Ở Đàng Ngoài có nhiều giáo phái khác nhau, nhưng tựu chung lại có hai giáo phái chính thu hút nhiều người tin theo. Giáo phái thứ nhất gọi là Congfutu[1] theo tiếng Trung Quốc, người Đàng Ngoài gọi là Ong-congtu[2] và người Âu chúng ta gọi là Confucius - triết gia cổ xưa nhất của người Trung Quốc. Khổng Tử được tôn vinh như thánh nhân, nổi tiếng với sự tài trí không chỉ trong cộng đồng người Hán, người Việt mà ngay cả với người Nhật - như một dạng hình tượng Vua Solomon[3] của mọi nhân sinh. Nếu không học kỹ về Khổng Tử thì ít ai có thể mong ước kiếm được một địa vị nào trong chính quyền, cũng không thể được giao những trọng trách. Mặc dù vậy, trong thực tế thì tinh hoa của nghiệp Khổng học cũng chẳng có gì hơn cái mà chúng ta vẫn gọi là triết học về đạo đức, bao gồm những nội dung đại loại như: “Mỗi người nên tự hiểu biết và hoàn thiện bản thân, dùng sự đúng mực của bản thân mình để làm cho người khác cùng trở nên tốt và cả hai cùng đạt đến bậc tối thượng của tính thiện mỹ[4]. Bởi lẽ đó người ta cần học triết học bởi không thông hiểu triết học người ta không thể am tường được nội tình của vạn vật, không nhận biết được đâu là điều thiện mà theo, đâu là điều ác mà tránh, không điều chỉnh được dục vọng của mình sao cho hợp với hoàn cảnh...”. Bên cạnh đó là những lời châm ngôn chứa đựng học thuyết và sự minh triết của người Trung Hoa.
Tuy nhiên, trên cơ sở những nguyên lý của Khổng Tử, những môn đồ của ông sau này trích lược và đúc kết lại thành vô số châm ngôn chẳng bao lâu trở thành nền tảng của sự mê tín và một thứ tôn giáo. Họ công nhận một vị thần linh tối cao, và mọi thứ trên trái đất này đều chịu sự cai quản, trị vì và dung dưỡng của vị thần đó. Họ tin rằng thế giới này là vĩnh hằng, không có sự bắt đầu cũng như không có tạo hóa. Họ chối bỏ việc thờ cúng tượng nhưng lại sùng bái và tôn thờ quỷ thần. Họ mong chờ sự ban thưởng cho những điều thiện và sự trừng phạt cho những điều ác. Họ tin vào sự bất tử của linh hồn và cầu cúng cho người quá cố. Họ tin rằng linh hồn của những người thiện sẽ tồn tại sau khi đã lìa khỏi thân xác, còn linh hồn kẻ ác thì bị tan rữa ngay sau khi chết. Họ dạy rằng trong không gian đầy rẫy những hồn ma tàn ác trú ngụ, rằng các hồn ma đó liên tục tranh chấp và xích mích với những người còn sống. Họ dạy học trò nên thờ phụng cha mẹ và bằng hữu quá cố, cử hành các nghi lễ chu đáo - như tôi đã nói đến ở phần trước - và nhiều điều dạy hướng thiện khác. Tôi cho rằng, xét trên nhiều phương diện, những giáo lý của họ chẳng thua kém gì những giá trị đạo đức mà chúng ta có từ thời Hy Lạp và La Mã. Chớ vội nhìn vào việc họ cúng cơm cho người chết mà kết luận rằng kể cả những người thông thái và có học thức ở xứ Đàng Ngoài cũng thuộc loại đầu óc thiển cận và mê tín. Họ thông thái hơn chúng ta nhiều. Họ giải thích cho tôi rằng mục đích của việc làm đó chẳng phải là gì khác ngoài sự thể hiện tình yêu thương của họ dành cho các đấng sinh thành cho dù cha mẹ không còn nữa, rằng thông qua việc làm đó để giáo dục con em họ về việc tiến hành nghi lễ đó một khi chính bản thân họ cũng phải rời bỏ cõi đời này.

Một ngôi chùa ở Đàng Ngoài
Nguồn ảnh: A Description of the Kingdom of Tonqueen, Samuel Baron, 1685
Tuy nhiên, đám tiện dân và những người chỉ nhìn và đánh giá sự việc bằng mắt thường một cách thiếu suy xét thì cho rằng những việc đó - cũng như nhiều lễ nghi khác - là thứ mê tín dị đoan. Nói tóm lại, thứ tôn giáo này không có chùa chiền hay địa điểm cụ thể để lễ bái Ngọc Hoàng Thượng đế, không có linh mục hay thầy giảng để rao giảng những giáo lý như đã nói trên và cũng không có ai giám sát việc cử hành hay tuân thủ nguyên tắc, mà để cho mỗi cá nhân tự điều chỉnh thái độ và hành vi của mình. Dù vậy vẫn không có tai tiếng gì, ngược lại tôn giáo này vẫn thu hút được người của nhiều tầng lớp đi theo, như các Vua, Chúa, hoàng gia, đại thần, quan lại và những người có học trong vương quốc.
Trước đây, chỉ có nhà Vua mới được phép cử hành lễ Tế Trời [tế Giao]. Tuy nhiên, từ khi Chúa tiếm hết quyền hành từ tay nhà Vua, ông ta cũng giành luôn cái đặc quyền này của hoàng gia, tự tổ chức tế lễ ngay trong phủ Chúa nếu như vương quốc gặp phải cảnh khó khăn như thiếu mưa, mất mùa và đói kém, bệnh dịch... Những kẻ khác tự ý làm việc này đều bị vướng vào tội chết.
Thứ tôn giáo thứ hai mà nhiều người Đàng Ngoài tin theo được gọi là Boot (Bụt = Phật), thờ tự nhiều ngẫu tượng hay ảnh tượng. Tín đồ của tôn giáo này chủ yếu là người nghèo, ít học, đám tiện dân và đặc biệt là phụ nữ và hoạn quan - những tín đồ thành tâm nhất. Giáo lý của họ là sự thờ phụng tượng một cách thành kính và tin vào kiếp luân hồi. Họ cầu khấn quỷ thần để quỷ thần không làm hại họ. Họ tin vào một vị thần cụ thể, vốn là hợp thân của ba vị thần. Họ sống một cuộc sống khổ hạnh trong nhà tăng ở chùa, với niềm tin rằng những việc họ làm thật sự có giá trị còn những kẻ xấu xa thì chịu đựng sự tra tấn, khổ hình... và hàng loạt những tình tiết mê tín khác khỏi cần phải nhắc lại. Tuy nhiên, cũng như thứ đạo Khổng Tử, đạo Bụt của người Đàng Ngoài không có cha cố để tiến hành nghi lễ, mà chỉ có Sayes[5] hay là nhà sư (ông Taverniere gọi nhầm thành cha cố). Họ cũng có các bà vãi đôi khi sống gần hoặc ở trong chùa - những người thường được mời đến tham dự các đám tang với các loại nhạc cụ như trống, kèn... Nhà chùa sống nhờ vào của bố thí và lòng từ thiện của dân chúng. Nói tóm lại tôn giáo này đã tỏa rộng tính hình thức và sự hoang đường đến sống sượng của nó ra rất xa, cùng với những biệt phái và những nhóm mạo danh của nó cũng được lan truyền đến nhiều vương quốc ở vùng phương Đông như Đàng Ngoài, Trung Quốc, Nhật Bản, Triều Tiên, Đài Loan, Cao Miên, Xiêm, vùng vịnh Bengal và vùng bờ biển Coromandel, hai xứ Ceylon (Sri Lanka) và Indostan (cổ Ấn Độ)[6]... Chính từ một trong hai xứ Ceylon và Indostan mà thứ tôn giáo này đã được truyền vào Trung Quốc, đầu đuôi sự việc là thế này:
Thời xưa, một vị hoàng đế Trung Quốc nghe tin ở phương Tây có một bộ giáo luật rất có hiệu nghiệm trong việc dạy dỗ và hướng dẫn con người đến sự minh triết và đức hạnh, những người thuyết giảng thứ luật đó cũng là những tấm gương trong xã hội bởi những đức tính và hành động cao cả của họ. Vị hoàng đế Trung Quốc vì thế đã phái một số nhà hiền triết đi tìm bằng được bộ luật thông thái đó để mang về nước Trung Hoa. Những vị sứ giả và hiền triết Trung Hoa lên đường đi tìm, hay đúng hơn là lang thang ngược xuôi các chốn, trong vòng khoảng 3 năm thì đến được xứ Indostan hoặc là xứ Malabar[7]. Ở đây nhóm sứ giả Trung Quốc nhận thấy loại tôn giáo này rất phổ biến, được nhiều người tin theo. Phần vì bị ma quỷ xúi giục, phần vì khiếp sợ phải đi xa thêm nữa để tìm kiếm, đoàn người này cho rằng họ đã tìm được thứ mà họ cần. Thế rồi, chẳng cần suy xét gì thêm nữa, họ thu thập 72 cuốn sách về những chuyện hoang đường và một số người có khả năng diễn giải, để mang về nước Trung Quốc. Vị hoàng đế sung sướng đón nhận bộ sách và yêu cầu cho truyền bá thứ tôn giáo đó đến thần dân của ông ta. Và thứ dị giáo đó vẫn liên tục tồn tại kể từ cái ngày tăm tối đó đến hôm nay.
Tôi phải nói một điều có thể nói là vinh dự với những tín đồ Cơ Đốc giáo là cái đạo luật vẻ vang mà vị hoàng đế Trung Quốc ngày xưa nghe được chính xác là bản phổ biến đầu tiên của bộ Kinh Phúc âm tại khu vực xứ Judéa (thuộc Cổ Do Thái) và chung quanh, mà các vị thánh tông đồ dùng để rao giảng cho cả người Do Thái và người ngoài Do Thái. Vào thời điểm đó Kinh Phúc âm được người ta đón nhận như một phép nhiệm màu cho nên việc nó lọt đến tai vị hoàng đế Trung Quốc ở xứ xa xôi cũng là chuyện dễ hiểu. Những tính toán về thời gian mới đây nhất còn góp phần khẳng định chắc chắn rằng thời điểm mà vị hoàng đế Trung Quốc nọ nghe tin về bộ luật ưu việt của phương Tây cũng chính là thời điểm các thánh tông đồ bắt đầu rao giảng về Đấng cứu thế. Giá như những vị hiền triết Trung Hoa được cử đi tìm bộ luật làm đúng phận sự họ được giao phó, thì hẳn giờ đây không chỉ đất nước Trung Hoa rộng lớn mà cả các vương quốc lân bang - đến bây giờ vẫn đang đắm chìm trong tà ma của dị giáo - đã được cứu rỗi bởi ánh sáng Phúc âm[8].
Như tôi đã nói ở phần trước, ở Đàng Ngoài còn có một số giáo phái khác nữa, ví dụ như phái Lanzo[9] nhưng có rất ít người theo cho dù những thầy pháp hay bà đồng gọi hồn - gồm các Thay-Boo, Thay-Boo-Twe, Thay-de-Lie[10] - là những người mới nhập đạo và tín đồ của giáo phái này, rất được các ông hoàng bà chúa và được đám dân nghèo ngưỡng vọng, cả hai lực lượng này đều tham khảo ý kiến họ trong những tình huống quan trọng. Đám người mù quáng này nghe theo những lời sằng bậy của bọn “thầy” này cứ như nghe những lời sấm truyền, và coi bọn “thầy” lừa đảo này là sứ giả truyền tin của thánh thần - những kẻ tiên đoán trước được những sự kiện sẽ diễn ra trong tương lai. Vì vậy nên khó có khả năng là bọn chúng được cử ra vùng biên ải cho các binh lính như ông Taverniere phán xét.
Tôi biết chắc chắn là đôi khi Chúa cho lùng sục những kẻ ma cà bông thường lang bạt khắp các ngõ ngách của vương quốc rồi xưng là người có phép thuật hoặc nhà tiên tri để lừa dối và xúi bẩy người dân nghèo đi theo những tôn giáo hay tín ngưỡng mà triều đình cấm hoạt động. Nhưng vì người Đàng Ngoài quả là những kẻ nhẹ dạ cả tin và luôn sẵn sàng đón nhận những quan điểm mới họ gặp được, bởi vậy nên họ cũng không kém phần ương ngạnh trong việc duy trì những niềm tin mà họ đã tiếp nhận được và tin theo. Họ cẩn thận tra cứu xem thời gian của ngày giờ này hay mùa vụ nọ tốt hay xấu và nếu xấu thì nhất quyết không dựng nhà, xuất hành, cày cuốc, hoặc mua bán những thứ đáng giá. Thậm chí trong ngày xấu họ cũng quyết tâm không chữa bệnh, không chôn cất; họ không làm gì mà không tham khảo ý kiến của thầy bói và thầy phù thủy mù. Bọn này được chia thành ba loại: Thay-Boo, Thay-Boo-Twe, Thay-de-Lie. Những kẻ nhẹ dạ cả tin chẳng biết được rằng họ đang bị lừa gạt một cách trắng trợn bởi ba loại “thầy” trên - những kẻ sống dựa vào việc bán lời phán sằng bậy với giá cắt cổ, đắt như những mặt hàng hiếm quý được ưa chuộng nhất. Và bởi những nhà ảo thuật gia tự xưng này được đám dân nghèo ngu dốt - những kẻ tự lừa dối mình mà không hay biết - tin theo và ngưỡng vọng, tôi sẽ nói kỹ từng loại một để mọi người tham khảo.
Thầy bói ngang nhiên tuyên bố là có thể nhìn thấy những sự kiện sẽ xảy ra cho con người trong tương lai, ví như chuyện cưới xin, dựng nhà... và nói chung bọn họ cho rằng mình có thể nhìn trước được mọi chuyện. Những người tìm đến nhờ thầy bói sẽ bị bòn rút hết tiền mà rồi cũng chỉ nhận được những câu trả lời để làm hài lòng người đi xem bói, nhưng nội dung của những lời phán thì thường mập mờ nước đôi và tối nghĩa, chẳng biết nên hiểu thế nào cho phải. Những ông thầy bói thường bị mù, hoặc là do bẩm sinh, hoặc là mù do bị tai nạn. Trước khi đưa ra lời phán, thầy bói tung ba đồng tiền lên cho rơi xuống nền nhà để xem sấp ngửa thế nào, sau đó đọc lẩm bẩm gì đó trong miệng nghe rất lạ, rồi sau đó sẽ đưa ra lời phán.
Thầy phù thủy giải quyết những việc liên quan đến bệnh tật. Loại “thầy” này có sách để tra cứu và tuyên bố có thể tìm ra nguyên nhân cũng như hậu quả của các loại bệnh tật. Bọn chúng không bao giờ quên cài vào phần phán bệnh với bệnh nhân rằng bệnh tật hiện tại là do ma quỷ hoặc là thủy thần gây nên. Cách chữa là phải khua chiêng, gõ trống, rống kèn... thật ầm ĩ. Những tên thầy phù thủy thường mặc quần áo rất cổ quái, hát rống ầm ĩ, làm đủ các tiếng ồn chói tai, phát ngôn những lời lẽ kinh tởm, liên tục rung chiếc chuông cầm trên tay, nhảy chồm chồm lên như thể ma quỷ thật ở trong người bọn họ. Trong lúc làm lễ, người nhà bệnh nhân phải sắp đặt lễ gồm nhiều thức ăn cho ma quỷ, nhưng chính là ông thầy đã ăn. Thầy phù thủy cứ thế tiến hành công việc trong vài ngày cho đến khi bệnh nhân chết hoặc khỏi bệnh, sau đó ông “thầy” sẽ đưa ra một số lời phán chắc như đinh đóng cột.
Việc trừ tà cho những người bị ma ám là công việc cuối cùng của trò ma quỷ. Hắn chửi bới, gọi tên tục của con ma ra một cách báng bổ, dù tôi chẳng biết đó là con ma nào, rồi lại cho vẽ những hình mặt ma trông rất gớm ghiếc lên những tờ giấy vàng và treo lên tường nhà. Sau đó hắn cứ như đang cãi lộn tùng bậy, la hét ầm ĩ, nhảy múa loạn xị trông thật rồ dại, đôi khi nhìn và nghe cũng thấy khiếp sợ. Hắn cũng cúng và ban phúc cho ngôi nhà mới, hoặc nếu nghi ngờ ngôi nhà bị ma ám thì họ dùng pháp thuật và bắn súng để xua đuổi tà ma ra khỏi nhà.
Thầy địa lý có nhiệm vụ tư vấn chọn chỗ đất tốt để chôn cất người chết nhằm làm cho con cháu và họ hàng còn sống được hạnh phúc và may mắn.
Tôi sẽ không mô tả gì về Ba-cote[11] - những kẻ mạt hạng cũng tự xưng là phù thủy.
Còn với đền và chùa, bởi người Đàng Ngoài chẳng đến mức sùng tín quá nên họ chẳng có nhiều và cũng chẳng có cái nào thực lộng lẫy như những gì tôi đã chứng kiến ở các vương quốc láng giềng.
❀ ❀ ❀
[1] Congfutu: Khổng Phu Tử.
[2] Ong-congtu: Ông Khổng Tử.
[3] Solomon: vua và nhà tiên tri vĩ đại của người Do Thái, khoảng thế kỷ X TCN.
[4] Lấy từ câu đầu của sách Đại học.
[5] Theo chú giải của Baron thì sayes tương đương với monk (nhà sư), vì vậy sayes có lẽ là phiên âm của từ Thầy hoặc Sãi.
[6] Vùng vịnh Bengal và vùng bờ biển Coromandel đều nằm ở sườn đông lục địa tiểu Ấn. Ceylon: Sri Lanka ngày nay. Xứ Indosian thường được hiểu dưới phương diện lịch sử và văn hóa là khu vực Nam Á, bao gồm các nước chịu ảnh hưởng của văn minh Ấn Độ cổ xưa như: Ấn Độ, Pakistan, Banglades, Maldives và hai tiểu quốc thuộc vùng Himalaya là Bhutan và Nepal.
[7] Malabar: vùng bờ biển sườn đông, giáp mũi cực nam, của lục địa tiểu Ấn.
[8] Những điều mà S. Baron kể ra đây rất lộn xộn, không đúng với sự kiện và niên đại lịch sử. “Phương Tây” ở đây phải hiểu là đất Tây Trúc, tức Ấn Độ.
[9] Lanzo: Lão gia (?), Lão Tử (?).
[10] Căn cứ vào sự diễn giải của Baron về ba loại người này ở trang tiếp theo sau, thì Thay-Boo là Thầy bói; Thay-Boo-Twe là Thầy phù thủy; Thay-de-Lie là Thầy địa lý.
[11] Ba-cote: có lẽ là Bà cốt.