Mùa hè hãi hùng năm 1941, các đơn vị Wehrmacht lao về phía đông. Những quân đoàn thiết giáp xé tan các tuyến phòng thủ của quân Nga rồi tiến xa hơn, khép chặt vòng vây. Những chiến dịch thần tốc này – “Kesselschlacht”[1] do chính người Đức đặt tên – tựa như tấm danh thiếp của Wehrmacht; hiệu quả của chúng đã nhiều lần được chứng minh trong thời gian chiến cuộc tại Ba Lan và Pháp.
Ở Mặt trận phía Đông, các chiến dịch bao vây cũng thể hiện hiệu quả xuất sắc của chúng. Những vòng vây ở ngoại ô Belostok, Kiev, Vyazma đã trở thành những thảm họa khủng khiếp đối với Hồng quân, đặt nước Nga bên lằn ranh sống còn. Với người Đức, chúng là bằng chứng cho sự bất khả chiến bại của Wehrmacht.
Tuy vậy, bộ chỉ huy Đức nhận ra ngay một đặc điểm, phân biệt “Kesselschlacht” tại nước Nga với chiến dịch này ở Mặt trận phía Tây. Nếu ở phía Tây các đơn vị đối phương bị bao vây ngay lập tức đầu hàng, thì ở Mặt trận phía Đông chúng tiếp tục kháng cự ngoan cường, tuy nhiều lúc thật là vô nghĩa.
“Chúng tôi không nhận thấy việc đầu hàng hàng loạt”, tướng Hermann Geyer, người mà quân đoàn 9 của ông ta tham gia vào việc hình thành và tiêu diệt vòng vây Belostok, viết trong báo cáo. “Thế nhưng số tù binh khá lớn. Đến ngày 09/7 quân đoàn 9 đã bắt hơn 50.000 lính Nga – mặc dù trong một số trường hợp họ đã chiến đấu rất dũng cảm và ác liệt…”. Sau vài đoạn, viên tướng lại trở về với sự kiện làm ông ta chấn động: “Tất cả hàng ngũ quân Nga, từ biên giới đến Minsk, đều không đầu hàng, nhưng bị phân tán và tiêu diệt”.[2]
Tại các nước Baltic, quân đội Soviet cũng không chịu để bị bắt. “ít tù binh quá!” nhà biên niên sử của Tập đoàn quân “Bắc” Werner Haupt thốt lên. “Những đơn vị lớn cách xa đường cái đã rút lui hoàn toàn trong trật tự chiến đấu”.[3]
Các báo cáo khẩn đổ về OKH: “Nếu ở Mặt trận phía Tây trong chiến dịch Ba Lan, cuối trận đánh các lực lượng đối phương bị bao vây hầu như tự nguyện đầu hàng 100%, thì ở đây diễn ra điều hoàn toàn trái ngược. Một tỷ lệ lớn quân Nga trốn vào những khu vực rộng lớn không thể càn quét từng phần, như trong rừng, cánh đồng, đầm lầy v.v… nói chung quân Nga không để bị bắt”.[4]
“Những trận đánh năm 1941 đã cho chúng ta thấy quân đội Soviet mới là như thế nào”, tướng Blumentritt, tham mưu trưởng quân đoàn 4 tấn công Belarus, nhớ lại. “Chúng tôi tổn thất tới 50% nhân sự trong các trận đánh. Lính biên phòng và phụ nữ đã bảo vệ pháo đài cổ tại Brest hơn một tuần, chiến đấu đến hơi thở cuối cùng mặc cho các loại vũ khí hạng nặng của chúng ta bắn phá và bom dội từ trên không. Chẳng bao lâu quân ta đã hiểu thế nào là chiến đấu với quân Nga…”.[5]
“Thường là thế này”, tướng Erich von Manstein, tư lệnh quân đoàn 56 thiết giáp, kể lại, “lính Soviet giơ tay ra dấu đầu hàng, nhưng khi bộ binh chúng ta tới gần, họ lại chụp lấy vũ khí; hoặc lính bị thương giả vờ chết, rồi bắn vào binh lính chúng ta từ phía sau”.[6]
“Cần lưu ý sự ngoan cường của một số đơn vị Nga riêng lẻ trong lúc giao tranh”, đại tướng Halder, tổng tham mưu trưởng lục quân, đã không khỏi ngạc nhiên khi ghi trong nhật ký. “Có những trường hợp các khu đồn trại nổ tung cùng các lô cốt vì họ không muốn đầu hàng”.[7] Năm ngày sau Halder tự sửa: đó không phải là những trường hợp riêng lẻ. “Thông tin từ mặt trận khẳng định, khắp nơi quân Nga chiến đấu đến người cuối cùng… Điều nổi bật là, khi bị dội pháo hoặc tương tự thế, ít người chịu đầu hàng. Một bộ phận người Nga chiến đấu đến hơi thở cuối cùng, số khác chạy trốn, vứt bỏ quân phục và cố thoát khỏi vòng vây bằng cách giả dạng nông dân”.[8]
Một ghi chép mới ngày 04/7: “Các trận đánh với quân Nga thật sự gay go. Chỉ bắt được một số tù binh không đáng kể”.[9]
Sau một tháng giao tranh, Halder ghi lại kết luận cuối cùng và khá khó chịu đối với bộ chi huy Đức, do thống chế Walther von Brauchitsch đúc kết: “Đặc điểm đất nước và đặc điểm tính cách Nga đã mang lại cho chiến dịch một đặc thù cá biệt. Đối thủ đàng gờm đầu tiên”.[10]
Tư lệnh Tập đoàn quân “Nam” cũng bổ sung vào kết luận này: “Các lực lượng mà chúng ta phải đối đầu, đa phần là quần chúng quyết tâm mà sự ngoan cường trong chiến đấu là điều gì đó hoàn toàn mới so với các đối thủ cũ của chúng ta. Chúng ta buộc lòng phải thừa nhận Hồng quân là một đối thủ đáng gờm… Bộ binh Nga đã thể hiện sự kiên cường chưa từng thấy chủ yếu trong việc bảo vệ các công trình phòng thủ cố định. Kể cả khi các đồn lũy bên cạnh đã sụp đổ, một số hỏa điểm được kêu gọi đầu hàng, đã cầm cự đến người cuối cùng”.[11]
Bộ trưởng Tuyên truyền Goebbels trước khi bắt đầu cuộc tấn công từng cho rằng “chủ nghĩa Bolshevik sẽ sụp đổ như ngôi nhà giấy”, đến ngày 02/7 đã ghi trong nhật ký: “Ở Mặt trận phía Đông: các hoạt động chiến sự vẫn tiếp diễn. Sự chống cự bền bỉ và tuyệt vọng của kè thù… Đối phương có nhiều người chết, ít thương binh và tù binh… Nhìn chung, các trận đánh diễn ra rất ác liệt. Không thể có chuyện một “cuộc dạo chơi”. Chế độ đỏ đã huy động nhân dân. Thêm vào đó là sự lì lợm chưa từng thấy của người Nga. Binh lính của ta xoay xở khá vất vả. Nhưng đến nay mọi việc vẫn theo kế hoạch. Tình hình không khẩn trương, nhưng nghiêm trọng và đòi hỏi mọi nỗ lực”.[12]
Mặc dù sự kháng cự ngoan cường của binh lính Soviet là một bất ngờ khó chịu, nhưng đã không thể tác động đến kết cục của cuộc bao vây. Các quân đoàn phối hợp, theo sau lính tăng, đã hình thành một vòng vây bên trong và băm nát những đơn vị Soviet rơi vào “chảo lửa” cho đến khi họ mất quyền kiểm soát. Những đơn vị Hồng quân thiện chiến một thời, giờ đây bị rã ra thành những nhóm nhỏ, mỗi nhóm phải tự cứu lấy mình, và khi đó việc bắt giữ hàng ngàn đến hàng chục ngàn tù binh không phải là chuyện khó.
Hơn nữa vào tháng đầu tiên của chiến tranh, các chiến sĩ Hồng quân lẫn các chỉ huy, kể cả lãnh đạo đất nước (như ta sẽ thấy sau này) đều không thấy có gì đáng chỉ trích trong việc đầu hàng. Cuộc chiến nào mà chẳng có tù binh – lẽ đời vốn thế!
…Mùa hè oi ả năm 1941, cách xa những binh đoàn Đức đang tiến công hàng trăm km về phía đông, trên sông Volga mênh mông một chiếc tàu thủy chầm chậm hiện ra. Mặt trời nóng rực bò trên bầu trời không một gợn mây, hơi mát tỏa lên từ mặt nước, và ở boong trước chen chúc những nam thanh nữ tú đang ngắm cảnh. Các cô gái cười đùa, những chàng trai kể chuyện tiếu lâm, mọi người như một đều tin rằng sau ngày nắng rực rỡ tuyệt vời này sẽ là một ngày khác, cũng rực nắng và tuyệt vời như thế. Ở phía xa, xa lắm, tận biên giới phía tây đất nước, chiến tranh đang diễn ra, nhưng mọi người như một đều tin rằng chẳng bao lâu nó sẽ kết thúc và Hồng quân bất khả chiến bại sẽ đuổi quân phát xít ra khỏi vùng đất quê hương, sẽ tiến xa, xa hơn – đến tận Berlin hắc ám. Các chàng trai được điều tới đơn vị, các cô gái đến các khóa huấn luyện điện đài viên; không nhiều người trong số họ sống sót được đến chiến thắng tháng 5/1945.
Tại bến Kazan, ngay bên hông tàu thủy người ta neo một con phà. Trên phà là họ – trong quân phục lạ, không hiểu tiếng Nga. Những tù binh Đức.
“Họ bầm dập, chán chường, còn reo vui bên cạnh họ là giới trẻ chúng tôi, vững tin rằng bánh xe chiến tranh sẽ lăn về hướng khác”, tân binh Yuri Glazunov nhớ lại cuộc gặp gỡ đầu tiên với quân thù. “Chỉ sau này chúng tôi mới căm thù họ, quân Đức, vì tất cả những gì họ đã gây ra trên đất nước chúng tôi. Còn khi đó, chúng tôi đã chia sẻ thuốc lá với họ, và còn đãi thứ gì đó vì lòng thương hại khi họ đến xin chúng tôi nước nóng. Với chúng tôi, tù binh là những người đã bị loại khỏi cuộc chơi”.[13]
Cụm từ “với chúng tôi tù binh là những người đã bị loại khỏi cuộc chơi”, rõ ràng là đặc trưng tiêu biểu nhất cho thái độ của người Soviet đối với tù binh vào những tháng đầu của chiến tranh. Vì vậy, khi tình hình thật sự trở nên bế tắc, nhiều chiến sĩ Hồng quân vẫn nghĩ rằng bị bắt còn đỡ hơn là chết – hơn nữa họ vẫn nhìn lính Đức như những anh em cùng giai cấp, những người sẽ cùng chĩa lưỡi lê để chống lại chế độ phát xít.
Những người lính Hồng quân chưa biết rằng, với quân đội Đức, đang tiến xa hơn về phía đông, tù binh không phải là “những người đã bị loại khỏi cuộc chơi”, và trong cuộc chiến này, từ “tù binh” và “cái chết” là đồng nghĩa.
Một số người sớm biết ra điều này, một số khác – muộn hơn.
* * *
Các quy tắc quốc tê về việc đối xử với tù binh chiến tranh đã được xây dựng vào nửa sau thế kỷ 19 và được ghi nhận tại công ước The Hague năm 1899- Trong hướng dẫn do Bộ tổng tham mưu Đức soạn thảo, liên quan đến vấn đề này có nói:
“Tuy tù binh chiến tranh đã mất tự do, nhưng họ không bị mất quyền hạn… Việc giam giữ không phải là hành động trắc ẩn từ bên thắng cuộc – đó là quyền của người bị tước vũ khí. Tù binh chiến tranh có thể được huy động làm công việc vừa phải, phù hợp với vị trí xã hội của họ. Trong bất cứ trường hợp nào, công việc đó không được làm tổn hại sức khỏe và không mang tính hạ nhục. Nó không được phục vụ cho các chiến dịch quân sự chống lại quê hương của tù binh”.[14]
Thậm chí khi tù binh cố bỏ trốn, anh ta chỉ có thể bị hình phạt kỷ luật; và mặc dù trong Thế chiến thứ nhất, bùng nổ chẳng bao lâu sau đó, cũng có lúc các quy tắc này bị phá vỡ hoặc vi phạm, nhưng chúng không hề bị nghi ngờ. Trong những trại tù binh của Đức suốt Thế chiến thứ nhất có khoảng 3,5% tù binh chiến tranh chết vì đói khát và bệnh tật; nên biết rằng ngay cả trong thường dân tỷ lệ tử vong có khi còn cao hơn.
Năm 1929, Công ước mới Geneva về đối xử với tù binh chiến tranh đã được ký kết, bảo đảm cho tù binh sự bảo vệ lớn hơn. Nước Đức, như đa số các quốc gia châu Âu, đã ký công ước này. Liên Xô tuy không ký công ước nhưng đã phê chuẩn công ước về việc đối xử với thương bệnh binh trong chiến tranh, được ký kết đồng thời. Như thế, Liên Xô rõ ràng đã thể hiện họ sẵn sàng hành động trong khuôn khổ luật pháp quốc tế.
“Trong trường hợp chiến tranh giữa Liên Xô và Đức điều này có nghĩa”, như sử gia Christian Streit nhận xét, “nếu bỏ qua thỏa thuận đã nêu về thương binh, cả hai phía chỉ coi mình bị ràng buộc bởi những quy tắc luật pháp quốc tê chung về tiên hành chiến tranh mà tất cả các quốc gia đều có nghĩa vụ, bất luận họ có tham gia vào những công ước tương ứng hay không. Lẽ đương nhiên là những quy tắc này không được xác định chi tiết, thế nhưng những điều khoản chính trùng khớp của các công ước The Hague và Geneva không là gì khác hơn bộ quy tắc ứng xử quốc tế về các vấn đề chung của việc tiến hành chiến tranh”.[15]
Nói cách khác, kể cả khi không có một công ước nào, việc thủ tiêu tù binh, như Đức Quốc xã từng tích cực thực hiện, là không thể chấp nhận được. Và việc đồng tình hay khước từ của Moskva trong việc phê chuẩn công ước Geneva cũng không thay đổi tình hình này. Đấy chính là điều mà chính người đứng đầu Abwehr, đô đốc Canaris đã viết trong bản kháng nghị gửi người đứng đầu OKW:
“Tình trạng pháp lý như sau: Công ước Geneva về tù binh chiến tranh không có hiệu lực giữa Đức và Liên Xô, vì thế chỉ những điều khoản chính của luật pháp quốc tế chung về việc đối xử với tù binh chiến tranh mới có hiệu lực. Những điều khoản này được hình thành từ thế kỷ 18 theo hướng, rằng việc giam giữ quân sự không phải là hình thức trả thù hay trừng phạt, mà chỉ là một biện pháp ngăn ngừa, mục đích duy nhất của nó là để ngăn cản các tù binh chiến tranh tiếp tục tham chiến. Điều khoản chính này được phát triển liên quan tới các niềm tin chiếm ưu thế trong tất cả các quân đội rằng, từ quan điểm chiến tranh, không được phép giết hay làm tàn phế những người không có khả năng phòng vệ. Ngoài ra, mỗi chỉ huy quân sự đều mong muốn đoan chắc rằng binh lính của mình, trong trường hợp bị bắt làm tù binh, sẽ được bảo vệ khỏi sự ngược đãi”.[16]
Thế nhưng tù binh Liên Xô được bảo vệ không chi bằng những tiêu chuẩn luật pháp quốc tế chung, như đô đốc Canaris đã viết; họ còn chịu sự chi phối của công ước The Hague mà Nga đã kịp thời ký kết. Công ước này vẫn hiệu lực kể cả khi không ký công ước Geneva, điều mà mọi người đều nắm rõ, trong đó có cả các luật gia quân đội Đức. Trong sách hướng dẫn về các điều luật quyền quốc tế của Đức, ấn hành năm 1940 (chính là khi việc tấn công Liên Xô được lên kê hoạch), đã nêu rõ công ước The Hague về các điều luật và quy tắc chiến tranh vẫn có hiệu lực kể cả khi không có công ước Geneva.[17]
Và đó cũng chưa phải là tất cả; các quốc gia đã ký Công ước Geneva có nghĩa vụ đối xử bình thường với các tù binh chiến tranh không phụ thuộc vào việc đất nước của họ có ký công ước hay không.[18] Trong trường hợp cuộc chiến Đức – Liên Xô, lẽ ra tình thế tù binh Đức có thể đáng lo ngại – bởi lẽ Liên Xô không ký công ước Geneva! – còn Hồng quân bị bắt làm tù binh có thể yên tâm về số phận của mình.
Như thế, tù binh Liên Xô không hề bị đặt ngoài khuôn khổ pháp luật quốc tế, như hiện nay đang được khẳng định ở mọi chốn; họ được bảo vệ bởi những chuẩn mực quốc tê chung và bởi công ước The Hague mà sự hữu hiệu của nó đã được Thế chiến thứ nhất minh chứng. Đồng thời còn có cơ hội họ sẽ được đối xử theo các quy chuẩn của công ước Geneva.
Cố bảo đảm cho các binh lính bị bắt làm tù binh của mình được bảo vệ tối đa ngay sau khi Đức xâm lăng, chính quyền Soviet đã làm một cử chỉ rõ ràng. Ngay vào ngày thứ tư của chiến tranh, ngày 27/6, Liên Xô đã bày tỏ mong muốn hợp tác với ủy ban quốc tế của Hội Chữ thập đỏ. Rồi vài ngày sau, ngày 01/7, đã phê duyệt “Quy định về tù binh chiến tranh”, phù hợp chặt chẽ với các quy định của cả hai công ước The Hague và Geneva. Tù binh Đức được bảo đảm đối xử đàng hoàng, an toàn và trợ giúp y tế. “Quy định” này có hiệu lực trong suốt cuộc chiến, những vi phạm sẽ bị kỷ luật và truy tố.[19]
Công nhận công ước Geneva, rõ ràng chính phủ Liên Xô hoàn toàn đã hy vọng vào thái độ tương ứng của Berlin; thế nhưng Đức Quốc xã không có ý định áp dụng dù là Công ước Geneva hay The Hague, kể cả những chuẩn mực quốc tế cơ bản, đối với tù binh Liên Xô. Với chúng, tù binh Hồng quân không phải là con người, mà là bọn hạ đẳng.
* * *
Xuất phát từ những nguyên tắc chung của chiến tranh hủy diệt, bộ chỉ huy Đức Quốc xã không muốn bắt quân Nga làm tù binh. Điều thật sự mong muốn hơn đã được giải thích trước đó cho các binh lính Wehrmacht.
Binh nhì của một trong những đơn vị tấn công vào các nước Baltic thuộc quân đoàn 16 của tướng Ernst von Bush nhớ lại họ được chỉ thị thế nào trước các trận đánh: “Hai ngày trước khi đưa đại đội của chúng tôi lâm chiến, đại úy của tôi Finselberg đã đọc báo cáo về Hồng quân… Sau đó ông tuyên bố lệnh không bắt tù binh, bởi họ sẽ là những miệng ăn thừa và nói chung là đại diện của một chủng tộc mà việc loại bỏ nó sẽ phục vụ cho sự tiến bộ”.[20]
Trong những chỉ thị ấy với tất cả sự tàn bạo đáng kinh ngạc, không có gì khác thường; việc loại bỏ người Nga sẽ phục vụ cho sự tiến bộ đã được giải thích ở những hình thức khác. Trước khi điều đến Nga sư đoàn 15 bộ binh để tham chiến trong khu vực Tập đoàn quân “Trung tâm”, binh lính được dàn đội hình thành các đại đội. Thượng úy Prinz, trước binh lính của đại đội mình đã đọc một chỉ thị mật: chỉ bắt Hồng quân làm tù binh trong những những trường hợp bất khả kháng, có nghĩa không thể không làm điều đó. Trong những trường hợp còn lại, phải bắn bỏ tất cả binh lính Soviet.[21]
Những mệnh lệnh tương tự cũng được đưa ra ở các đơn vị khác. “Ngày 01/7/1941, không lâu trước khi xuất quân ra trận, chỉ huy đơn vị pháo chúng tôi, đại úy Gulwajt, một đảng viên Quốc xã và là một “chiến binh sừng sỏ”, đã ra lệnh tập hợp chúng tôi để chỉ thị về thái độ đối với Hồng quân và các phương pháp tiến hành hoạt động quân sự chống lại nó”, sau này binh nhì của trung đoàn pháo binh 234 Georg Bergmann nhớ lại. “ông ta nói: Chúng ta đang phải đối phó với những tên tội phạm khùng khiếp. Không bắt tù binh! Nếu kẻ nào đó đầu hàng, phải bắn chết như đang mưu toan đào thoát”.[22]
Một mệnh lệnh của chỉ huy sư đoàn 60 bộ binh cơ giới được ban hành gần mùa thu, nêu rõ: “Binh lính Nga và các chỉ huy cấp dưới rất dũng cảm trong chiến đấu, thậm chí một đơn vị nhỏ riêng lẻ cũng có thể tấn công. Vì lẽ đó không được đối xử nhân đạo với tù binh”.[23]
Tất cả những mệnh lệnh này đã được thực hiện với sự tận tụy của quân Đức. Từ những ngày đầu chiến tranh, binh lính Wehrmacht đã thể hiện sự tàn bạo đáng kinh ngạc đối với các binh lính và sĩ quan Soviet bị bắt làm tù binh. Họ bị bắn, bị đâm bằng lưỡi lê, bị nghiền nát cho vui dưới bánh xích xe tăng.[24]
“Tôi đã thấy quân Đức khoác một diện mạo tàn bạo”, binh nhì của sư đoàn 15 bộ binh Bruno Schneider sau này thừa nhận[25]; quả thật là như thế.
Quy mô tàn sát tù binh trực tiếp ngay sau trận đánh vượt quá bất kỳ lý lẽ nào. Christian Streit, sử gia Tây Đức, lưu ý rằng số tù binh Liên Xô bị thủ tiêu trực tiếp sau khi bị các đơn vị Wehrmacht bắt có thể đo đếm được bằng những con số với năm, nếu không phải là sáu chữ số.[26]
Ngày 25/7/1941, tướng Friedrich Jeckeln, lãnh đạo cao cấp SS và cảnh sát ở miền Nam nước Nga, đã ban hành mệnh lệnh:
Các tù binh là chính ủy sau cuộc thẩm vấn sơ bộ hãy chuyển cho tôi để người đứng đầu SD tại trụ sở của tôi thẩm vấn chi tiết. Với các nữ đặc vụ hoặc người Do Thái phục vụ cho Liên Xô, xử theo quy định.[27]
Như ta thấy, ba loại tù binh phải bị thủ tiêu: các chính ủy, người Do Thái và phụ nữ. Cần phải bổ sung vào ba loại này thêm loại thứ tư, không được đại tướng Jeckeln đề cập, vì họ đã bị binh lính Wehrmacht thủ tiêu ngay lập tức.
Ở đây nói về thương binh.
Với thương binh thì mọi thứ thật đơn giản: họ bị kết liễu ngay tại chiến trường hay trong bệnh viện, nếu họ bị bắt trong tình cảnh như thế. Chúng ta còn nhớ, binh lính Wehrmacht đã được phổ biến các chỉ thị đặc biệt về việc này; chẳng hạn, tướng Guderian ‘hào hiệp’ trong mệnh lệnh cho tập đoàn quân thiết giáp số 2 đã chỉ thị, “với thương binh Nga chẳng được lợi lộc gì – tốt hơn hết nên kết liễu tại chỗ”[28] Tuy nhiên, không nên cho rằng “Heinz thần tốc”[29] là một ngoại lệ: chính vào lúc tại Kazan xa xôi, những chàng trai Liên Xô tươi cười chia sẻ thức ăn và thuốc lá với tù binh Đức, thì các đơn vị sư đoàn 112 bộ binh của trung tướng Friedrich Mieth tiến vào một ngôi làng gần thị trấn Bolva của Belarus. Quân Nga vừa mới rút khỏi làng; trong một ngôi nhà quân Đức tìm thấy 15 lính Hồng quân bị thương nặng. Trung úy Jacob Korzilas thấy lính Đức ném những người bị thương ra khỏi nhà; lột trần rồi lấy lưỡi lê đâm họ, những người không có khả năng tự vệ, không thể cử động. Quá kinh ngạc, Korzilas hỏi trung úy Kirig, người mà lính của hắn ta đang kết liễu tù nhân, theo chỉ thị nào mà họ giết người, thì câu trả lời là “Việc này đã được phép của tướng Mieth tư lệnh sư đoàn”.[30]
Những tội ác tương tự đã được thực hiện trải đài từ biển Đen tới biển Baltic trong suốt cuộc chiến tranh. Ngày 01/8/1942, sau trận đánh tại làng Belaya Glina thuộc tỉnh Krasnodar, nhiều thương binh Hồng quân bị bỏ lại. Theo lời của nữ cư dân V. Ivashenko, ngay sau trận chiến một sĩ quan Đức đã bắn chết tất cả những người bị thương nằm cạnh nhà cô. Tổng cộng gần 50 người bị thương đã bị quân Đức giết.[31] Theo quan điểm của Đức Quốc xã, thậm chí điều đó là nhân đạo. Cuối cùng thì đó là những đại diện của chủng tộc hạ đẳng, rõ ràng đã mất khả năng lao động; việc thủ tiêu chúng sẽ gần như là sự an tử, giải thoát chúng khỏi đau đớn.
Trong hồi ký của đạo diễn Grigori Chukhrai có một tình huống tiêu biểu. Thoát khỏi vòng vây Đức, ông cùng các đồng đội của mình trở thành nhân chứng cho một thảm kịch, diễn ra thường ngày, nhưng không kém phần hãi hùng.
Gần 12 giờ chúng tôi nghe thấy một loạt súng liên thanh. Tiếng súng mỗi lúc một gần. Trên con đường ở phía bên kia khe núi xuất hiện hai chiếc ô tô tải. Chúng lao nhanh về phía trước. Trên tấm vải bạt của một trong hai chiếc xe phấp phới trong gió những hình chữ thập đỏ. Theo sau chúng là vài chiếc mô tô Đức. Chúng phóng theo các xe tải. Đến gần chỗ chúng tôi hai chiếc xe tải thắng lại, vài người nhảy khỏi xe và chạy về phía khe núi. Bọn đi mô tô bắn vào những người đang chạy, không một ai trong số họ chạy được tới hẻm núi. Tiếp đến, quân Đức bao vây các ô tô rồi bắt đầu lùa những người bị thương xuống. Theo sau họ là các y tá. Sau đó quân Đức đốt cả hai xe tải. Từ những chiếc xe cháy nghe thấy tiếng gào thét. Những người xuống xe đã bị dồn đến khe núi dưới họng súng rồi chúng nổ súng vào họ. Những người còn sống bị ném xuống khe núi. Georgi Kondrashev, cứ ngỡ là người bình tĩnh nhất trong nhóm chúng tôi, đã không kềm chế nổi.
“Lũ man rợ! Khốn nạn!” Anh hét lên, chụp lấy cây súng trường định bắn.
Anh có thể làm gì đề đấu lại những khẩu súng máy ở khoảng cách như thế chứ, không hiểu nữa. Đành phải trói Georgi lại và nhét giẻ vào miệng anh. Anh có thể hại chết cả bọn chúng tôi: đạn của chúng tôi chỉ đủ cho hai, ba phát súng. Thần kinh bắt đầu căng thẳng. Nhiều cậu khóc. Mà quân Đức làm thế chẳng phải để trả thù – đơn giàn là chúng thực hiện công việc quen thuộc. Giải quyết xong những thương binh, chúng bắt các phụ nữ ngồi lên mô tô rồi chở đi.
Không còn sức lực lẫn khả năng để mô tả lại việc ấy. Hổi tưởng lại, đến giờ tôi vẫn còn run rẩy. Điều không sao chịu nổi là, khi chứng kiến toàn bộ chuyện đó, chúng tôi không cách nào cứu giúp được những người bất hạnh.[32]
Mỗi người lính chứng kiến bi kịch này đều hiểu: những người phụ nữ bị quân Đức chở đi sẽ phải chịu một số phận đắng cay còn hơn cả những thương binh.
Trước khi xâm lăng Liên Xô, mỗi binh lính Wehrmacht đều được chỉ thị:
Nếu trên đường gặp các chính ủy, có thể nhận ra họ nhờ ngôi sao Soviet trên tay áo, và phụ nữ Nga mặc đồng phục, thì phải lập tức bắn bỏ. Ai không làm điều đó và không thực hiện mệnh lệnh, người đó phải chịu trách nhiệm và bị trừng phạt.[33]
Chỉ bắt làm tù binh trong những trường hợp đặc biệt bất khả kháng. Về nguyên tắc, phải bắn chết binh lính Liên Xô bị bắt. Trong mọi trường hợp, cần bắn chết phụ nữ phục vụ trong các đơn vị Hồng quân.[34]
Như thế, các nữ tù binh chiến tranh đã bị đặt ra ngoài vòng pháp luật và theo “tác hại” của mình, họ bị đánh đồng với hiện thân của cái ác – các chính ủy.
Tháng 11/1941, khi các đơn vị thuộc tập đoàn quân thiết giáp số 1 của tướng Ewald von Kleist rút khỏi Rostov, con đường của chúng phủ đầy xác của những nữ quân nhân bị hãm hiếp và sát hại. “Trên các con đường là xác của những nữ y tá”, binh nhì Hans Rudolf thuộc sư đoàn 11 thiết giáp nhớ lại. “Họ bị bắn và ném xác ra đường. Họ nằm đó lõa lồ… Trên các thi thể… viết đầy những dòng chữ tục tĩu”.[35]
Một bức tranh tương tự có thể thấy ở ngoại ô Moskva: tại Kantemirovka, cư dân địa phương kể cho các chiến sĩ Hồng quân vừa chuyển sang phản công nghe chuyện “một nữ trung úy thương binh bị lôi ra đường, trần truồng, mặt bị rạch, tay bị chặt và vú bị xẻo…”.[36]
Nếu các phụ nữ bị cho là tù binh, họ thường bị đem bắn. Một trong những trường hợp như thế đã diễn ra gần Kharkov. Quân Ý, sau bắt được một số nữ quân nhân, đã chuyển cho quân Đức theo các thỏa thuận giữa Wehrmacht và quân đội Ý. Bộ chỉ huy quân sự Đức ra lệnh bắn bỏ hết. “Những phụ nữ này cũng không mong chờ điều gì khác”, một người lính Ý nhớ lại. “Họ chỉ đề nghị được phép tắm trong nhà tắm và giặt giũ đồ lót bẩn của mình, để có thể chết trong tình trạng sạch sẽ, theo phong tục cổ của Nga. Quân Đức đã đáp ứng yêu cầu của họ. Và thế là sau khi tắm rửa và mặc áo sạch, họ đi ra nơi xử bắn…”.[37]
Đó là một trong những trường hợp hiếm hoi chúng ta bắt gặp sự tôn trọng nào đó mà các sĩ quan Đức thể hiện đối với các tù binh; một sự tôn trọng mà theo định nghĩa thì bọn hạ đẳng Liên Xô đừng hòng trông mong.
May thay, chỉ thị thủ tiêu các nữ quân nhân được thực hiện không phải ở tất cả mọi nơi. Nhiều nữ tù binh đã bị chuyển về các trại, nơi họ bị giam giữ trong những điều kiện chung. Tuy nhiên, các vụ giết người vẫn tiếp tục.
“Mùa đông từ năm 1942 sang năm 1943, tôi đã thấy hàng trăm tù binh Nga bị bắn trên các con đường”, Hans Prjudchoff, nhân viên quân sự Sư đoàn 11 thiết giáp, sau này nhớ lại. “Các nữ y tá Nga bị bắn chết nằm đó, ngực trần, quần áo tà tơi, với phần thân dưới lõa lồ… Tôi có thể bổ sung những lời rủa xả mà những con người mang văn hóa Đức đã trút xuống các thi thể đàn bà này: “Mày chẳng gợi tình chút nào! – À không, chúng lạnh cứng rối. – Vậy thì cần một mồi lửa, và xác thân này lại ấm lên thôi…”.[38]
Chỉ trong năm thứ ba của chiến tranh, tháng 3/1944, khi nhiều chỉ huy Wehrmacht hiểu rằng họ đã thua cuộc và sẽ phải trả lời về tội ác của mình, một chỉ thị của OKW được ban hành, theo đó các “nữ tù binh Nga” bị bắt, sau khi được SD kiểm tra, phải được chuyển tới trại tập trung.[39] Trước đó, nhiều nữ nhân viên quân đội Nga đơn giản là đã không tới được các trại tập trung…
Khi quân Liên Xô chuyển sang phản công: gần Moskva, Stalingrad, Kursk, khi họ chiếm lại các thành phố và làng mạc, trong số những nam tù binh bị tra tấn, các chiến sĩ chúng ta đã tìm thấy những người mà số phận của họ còn thảm thiết hơn gấp nhiều lần – các nữ chiến sĩ.
Trong những dòng báo cáo ngắn gọn mà các sĩ quan ta thực hiện sau khi giải phóng các khu vực bị chiếm đóng là nỗi đau khôn tả, bất lực cho những ai mà họ, những người đàn ông khỏe mạnh, lẽ ra phải bảo vệ nhưng đã không làm được.
Sau khi đánh đuổi quân chiếm đóng ra khỏi các tầng hầm văn phòng chính của nhà máy số 221, đã phát hiện hàng chục thi thể bị tra tấn dã man của các chiến sĩ quân đội Liên Xô, trong đó có tử thi của một cô gái đã bị móc mắt và xẻo vú phải…[40]
Những phụ nữ bị thương và không thể tự vệ đã bị giết ngay tại chỗ; thậm chí các chính ủy còn được cho sống lâu hơn.
OKW và OKH trước đó đã lên kế hoạch về phương pháp thù tiêu các chính ủy với mọi chi tiết có thể. Nếu bắt được chính ủy ngoài mặt trận, cần thủ tiêu ngay “không được muộn hơn tại các trại trung chuyển”, còn nếu bắt được ở hậu phương thì phải chuyên cho các nhóm trừng giới. Thế nhưng trước tiên cần xác lập rằng người đó là chính ủy.[41] Trong các điều kiện chiến trường, không có thời gian để để làm rõ ai là chính ủy và ai không phải; nên các tù binh sẽ bị tập trung thành từng đội và đưa đến các trại trung chuyển. Ở đó sẽ xác định nhân thân, ai là ai.
Thật ra là không phải tất cả đều được giải đến trại.
Không có một sự hỗ trợ nào cho các thương bệnh binh; lính Hồng quân bị lùa thành từng đoàn về phía tây. Mỗi ngày họ bị bắt đi bộ 25-40 km, và cứ đi như thế trong suốt mấy tuần lễ. Thức ăn được cung cấp ở mức 100 gram bánh mì mỗi ngày, mà cũng không đủ cho tất cả.[42] Nên không có gì ngạc nhiên khi nhiều người đã chết trong những điều kiện như thế. Những ai tỏ ra chống cự đôi chút đều bị bắn bỏ. Những ai không thể đi vì đói hoặc vì vết thương cũng bị bắn chết. Von Dietfurt, chỉ huy sư đoàn 403 vệ binh hoạt động tại Belarus, với sự mỉa mai lạnh lùng của một tên đồ tể đã gọi những vụ tàn sát ấy là “những phát súng giải thoát”.[43]
Hans Killian, giáo sư bác sĩ phẫu thuật người Đức, trong hồi ký của mình đã mô tả một trong những đoàn tù binh bị giải đi như sau:
Thứ đang tiến về phía chúng tôi càng lúc càng gần là một bẩy tù binh Nga. Phải, đúng là một bầy – không thề gọi khác được. Tổng đầu người đếm được khoảng 20.000. Chúng bị bắt trong trận bao vây cuối cùng… Chúng đi với tốc độ 2 km mỗi giờ không hơn, khập khiễng lê bước, như súc vật. Đôi khi nghe thấy tiếng la ó của cảnh sát, đây đó vang lên những phát súng cảnh báo, để chỉnh đốn hàng ngũ vào trật tự… Một đám rước khủng khiếp được hợp thành từ những bóng ma đủ mọi lứa tuổi đi ngang qua chúng tôi. Một số đầu cạo trọc và không có mũ, số khác đầu đội mũ lông có tai che… Trong bọn có cả những lão già để râu dài… Hiếm khi ai đó trong bọn nhìn chúng tôi. Chúng tôi nhận thấy một người kiệt sức nào đó lảo đảo, rồi ngã nhào xuống đất…”.[44]
Khi giáo sư Killian quay trở lại, tài xế của ông ta phải định hướng theo xác tù binh. “Bên phải, bên trái trên các vệ đường mỗi giây lại hiện ra thi thể lõa lồ những người Nga chết, gầy rạc, xương sườn nhô ra. Một số còn nằm ngáng cả đường…”, bác sĩ phẫu thuật nhớ lại. Và ông ta kết thúc câu chuyện của mình về tình huống khủng khiếp này bằng một suy luận với tinh thần đặc trưng Quốc xã: “Người Nga… vẫn sẽ sống sót trong những điều kiện nguyên sơ nhất, trong khi chúng ta sẽ chết vì đói hay vì rét”.[45]
Đọc những suy luận ấy, có thể hiểu những ý tưởng Quốc xã về chủng tộc thượng đẳng đã ăn sâu trong quân đội và xã hội Đức đến mức nào. Một giáo sư học vấn cao đơn giản đã không nhìn thấy chất người trong những tù binh Nga, ngược lại, ông ta khăng khăng nhấn mạnh bản chất dã thú của họ. Và bởi lẽ tựa như loài thú, nên cái chết của họ không có gì là bi thảm – đơn giản chỉ là chuyện thường tình. Chính điều này đã được bộ máy tuyên truyền của Đức nhấn mạnh. “Bọn hạ đẳng Slav”, chúng viết, “đón nhận cái chết một cách dửng dưng”.[46]
Trong cuộc chiến thắng lợi ở Mặt trận phía Tây, quân Đức đã vận chuyển không ít tù binh Pháp và Anh chỉ bằng phương tiện ô tô hoặc đường sắt; không một ai nảy ra ý tưởng xua họ đi bộ.[47] Ở Mặt trận phía Đông những cuộc diễu bộ như thế chỉ phục vụ đúng một mục tiêu: hủy diệt tù binh. “Tất cả diễn ra từ từ”, dân quân Nikolai Obrynba hồi tưởng. “Giờ đây tôi đã hiểu, quân Đức di chuyển từ từ để “xử lý” chúng tôi. Không thể bắn chết bằng hết được… Giam trong trại để làm tù binh suy yếu, sao cho chúng tôi không thể bỏ chạy trong lúc lùa đi, chúng giải chúng tôi, những người đã kiệt sức, đi theo từng chặng… Vối nỗi hãi hùng tôi quan sát chúng biến những người khỏe mạnh đến kiệt lực hoàn toàn rồi cái chết đón chờ. Cứ mỗi lần trước một chặng bọn áp giải lại cầm gậy xếp hàng hai bên, ra lệnh: “Tất cả chạy!” Khi đám đông bắt đầu chạy, những cú đánh giáng xuống chúng tôi. Chạy được 1 hoặc 2 km, lại vang lên: “Đứng lại!”. Thở hổn hển, đỏ gay, toát mồ hôi, chúng tôi đứng lại, và chúng để chúng tôi đứng trong tình trạng như thế cả giờ đồng hồ trong gió lạnh thâu xương dưới mưa và tuyết. Những bài tập như thế lặp đi lặp lại vài lần, kết quả cuối mỗi chặng chỉ những người chịu đựng nhất mới thoát được, nhiều đồng đội chúng tôi nằm liệt, những phát súng khô khan đơn độc vang lên – kết liễu nốt những ai không thể nhổm dậy được”.[48]
Một số tù binh bị bắt gần Vyazmaya đã bị giải đến sông Dniepr. Ở đó chúng bắt tù nhân xếp một hàng dài trên bờ và ra lệnh quỳ gối.
“Chúng tôi bối rối quỳ xuống”, một chiến sĩ Hồng quân nhớ lại. “Tôi đứng thứ tư tính từ mặt nước, nhưng khi quỳ xuống, tôi cảm nhận được quần mình ướt lên tới gối. Một tên Đức la lên:
“Schlafen!” (Ngủ đi!)
Dọc theo hàng người loan đi mệnh lệnh: ngủ. Ngủ là thế nào chứ? Cát ướt và lún xuống dưới sức nặng của con người, làn nước lạnh cóng ùa vào.
Đêm xuống, băng giá tấn công và đầu gối chúng tôi đông cứng.
Cứ thế, trong mớ hỗn độn tuyết, cát và nước, chúng tôi quỳ gối cả đêm. Ai đứng lên hoặc nằm xuống đều bị bắn.
Đến sáng nhiều người lạnh cóng gần chết, những người khác không thể đứng dậy, duỗi thẳng chân, liền bị súng máy nã chết”.[49]
Khi những tù binh bị bắt gần Vyazma bị giải qua Smolensk, nhiều người trong số họ vì đòn roi và kiệt sức, đã không sao đứng vững. “Gương mặt họ sạm đen đến độ con ruột mình chắc tôi cũng chẳng nhận ra”, một phụ nữ địa phương sau này kể lại.[50]
Những người cố đưa cho ai đó trong số tù binh một mẩu bánh mì đã bị lính Đức đuổi đi, đánh bằng gậy, báng súng và bắn. Trên phố Soviet Lớn, đường Rovalskoe và Kievskoye, quân phát xít đã nổ súng loạn xạ vào đoàn tù binh. Thây người bị bắn nằm ngổn ngang trên đường suốt mấy ngày.[51]
Mà đó mới chỉ là khởi đầu; vào giữa tháng 10 trên đoạn đường Yartsevo – Smolensk đã diễn ra một vụ thảm sát hàng loạt tù binh trong lúc giải đi. Đội áp giải Đức đã vô cớ bắn chết, thiêu sống tù binh bằng cách lùa họ vào những cỗ xe tăng Soviet bị hỏng trên đường rồi tưới xăng và phóng hỏa. Những ai cố thoát thân khỏi những xe tăng cháy đều bị bắn chết. Những hàng ngang và hai bên cánh của đoàn người đã bị “san bằng” bằng các loạt súng máy và tiểu liên. Bánh xích xe tăng Đức nghiền nát các tù binh. Tại ngã rẽ từ đường cao tốc Moskva – Minsk vào Smolensk, một số hàng dài tù binh đã bị dồn lại, quân Đức đã nã đạn từ súng trường và súng máy vào đó. Khi những người còn sống sót di chuyển dọc theo con lộ đến Smolensk, họ “không thể đi dọc 12 km mà không va phải tử thi trên mỗi bước chân”.[52]
Vài ngày sau, chỉ huy trại Smolensk báo cáo với chỉ huy các trại tù binh quân khu: “Đêm 19 rạng sáng 20/10,30.000 tù binh Nga đã tới trại Bắc. Ngày hôm sau, sáng 20/10 trên đường từ nhà ga tới trại đã phát hiện 125 tử thi tù binh. Tất cả bọn chúng đều bị giết chết bằng một phát súng vào đầu. Đặc điểm của vết thương không cho phép nhận định rằng, từ phía tù binh có mưu toan bỏ trốn hay chống đối”.[53]
Gần Novgorod-Seversky, khi áp giải các đoàn tù binh vào trại, quân Đức đã chọn ra gần 1.000 người bệnh và suy kiệt, không còn sức đi bộ, dồn cả vào một nhà kho rồi thiêu sống.[54]
Cảnh tượng đau xót ấy bày ra trước mắt dân chúng của tất cả những vùng lãnh thổ Soviet bị chiếm đóng. Sau giải phóng, một nữ cư dân ở Kerch với sự kinh hoàng nhớ lại một cảnh tượng mà bà chứng kiến: “Tôi là nhân chứng của việc nhiều lần các tù binh Hồng quân và sĩ quan chúng ta bị giải đi, và những ai vì bị thương hay kiệt sức mà bị tụt lại sau đoàn, bọn Đức đã bắn bỏ ngay trên phố. Tôi đã vài lần thấy cảnh tượng hãi hùng này. Một lần nọ vào tiết trời lạnh giá chúng giải một nhóm những người mệt lả, rách rưới, chân trần. Những ai cố nhặt lên mẩu bánh mì mà những người qua đường ném cho, đã bị bọn Đức quất bằng roi cao su và báng súng. Những ai ngã xuống dưới những cú đòn ấy, liền bị bắn”.[55]
Hạ sĩ quan Đức Helmut Pabst ghi lại trong nhật ký phản ứng của dân chúng Smolensk trước những tội ác tàn bạo máu lạnh và vô nghĩa này: “Ở bên kia đường, những phụ nữ đứng khóc. Bạn không thường thấy những giọt lệ như thế đâu: về bản chất, chúng không phải là một phần của tính cách Nga”.[56]
Một sĩ quan Đức khác, phó chỉ huy đội biệt kích “Abwehr II” của Tập đoàn quân “Nam”, trung úy Theodor Oberlender, mà dưới sự chỉ đạo nghiêm ngặt của y, bọn dân tộc chủ nghĩa Ukraina của “Nachtigal” đã tổ chức cuộc thảm sát tại Lvov, đã mô tả phản ứng của dân chúng trước “những cuộc tuần hành của tử thần” như sau:
Tâm trạng của dân chúng hầu hết đều xấu đi vài tuần sau khi quân đội ta chiếm đóng… Những vụ bắn giết các tù binh kiệt sức và bỏ thi thể họ lại trên đường tại các thôn làng, những điềm dân cư lớn là việc mà dân chúng không sao hiểu được.[57]
Oberlender đã đánh giá hoàn toàn chính xác tâm trạng nông dân Ukraina. Khi đoàn tù binh Hồng quân đầu tiên bị giải qua làng Glubokaya Dolina, cư dân địa phương thấy kinh hoàng. “Những đứa bé nhảy ra khỏi nhà, phụ nữ cũng xuất hiện, chủ yếu là những người đứng tuổi. Khi thấy đoàn tử thi sống này, các bà đã rú lên, lũ trẻ sợ hãi nép vào người lớn”, một nhân chứng đã kể lại. “Sau đó, như được ra lệnh, mọi người đều lao vào nhà và chỉ trong khoảnh khắc từ đó đã ném vào đoàn người nào là bánh mì, nào là mỡ muối, khoai tây luộc, thậm chí cả các túi thuốc lá. Một phụ nữ muốn tận tay đưa thứ gì đó cho những người tù, nhưng cảnh vệ đã bắn chỉ thiên, và đám đông lui trở lại. Những tù binh cố bắt lấy thứ gì đó mà họ được ném cho. Những gì mà người đi trước không kịp bắt lấy thì người đi sau cố chụp, những con người kiệt quệ này chẳng còn đủ sức cúi xuống để nhặt những thứ rơi trên đất. Vì thế những đứa bé cố nhặt nhạnh, đuổi theo đoàn người và lại ném cho những tù binh”.[58]
Tù binh cũng được lùa đi từ Uman. Các đơn vị tập đoàn quân thiết giáp số 1 của Ewald von Kleist và quân đoàn 17 của Stiilpnagels đã khép vòng vây ở đó, bao vây quân Soviet chưa kịp tới được Dniepr; lọt vào vòng vây là các tàn quân của các quân đoàn 6 và 12. Đó quả thật là chiến thắng lớn đầu tiên ở phía Nam; ngày 08/8 bộ chỉ huy Đức tuyên bố hơn 100.000 quân Nga đã bị bắt làm tù binh tại Uman. Tuy nhiên, người Đức đã hấp tấp: các đơn vị Liên Xô bị bao vây vẫn tiếp tục kháng cự. Chỉ sau hai tuần, những trận giao tranh vô vọng và bế tắc mới kết thúc. Rất đông những tù binh rã rời và kiệt sức; mỗi giờ hàng ngàn tù binh được giải qua trạm trung chuyển Gaisin mới thành lập. Đến tối ngày 27/8, tại trạm trung chuyển đã tập trung gần 8.000 người.
Họ bị dồn vào một khu đất mà bình thường cao lắm cũng chỉ chứa được khoảng 800 người, không thức ăn và nước uống.
Đêm đến, thiếu úy Leo Mellart thuộc trung đoàn 101 bộ binh bị đánh thức bởi những tiếng la hét và tiếng súng. “Tôi bước ra ngoài và thấy hai hoặc ba khẩu cao xạ đứng cách đó không xa đang nã thẳng vào nơi tập trung của những tù binh”, ông ta nhớ lại cảnh tượng khùng khiếp đã thấy. “Trách nhiệm của trò đê tiện đó, như lúc ấy người ta nói với tôi, thuộc về chỉ huy thành phố Gaisin, về sau đội bảo vệ cho biết, kết quả là có từ 1.000 đến 1.500 người chết và bị trọng thương”.[59]
Đó là một cuộc thảm sát thực sự.
Những người còn sống sót được giải đến một trại tập trung mới lập ở gần đó. Trong khu vực của nhà máy gạch cũ này không có gì ngoài những mái che để sấy gạch. Trong những điều kiện binh thường, khu vực này có thể chứa được từ 6.000 đến 8.000 người; còn trên thực tế ở đây đã nhồi nhét đến 74.000 con người. Phần lớn tù binh ngủ ngoài trời, trên nền đất trơ trọi.
Bên trong trại tập trung có hai thứ được gọi là “bếp”: đó là những cái thùng sắt được kê trên những viên đá để nấu thức ăn cho tù binh. Nếu đun suốt ngày trong những cái thùng này, có thể nấu cháo lúa mạch cho khoảng 2.000 người; nên không có gì lạ khi tù binh bị đói. Tiêu chuẩn mỗi ngày là một ổ bánh mì cho 6 người; tuy nhiên, như một cảnh vệ Đức sau này kể lại, “đó không thể gọi là bánh mì”. Lúc phân phát thức ăn nóng, thường xảy ra mất trật tự. Khi đó cảnh vệ dùng đến gậy gộc và vũ khí. Mỗi ngày, từ 60 đến 70 người chết trong trại tập trung.
“Trước khi dịch bệnh bùng phát, đa phần là người ta bị giết”, binh nhì cảnh vệ Bingel về sau cho biết. “Bị giết trong lúc phân phối thực phẩm cũng như trong khi làm việc. Nói chung là người ta bị giết cả ngày”.[60]
Cụm từ “người ta bị giết cả ngày” được lặp đi lặp lại với sự thường xuyên đáng sợ trong các mô tà của tất cả những trại trung chuyển. Ở đây không chi nói về trò giải trí của đám cảnh vệ; chính ở những trại trung chuyển này các nhóm trừng giới của SD tiến hành cái gọi là chọn lựa tù binh. Bản chất của nó thật đơn giản: tất cả những tù binh bị tình nghi hoặc không phục tùng sẽ phải chịu “hành hình”, nói theo ngôn ngữ con người có nghĩa là bị bắn. Hoạt động này các nhóm trừng giới thực hiện theo hướng dẫn ngày 17/7/1941. Ra đời như kết quả của sự thấu hiểu lẫn nhau đầy thiện chí giữa chỉ huy quân đội và cơ quan của Himmler, hướng dẫn nêu rõ:
Trưởng các nhóm tác chiến có trách nhiệm giải quyết các vấn đề hành quyết, đưa ra những chỉ thị phù hợp cho các biệt đội. Để thi hành các biện pháp được xác lập bằng những chỉ thị nêu trên, các đội cần yêu cầu ban lãnh đạo trại giao tù binh cho họ. Bộ tư lệnh tối cao quân đội đã ban hành chỉ thị đề các chỉ huy đáp ứng những yêu cầu như thế.
Việc hành quyết phải được thực hiện một cách kín đáo, tại những vị trí thuận lợi, và trong bất cứ trường hợp nào không được tiến hành trong trại hoặc ngay gần đó. Cần theo dõi việc chôn xác ngay lập tức và đúng quy trình.[61]
Nạn nhân đầu tiên của việc “chọn lọc” dĩ nhiên là các chính ủy.
Đầu tiên, song không phải là duy nhất.
Một trong các sĩ quan cao cấp của Abwehr sau này đã khái quát phương thức của những biện pháp ấy như sau:
Các đội chuyên trách được chỉ định đặc biệt của SD thực hiện việc chọn lựa tù binh theo nguyên tắc hoàn toàn đặc thù và tùy tiện. Một số chỉ huy các nhóm trừng giới căn cứ vào nguyên tắc chủng tộc, tức là nếu một tù binh nào đó hầu như không có những đặc điểm chủng tộc xác định hoặc chắc chắn là người Do Thái hoặc một kiểu Do Thái nào đó, hay nếu là đại diện của một chùng tộc hạ đẳng, tù binh đó sẽ bị hành hình. Những chỉ huy khác của các nhóm trừng giới tiến hành chọn lựa trên cơ sở trí tuệ của tù binh. Những chỉ huy khác nữa của các nhóm trừng giới cũng có những nguyên tắc tuyển chọn riêng. Thường thì đó là những nguyên tắc rất độc đáo.[62]
Nói cách khác, ngoài các chính ủy và đảng viên cộng sản, nhóm trừng giới muốn bắn ai trong trại tùy ý. Người Do Thái bị bắn bởi lẽ người Do Thái và chính ủy, về bản chất là đồng nghĩa. Trong một thời gian dài chúng bắn tất cả những người Hồi giáo – do việc cắt bao quy đầu là bằng chứng không thể chối cãi của thuộc tính dân tộc Do Thái. Những người có trình độ đại học cũng bị thủ tiêu; bởi cuối cùng thì chuyện đó thật đáng căm phẫn khi bọn hạ đẳng nào đó lại có học thức. Các sĩ quan cũng bị thủ tiêu: thứ nhất, vì đó là sĩ quan Soviet, mà về bản chất cũng là chính ủy; thứ hai, bọn thoái hóa ấy lại cương quyết từ chối hợp tác.
…Trong trại tù gần thị trấn Alexandria thuộc Ukraina, khi một sĩ quan Abwehr yêu cầu tù binh là một thượng úy cung cấp thông tin về các đơn vị Soviet đã ghìm chân đợt tiến công của quần Đức ở gần Dniepr, anh đáp: “Người Bolshevik không bán rẻ Tổ quốc, các ngươi sẽ không moi được bất cứ tin gì từ ta đâu”. Làm thế nào có thể chịu được thái độ láo xược như thê của một kẻ hạ đẳng? – trước khi bị bắn, thượng úy bị đã xẻo mũi, móc mắt và khoét một dấu ngôi sao trên lưng.[63]
Gần Vladimir-Volynsky, bảy sĩ quan cao cấp của Hồng quân bị xử bắn. Họ không chịu hợp tác và thậm chí còn mưu toan trốn thoát; số phận của họ đã rõ. Đội hành quyết đứng chờ; nhân viên nhiếp ảnh chuẩn bị chụp cảnh hành hình. Thật đáng sợ khi nhìn các sĩ quan Soviet đứng bên tường. “Bị thương tích và đánh đập đã man, họ giúp nhau đứng vững”, một trong các chứng nhân của sự kiện nhớ lại. “Gã sĩ quan cố bịt mắt họ, nhưng họ giật những dải băng đen ra. Khi đó họ được lệnh phải quay mặt vào tường, nhưng họ chẳng thèm làm. Gã sĩ quan quát với đám lính: “Bắt chúng quỳ xuống!” Nhưng, bám vào tường, họ lại đứng lên một lần, rồi lần nữa. Lúc bấy giờ một viên tướng có mặt gần như hét vào mặt gã sĩ quan: “Ta muốn lính của ta cũng đón nhận cái chết như thế”. Rồi bước về phía lối ra cùng những sĩ quan khác”.[64]
Số người thuộc diện bị thủ tiêu nhiều đến mức thành viên các nhóm trừng giới và cảnh vệ của trại không thể nào xoay xở kịp; phải huy động lính của những đơn vị đồn trú gần đó tham gia những cuộc hành quyết. Những kẻ này với sự thỏa mãn hả hê đã tham gia tàn sát.
Với binh sĩ Đức đóng tại Voznesenka thuộc Ukraina, việc giết tù binh đã biến thành một trò vui lễ hội. Mỗi Chủ nhật trên đài phát thanh địa phương thông báo: “Các binh sĩ Đức! Những ai muốn tham gia cuộc hành hình tù binh Nga đề nghị có mặt ở trại trước 12 giờ”. “Tù binh xếp hàng thành hình vuông, bao quanh là cảnh sát, lính canh với chó berger, và cuộc sát sinh bắt đầu, mà ở đó có gần 10.000 con người chẳng tội tình gì”, những cư dân địa phương kinh hoàng nhớ lại. “Những tiếng rống rợn người”.[65]
Đây là lời khai tiêu biểu của một trong những đao phủ, hạ sĩ Le Kurt:
Trước khi bị Hồng quân bắt làm tù binh… tôi là lính kỹ thuật của đại đội xe cơ giới số 1, trung đoàn 2 bộ binh, Sư đoàn 4 bộ binh không quân thuộc ban chỉ huy dịch vụ sân bay “E 33/xr. Ngoài việc chụp ảnh, tôi còn thực hiện những nhiệm vụ khác trong thời gian rảnh, nghĩa là cùng các binh lính khác vào lúc rảnh rỗi xử bắn lính Hồng quân và thường dân vì sở thích. Tôi đánh dấu vào một cuốn sổ riêng là đã bắn bao nhiêu tù binh và thường dân…
Bộ chỉ huy Đức đã khuyến khích việc bắn giết công dân Soviet bằng mọi cách. Nhờ thực hiện công việc và phục vụ tốt trong quân đội Đức… ngày 01/11/1941 tôi được thăng cấp hạ sĩ trước thời hạn thay vì theo quy định vào ngày 01/11/1942, và được trao tặng huân chương “Mặt trận phía Đông”.[66]
Như ta thấy, công việc của lực lượng tiễu phạt không chỉ cho phép chúng tiêu khiển bằng thú giết bọn hạ đẳng, mà còn được thưởng công hậu hĩnh. Nhờ thế nên không thiếu những tình nguyện viên; đặc biệt dễ dàng tuyển mộ bọn đao phủ trong số những kẻ ở hậu phương. Tuy nhiên, tối đa chúng cũng chỉ có thể mơ tới việc thăng cấp trước hạn và huân chương “Mặt trận phía Đông”. Đội quân trừng giới chuyên nghiệp được thưởng công nhiều hơn. Ngày 14/11/1941 thanh tra các trại tập trung yêu cầu chỉ huy các trại “thông báo càng sớm càng tốt danh sách toàn bộ lực lượng SS tham gia việc hành quyết để trao tặng huân chương chữ thập ngoặc hạng II với những thanh kiếm”. Ý định ấy đã gây hoang mang thậm chí cho cả các chỉ huy trại: trao phần thưởng chiến đấu cho việc hành quyết! Tuy nhiên, chẳng bao lâu sau những tên đồ tể xuất sắc được ban tặng không chỉ các phần thưởng chiến đấu, mà còn được cho nghỉ phép và một chuyến về thăm nhà bằng kinh phí của nhà nước.[67] Một sự xa xỉ quá mức trong thời chiến!
Không phải mọi tù binh chịu án hành quyết đều bị thủ tiêu ở những điểm trung chuyển; một số bị đưa về Đế chế. Ở đó, trong những trại tập trung cố định, những phương pháp giết người hàng loạt được thử nghiệm trên họ.
Ba trăm tù binh Soviet đầu tiên được đưa đến trại tập trung Auschwitz khổng lồ và khét tiếng thời đó hồi tháng 7/1941. Đa số các tù binh này mặc áo khoác da, vì vậy các tù nhân khác của Auschwitz nhầm họ với các chính ủy. Thế nhưng các chính ủy Hồng quân từ lâu đã không còn mặc áo khoác da, mà chỉ các sĩ quan thiết giáp. Đó là những người trong trận chiến đáp trả khốc liệt gần Lutsk, Brody và Dubno, đã làm chậm bước tiến của các đơn vị thiết giáp của Ewald von Kleist.[68]
Lính tăng là những tù binh Soviet đầu tiên bị thủ tiêu ở Auschwitz; tuy nhiên, chẳng bao lâu sau loạt tù mới đã đến. Mùa thu năm 1941 công nghệ giết người nhờ khí “Cyclone-B” đã được thử nghiệm lần đầu trên các binh lính và sĩ quan Hồng quân, sau này tiến tới sự hoàn thiện thật sự.[69]
Việc thủ tiêu bọn hạ đẳng Soviet đang diễn ra hết tốc lực. Tháng 8/1941, tướng SS Theodor Eike, tư lệnh sư đoàn “Đầu lâu” và chánh thanh tra các trại tập trung, đã đến trại Sachenhausen gần Berlin. Sư đoàn “Đầu lâu” đã chiến đấu ở Mặt trận phía Đông, nơi nó khét tiếng vì sự tàn bạo. Eike đã tổ chức một cuộc họp với sự tham gia của ban chi huy trại. Không ai biết cuộc họp nói gì, thế nhưng chỉ vài ngày, sau chuyến vận chuyển tù binh Liên Xô đầu tiên tới Sachenhausen, trưởng trại ra lệnh cho hạ sĩ Gustav Zorge không đưa những người mới tới vào danh sách tù nhân. “Tôi được lệnh thủ tiêu những người này”, Zorge kể lại. “Tất cả các tù binh Soviet, vào trại từ tháng 8 đến tháng 10/1941… đã bị thủ tiêu và thiêu xác trong một lán được đặc biệt dựng lên ngay cạnh lò thiêu trên phần đất của sân công nghiệp”.[70]
Đó là những thử nghiệm đầu tiên đạt được thành công. “Từ đó cho đến hết chiến tranh”, sử gia Christian Streit viết, “những tù binh ‘không thể dung thứ’ không ngừng được gửi tới các trại tập trung để thủ tiêu. Ở Dachau họ bị bắn tại trường bắn, ở Sachenhausen và Buchenwald họ bị bắn vào gáy bằng các vũ khí ngụy trang chuyên dụng…”.[71]
Những biện pháp thủ tiêu các tù binh Soviet quy mô như thế chỉ được biết đến vào mùa hè năm 1942, khi gần một trong những nhánh của Auschwitz, một hố chôn xác tập thể khổng lồ bị sụt lở đất. Mùi tử thi nồng nặc đến độ những con chó berger của đội cảnh vệ cũng không chịu nổi. Khi đó ban chỉ huy trại quyết định: khai quật hố chôn xác, thiêu hủy hài cốt. “Mọi thứ trở nên rõ ràng”, một tù nhân nhớ lại, “trong những hố chôn là thi hài các tù binh Soviet. Đó là một tin gây chấn động. Họ là ai? Có thể là các đồng chí bị đưa vào trại trước chúng tôi và bị đầu độc bằng hơi ngạt trong các tầng hầm khối Ne11. Bởi họ không bị đốt trong lò thiêu xác. Giày, nút áo, thắt lưng, mũ, bi đông, cả mèn đã khẳng định chúng thuộc về quân đội Soviet…”.[72] Đức Quốc xã đã mất nhiều ngày để thiêu hủy những hài cốt này; khói của những đống lửa khổng lồ che phủ cả bầu trời. Các tù nhân làm việc ở những hố chôn ấy được cấp vodka, song họ vẫn phát điên. Khi đó chúng bắn họ và điều những người mới đến.
Sẽ không ai và không bao giờ có thể tính được bao nhiêu tù binh đã trở thành nạn nhân của những biện pháp “thanh lọc” trại. “Có cảm tưởng”, Streit kết luận, “trên lãnh thổ Đế chế cho đến tháng 02/1942, trung bình từ 10 đến 20% các tù binh đã bị thủ tiêu như những kẻ “không thể dung thứ”. Tại những khu vực còn lại thuộc thẩm quyền của OKW, tức là Đông Phổ, Ba Lan, và các thuộc địa của Đế chế “Ostland” và “Ukraina”, tổng số có thể còn cao hơn”.[73]
Những thắng lợi của quân Đức ở mặt trận càng nhiều bao nhiêu, thì việc đối xử với tù binh càng khắc nghiệt bấy nhiêu, về nguyên tắc, điều này hoàn toàn logic: việc kết thúc cuộc chiến dường như đã gần kề. Và khi hoạt động chiến sự chấm dứt, sẽ không thể quy cho việc thủ tiêu hàng loạt tù binh cho “những sự cố tình cờ” không thể tránh khỏi trong chiến tranh. Do đó, cần phải nhanh tay!
Ngày 19/9 quân đoàn 6 vượt sông Dniepr ở hai phía Kiev, khép vòng vây quanh thành phố. Kiev thất thủ; quân Soviet rút lui bị áp sát từ mọi phía. Theo các số liệu của quân Đức, có tới 665.000 người đã bị bắt.
Chẳng bao lâu, một trong những người hùng của trận Kiev, Walter von Reichenau, tư lệnh quân đoàn 6 đã ban hành lệnh: “Cung cấp thực phẩm cho thường dân và tù binh chiến tranh là hành động nhân từ vô ích”.[74]
Các tù binh thấm thía ngay hậu quả của chỉ thị tàn bạo này. Trong trại Darnitsky ở ngoại ô Kiev mỗi ngày có hàng trăm người chết đói. “Các chỉ huy, chính ủy và người Do Thái không được phát thức ăn gì. Họ cày nát lòng đất và ăn tất cả những gì có thể. Đến ngày thứ năm, thứ sáu họ gặm thắt lưng và giày của mình. Sang ngày thứ tám, thứ chín một số chết, những người còn lại như bị loạn trí. Ngày thứ mười một chỉ còn vài người, phát rồ, cặp mắt mờ đục, họ gặm và nhai móng tay mình, tìm bắt rận rệp trong áo quần và cho vào miệng, cầm cự lâu nhất là người Do Thái, những người khác sau hai tuần vẫn động đậy, còn các chỉ huy và chính ủy chết trước, và cái chết của họ thật khủng khiếp”.[75]
Thời gian mà dân chúng địa phương còn có thể chuyển thực phẩm cho tù nhân đã lui vào quá khứ; giờ đây những nỗ lực như thế bị trừng phạt khắc nghiệt. Sĩ quan chỉ huy Riga ban lệnh: “Người dân thường bán hoặc tặng bánh mì cho những tù nhân đi ngang các đường phố Riga. Nay lệnh cho dân rằng việc bán hay chuyển bánh mì và những vật dụng khác cho tù binh và nói chung, bất cứ mối liên hệ nào với chúng đều bị cấm. Những ai vi phạm chỉ thị này sẽ bị trừng phạt”.[76]
Trong “Bản ghi nhớ về sử dụng lao động tù binh Soviet” nhân mạnh:
Các tù binh Nga đã trải qua trường học chủ nghĩa Bolshevik, cần xem chúng như bọn Bolshevik và đối xử với chúng như với bọn Bolshevik… Ngay từ đầu cần phải đối xử với tù binh Nga một cách nghiêm khắc không khoan nhượng, cho dù việc chúng vi phạm chỉ là một cái cớ nhỏ nhất. Việc cách ly hoàn toàn tù binh khỏi giới dân sự, tại nơi làm việc cũng như trong thời gian nghỉ ngơi, phải được tuân thủ hết sức nghiêm ngặt. Tất cả các đối tượng dân sự, cố gắng bằng cách nào đó tiếp cận với tù binh Nga tại nơi làm việc, trò chuyện, chuyển cho chúng tiền, thực phẩm, v.v. phải bị ngăn chặn vô điều kiện.[77]
Lời nói đi đôi với việc làm; những tù binh bị tước đi thực phẩm phải ăn vỏ cây và cỏ.[78] Vì đói mà người ta đánh mất nhân tính; đã xảy ra những trường hợp ăn thịt người mà các tuyên truyền viên Đức mừng rỡ sử dụng. Tỷ lệ tử vong trong số tù nhân rất cao.
“Tối đến, lúc mặt trời lặn, bỗng thấy tiếng ồn nào đó không rõ nghe rờn rợn”, bác sĩ phẫu thuật quân y Hans Killian hồi tưởng”. Từ đỉnh đồi, mở ra dưới tầm mắt chúng tôi là một thung lũng chật cứng hàng ngàn, hàng chục ngàn tù binh Nga. Hình thù của cái khối người màu nâu xám ấy gợi lên nỗi tuyệt vọng, nhắc chúng ta về những con bò hoặc dê bị lùa thành đàn. Chuyện gì sẽ xảy ra với họ, tôi thầm đặt cho mình câu hỏi. Đêm đến, trời bắt đầu lạnh. Tôi quay vào nhà với nỗi kinh sợ”.[79]
Một sĩ quan thiết giáp Hungary, sau này đã mô tả trại giam tù binh cho một nhà báo Anh, có phần thẳng thắn hơn vị bác sĩ phẫu thuật Đức:
Chúng tôi đóng ở Rovno. Một sáng nọ, khi thức dậy, tôi nghe thấy hàng ngàn con chó tru lên đâu đó ngoài xa… Tôi gọi cần vụ và hỏi: “Sandor, tiếng rên và tru đó là gì vậy?” Cậu ta đáp: “Cách đây không xa có một đoàn tù binh Nga, bị giam ngoài trời. Phải tới 80.000 người. Họ đang rên rỉ vì sắp chết đói”.
Tôi bước ra xem. Phía sau hàng rào thép gai là hàng chục ngàn tù binh Nga. Nhiều người đang trút hơi thở cuối cùng. Ít ai trong số họ còn đứng vững nổi. Gương mặt họ khô kiệt, mắt trũng sâu. Mỗi ngày có hàng trăm người chết, và những ai còn sức, đã đẩy họ xuống một cái hố lớn.[80]
Các trại tù binh chiến tranh đúng nghĩa là trại tử thần. “Tình cảnh nguy ngập của tù binh xấu đi thấy rõ”, một sĩ quan bộ tham mưu Tập đoàn quân “Trung tâm” đã viết. “Như những bóng ma, những sinh vật nửa trần truồng, sắp chết vì đói, lang thang, nhiều ngày không thấy thức ăn gì khác ngoài xác súc vật và vỏ cây… Cái chết ở những trại trung chuyển, trong các thôn làng, trên những con đường”.[81]
Chỉ vào mùa thu trong các trại tập trung mới bắt đầu xây dựng các lán; đồng thời như quy định rõ tại một trong những tài liệu của quân Đức. “tại phiên họp diễn ra ngày 19/9/1941 ở chỗ chỉ huy hậu cần và quân nhu, đã ấn định trong các lán trại được thiết kế cho 150 tù binh, có thể bố trí chỗ ở thường trực cho 840 người căn cứ vào bản vẽ lán trại cho tù binh Soviet”.[82] Như thế, cũng trên diện tích đó, nơi chứa 150 người Anh, có thể nhồi nhét gấp năm lần rưỡi số người Liên Xô. Điều này nhìn chung không bị coi là khắc nghiệt, ngược lại, bộ chỉ huy quân sự không ít lần nhấn mạnh rằng người Bolshevik đã được đối xử quá sức nhân từ. Tướng Reineke, chỉ huy cục các vấn đề về tù binh chiến tranh đã chỉ thị:
Lính Bolshevik đã mất quyền đòi hỏi được đối xử như một đối thủ trung thực. Chỉ cần một dấu hiệu nhỏ nhất của sự bất tuân, phải ban hành lệnh về những biện pháp khắc nghiệt và mạnh mẽ. Sự chống đối, phản kháng tích cực hay tiêu cực phải lập tức bị bẻ gãy bằng sức mạnh của vũ khí (lưỡi lê, báng súng, súng trường). Bất cứ ai thực hiện chỉ thị này mà không dùng tới vũ khí hoặc thực hiện không đủ mạnh mẽ sẽ bị trừng phạt.[83]
Những “Quy tắc” này đã hợp pháp hóa việc giết chóc vô điều kiện tù binh Liên Xô. Đại diện duy nhất của bộ chỉ huy quân sự Đức tỏ thái độ phẫn nộ hóa ra không phải là Guderian hay Erich von Manstein, mà là đô đốc Canaris, chỉ huy cục tình báo và phản gián. Cuối tháng 9/1941, trên bàn thống chế Keitel là một tài liệu có chữ ký của đô đốc, trong đó bày tỏ sự bất đồng cơ bản với các “Quy tắc”.
“Các chỉ thị được soạn thảo trong cách diễn đạt phổ quát nhất”, Carnaris viết. “Song nếu hình dung trước mắt xu hướng chính đang chiếm ưu thế trong chúng ta, thì những biện pháp được các chỉ thị này cho phép sẽ dẫn tới sự vô pháp và giết người tùy tiện”.[84]
Ngoài ra, Canaris còn nhận định ý tưởng cho rằng tù binh Soviet không được luật pháp quốc tế bảo vệ là hoàn toàn trái ngược không chỉ với luật pháp, mà cả với suy nghĩ lành mạnh: trong tương lai điều này dẫn tới sự phân hóa của quân đội.
Đô đốc đã hoàn toàn đúng; thế nhưng tuyên bố của ông ta đã bị phớt lờ.
Keitel đã đọc thư phản đối của Canaris và bỏ ngoài tai; trên tài liệu là lời phê của thống chế: “Những suy nghĩ này hợp với các quan điểm của người lính trong cuộc chiến hiệp sĩ! Còn ở đây là việc thủ tiêu một thế giới quan. Vì vậy, tôi chấp thuận những biện pháp này và ủng hộ chúng”.[85]
…Bốn năm sau, giống các chỉ huy quân sự Đức còn lại, tại phiên tòa Nürnberg, thống chế Keitel bắt đầu nói dối rằng ông ta chẳng có tội tình gì… Nhưng rồi tòa án được đệ trình văn bản phản đối của Canaris và quyết nghị viết tay của Keitel trên đó, vì vậy thống chế đã không thoát được giá treo cổ.
Còn trong trại tù binh Soviet ở thị trấn Ba Lan Bala-Podlyaska, một truyền thống mới đã xuất hiện sau khi “Các quy tắc” được ấn hành. Tay lính canh, sau khi hết ca, đã bắn một loạt vào đám đông tù binh như để làm bằng cho việc vũ khí vẫn hoạt động tốt. Sau đó người thay ca cũng kiểm tra khẩu liên thanh bằng cách bắn một loạt vào đám đông.[86]
Đến mùa thu năm 1941, quân chiếm đóng đã quản lý tương đối các lãnh thổ xâm chiếm để có thể phân phối đồng đều tù binh giữa các trại, chuyển họ từ Ukraina sang Ba Lan, từ Belarus sang các nước Baltic. Nếu như trước đây chúng lùa tù nhân đi bộ hàng trăm km, thì nay chúng bắt đầu vận chuyển họ bằng tàu hỏa. Thế nhưng tỷ lệ tử vong không vì vậy mà giảm đi, trái lại còn tăng lên. Sĩ quan Abwehr bá tước von Moltke viết cho vợ mình:
Tin tức từ Mặt trận phía Đông thực sự khủng khiếp. Dường như bọn anh chịu tổn thất lớn. Điều đó lẽ ra có thể chịu đựng được, nếu như trên vai bọn anh không chất chồng hàng núi tử thi. Nghe đâu những đoàn tàu với tù binh và người Do Thái chỉ chở đến được 20% người còn sống trong số những người được chuyển đi…[87]
Tỷ lệ tử vong cao như thế là do nguyên tắc vận chuyển chủ yếu, không thay đổi từ năm 1941 cho đến năm 1943. Vào tiết trời nóng nực mùa hè, các tù binh Hồng quân bị vận chuyển trong những toa tàu kín; còn vào mùa đông thì trên các toa mui trần. Họ bị nhồi vào đó như cá mòi trong hộp: thậm chí không thể ngồi được. Một trong số ít những người sống sót sau này nhớ lại:
Trước buổi tối chúng dồn chúng tôi lên các toa tàu. Tôi nói là dồn, bởi vì khi khoảng 50 người đã bước vào toa, chúng lại dồn tiếp lên thêm chừng ấy người bằng báng súng và những lời chửi rủa. Tôi không đếm và không nhớ trên toa chúng tôi có bao nhiêu cả thảy. Tôi chỉ nhớ trước hết chúng tôi không thể ngồi. Mà chỉ có thể đứng. Không có một băng ghế nào. Khi toa tàu chật ních đến độ không nhét thêm được nữa, chúng khóa cửa bằng những cái then lớn và ổ khóa. Chỉ còn lại ô cửa sổ nhỏ ở hai bên thành toa. Nóng không chịu nổi. Vài người bất tỉnh vì ngột ngạt và vì bức bối. Chẳng ai quan tâm tới những tiếng kêu la của chúng tôi. Nhưng nếu những tiếng kêu la không chịu ngưng, cánh cửa bị mở tung bằng một cú giật mạnh và những trận đòn gậy hoặc báng súng giáng xuống đầu những ai đứng trước. Vì vậy mọi người ngừng kêu la… Đôi khi để đe dọa chúng bắn vào các toa.
Chúng không cấp thùng để tiêu tiểu. Cũng không cho nước uống… Vài người đã không đứng nổi, chúng tôi đặt họ nằm ở một góc toa. Một người bị kiết lị. Cơ thể không thể hấp thụ thức ăn nữa. Tiếng rên trong toa không lay động được ai. Dường như tất cả chúng tôi đành chờ chết.[88]
Những người lính đã không nhầm, quả thật họ đã bị kết án tử.
Rất lâu sau những đoàn tàu tử thần chở tù binh này đã được mệnh danh là “những buồng hơi ngạt không cần hơi ngạt” – liệu có thể nghĩ ra mô tả nào chính xác hơn chăng? Khi đội áp giải mở cửa các toa của đoàn tàu chở tù binh Soviet đến ga Salaspils, toàn khu vực bốc mùi tử thi. Một nửa số người đã chết; nhiều người hấp hối. Những tù binh nào có thể bò ra khỏi toa, đã lao xuống nước, nhưng lính canh đã nã súng vào họ và bắn chết vài chục người.[89] Tại ga Most vào tháng 11, đoàn tàu gồm 30 toa đến; khi mở các toa, không tìm thấy một người sống sót nào. “Không dưới 1.500 xác chết được dỡ khỏi con tàu này”, người bẻ ghi trở thành nhân chứng bất đắc dĩ đã kể lại: “Tất cả bọn họ chỉ mặc mỗi quần lót. Các thi thể bị nằm phơi trên đường sắt gần một tuần lễ”.[90]
Một nhân viên đường sắt khác kể lại:
Năm 1941, khoảng tháng 11-12, một đoàn tàu với chừng 45-50 toa chở tù binh Soviet đã tới ga Daugavpils-1. Tất cả các toa đều khóa k kín. Đoàn tàu đứng ở ga hơn một ngày đêm. Một lính Đức đi dọc con tàu, gõ gậy vào các toa. Nếu trong toa vang lên giọng nói và tiếng ồn, hắn ta đi tiếp, nếu toa nào không ai trà lời và im lặng, hắn mở cửa. Cá nhân tôi chắc chắn rằng trong cả toa tàu không còn ai sống sót. Người Đức khóa toa lại và đi tiếp. Có vài toa trong đoàn tàu ấy chất đầy người chết cóng và chết đói.[91]
…Khi các toa mở ra, nhiều người thậm chí không thể bước đi. Sau chiến tranh tướng Anton Ivanovich Denikin nhớ lại số phận khủng khiếp của những đồng bào mình mà những tù binh Pháp được giải thoát khỏi nhà tù Đức đã kể lại với ông:
Một người Pháp kể tôi nghe tù binh Nga bị tê liệt theo đúng nghĩa đen, không thể cử động. Lính Đức đã cử những người Pháp khiêng họ trên tay hoặc trên cáng. Những người sống được đặt nằm trên sàn trong các lán, người chết ném xuống một cái hố chung… Một người Pháp khác nói, dễ nhận biết tù nhân Nga qua đôi mắt: cặp mắt họ rất đặc biệt. Có lẽ là vì đau khổ hoặc vì căm thù.[92]
Sống sót qua đợt vận chuyển đã là một thành công lớn; thế nhưng chẳng mấy chốc những người tới được trại mới hiểu ra rằng thành công ấy hóa ra chỉ là trò nhạo báng độc ác của số phận.
Tại các trại tập trung, tử thần đang chờ đợi những người sống sót.
Dưới đây là mô tả tiêu biểu của một trại tập trung dành cho tù binh: “Bức tranh bên trong trại tập trung, nói một cách hình tượng, đúng là địa ngục, ngập tràn thống khổ. Chính giữa trại là cái giá treo cổ như con ngáo ộp: hai cái thòng lọng đong đưa, sẵn sàng nhận tải. Khi tôi đến, trong trại có khoảng 20.000 tù binh. Ngần ấy người trên diện tích sân chứa hàng, rộng chừng 1 km². Những con người kiệt sức, đói lả, bẩn thỉu, với những vết thương há miệng trên cơ thể nằm trên đất. Họ nằm lẫn với các tử thi…”.[93]
Đó là ở gần Rzhev; còn đây là mô tả trại tập trung gần Pskov của một hạ sĩ Đức: “Điều kiện sống của tù binh trong trại thật khủng khiếp. Trong sương giá âm 40°C, tù nhân buộc phải sống trong những hầm đất, chỉ ăn mỗi một đĩa súp hầm từ khoai tây thối. Bánh mì nói chung không được phát. Kết quả là tù nhân biến thành những bộ xương và mỗi ngày khoảng 70 đến 80 người chết đói. Trong số 5.000 tù binh hồi đầu ca của chúng tôi, chỉ còn sót lại 500-600 người… Ngày nay khi nhớ lại quãng thời gian khủng khiếp đó, nỗi kinh hoàng vẫn còn bủa vây tôi”.[94]
Trong trại gần Slavuta, bên hàng rào kẽm gai chất từng đống tử thi chết vì đói. Không phải tất cả tù binh đều có thể nhận được dẫu là thứ cháo lúa mạch mà họ được cấp, bởi chỉ rất ít người có được cả mèn, một số khác không có, và chỉ nhận được vỏ khoai tây.[95]
“Cung cấp thức ăn cho tù binh là sự nhân đạo vô ích”; bộ chỉ huy quân sự Đức rõ ràng đã thấm nhuần chân lý này. Dưới đây là một mệnh lệnh điển hình do chỉ huy trung đoàn 88 thuộc sư đoàn 34 bộ binh ban hành:
Xác ngựa sẽ là thức ăn cho tù binh Nga. Những điểm này (bãi xác ngựa) sẽ được đánh dấu bằng các chỉ dẫn. Chúng nằm dọc đường cái tại Maloyaroslav và ở các thôn Romanovo, Belousovo.[96]
Tuy nhiên, tốc độ tử vong của tù binh vì đói vẫn không làm thỏa mãn quân phất xít. Ngày 21/10 tướng Eduard Wagner phụ trách hậu cần của OKH đã ra lệnh giảm khẩu phần ăn. “Khổ sở nhất là những tù nhân không làm việc, nghĩa là những ai đã quá yếu không thể lao động”, một sử gia Đức viết. “Giờ đây họ được nhận không quá 1.500 calories mỗi ngày, tức chưa tới 2/3 định mức tối thiểu tuyệt đối để sống sót”.[97]
Mọi thứ quá sức khủng khiếp và vô nhân đạo, đến độ chỉ huy trại tù binh chiến tranh gần thành phố Yaroslav thuộc Ba Lan đã có lần cay đắng nói với một người lưu vong phản cách mạng Nga làm việc cho bộ chi huy Đức: “Khả năng của tôi có hạn, không thể giúp cho những con người bất hạnh ấy và giữ mạng họ. Tôi mới làm chỉ huy trại được hai tháng, sau thời gian ngắn ngủi đó tóc tôi đã kịp ngả bạc”.[98]
Kể cả những người Do Thái bị đưa ra khỏi ghetto làm việc cùng tù binh cũng phải sốc vì tình cảnh mà Hồng quân phải lâm vào. “Tôi thường chạm mặt với các tù binh Nga”, Sidney Evens nhớ lại. “Trông họ như những bộ xương thật sự và đi không vững, đến mức các đồng chí của họ phải giúp họ bước đi”.[99]”Họ có cái vẻ không sao diễn tả được”, Moses Rage, một người Do Thái ở Riga, kể lại. “Họ khó nhọc lê đến chỗ làm, kiệt sức và đói lả, chết vì bị những giám thị Latvia đánh đập. Tôi sẽ không bao giờ quên được cảnh tượng gần như tất cả 300 tù binh lao xuống hố rác, theo đúng nghĩa đen, moi bắp cải thối lên và ăn chúng lẫn với giun đất”.[100]
Trong ghetto đã tệ, nhưng trong các trại tù binh còn tệ hại hơn gấp trăm lần; người Do Thái có lúc đã cho tù binh ăn. “Các công nhân Do Thái lén lút (khi các giám thị đã đi ăn) chia lại súp của mình cho tù binh; trong đó những người bệnh được gấp đôi khẩu phần súp”.[101]
“Thậm chí việc chôn cất tù binh Soviet trong trại cũng mang tính chế giễu”, sử gia Israel Aron Shneer nhận xét. “Đó là sự lăng nhục cả sau khi chết. Chẳng hạn, tại Gomel chúng chở phân đổ vào con mương nơi ném xác tù binh. Từ tháng 11/1941 đến tháng 4/1942, các toán sĩ quan và binh lính Đức đã tụ tập tại con mương nơi vứt xác tù binh, vui vẻ cười đùa và để kéo dài niềm vui, còn chụp ảnh những thi thể bị biến dạng vì bị đánh đập và gầy rạc vì đói. Những “cuộc tham quan” như thế của quân Đức đến các con mương diễn ra hầu như mỗi ngày, khi những đơn vị lính mới vừa đến thành phố”.[102]
Các vụ hành hình vẫn tiếp diễn, các vụ sát hại máu lạnh những con người đã kiệt lực vì đói. Ngày 30/10 một mệnh lệnh tiếp theo được ban hành về việc “thanh lọc những công dân và tù binh Soviet trong các trại dành cho tù binh và trại trung chuyển ở khu vực hậu phương quân đội”.[103]
Trong trại gần Odessa, các tù binh bị cảnh vệ giải đến một vách đá ở bìa rừng, bắt quỳ gối rồi bắn. “Từ trên bờ đá những người bị giết, mà thường hơn là bị thương, rơi xuống đáy khe núi, nơi đã đốt sẵn một đống lửa lớn… Việc đốt xác diễn ra suốt ngày đêm”.[104]
Ở trại gần Rava-Russkaya tù binh bị thủ tiêu bằng một cách quái đản hơn. “Ban lãnh đạo trại dẫn ra những tù binh trần truồng, cột họ bằng dây thừng vào bức tường quấn đầy kẽm gai, và để họ như thế trong băng giá mùa đông tháng 12 cho đến khi họ chết cóng”, một nhân chứng nhớ lại. “Những tiếng rên la của những người bị trọng thương bằng báng súng vang khắp khu trại… Một số bị giết tại chỗ bằng báng súng”.[105]
Cao điểm của những vụ sát hại hàng loạt tù binh Soviet trùng hợp với thời điểm dịch thương hàn bùng phát khắp các trại. Mật độ đông đúc cùng với nạn đói đã tạo điều kiện cho việc lây lan nhanh dịch bệnh, và không hề có một lời nào về sự hỗ trợ y tế cho tù binh như đã được đề cập ngắn gọn ở một trong các tài liệu của quân Đức, nói chung, việc xử lý vệ sinh có hệ thống các tù binh lẫn các trại rõ ràng là không được đề cập đến. Có thể nghe thấy những phát biểu kiểu thế này: “Càng nhiều tù binh chết, càng tốt cho chúng ta”.[106]
Trong trại Smolensk đã ra thông cáo “những bệnh nhân kiết lỵ sẽ bị bắn bỏ”[107]; khi bác sĩ phẫu thuật người Áo Peter Bamm hỏi chỉ huy trại tù binh ở gần Sevastopol rằng liệu ông có thể giúp gì cho bệnh nhân, gã chỉ huy đã cười: “ông có cần một khẩu liên thanh không?”[108]
Và đúng là súng liên thanh đã được sử dụng như các phương tiện chống dịch bệnh: bệnh nhân đã bị bắn bỏ với số lượng lớn không thương xót.276 Và không tài nào biết được, ai chết vì bệnh tật, ai chết vì súng đạn.
Chỉ có thể biết qua những con số tổng kết.
Tháng 02/1942, tại cuộc họp của ban kinh tế quân sự OKW, giám đốc bộ phận quản lý lực lượng lao động đã tuyên bố trong báo cáo của mình như sau:
Trong 3,9 triệu người Nga được giao cho chúng tôi xử lý đến nay còn gần 1,1 triệu người. Chỉ trong thời gian từ tháng 11 /1941 đến tháng 01/1942, gần 500.000 người Nga đã chết.277
Ở đây không chỉ nói về Hồng quân, mà về tất cả những người Soviet bị lùa tới các trại dành cho tù binh. Tuy nhiên, một điều không còn gì phải ngờ: sau tám tháng gần 2,5 triệu người đã bị thủ tiêu trong các trại này, trong đó chưa tính hàng trăm ngàn người bị xử bắn ngay sau các trận đánh hoặc chết trong khi bị vận chuyển.
Thế giới chưa từng biết một thảm kịch nào kinh hoàng hơn.
Những tiếng nói chân thực (1): “Tình cảnh tù binh thật khủng khiếp. Hàng ngàn người chết”.
Nhật ký của Elena Buividaite-Kutorgene, nữ cư dân thành phố Kaunas, đã được in trong tạp chí Tình hữu nghị các dân tộc số ra tháng 8/1968.
Những trích đoạn nhật ký được đăng dưới đây kể về số phận khủng khiếp của các tù binh Soviet.
“15/8. Tù binh Nga khiêng đồ đạc dưới sự giám sát của một sĩ quan và các binh lính. Tôi đã xin phép được tay cảnh vệ để cho tù nhân ăn đôi chút. Tôi cho họ bánh mì và bơ, sữa và thuốc lá. Họ chinh phục tôi bằng vẻ trí thức, sự thẳng thắn nào đó đặc trưng của người Nga, sự kiên nhẫn khôn ngoan và chế giễu nhẹ nhàng cho tình cảnh của mình. Đầu họ bị cạo trọc, da mặt xám và xanh mét, một số người chân bị phù. Họ chỉ được cho ăn một lần mỗi ngày và ăn rất tệ.
30/8. Tù binh Nga rất đói, nhiều người thương xót họ. Mỗi ngày ở những địa điểm khác nhau tôi có thể cho họ bánh mì, khoai tây, mỡ muối, những gì mà người quen của tôi tổ chức thành nhóm trợ giúp chở và mang đến cho tôi.
05/9. Hôm nay có thông cáo: “Ai giúp tù binh sẽ bị bắt, mưu toan chạy thoát – sẽ bị bắn!”. Ký tên chỉ huy người Litva. Ai đó không thích sự cảm thông và lòng trắc ẩn mà người dân thể hiện đối với tù binh Nga. Bị hành hạ, đói khát, dày vò, bị thắng vào xe kéo thay cho ngựa, họ phải chở đi nào là xi măng, những tấm ván, gạch đá, đồ gỗ… Thật đáng sợ khi nhìn những người sắp chết. Nhiều người, đặc biệt là phụ nữ, cố giúp đỡ <…> Giờ thì đã bị cấm <…> Càng cảm thông với người Nga nhiều hơn bao nhiêu thì càng phẫn nộ với sự tàn bạo của quân Đức bấy nhiêu.
19/9. Những toa tàu chất đầy tù binh Nga từ mặt trận Leningrad đã đến. Nhiều người được chở tới đang hấp hối, hàng trăm người bị bắn chết gần ga, bởi quân Đức muốn giết bằng hết những người ốm yếu. Ở vùng Shanchai, một thanh niên trẻ bị quân Đức giết chết chỉ vì cho một tù binh trái táo.
23/9. Hai đoàn tàu chở tù binh Nga đến: có hai toa chỉ toàn người chết, trong nhiều toa đầy những người sắp chết do ngạt thở và đói. Quân Đức bắn hết những người yếu sức… Cả một núi tử thi. Đến sáng những người khỏe hơn đã phải chôn các đồng đội đã chết của mình.
24/9. Chúng giải tù binh Nga đi. Bọn trai trẻ chưa có ria mép mang dải băng hakenkreuz (chữ thập ngoặc) lấy chân đá họ. Chuyện đó diễn ra trên phố, ngay trước mắt người qua lại.
27/9. Chính mắt tôi hôm nay đã thấy một người trong đám đông tù binh Nga nhanh chóng cúi xuống nhặt một mẩu thuốc lá hút dở trên vỉa hè, khi đó gã trai trẻ áp giải đá chân vào bụng ông ta và đâm bằng lưỡi lê, tôi không kiềm chế nổi, run lên vì phẫn nộ, nói với hắn thật xấu hổ khi làm thế, hắn ta thô lỗ và hung dữ (nét mặt thật man rợ) ra lệnh cho tôi im, “không thì bà cũng sẽ bị như vậy”… Các tù binh trông như sắp chết, những cái bóng chứ không phải con người, đang loạng choạng vì đuối sức. Vác những chiếc ghế trên vai, thậm chí gánh nặng đó họ cũng không mang nổi…
02/10. Trên phố thường gặp các nông dân chở tù binh vẽ làm việc cho mình, mọi người mừng cho họ, nói người đó có thể sẽ không chết.
10/10. Hôm nay tôi đã thấy bốn tù binh Nga khiêng tay và chân đồng đội đã chết của mình: cái đầu bị quăng về phía trước, đong đưa vô hồn. Một khuôn mặt gầy đẹp.
10/10. Hôm nay tôi thấy những người tù rách rưới, bị hành hạ, khập khiễng. Họ kéo một xe gạch dưới sự chỉ huy của những “thành phần cốt cán” mập ú và quân Đức. Một nông dân muốn cho họ thuốc lá, nhưng chúng đã cấm; đáp lại nhận xét của tôi độc ác như thế quả là không hay, một người còn hét lên dọa bắt. Tôi đã thấy bốn lính Đức xốc ngang súng trường giải đi một sĩ quan Nga cao ráo… Ông ta bước đi bình tĩnh và tập trung. Tất cả các chính ủy và đảng viên cộng sản đều bị bắn. Tại đại lộ Hồng Quân cũ, một đoàn tù binh đang đi, một người gục xuống. Khi đó quân Đức bắt đầu giẫm đạp anh ta, chửi rủa và la hét. Từ đám đông một phụ nữ bước ra bắt đầu phản đối, cảnh sát bắt bà ta, bà ta chìa hộ chiếu của mình ra và nói: “Tôi là con người”.
09/12. Trong bệnh viện tù binh chết vì suy dinh dưỡng, vì kiệt sức, vì đói. Đôi khi tôi chuyền được cho họ thứ gì đó nhưng thật khó để thuyết phục những kẻ có quyền quyết định. Bạn cầu xin, chẳng khác nào vay riêng một món nợ khổng lồ.
20/12. Gần chỗ tôi, trên con đường lân cận Maironno bên bờ Neman, quân Đức xây một trại tù binh. Hàng rào cao dài, dây kẽm gai, vài tháp canh, những lán nhà gỗ, hoàn toàn kiều mùa hè. Mỗi sáng chúng lùa tù binh đi làm. Vẻ ngoài của họ trông thật khùng khiếp, ăn mặc kiểu mùa hè, nhiều người đi chân trần, run rẩy, gương mặt nhợt nhạt xanh mét hoặc xanh tái thế nào ấy, phù nể, hoặc ngược lại thật hốc hác… Đã vài lần tôi xin được lính canh chuyển qua cổng cho họ vài cái bánh mì tròn; bên trong là một khoảng sân bị nén cứng hình tứ giác, mùi như trong chuồng thú, pha lẫn với chất khử trùng khó chịu nào đó. Nhưng không thể nói một lời chào nào. Trước đó còn chuyển được cho họ mỗi ngày. Hôm nay lính canh đã đưa tôi tới chỗ sĩ quan trực để xin phép. Tôi đi vào doanh trại, nơi các chỉ huy đang ngồi. Ấm áp, radio đang phát. Tôi lịch sự xin phép họ cho tiếp tế, thì nghe thấy một tiếng la thô lỗ bảo tôi leo lên đây làm gì. Họ đưa tôi tới đội canh gác ở cổng tiếp theo. Đám lính ngạc nhiên nhìn những chiếc túi của tôi, bên trong có những ổ bánh mì tròn. Một tên cầm túi và nói sẽ mua với giá 10 mark. Tôi lấy lại và bảo chính tôi mới hôm qua đã mua với giá 50 mark. Một tên khác với nụ cười thật dâm đãng, cong tay như cái bánh vòng kiểu như đang khoác tay một phụ nữ, bảo: “Nếu bà có con gái 17 tuổi, đừng lớn hơn, hãy đưa cô ấy đến chỗ chúng tôi”. Chúng lấy bánh mì và đặt vào tủ. Rõ ràng là chúng sẽ không chuyển cho tù nhân.
Tỷ lệ tử vong của tù binh thật hãi hùng. Những bệnh nhân thương hàn đều bị giết. Họ còn chết dần mòn vì tiêu chảy và đói. Điều đó thật đau đớn và đáng sợ… Không chịu đựng nổi khi nghĩ sao lại có thể như thế được chứ, khi giết những chiến binh quân địch bằng cách dùng cái đói, cái rét vô nhân đạo để tra tấn… Lẽ nào luật pháp quốc tế không cấm và không xem xét trừng phạt những tội ác này?
31/12. Trên trang bìa của một tạp chí Đức đăng ảnh những tù binh Nga. Vô số những gương mặt bị dày vò, chịu nhiều đau khổ. Nhưng cũng có những gương mặt dũng cảm, kiêu hãnh, thậm chí giễu cợt làm sao.
14/01/1942. Giá rét kinh khủng âm 28-30°C. Cảnh tượng tù binh thật khủng khiếp. Chết hàng ngàn người. Đôi khi buổi sáng những người khỏe hơn bị lùa đi làm việc bên bờ sông, hiển nhiên rồi. Những bóng ma, bóng con người! Cách đây mấy ngày quân Đức đã giết một phụ nữ khi bà ném bánh mì qua hàng rào. Quân Đức không cho phép dọn xác bà trong vài ngày.
19/01. Cảnh sát canh giữ tù binh 12 tiếng mỗi ngày trong cái lạnh giá thế này (âm 20 đến 25°C), trút vào họ cơn giận dữ của mình: đánh đập trên mỗi bước đi, giết chết. Bởi chúng có bị trừng phạt gì về việc đó đâu!”
[1] Từ Bug đến Kavkaz. Trang 78.
[2] Haupt V. Tập đoàn quân ”Bắc”. Trang 30.
[3] Shneer A. Tù binh… Trang 110.
[4] Liddell-Hart B. Họ biết tự bảo vệ và sẵn sàng hy sinh… II Một cuộc chiến khác, 1939-1945. M.: Đại học Nhân văn Nga, 1996. Trang 382; Liddell-Hart B. Những trận đánh của Đệ tam Đế chế. Trang 271-272.
[5] Manstein E. von. Chiến thắng vuột mất. Trang 190.
[6] Halder F. Nhật ký chiến tranh. Tập 3. Trang 24.
[7] Như trên. Trang 53.
[8] Như trên. Trang 84.
[9] Như trên. Trang 214.
[10] Shneer A. Tù binh… Trang 111. Xem thêm ghi chú khác từ tạp chí các hoạt động quân sự của Tập đoàn quân “Nam”: “Căn cứ vào số lượng, tinh thần chiến đầu, sự ngoan cường, và có thể cả cấp độ lãnh đạo, đối phương là kẻ thù nghiêm trọng về mọi mặt. Khác với chiến dịch Ba Lan và Mặt trận phía Tây, đối với chúng chỉ có thể giành được chiến thắng không phải bằng mưu chước, mà chủ yếu là hỏa lực trong trận chiến”. (Isayev A. V. Từ Dubno đến Rostov. M.: AST; Transitbook, 2005. Trang 161).
[11] Tiết lộ và thú nhận. Trang 321; Rzhevskaya E.M. Goebbels… Trang 283.
[12] Tôi đã thấy điều này. Trang 124.
[13] MNP. Var. 2. Tập 3. Trang 7; Schneer A. Tù binh… Trang 204.
[14] Streit c. Đừng coi họ là lính… Trang 28.
[15] MNP. Var. 1. Tập 4. Trang 209; Cuộc chiến của Đức chống lại Liên Xô. Trang 111-112; RAVO. Tập 24 (13). Quyển 2, Trang 24.
[16] Plenkov O. Yu. Đệ tam Đế chế. Chiến tranh. Quyển 1, Trang 271.
[17] RAVO. Tập 24 (13). Quyển 2. Trang 34.
[18] Luzherenko V. K. Tù binh: thảm kịch của hàng triệu người // Cuộc Chiến tranh Vệ quốc vĩ đại, 1941-1945: Bút ký lịch sử quân sự. M. Khoa Học, 1999. Quyển 4: Nhân dân và chiến tranh.Trang 169-170. Dembitsky N. p Số phận của tù binh II Chiến tranh và xã hội, 1941-1945. M. Khoa Học, 2004. Quyển 2. Trang 238-239.
[19] Chiến tranh hủy diệt ở Mặt trận phía Đông. Trang 27.Rezyapkin A. Sĩ quan chỉnh trị áo nâu của Wehrmacht // Cuộc chiến tranh Vệ quốc bí ẩn. M. Eksmo; Yauza, 2008. Trang 212. Xem thêm: Heer H. Stets zu erschießen sind die Frauen, die in der Roten Armee dienen. Hamburg: Hamburger Edition, 1995.
[20] Chiến tranh hủy diệt ở Mặt trận phía Đông. Trang 28. Shneer A. Tù binh… Trang 169; Rezyapkin A. Sĩ quan chính trị áo nâu của Wehrmacht. Trang 213.
[21] Như trên.
[22] RAVO, Tập 24 (13). Quyển 2. Trang 42.
[23] MNP. Var. 1. Tập 4. Trang 126-127.
[24] ShneerA. Tù binh… Trang 169.
[25] Streit c. Đừng coi họ là lính… Trang 51.
[26] ShneerA. Tù binh… Trang 163.
[27] MNP. Var. 1. Tập 4. Trang 125, 126; Var. 2. Tập 3. Trang 46; RAVO. Tập 24 (13). Quyển 2. Trang 37; Schneer A. Tù binh…Tr. 412.
[28] RAVO. Tập 24 (13). Quyển 2. Trang 37; MNP. Var. 2. Tập 3. Trang 47.
[29] ShneerA. Tù binh… Trang 267.
[30] Chukhrai G. N. Cuộc chiến tranh của tôi. M.: Algorithm, 2001. Trang 143.
[31] MNP. Var. 1. Tập 4. Trang 126; Var. 2. Tập 3. Trang 46; Xem thêm: Cuộc chiến tranh hủy diệt ờ Mặt trận phía Đông.Trang 28.
[32] Rezyapkin A. St quan chính trị áo nâu của Wehrmacht.Trang 213.
[33] ShneerA. Tù binh… Trang 319.
[34] Như trên.
[35] Như trên. Trang 317.
[36] Heer H. Stets zu erschießen sind die Frauen… Trang 81.
[37] Cuộc chiến tranh Đức chống Liên Xô. Trang 200-203; Shneer A. Tù binh… Trang 326.
[38] Sử thi Stalingrad. Trang 422-423.
[39] MNP. Var. 1. Tập 4. Trang 201; Dashichev V. I. Chiến lược của Hitler… Tập 3. Trang 24-25.
[40] Streit c. Tù binh chiến tranh Liên Xô tại Đức II Thế chiến II: Nhìn từ nước Đức. M. Eksmo; Yauza, 2005. Trang 235.
[41] Shneer A. Tù binh… Trang 177.
[42] Killian H. Trong bóng tối của chiến thắng. Trang 99-101.
[43] Như trên.
[44] Sargsyants M. Nguồn gốc Anh của chủ nghĩa phát xít Đức.Trang 189.
[45] Streit c. Đừng coi họ là lính… Trang 75.
[46] Orbynba N. Số phận một dân quân. M. Eksmo; Yauza, 2005. Trang 46-47.
[47] Như trên. Trang 46-47.
[48] Shneer A. Tù binh… Trang 191.
[49] MNP. Var. 1. Tập 4. Trang 106-107.
[50] ShneerA. Tù binh… Trang 179.
[51] Như trên.
[52] Như trên. Trang 293-294.
[53] Như trên. Trang 121; MNP. Var. 2. Tập 3. Trang 41.
[54] Pabst G. Nhật ký một người lính Đức: Đời lính ở Mặt trận phía Đông, 1941-1943 / Dịch từ tiếng Anh L. A. Igorevsky. M.: Centrepolygraph, 2004. Trang 105.
[55] OGB. Tập 2. Quyển 2. Trang 556; MNP Var. 1. Tập 4. Trang 395; Mục tiêu tội ác… Trang 302.
[56] ShneerA. Tù binh… Trang 201
[57] Cuộc chiến tranh hủy diệt ở Mặt trận phía Đông. Trang 28-29.
[58] MNP. Var. 1. Tập 4. Trang 128-129; Var. 2. Tập 3. Trang 49-50.
[59] MNP. Var. 1. Tập 1. Trang 604; Tập 4. Trang 146, 205-206;Var. 2. Tập 1. Trang 489.
[60] Như trên. Van 1. Tập 4. Trang 173-174; Var. 2. Tập 3. Trang 117.
[61] ShneerA. Tù binh… Trang 428.
[62] Tôi đã thấy điều này. Trang 101.
[63] Như trên. Trang 208.
[64] MNP. Van 1. Tập 5. Trang 99; Var. 2. Tập 3. Trang 223-224; Cuộc chiến tranh hủy diệt ở Mặt trận phía Đông. Trang 46.
[65] ShneerA. Tù binh… Trang 424-425.
[66] Như trên. Trang 251.
[67] Streit c. Đừng coi họ là lính. Trang 29; Streit c. Tù binh chiến tranh Liên Xô… Trang 240; Pogozhev A., Stenkin P. Đào thoát khỏi Auschwitz: Còn sống sót. M.: Eksmo; Yauza, 2005. Trang 132-133.
[68] Andriyanov V. I. Quần đảo OST: Số phận những nô lệ của Đệ tam Đế chế qua những bằng chứng, thư từ và tài liệu / Lời bạt A. Urban. M.: Cận vệ trẻ, 2005. Trang 18.
[69] Streit c. Đừng coi họ là lính. Trang 49. Xem thêm, chẳng hạn, MNP. Var. 2. Tập 3. Trang 32-33.
[70] Pogozhev A., Stenkin P. Đào thoát khỏi Auschwitz. Trang 162.
[71] Streit c. Đừng coi họ là lính. Trang 50.
[72] MNP. Var. 1. Tập 4. Trang 104; Var. 2. Tập 3. Trang 24.
[73] Kuznetsov A. Thảm sát Babi Yar. Trang 126
[74] Shneer A. Tù binh… Trang 207.
[75] MNP. Var. 1. Tập 4. Trang 207; Tập 5. Trang 343-344.
[76] Như trên. Tập 4. Trang 120.
[77] Killian H. Trong bóng tối của chiến thắng. Trang 54-55.
[78] VertA. Nước Nga trong chiến tranh, 1941-1945 / Dịch từ tiếng Anh. Smolensk: Rusich, 2003. Trang 426-427.
[79] Shtrik-Shtrikfeld V. Chống Stalin và Hitler: tướng Vlasov và Phong trào giải phóng Nga. M.: Posev, 1993. Trang 62.
[80] MNP. Var. 1. Tập 5. Trang 345; Mục tiêu tội ác… Trang 162.
[81] RAVO. Tập 24 (13). Quyển 2. Trang. 29; MNP. Var. 2. Tập 3. Trang 66-67, 106; Shneer A. Tù binh… Trang 179-180.
[82] MNP. Var. 1. Tập 4. Trang 209-211; Var. 2. Tập 3. Trang 103-105; Cuộc chiến tranh Đức chống Liên Xô. Trang 111-114; RAVO. Tập. 24 (13). Quyển 2. Trang 24-25.
[83] Như trên. Sử gia Đức G. Buchheit đã viết sai rằng quyết nghị của Keitel liên quan đến hoạt động của các nhóm trừng giới, cũng như khẳng định rằng ghi chép của Keitel là một thông tư cấm các nhân viên của Abwehr tiêu diệt tù binh chiến tranh (Bucheit G. Abwehr – thanh kiếm và lá chắn của Đệ tam Đế chế. Trang 251). Trên thực tế đó là một ghi nhớ thông thường. Không có tài liệu nào đi ngược lại chính sách hủy diệt ở Mặt trận phía Đông được tìm thấy ở Abwehr.
[84] Shneer A. Tù binh… Trang 183.
[85] Streit c. Đừng coi họ là lính… Trang 65; Streit c. Tù binh Soviet.
[86] Polyan P. M. Những nạn nhân của hai chế độ độc tài: Đời sống, lao động, tủi nhục và cái chết của các tù binh và các ostarbeiter trên đất khách và tại quê nhà / Lời tựa D. Granin. M.: ROSSPEN, 2002. Trang 222.
[87] MNP. Var. 1. Tập 4. Trang 116; Mục tiêu tội ác… Trang 202;Krysin M. Yu. Quân đoàn SS Latvia: Hôm qua và ngày nay. M.: Veche, 2006. Trang 71-72.
[88] Mục tiêu tội ác… Trang 203; MNP. Var. 2. Tập 3. Trang 37.
[89] Shneer A. Tù binh… Trang 181.
[90] Smyslov O. S. ”Đội quân thứ năm” của Hitler: Từ Kutepov đến Vlasov. M.:Veche, 2004. Trang 420.
[91] Rzhevskaya E. M. Những lối vào gần. Trang 153.
[92] Cuộc chiến tranh hủy diệt ở Mặt trận phía Đông. Trang 30.
[93] ShneerA. Tù binh… Trang 386.
[94] MNP. Var. 2. Tập 3. Trang 17; RAVO. T. 24 (13). Quyển 2. Trang 42; Không dễ qua mau, không dễ lãng quên… Trang 41-42;Melnikov D. E, Chernaya L. B: Băng chuyền tử thần. Trang 418.
[95] Streit c. Tù binh Soviet… Trang 235.
[96] Shneer A. Tù binh… Trang 176.
[97] Evens S. Bầu trời đen như mực: 1.400 ngày dưới gọng kìm khủng bố của Đức / Dịch từ tiếng Anh E. Oneseva M.: Agraph, 2005. Trang 104.
[98] Latvia dưới ách phát xít. Trang 45.
[99] Như trên.
[100] Shneer A. Tù binh… Trang 219.
[101] Như trên. Trang 415.
[102] MNP. Var. 1. Tập 5. Trang 158.
[103] Như trên. Van 2. Tập 3. Trang 44.
[104] MNP. Van 1. Tập 4. Trang 214-215; Mục tiêu tội ác… Trang 174; OGB. Tập 3. Quyển 1. Trang 592-593.
[105] ShneerA. Tù binh… Trang 281.
[106] Polyan P. M. Những nạn nhân của hai chế độ độc tài… Trang 256-257.
[107] Streit C. Đừng coi họ là lính… Trang 50.
[108] MNP. Var. 1. Tập 4. Trang 660; Andriyanov V. I. Quần đảo OST. Trang 17.