Màu Của Nước

Lượt đọc: 121 | 0 Đánh giá: 0/10 Sao
★★★★★★★★★★
★★★★★★★★★★
« Lùi Tiến »
7
Sam

❊ ❊ ❊

Cửa hàng của nhà mẹ nằm ở một ngã ba ở rìa thành phố trên một ngọn đồi dài và dốc. Nếu con đứng ở trước cửa hàng nhìn về phía bên phải con sẽ nhìn thấy thành phố - đường tàu hỏa, những cửa hàng bách hóa như cửa hàng Leggets và Woolworth. Nếu con nhìn thẳng về phía trước, thì con sẽ nhìn thấy trụ sở của tòa án, nhà tù, tòa thị chính, và con đường dẫn đến Norfolk. Ở bên trái là lò mổ Jaffe và cầu cảng nơi sông Nansemond gặp cầu Main Street. Cầu cảng rộng và cũ kỹ. Tàu thuyền từ khắp thế giới dừng ở đó để chờ hoàn thiện hoặc sửa chữa, và các thủy thủ thường tới cửa hàng nhà mẹ, mời mẹ và Dee-Dee ra thăm tàu của họ. “Không, không, cảm ơn cậu,” bà ngoại của con luôn trả lời họ như vậy. Bà không thể hiểu dù chỉ một từ họ nói, nhưng hễ họ vừa mở miệng nói, “Đến với chúng tôi nhé,” là y như rằng bà rời khỏi ghế, tập tễnh lê chân ra cửa, đứng trước mặt các chàng thủy thủ và lắc đầu. “Không, không, các cậu đi đi. Hãy bảo họ đi khỏi đây đi,” mẹ nói bằng tiếng Do Thái. Khi họ xuất hiện mẹ không rời mắt khỏi họ.

Gia đình mẹ sống ở ngay ngã ba nơi con đường từ Norfolk và từ Portsmouth chạy tới Suffolk. Cái ngã ba đó luôn tấp nập. Mẹ không có ý nói rằng giao thông hồi đó tấp nập như con thấy bây giờ. Vào thời đó người ta chỉ thấy có hai hoặc ba chiếc xe hơi chạy trên đường thôi. Hoặc người ta đi bộ. Các nông dân dắt những con la chở lạc trên xe kéo. Những người lính trên xe tải di chuyển vào các căn cứ quân sự ở Norfolk. Hoặc những tù nhân bị xích đi thành đoàn dài. Hồi ấy người ta di chuyển bằng bất cứ cách nào có thể.

Một buổi trưa mẹ đang ngồi sau quầy hàng thì một chiếc xe hơi chở những người đàn ông quàng những tấm khăn màu trắng chạy qua. Họ đội mũ trắng che kín mặt chỉ để hở ra hai con mắt để nhìn. Họ lái những chiếc xe rẻ tiền màu đen cũ kỹ, loại xe Model A, với hai người ngồi ở đằng trước và hai người ngồi ở đằng sau. Một đoàn xe, hết chiếc này đến chiếc khác nối đuôi nhau chạy qua chẳng khác gì một cuộc diễu hành. Bọn mẹ từ sau quầy bước ra, đứng ở bên ngoài cửa hàng nhìn họ. “Chuyện quái quỷ gì thế nhỉ?” Dee-Dee hỏi. “Chị không biết,” mẹ trả lời.

Đó là đoàn xe của đảng Ku Klux Klan.

Lúc đó mẹ không biết là người của đảng Ku Klux Klan từ Cracker Jacks tới, nhưng ngay khi nhìn thấy họ, những khách hàng người da đen lui tới cửa hàng của nhà mẹ với vẻ lén lút. Khi những người thuộc đảng Klan xuất hiện dân đa đen ở đó lập tức giấu mình và trở nên lặng lẽ. Đoàn xe Klan chạy lên Phố chính giữa ban ngày ban mặt mà không một ai làm gì cả. Với mẹ dường như thần chết luôn quanh quẩn ở Suffolk. Mẹ luôn nghe thấy chuyện một người nào đó được phát hiện bị treo cổ hoặc chết trôi ngoài bến tàu. Mẹ và gia đình cũng lo lắng không yên bởi miền Nam luôn có nhiều rượu và đồ uống, và ở đó Chúa không được nhiều người biết đến. Tateh giấu một khẩu súng lục được nạp đạn sẵn ở dưới bàn quầy bên cạnh ngăn để tiền. Ông lau chùi khẩu súng đó nhiều hơn giặt cái quần ông mặc, và khẩu súng đó sẵn sàng xử lý bất cứ ai cố đùa giỡn với tiền bạc của ông. Ông không tin tưởng bất cứ ai. Ông nghĩ người da đen luôn cố trộm tài sản của ông. Ông sai bà ngoại ngồi canh cửa và nói với bà bằng tiếng Do Thái: “Hãy trông chừng bọn da đen.” Người da đen thó trộm mấy món hàng giá rẻ đáng giá một trăm xu của ông và ông luôn lo bị họ ăn trộm.

Mẹ thì luôn lo rằng khẩu súng của ông sẽ phát nổ và vô tình giết chết ông trong khi ông đang lau chùi nó. Mặc dù mẹ sợ ông, mẹ không muốn bất cứ điều gì xảy ra với ông. Nhà mẹ có một người hàng xóm, bà Brown, một phụ nữ da trắng có ngón giữa ở một bàn tay bị dị dạng vì nhiễm trùng - ngày đó, người ta bị nhiễm trùng và bị mất ngón tay, bị rụng răng là chuyện thường. Thực ra, ông bà ngoại của con đều có răng giả. Bà ngoại cắm răng giả trước, sau đó đến ông. Một hôm ông mở miệng lớn tiếng sai mẹ: “Xếp những bánh xà phòng đó lên,” và mẹ nhìn vào miệng ông, thấy nguyên một bộ răng trắng mới tinh. Mẹ nghĩ thầm: “Mình biết bố trông thật buồn cười.” Mẹ kể về bà Brown nhé, bà ấy là một trong số ít những người da trắng ở Suffolk đối xử tốt với mẹ. Bà có một cô con gái tên là Marilyn và một cậu con trai tên là Simon. Simon là kẻ nghiện rượu, thường thì cứ đêm khuya mới lảo đảo tìm đường về nhà. Anh ta bị giết bởi một kẻ say rượu, trèo qua cổng nhà anh ta và dùng dao đâm vào cổ anh ta. Marilyn làm việc ở trung tâm thành phố và ông chủ của cô ấy tự bắn chết mình khi đang lau chùi khẩu súng lục của ông ta và Marilyn phải bước qua xác của ông ta để thoát ra ngoài. Sự việc đó khiến cô ấy bị sốc nặng, và nó cũng khiến mẹ bị sốc bởi vì ông ngoại của con thường lau súng, và nếu nó phát nổ, giết chết ông thì mẹ chắc chắn sẽ không bước qua xác ông để thoát ra ngoài đâu. Mẹ sẽ nhảy qua cửa sổ và ông sẽ phải nằm đó cho tới khi ai đó phát hiện ra ông. Mẹ chưa bao giờ thích người chết và chưa bao giờ thích súng ống. Đó là lý do tại sao mẹ không bao giờ để các con chơi với những khẩu súng đồ chơi.

Nhưng ngày đó người ta sử dụng súng để săn bắn và để tồn tại. Đó là những năm ba mươi, thời kỳ của cuộc đại suy thoái, và người dân thì nghèo đói, họ sử dụng súng và cần câu cá để kiếm ăn mà tồn tại. Ngày đó nếu ai đó bị ốm, thì Chúa sẽ giúp người đó bởi vì chỉ có cách chết thôi. Bệnh lao, bệnh viêm phổi tràn lan, và bà ngoại của con luôn lo sợ các con của mình sẽ bị nhiễm bệnh, bởi vì ở châu Âu một người anh của bà đã bị chết vì dịch cúm. Nhưng sau khi gia đình mẹ có cái cửa hàng đó, đã kiếm ra tiền và có tiền để đi bác sĩ. Các khách hàng của mẹ, những người da đen đến cửa hàng nhà mẹ và mua bột BC để dùng thay thuốc, đó là bác sĩ của họ. Họ mua bột đó và dùng như dùng aspirin vậy. Đó là một thương hiệu. Bột BC. Thứ bột đó có giá hai mươi lăm xu một gói nhỏ màu trắng xanh. Người dân nói rằng thứ bột đó khiến họ cảm thấy dễ chịu và sảng khoái hơn. Tất nhiên hồi đó bột BC có côcain, nhưng người ta không biết điều đó. Họ dùng bột BC cho bất cứ chứng bệnh nào. Thực ra, nếu ai đó mua quá nhiều thứ bột đó cho vợ con, thì người bán hàng không khỏi băn khoăn, bởi vì nếu dùng nhiều bột BC người ta có thể bị ốm, và có thể tử vong. Vào thời đó người ta ốm và chết dễ như bỡn ấy. Đùng một cái chết ngỏm.

Mẹ ước gì những đứa trẻ da đen bây giờ có thể thấy người da đen hồi ấy ở Suffolk sống như thế nào. Lạy Chúa, con sẽ không tin nổi đâu. Những căn nhà ổ chuột không có nước sinh hoạt, sàn không được lát, không có phòng tắm, không có nhà xí. Không có những con đường được lát đá, trải nhựa, không có điện. Thỉnh thoảng mẹ và bà ngoại của con đi bộ trên những con đường đất đầy bụi ở phía sau cửa hàng và ở đó có nhiều con đường như thế dẫn vào rừng. Cuộc sống hồi đó là như vậy đấy. Là một ngõ cụt.

Ngày ấy người ta không phàn nàn về cuộc sống. Mà phàn nàn với ai kia chứ? Với cảnh sát ư? Cảnh sát hồi đó không đi tuần tra như bây giờ. Họ sợ đi tuần tra hoặc là họ không muốn đi. Nhưng điều luôn khiến mẹ ngạc nhiên về người da đen là Chủ nhật nào họ cũng ăn mặc gọn gàng, sạch sẽ đến mức mẹ không thể nhận ra họ để đi lễ nhà thờ. Mẹ thích điều đó. Vào sáng Chủ nhật họ dường như có một mục đích sống. Gia đình họ đi cùng nhau, và dù họ nghèo, họ vẫn có vẻ hạnh phúc. Ông ngoại của con ghét người da đen. Ông gọi những đứa trẻ da đen bằng những cái tên Do Thái đầy miệt thị và đem cha mẹ chúng ra giễu cợt. “Nhìn bọn chúng cười kìa,” ông nói bằng tiếng Do Thái. “Bọn đó không có một xu dính túi vậy mà còn cười được kia.” Nhưng ông ngoại của con có thừa tiền, ấy thế mà gia đình của ông, anh em mẹ, tất cả đều bất hạnh, sầu khổ. Sam, anh trai của mẹ, không thể chịu đựng nổi cuộc sống trong gia đình đã bỏ nhà đi ngay khi bác ấy đủ lớn để làm điều đó.

Sam giống như một cái bóng. Bác ấy có dáng người thấp đậm, chắc nịch, với cái đầu to tóc rậm rì, cặp lông mày rậm, bắp tay, bắp chân to bè. Vì Sam hơn mẹ hai tuổi nên bác ấy có uy quyền đối với mẹ và dì Dee-Dee, tuy nhiên bác ấy không cậy mình là anh mà đối xử tệ với bọn mẹ. Bác ấy trầm tính và dễ bảo. Bà ngoại của con cưng Sam lắm, nhưng ông ngoại lại trút nỗi sợ Chúa vào bác con. Mỗi tối sau bữa ăn ông ngoại của con bắt mẹ và bác Sam ngồi học Kinh Cựu Ước. Dì Dee-Dee quá bé chưa thể học được, nhưng mẹ và bác Sam thì không. Ông đọc cho bọn mẹ nghe những đoạn Kinh và bắt bọn mẹ nhắc lại theo ông. Cuốn Ecclesiates là cuốn sách yêu thích của ông ngoại. “Ta nói ở trong tim, Chúa sẽ quyết định ai là người tốt ai là kẻ xấu; bởi vì có thời điểm cho mọi mục đích, mọi việc làm.” Sách Ecclesiates nói vậy đấy. Mẹ biết những đoạn này nhưng mẹ học chúng không phải vì… tình yêu dành cho Chúa mà vì… vì điều gì nhỉ? Mẹ không biết nữa. Vì bổn phận. Ông ngoại của con là một giáo sĩ, con nhớ chứ? Vậy mà các con của ông lại không biết Kinh Cựu Ước ư? Anh em mẹ ghét những buổi học như thế. Ông ngoại của con không có sự kiên nhẫn đâu, và ông thường bắt bọn mẹ dừng lại giữa chừng để mắng nhiếc hoặc để bạt tai bọn mẹ nếu như bọn mẹ không chăm chú vào Kinh Thánh. Đôi khi sự mắng nhiếc của ông còn khiến anh em mẹ cảm thấy tồi tệ hơn cả bị đánh đập. “Mày là đồ ngu. Mày chẳng hơn gì một thằng đần. Một kẻ tội lỗi. Mày không thể được cứu chuộc trước Chúa,” ông mắng. Sam là mục tiêu chính của ông. Ông bắt bác Sam của con ngồi ở góc nhà nhiều giờ liền và đọc sách tiếng Do Thái. Ông chưa bao giờ thể hiện một chút tình yêu nào đối với con trai của mình.

Con biết đấy, bất cứ giáo sĩ nào đến thành phố người ta đều phải đưa ông ta đi giễu và cho ông ta ăn. Ông ngoại của con thường nói: “Chúng mày cứ đi giễu quanh phố như thế đi,” và bọn mẹ phải theo một vị giáo sĩ già lố bịch đi quanh thành phố và làm những gì ông sai phái. Anh em mẹ ghét việc đó lắm. Tất nhiên nếu không nghe lời thì bọn mẹ sẽ bị ông dùng dây lưng vụt cho no đòn.

Khi bọn mẹ còn nhỏ mẹ thích chơi cờ đô-mi-nô với Sam, nhưng khi bác ấy lớn hơn, bác ấy không có thời gian để chơi nữa. Ông ngoại của con bắt Sam làm việc nhiều hơn mẹ và dì Dee-Dee. Vẫn còn là một cậu bé nhưng Sam đã phải làm việc như một người đàn ông. Nhà mẹ mở cửa hàng lúc bảy giờ sáng và Sam phải cưa củi, chặt đá, bày thịt ra, chất hàng lên giá, cho bò ở sân sau ăn, làm tất cả những việc đó trước khi đi học. Sam ghét cái cửa hàng đó. Tan trường về là bác ấy phải làm việc ngay. Khi Sam muốn thoát khỏi các việc ở cửa hàng, sau khi tan học bác ấy “lặn” cho đến nhá nhem tối mới về nhà, và hậu quả là bị ông ngoại con mắng chửi, bắt phạt phải làm việc nhiều hơn. Bị đối xử như vậy nên ở trường Sam thường bị điểm kém và luôn tự ti. Bác ấy có rất ít bạn bởi vì bác ấy nhút nhát và cho dù có kết bạn, bọn mẹ cũng không được kết bạn với người ngoại đạo. Đó là điều cấm kỵ.

Mười ba tuổi Sam chịu lễ bar mitzvahed (Lễ trưởng thành). Người ta đưa ảnh của Sam và ông ngoại con lên báo và bà ngoại của con rất hãnh diện. Mẹ nhớ đó là lần duy nhất mẹ thấy Sam mỉm cười bởi vì bác ấy đã làm bà ngoại của con vui. Hai năm sau Sam bỏ nhà đi. Đó là vào năm 1934. Bác ấy bỏ nhà đi và không bao giờ quay về nữa. Lúc ấy Sam mới chỉ khoảng mười lăm tuổi thôi. Bác ấy đến Chicago và viết cho bà ngoại con một bức thư. Thư được viết bằng tiếng Anh, thứ tiếng mà bà không biết đọc, không biết nói, và thế là mẹ đọc thư cho bà nghe. Thư viết thế này: “Con khỏe. Con đã tìm được việc làm trong một cửa hàng.” Sam làm việc cho cửa hàng Montgomery hoặc J.C. Penney, một trong hai cửa hàng đó. Bác ấy không quen biết một ai ở Chicago và sống ở đó bác phải tự lo tất cả. Bà ngoại của con nghe mẹ đọc thư của bác Sam thì lo cuống cả lên. Bà bảo mẹ: “Hãy viết thư cho anh con đi. Hãy viết thư và bảo nó quay trở về nhà đi.” Vậy là mẹ viết thư cho bác ấy. Mẹ viết thư và bảo Sam hãy quay về nhà, nhưng bác ấy không bao giờ quay về và mẹ không bao giờ gặp lại bác ấy nữa.

Bác ấy nhập ngũ và bị giết trong Chiến tranh thế giới thứ hai, anh trai của mẹ đấy. Mẹ không biết chuyện gì đã xảy ra với bác ấy cho đến tận khi cha con mất vào năm 1957. Khi đó mẹ đã có bảy đứa con và đang mang thai con. Mẹ gọi cho một người bác của mẹ để nhờ giúp đỡ, và bà ấy nói: “Đừng có dính dáng gì đến cuộc sống của bọn ta. Mày là người ngoài rồi. Tránh xa bọn ta ra.” Và bà ấy cúp máy, vậy là mẹ chẳng thể làm gì cho Sam ngoài việc cầu nguyện cho bác ấy.

Người dịch: Nguyễn Bích Lan
Nguồn: tve-4u
Được bạn: Mọt Sách đưa lên
vào ngày: 23 tháng 8 năm 2026

« Lùi Tiến »

💬 Thảo luận

Chưa có bình luận nào — hãy là người đầu tiên chia sẻ cảm nhận của bạn!

Đăng nhập để tham gia bình luận.