Mô Tả Vương Quốc Đàng Ngoài

Lượt đọc: 98 | 0 Đánh giá: 0/10 Sao
★★★★★★★★★★
★★★★★★★★★★
« Lùi Tiến »
Chương VI Về phong tục của người Đàng Ngoài

❊ ❊ ❊

Dân chúng Đàng Ngoài tỏ ra cần cù chịu khó, tính tình sôi động tuy lại hay sợ hơn là có bản chất dịu hiền. Họ khó mà giữ được sự yên lặng và hòa thuận nếu như không có một bàn tay thép quản lý bằng sự nghiêm khắc. Họ thường mưu phản và nổi dậy. Quả thực, sự mê tín mà đám dân nghèo luôn mắc phải càng khiến cho vấn nạn này thêm trầm trọng và đẩy họ vào tình thế hiểm nghèo. Những kẻ có địa vị, hay những vị quan có vai vế, rất ít khi vướng vào những vấn nạn này. Họ không có tham vọng trở thành kẻ cầm đầu lũ phiến quân bởi lẽ họ không tin vào những lời phán xằng bậy của lũ thầy bói mù - vốn chỉ lừa bịp được dân nghèo dốt nát và mê tín. Những người giàu và có địa vị thừa hiểu những hành động điên khùng và phản loạn như thế chỉ dẫn đến cái chết mà thôi.

Tránh được cái xấu này thì họ lại vướng vào những điểm xấu tệ hại khác, đó là sự ghen tị và độc ác. Trước đây nhóm người tầng lớp trên ở Đàng Ngoài rất chuộng hàng hóa nước ngoài còn bây giờ họ dửng dưng với tất cả, ngoại trừ những nén vàng, nén bạc Nhật Bản và những súc vải khổ rộng của châu Âu là còn hấp dẫn họ ít nhiều. Họ chẳng thèm đoái hoài đến việc đi thăm thú các nước khác, cho rằng chẳng có nơi đâu bằng vương quốc của họ và cũng chẳng tỏ ra kính trọng những người đã đi ra nước ngoài.

Người Đàng Ngoài có đầu óc và trí nhớ tốt có khả năng làm việc tốt nếu được đào tạo bài bản. Họ ham học, nhưng không phải vì yêu thích nghiệp học mà coi việc học là cách để vinh thân phì gia. Giọng đọc của người Đàng Ngoài nghe tựa như hát. Ngôn ngữ của họ đầy từ đơn âm tiết, một từ có thể mang 12 hoặc 13 nghĩa, vậy mà chẳng có cách gì phân biệt nghĩa ngoài âm điệu, đọc tròn miệng, phát âm nặng, nhấn hoặc giữ âm... Bởi thế ít người ngoại quốc có thể học được thứ tiếng này một cách hoàn hảo.

Tôi không thấy sự khác biệt nào giữa ngôn ngữ triều đình và ngôn ngữ bình dân ngoại trừ trong trường hợp nghi lễ và xử án là lúc Hán tự được sử dụng, tương tự như trường hợp người có học ở châu Âu thích viện dẫn chữ Hy Lạp và Latin.

Hai giới tính nam và nữ khá tương xứng, khổ người nhỏ và thể trạng tương đối yếu, có lẽ do họ ăn uống không đủ chất và ngủ không điều độ.

Người Đàng Ngoài mang làn da màu nâu tương tự như người Tàu và người Nhật nhưng nhìn đẹp hơn. Phụ nữ nhà quyền quý có làn da đẹp như những người Bồ Đào Nha và Tây Ban Nha.

Mũi và mặt người Đàng Ngoài không đến nỗi tẹt như người Tàu. Tóc của họ màu đen và mái tóc dài được coi như một nét trang sức. Bất luận nam hay nữ đều để mái tóc dài thõng xuống. Riêng binh sĩ khi luyện tập và thợ thủ công khi tác nghiệp dùng mũ che mái tóc đi, hoặc búi củ hành thành nhiều lọn trên đỉnh đầu. Cả nam và nữ khi qua tuổi 16 hoặc 17 đều nhuộm răng đen như người Nhật vẫn làm và nuôi móng tay dài như thói của người Tàu. Móng tay càng dài càng đẹp và điều này thường chỉ có ở người quyền quý.

Người Đàng Ngoài có phong tục mặc áo dài, không khác quần áo người Tàu là mấy nhưng rất khác trang phục của người Nhật. Bức ảnh của Taverniere vẽ người Đàng Ngoài đeo đai lưng thì thật xa lạ phong cách của người xứ này.

Truyền thống lâu đời cấm người Đàng Ngoài mang tất và đi giày, ngoại trừ văn quan và những người đỗ Tuncy[1]. Tuy nhiên, vào thời điểm này quy định trên không còn ngặt nghèo nữa.

Tình cảnh của tầng lớp dân nghèo thật hết sức kham khổ bởi thuế cao và lao động nặng nhọc. Đàn ông đến tuổi 18 hoặc 20 buộc phải nộp thuế hằng năm từ 3, 4, 5, 6 hoặc 7 đô-la, tùy theo độ màu mỡ của đất canh tác tại mỗi làng. Số tiền này được đóng hai lần trong hai mùa thu hoạch lúa vào các tháng Tư và tháng Mười. Những hạng người sau được miễn loại thuế này: người thuộc hoàng tộc, gia nhân trực tiếp của nhà Vua, Thượng thư và quan lại triều đình, văn thân hay người có học, từ Singdo[2] trở lên được giảm một nửa, toàn bộ binh sĩ và người trong quân đội, những người đã có được tự do, kể cả dùng tiền chuộc hoặc được phóng thích, nếu muốn tiếp tục được hưởng đãi ngộ này khi vị quân vương mới lên ngôi có thể chi một khoản tiền nho nhỏ để mua quyền lợi này (thông thường hiếm khi bị từ chối). Thương nhân dù buôn bán ở thành thị vẫn bị ghi danh đóng thuế ở bản quán của mình, đồng thời chịu nghĩa vụ lao dịch vecquun[3] mà quan tổng trấn trưng dụng (nếu không tự thực hiện thì có thể thuê người làm thay), từ sửa thành đắp lũy, đắp đê, sửa đường... đến vận chuyển gỗ xây cung điện và dinh thự.

Thợ thủ công, bất kể thuộc ngành gì, đều bị áp nghĩa vụ lao dịch vecquun 6 tháng mỗi năm mà chẳng được một xu tiền công, cũng chẳng dám đòi hỏi gì cho công sức lao động của mình. Họ hoàn toàn phụ thuộc vào ông chủ (quan lại) của mình để có thể kiếm được ít nhất là bữa ăn. Nửa năm còn lại họ được phép kiếm sống nuôi bản thân và gia đình, thật khó cho những người có vợ và con.

Nông dân ở làng quê, những người lĩnh canh những mảnh đất cằn cỗi nên không có thóc để đóng thuế, được phép cắt cỏ thuê để nuôi đàn voi và ngựa của quan. Mặc cho làng quê của họ cách xa chỗ cắt cỏ, họ vẫn phải tự lo liệu chi phí cho việc định kỳ mang cỏ lên nộp trên thành phố.

Như đã nói ở phần trước, với cách cai trị như thế, nhà Chúa có thể duy trì đám thần dân của mình đói khổ và thiếu thốn. Và quả thực biện pháp này có vẻ cần thiết bởi nếu như không khống chế mạnh tư tưởng tự mãn và manh động của họ thì người dân lại quên mất bản thân họ là ai. Tuy vậy nhưng mỗi người đều hài lòng với những thành quả mình đạt được bằng sự chuyên cần và có thể để lại cho con cháu những tài sản mình tích cóp được nếu như đừng để tiếng đồn về sự giàu có của mình lọt đến đôi tai thính nhạy của vị quan lớn.

Trưởng nam có quyền thừa kế nhiều hơn các em; con gái được thừa hưởng rất ít gia tài và khó có thể khiếu kiện thành công nếu có anh em trai thừa kế.

Người Đàng Ngoài mong ước có gia đình đông đúc và nhiều con cháu nên các gia đình có phong tục nhận con nuôi, bất luận nam hay nữ. Những người con nuôi có bổn phận tương tự như con đẻ, chẳng hạn:

Trong các dịp lễ tết con nuôi đến thăm nom và tặng quà cho cha mẹ; luôn sẵn sàng trong mọi công việc của gia đình; biếu cha mẹ quả ngọt và gạo mới đầu mùa; xả thân vì cha mẹ, anh em, vợ, họ hàng gần nếu có ai đó qua đời hay sắp qua đời. Con nuôi có nghĩa vụ thực hiện những việc này vài lần trong năm bằng chi phí của bản thân họ... Đây là những nghĩa vụ của con nuôi. Còn về phía cha mẹ nuôi, họ có trách nhiệm giúp con nuôi của mình thăng tiến nếu như họ có điều kiện, bảo vệ và che chở cho con nuôi. Khi cha mẹ nuôi qua đời con nuôi được hưởng thừa kế ngang với con út, có nghĩa vụ để tang như để tang cha mẹ ruột của mình, dù bản thân cha mẹ mình vẫn còn sống.

Phương thức nhận con nuôi như sau: người muốn được làm con nuôi đánh tiếng với cha nuôi của mình. Nếu cha nuôi đồng ý thì sẽ có câu trả lời, sau đó con nuôi mang theo một con lợn và hai vò rượu đến để trình diện cha nuôi. Sau khi đã lạy bốn lạy và trả lời thỏa đáng một vài câu hỏi, người con nuôi sẽ được chấp nhận chính thức.

Người nước ngoài cư trú hoặc buôn bán ở Đàng Ngoài thường sử dụng phương thức nhận con nuôi này để tránh những phiền nhiễu và rắc rối mà một số quan lại khó tính gây ra. Bản thân tôi cũng được nhận làm nghĩa tử của một người về sau trở thành Thế tử kế vị, đồng thời còn được ban cho một tấm thẻ có đóng triện của ông. Tôi thường xuyên biếu quà cho ông, thường là những đồ lạ mắt, mỗi khi cập bến Đàng Ngoài. Dù là người rộng lượng và luôn dành cho tôi sự ân sủng rộng rãi nhưng khi gặp rắc rối tôi cũng chẳng cậy nhờ được gì nhiều từ phía ông. Vào lúc ông đang phát triển mạnh cả về danh vọng và tiền tài thì bị chấn động tinh thần nặng đến mức bị điên sau cái chết của ông nội. Vậy là tôi bơ vơ không người che chở giữa lúc việc kinh doanh của tôi vô cùng bê bối. Về sau tôi được tin ông đã hồi phục trí nhớ trở lại[4].

Người dân ở các làng đa phần là những người giản dị, cả tin và mê tín. Tương tự như các dân tộc khác, người Đàng Ngoài cũng có một đặc điểm chung là tốt xấu hết sức rạch ròi.

Thật sai lầm khi cho rằng người Đàng Ngoài ưa sống lênh đênh trên các con thuyền trên sông. Họ phải chịu kiếp vạn chài bởi cuộc sống khó khăn xô đẩy họ, buộc họ phải mang theo vợ con phiêu bạt từ bến này sang bến khác, làng này qua làng khác để mưu sinh. Cuộc sống trên một con thuyền nhỏ đâu có thể nói là an nhàn. Ở đây họ chẳng hiểu được cá sấu nghĩa là gì.

Như tôi đã nói ở phần trước, các con sông lớn ở Đàng Ngoài bắt nguồn từ Trung Quốc. Những trận mưa lớn trong các tháng Ba, Tư, Năm khiến cho dòng sông chảy xiết một cách khủng khiếp (và ai cũng hiểu địa hình Trung Quốc cao hơn xứ Đàng Ngoài), đe dọa phá vỡ các con đê. Đôi khi những trận lụt lớn tràn qua đê, nhấn chìm nhiều tỉnh và gây nên những rối loạn và thiệt hại nặng cả người và súc vật.

❀ ❀ ❀

[1] Tuncy: tiến sĩ.

[2] Singdo: sinh đồ.

[3] Vecquun: có lẽ là “việc quan”.

[4] Nếu kết hợp với mô tả của Baron về Chúa và Thế tử ở chương sau và nếu điều Baron nói rằng ông được Thế tử nhận làm nghĩa tử thì cha nuôi của ông có lẽ là một trong hai con của Chúa Trịnh Căn lúc đó (là Trịnh Vĩnh và Trịnh Bách). Nhưng cả hai vị này đều mất sớm, nên không biết thực hư của việc Baron nói rằng ông được Thế tử nhận làm con nuôi chính xác đến đâu.

Nguồn: tve-4u
Được bạn: Mọt Sách đưa lên
vào ngày: 29 tháng 8 năm 2026

« Lùi Tiến »

💬 Thảo luận

Chưa có bình luận nào — hãy là người đầu tiên chia sẻ cảm nhận của bạn!

Đăng nhập để tham gia bình luận.