đồng.
Trong lúc rút lui trước sự phản công của Hồng quân, quân Đức nhanh chóng giải tán các trại tập trung, và phần lớn các tù nhân đều bị bắn chết.
Bác sĩ người Đức Bodman đã đầu độc một cách có hệ thống các tù nhân bị bệnh bằng cách tiêm thuốc độc (evipan) dưới da. Nhân viên của trại, trung sĩ SS Gent, đã dùng rìu chém chết 23 tù nhân lớn tuổi. Nhân chứng Ratner I. M. đã khai báo: “Tháng 02/1944, hai em bé ra đời trong trại Klog, cả hai đứa bé đều bị ném vào lò đốt nồi hơi và bị thiêu sống. Chính tôi đã chứng kiến bọn chúng thiêu sống trẻ em. Tháng 5/1944, một em bé thứ ba ra đời trong trại, trung sĩ SS Bar lập tức bóp cổ nó chết ngay”.
Ngày 19/9/1944, quân Đức bắt đầu giải tán trại Klog. Sĩ quan chỉ huy trại Schwarz và chánh văn phòng Max Dahlman đã chọn ra 300 tù nhân và bắt họ mang củi đến một khoảng rừng trông, còn 700 người khác phải nhóm lửa. Khi các đống lửa đã sẵn sàng, bọn đao phủ Đức bắt đầu xử bắn hàng loạt tù nhân. Trước tiên là những người chất cùi và nhóm lửa bị bắn, sau đó là những người còn lại. Vụ xử bắn được thực hiện như sau: tại khu vực đã đốt lửa, quân Đức từ các đội cảnh sát SD dùng họng súng buộc các tù nhân nằm úp mặt xuống đất rồi bắn họ bằng súng máy và súng lục. Chúng đã đốt xác những người bị bắn trên đông lửa. Tại trại Klog ngày 19/9/1944, khoảng 2.000 người đã bị thủ tiêu.
Tháng 8/1944, tại khu vực nghĩa trang trong rừng Tallin, quân Đức đã bắn chết những thường dân được chở đến trên xe theo từng nhóm 25-30 người. Chúng đốt xác những người bị bắn trên đông lửa. Dân địa phương bị nghiêm cấm đến gần khu vực này với lý do ở đây đang tiến hành các thí nghiệm “kỹ thuật quân sự mới”. Từ ngày 08/8 đến ngày 19/9/1944, hơn 1.000 người đã bị bắn và thiêu tại nghĩa trang trong rừng Tallin.
Quân Đức đã chọn một thung lũng giữa những ngọn đồi tại Kalevi-Liiva, nằm cách làng Cabernem, thuộc giáo phận Kusalu, hạt Harjumaa 5 km làm một trong những địa điểm để thủ tiêu hàng loạt người dân. Năm 1942, quân Đức tuyên bố với dân cư địa phương rằng tại khu vực những ngọn đồi này đang tiến hành công tác phòng thủ và người dân bị nghiêm cấm bén mảng đến khu vực này.
Tháng 7/1942, quân Đức đã chở 3.000 người trên hai chuyến tàu hỏa đến ga Rasiku, sau đó dùng xe buýt đưa họ đến đồi Kalevi-Liiva và bắn chết ở đó. Tiếp đến, trong thời gian từ 1943 đến 1944, quân Đức đã dùng xe buýt chở các nhóm thường dân mới đến khu vực đồi này để xử bắn.
Việc điều tra đã xác định tại khu vực đồi Kalevi-Liiva, phát xít Đức đã thủ tiêu khoảng 5.000 người. Để phi tang dấu vết tội ác của mình, vào đầu năm 1944 quân Đức bắt đầu đào bới và đốt xác những người bị xử bắn, nghiền nát phần xương chưa cháy hết rồi chôn cùng với tro cốt xuống đất hoặc rải trên các cánh đồng.
Tại các mỏ khai thác đá phiến, khu định cư lao động Kiveli, hạt Virumaa, quân Đức đã lập ba trại tập trung. Các trại này giam giữ khoảng 9.000 tù nhân là dân thường. Do không hoàn thành định mức, các tù nhân đã bị đánh bằng vòi cao su, bị bắt nhịn ăn năm sáu ngày, bị ném xuống các giếng mỏ chứa đầy nước. Chỉ cần một lỗi nhỏ các tù nhân đã bị bắn chết.
ủy ban đặc biệt đã xác định trong vòng ba năm tại Narva, quân Đức đã thủ tiêu khoảng 30.000 thường dân và tù binh chiến tranh Soviet, chúng đã thủ tiêu 8.000 người dân Soviet tại các trại ở hạt Virumaa: Kuremäe, Vivikonna, Auvere, Jöhvi, Kohtla-Järve, Kukruse, Perm, Golphilds, Ereda-Asundus, Sonda, Aseri Kunda…”.
Không dễ qua mau, không dễ lãng quên…
Theo tư liệu phiên tòa Nürnberg.
M., 1983. Trang 91-92.