Người Đàng Ngoài rất khiếp sợ về cái chết và sự coi trọng của họ về điều này cũng thật chẳng kém phần mê tín. Họ tin rằng chỉ có hồn ma của trẻ nhỏ là đầu thai trở lại vào bào thai ở trong bụng người mẹ, còn tất cả các linh hồn khác đều trở thành ma quỷ, hoặc chí ít các linh hồn đó đều có thể gây ra cả điều tốt và điều xấu cho con người. Linh hồn lang thang như những kẻ du thủ du thực sẽ chết vì thiếu thốn và bần hàn nếu như không được họ hàng thân thích chu cấp hoặc nếu như chúng không trộm cắp và gây ra bạo lực để kiếm thứ gì đó để tồn tại. Theo người Đàng Ngoài thì những cái chết đó là sự khổ nhục lớn nhất xảy ra với con người. Người Đàng Ngoài vô cùng cẩn trọng ghi nhớ thời khắc một người qua đời (họ đặt tên thời gian theo tên con vật như Khỉ, Mèo, Chó, Chuột... [Thân, Mão, Tuất, Tý]). Nếu người đó qua đời gần trùng với thời điểm cha, mẹ, hoặc người thân nào đó sinh ra thì đó bị coi là một điềm gở cho gia tộc và dòng họ và họ sẽ không cho phép chôn cất cho đến khi các pháp sư thầy bói đã tìm ra cho họ được một giờ thiêng trong một ngày lành tháng tốt nào đó, cho dù họ có phải chờ đến hai năm hoặc ba năm đi chăng nữa. Trong khi chờ đợi họ đem quàn xác vào quan tài và đặt trên bốn chiếc cọc ở một chỗ cố định.

Đám tang một người Đàng Ngoài (quyền quý)
Nguồn ảnh: A Description of the Kingdom of Tonqueen, Samuel Baron, 1685
Những nghi lễ hết sức tỉ mẩn này thường chỉ những người giàu có thực hiện được. Những người khác chết không cần phải xem xét thật kỹ lưỡng như trên, có thể được chôn cất sau khoảng 10 hoặc 15 ngày. Việc giữ thi thể càng lâu thì càng tốn kém, không chỉ với vợ và con người quá cố (những người phải dâng cơm cúng ba lần mỗi ngày, giữ cho đèn nến cháy suốt ngày đêm, đốt hương trầm, phúng các đồ mã như vàng và bạc nén, các loạt hình nộm ngựa, voi, hổ. Tất cả con cái và họ hàng cũng có nghĩa vụ đóng góp để tổ chức bữa cỗ chung mời làng xóm (vào thời điểm hiện tại khá lỏng lẻo). Ngoài ra, thật cực nhọc và vô cùng phiền toái cho con cái và họ hàng cứ phải đến bên linh cữu để khóc than, phủ phục xuống đất lạy bốn lần rồi khóc than kể lể vào giờ cúng cơm... và vô số những lễ nghi rườm rà và tẻ nhạt khác nữa.
Những người khá giả rất kỹ lưỡng trong việc chuẩn bị áo quan cho bản thân mình. Đến lúc tuổi đã cao họ cẩn thận chọn loại gỗ tốt và dày, nhờ tốp thợ giỏi tay nghề đóng và sẵn sàng chi phí cao để có được một cỗ áo quan ưng ý.
Người Đàng Ngoài cũng chú trọng đến việc phân biệt giới tính người chết. Nếu người quá cố là nam thì thi thể được quàn với bảy bộ quần áo đẹp, còn nữ thì được mặc chín bộ. Gia đình giàu sang bỏ vào miệng người quá cố mẩu vàng và bạc, vài hạt ngọc trai. Nghi thức này không chỉ thể hiện sự quyền quý ở thế giới bên kia mà còn để tránh tình trạng người quá cố trở nên túng thiếu và bần hàn khi xuống dưới suối vàng. Những gia đình nghèo thì cạo một ít móng tay và móng chân cho vào mồm người đã khuất để linh hồn họ không thể quấy quả những người họ hàng còn sống. Tương tự, một số người sẽ đặt lên áo quan một bát cơm, thay đổi hằng ngày vào bữa cúng cơm và sẽ chôn theo khi hạ huyệt.
Người Đàng Ngoài không dùng đinh để đóng nắp quan tài mà dùng một loại sơn để kết dính và hiệu quả thật đáng ngưỡng mộ. Họ quan niệm dùng đinh đóng sẽ làm đau người quá cố.
Tang phục của con trai trong ngày đưa tang gồm áo sô may bằng loại lụa thô, mũ mấn cũng được làm từ loại chất liệu tương tự, quấn quanh đầu với những sợi thừng nhỏ. Họ phải mang gậy trong tay để chống vì sợ trong lúc đau buồn quá có thể bị ngất đi.
Vợ và con gái người quá cố có một tấm khăn rộng che hết đầu để không ai nhìn thấy được mặt họ. Thế nhưng rất dễ để nhận ra họ qua tiếng khóc than ai oán[1] rất lớn của họ. Khi đám tang đi qua các con phố, trưởng nam thỉnh thoảng lại lăn đùng xuống đường để linh cữu của cha đi qua (người ta nói rằng đây là hành động biểu hiện sự hiếu thuận đối với phụ thân). Sau khi đứng dậy người con trai cả lại dùng cả hai tay để đẩy quan tài ngược trở lại, tỏ ra không muốn để thi hài cha mình đi xa hơn. Cứ thế họ đi ra ngoài khu mộ.
Rất nhiều hình nộm người và thú vật được vẽ màu hoặc sơn son thếp vàng, những loại giấy tiền... theo sau đoàn tang lễ, cùng với thầy cúng, tiếng trống mõ, tiếng cồng... trông cứ như một đám rước Giáo hoàng. Sau khi chôn cất xong, tất cả những giấy tiền và hình nộm trên đều được hóa đi.
Đám tang to hay nhỏ là tùy vào địa vị và gia cảnh của người quá cố. Những người khá giả và có địa vị không chỉ được nhiều người khiêng mà thi hài của họ còn được đặt trong quan tài hai lớp (chiếc nọ đặt lồng vào trong chiếc kia ) [nội quan ngoại quách], được trang trí tỉ mỉ và hào nhoáng, được quân sĩ đứng làm tiêu binh và tiễn đưa, được các vị quan to đến viếng...
Theo phong tục để tang cha mẹ, các con cắt tóc ngang vai, mặc áo quần màu tro, đội một loại mũ rơm suốt trong vòng ba năm (để tang cho cha và mẹ như nhau). Con cả phải để tang thêm ba tháng, còn họ hàng thì có thể để tang ít hơn.
Cách tính thời gian tuổi tác của họ thật kỳ lạ. Nếu một ai đó qua đời hay một đứa trẻ được sinh ra vào ngày cuối cùng của năm cũ, thì sang ngày đầu năm mới họ đã ngay lập tức tính là người quá cố đã ra đi được hai năm, hoặc đứa trẻ đã được hai tuổi, mặc dù trong thực tế thì chưa quá một ngày.
Trong thời kỳ để tang họ ít khi sống trong nhà như bình thường mà nằm trên chiếu rơm ở trên nền đất. Không chỉ ăn uống tằn tiện cho qua ngày đoạn tháng mà ngay cả đồ dùng hằng ngày như khay đĩa, chén, bát... cũng chỉ dùng loại thô và xấu. Họ không rượu chè và không tham dự các buổi cỗ bàn. Họ không nghe nhạc, không xem hát và không dựng vợ gả chồng. Nếu họ hàng tố cáo lên quan thì quyền thừa kế sẽ bị tước đi. Họ không ăn mặc diêm dúa khi đi ra chỗ đông người, hạn chế tham dự những trò hội hè và những thú vui. Nhưng gần hết ba năm thì những quy định ngặt nghèo trên cũng được nới lỏng dần đi.
Người quá cố mà không được đưa về quê hương bản quán để an táng, dù chỉ còn là một nắm xương tàn, cũng bị coi là điều bất hạnh. Nhưng làm thế nào để chọn được một huyệt mộ để chôn cất lại là một bí ẩn lớn và họ không cho phép sai lầm trong việc này vì họ quan niệm rằng việc đó quyết định đến hậu vận: sung sướng hay khổ hạnh, thịnh vượng hay lụi tàn... của những người còn sống. Vì thế trong nhiều năm liền họ phải nhờ sự chỉ bảo của Tay-de-lie[2] trước khi quyết định chọn chỗ để đặt mộ.
Trong những thời điểm này, người ta dâng cơm người chết bốn lần trong năm, vào các tháng năm, Sáu, Bảy, Chín, mỗi dịp cử hành trong hai, ba hoặc bốn ngày trời. Dịp tổ chức linh đình nhất, cũng là hoang phí nhất, là vào dịp giỗ đoạn tang sau ba năm. Họ không chỉ nướng hết tài sản và của cải vào dịp này, mà thậm chí còn mắc nợ nặng nề, thế nhưng lại được họ hàng làng xóm khen ngợi và nể trọng. Sau lễ đoạn tang, người ta chỉ làm giỗ người quá cố mỗi năm một lần vào đúng ngày tạ thế, ngày giỗ được nhớ một cách chính xác và được truyền từ đời này sang đời khác. Tôi đôi khi nói đùa với họ rằng tôi thật chẳng muốn làm người Đàng Ngoài chút nào bởi khi sống thì ăn ngày ba bữa, thác xuống mồ cả năm mới được cúng giỗ một lần. Như thế ở dưới suối vàng chắc lại chết lần nữa vì đói![3]...
❀ ❀ ❀
[1] Viva voce: thuật ngữ Latin có nghĩa như “những lời (lẩm nhẩm) trong miệng”. Trong văn cảnh mà Baron mô tả, có thể coi như là dạng khóc rền rĩ.
[2] Tay-de-lie: thầy địa lý.
[3] Trong trang cuối của chương này, Samuel Baron trích dẫn lại một số đoạn trong cuốn sách của cha Calmet viết về tục cúng cơm cho người chết ở nhà và ngoài mộ của nhiều dân tộc khác nhau trên thế giới vào thời cổ và trung đại, đặc biệt là các dân tộc không theo Thiên Chúa giáo ở phương Đông. Chúng tôi lược đi đoạn này vì bản thân nó cũng không liên quan trực tiếp đến Đàng Ngoài.