Tơ lụa, gồm cả tơ sống và lụa tấm là những thứ hàng hóa quan trọng nhất và cũng là loại thương phẩm chính của Đàng Ngoài. Với tơ sống, lần lượt người Bồ Đào Nha, Tây Ban Nha, người Hà Lan và hiện nay là người Tàu đem sang bán ở Nhật Bản. Sản phẩm lụa tấm chủ yếu được người Hà Lan và người Anh tiêu thụ.
Xứ Đàng Ngoài không có gỗ lô hội. Các thương nhân nước ngoài nhập khẩu sản phẩm này vào vương quốc.
Xạ hương ở Đàng Ngoài được nhập khẩu vào từ Trung Quốc và xứ Bowes, số lượng nhập hằng năm có khi lên đến 5 hoặc 6 picul[1], có khi ít hơn. Xứ Đàng Ngoài cũng không sản xuất vàng mà nhập từ Trung Quốc. Bạc được người Hà Lan, người Anh và người Tàu mang từ Nhật Bản vào. Người Đàng Ngoài khai mỏ sắt và chì nhưng sản lượng thường chỉ đủ dùng cho một số lĩnh vực.
Sản phẩm nội thương có gạo, cá mắm và một số loại thực phẩm khác, một số lượng tơ lụa để tiêu dùng nội địa. Người Đàng Ngoài cũng tổ chức buôn bán với xứ Bowes và xứ Ai nhưng lời lãi chẳng là bao do chi phí quá cao lại kèm thêm quà biếu cho đám hoạn quan - những kẻ quản lý các tuyến buôn bán. Hoạt động của đám Hoa thương cũng chẳng khá khẩm hơn; họ cũng bị o ép, lạm thu và đôi khi bị đám quan tham tịch thu toàn bộ hàng hóa. Bởi chính sách của triều đình là không để cho dân chúng giàu có, bởi e ngại sự giàu có sẽ làm bọn họ sinh kiêu căng và có nhiều tham vọng, nên bản thân nhà Vua không chỉ ngầm ủng hộ những thói ăn chặn của đám quan lại mà còn cho thu phí nặng và đánh thuế cao. Nếu kẻ nào đó giàu quá mức thông thường và để nhà Vua biết được thì chẳng chóng thì chày sẽ bị lột sạch sành sanh, vấn nạn này khiến những người chăm chỉ cũng phải nhụt chí, đành cầm lòng chôn tiền giữ của mà chẳng dám vung tiền ra để kinh doanh sinh lợi.
Đối với thương nhân ngoại quốc, những kẻ mới đến không chỉ chịu đựng mọi thiệt thòi trong mua bán mà còn khổ sở vì trăm nghìn điều bất tiện khác. Chẳng có bất kỳ quy chế nào về xuất khẩu và nhập khẩu. Bọn quan lại tham lam xới tung hàng hóa trên tàu, dùng danh nghĩa nhà Vua để lấy bất kỳ hàng hóa gì có thể đem bán ra thị trường để kiếm lợi. Với những vấn nạn này chẳng có biện pháp nào khác ngoài việc nhẫn nhục chịu đựng.
Tuy nhiên, những người đã thông thạo ở Đàng Ngoài gánh chịu ít thiệt thòi hơn những kẻ mới đến, tránh được móng vuốt của bọn tham quan dù cũng phải chịu phần nào thiệt hại và khó chịu. Có thể nói rằng, ở thời điểm hiện tại việc buôn bán với Đàng Ngoài thuộc loại ngán ngẩm nhất trong toàn xứ Đông Ấn. Tôi băn khoăn không hiểu tại sao ông Taverniere có thể nói rằng việc buôn bán ở xứ Đàng Ngoài thật dễ chịu bởi tôi chắc rằng nếu đã thỏa thuận trong mặc cả mà sau đó bị lỗ trong buôn bán thì phần thua thiệt luôn rơi vào phía bạn. Chẳng có gì chắc chắn được bán trong suốt ba hoặc bốn tháng, rồi đến khi bạn có nguy cơ bị mất trắng số hàng đã bán, hay ít nhất cũng là đối mặt với trăm nghìn khó khăn để thu nợ, thì cuối cùng vẫn phải chịu đựng hoặc là nhận tiền kém chất lượng, hoặc là nhận những loại hàng hóa bán ra không có lời lãi gì. Sự tệ hại và rối ren trong buôn bán đề cập trên đây chủ yếu là do sự bần hàn chứ chẳng phải từ lý do gì khác. Chẳng có lấy một thương nhân Đàng Ngoài nào có đủ tiềm lực cũng như sự can đảm để mua đứt và thanh toán dứt điểm món hàng trị giá 2.000 đô-la. Nhưng xét cho cùng thì người Đàng Ngoài không đến mức lừa lọc và gian trá như người Tàu. Có thể họ không tinh ranh như người Tàu và cũng kém người Tàu trong hoạt động kinh doanh.
Một khác biệt nữa giữa hai dân tộc này là người Đàng Ngoài sẽ liên tục xin xỏ và bòn rút bạn nếu như bạn có việc với họ, trong khi người Trung Quốc vô cùng độc ác và khát máu, sẵn sàng giết người một cách không ghê tay hoặc ném người ta xuống biển chỉ vì một xích mích nhỏ.
Một cản trở khác với hoạt động mậu dịch là triều đình cho phép một lượng lớn bạc do thương nhân nước ngoài đem vào vương quốc (thường khoảng một triệu đô-la mỗi năm) được xuất sang Bowes và Trung Quốc nhằm đổi lấy tiền đồng - vốn lên hay xuống tùy theo việc Chúa chi phối theo lợi ích của ông ta. Ngoài ra, bề mặt các đồng tiền này sẽ bị bào mòn trong một vài năm nên mất giá trị lưu hành, gây thiệt hại lớn cho thương nhân và tạo định kiến trong công luận. Và thế là bạc chảy ra ngoài mà không để thu đổi lương thực - đây quả là một chính sách tệ hại.
Nghịch lý nằm ở chỗ, dù Chúa không quan tâm phát triển thương mại, ông ta vẫn thu lợi hằng năm một khoản lớn thông qua các hình thức thuế quan, thuế thân, lệ phí... Nhưng cho dù thu được khoản lớn như thế, chẳng mấy đồng nằm lại được trong ngân khố quốc gia bởi Chúa luôn duy trì một đội quân thường trực đông đảo, bên cạnh một số chi phí không cần thiết khác. Có thể nói, thật đáng tiếc cho vương quốc Đàng Ngoài bởi theo lệ thường - với những cơ hội và điều kiện thuận lợi như thế - vương quốc phải trở nên giàu có và nền thương mại hưng thịnh không đến mức bị đình đốn. Nếu chúng ta xét đến thực tế là Đàng Ngoài có đường biên giới chung với hai tỉnh giàu có của Trung Quốc thì rõ ràng là chẳng mấy khó khăn để hàng hóa của đế chế Trung Hoa rộng lớn chảy sang Đàng Ngoài, ngược lại, một số lượng lớn các sản phẩm của xứ Đông Ấn và châu Âu (nhất là hàng vải len) có thể được đem lên tiêu thụ trên đó. Giá như triều đình cho phép thương nhân nước ngoài buôn bán ở đó, vương quốc sẽ thu lợi lớn. Thế nhưng Chúa (e ngại người châu Âu sẽ khám phá vùng biên viễn của vương quốc mình - dù rằng chẳng hề nguy hại gì) đã, và sẽ còn tiếp tục, ngăn cản hoạt động buôn bán quan trọng này.
Như đã đề cập trước đó, người Đàng Ngoài chỉ có duy nhất loại tiền đồng nhập khẩu từ Trung Quốc. Họ đúc vàng và bạc thành từng nén, trị giá khoảng 14 đô-la, đến nay vẫn đang được lưu hành.
❀ ❀ ❀
[1] Picul: đơn vị đo lường, tương đương 60kg (bằng 1 tạ).