Màu Của Nước

Lượt đọc: 75 | 0 Đánh giá: 0/10 Sao
★★★★★★★★★★
★★★★★★★★★★
« Lùi Tiến »
6
Kinh Tân Ước

❊ ❊ ❊

Mẹ tôi yêu Đức Chúa Trời. Chủ nhật nào mẹ cũng đi lễ nhà thờ, là người da trắng duy nhất mà chúng tôi nhìn thấy ở đó, hát thánh ca sai nhạc be bét bằng cái giọng nghe chẳng khác nào âm thanh pha trộn giữa một động cơ nguội đang cố khởi động trong một buổi sáng tháng Mười và một cái máy giặt hiệu Maytag đang rên rỉ. Mấy anh chị em tôi thường phải bưng mồm để khỏi phì cười khi mẹ say sưa hát thánh ca với sự nhiệt tình và sảng khoái: “dựa vào… âu ơ, dựa… an toàn trong.” Đến đoạn cao trào giọng mẹ ngân cao hơn, cao hơn nữa, làm chúng tôi nhớ đến nhân vật Curly trong vở hài kịch “Ba Chàng Ngốc”. Nghe kinh khủng đến nỗi tôi thường nghĩ mục sư Owens của chúng tôi sẽ đứng phắt dậy khỏi ghế và yêu cầu kết thúc bài hát đó. Ông thường ngồi phía sau bục giảng kinh trong trạng thái nhập định, mắt nhắm nghiền, mặc một chiếc áo choàng dài màu xanh dương với hai ống tay áo được cuộn lên, quàng chiếc khăn màu trắng như thể ông sắp sửa bay lên thiên đường cho đến khi những nốt nhạc được mẹ ngân nghe chối tai khiến ông sực tỉnh. Một con mắt của ông hé mở trong sự choáng váng, như thể ai đó vừa mới dội nước lạnh vào lưng ông. Rồi ông bình tĩnh đưa mắt nhìn quanh một vòng, nhìn toàn bộ giáo đoàn gồm hơn bốn mươi giáo dân để xem tiếng hát the thé kia xuất phát từ đâu. Khi ánh mắt của ông dừng lại ở chỗ mẹ tôi, ông gật đầu và như thể muốn nói: “Ồ, Xơ Jordan đấy mà”; rồi ông lại chìm vào trạng thái nhập định.

Ngoài đời mẹ tôi là bà McBride hoặc bà Jordan, tùy thuộc vào việc mẹ sử dụng họ của cha ruột hoặc cha dượng của tôi, nhưng trong nhà thờ của mục sư Owens, mẹ luôn là “Xơ Jordan”. “Hôm nay Xơ Jordan mang theo vài đứa con,” mục sư Owens tỏ vẻ ngạc nhiên khi mẹ tôi loạng choạng bước vào nhà thờ với sáu đứa chúng tôi bám nhằng nhẵng theo sau. “Vài đứa.” Chúng tôi nghĩ ông thật vui tính. Ông là thầy giáo dạy giáo lý của chúng tôi vào những ngày Chủ nhật và cũng là người thợ cạo, cắt tóc cho chúng tôi mỗi tháng một lần khi chúng tôi đủ lớn để từ chối những nỗ lực của mẹ mình khi mẹ muốn tự tay cắt tóc cho chúng tôi - quả thật mẹ úp một cái bát to lên đầu tôi và cắt tóc ở xung quanh cái bát đó. Mục sư Owens là một người đàn ông gầy gò, thường mặc bộ vest may bằng vải polyester và để tóc hất ngược kiểu cổ điển với những lọn tóc như những lớp sóng. Ông thậm chí không đọc thạo - tôi có thể đọc tốt hơn ông khi tôi mười hai tuổi. Ông đứng trên bục giảng Kinh cầm chiếc khăn mùi xoa trong tay, đánh vật với những đoạn Kinh Thánh như phát rồ. Ông bắt đầu bằng câu: “Đoạn dành cho hôm nay là… ư… hừm, à…’’. Trong khi tay ông lật qua những trang Kinh Thánh để rồi cuối cùng tìm thấy đoạn cần tìm, đặt ngón tay lên chỗ cần đọc, và bạn có thể nghe thấy tiếng đồng hồ kêu tích, tắc, tích, tắc, tích, tắc khi ông đánh vật với những con chữ, mấp máy môi mà chẳng phát ra một tiếng nào để cả giáo đoàn chờ đợi trong sự sốt ruột và Helen, chị gái của tôi, người chơi piano trong nhà thờ, che miệng cười khúc khích còn mẹ tôi thì lườm chị, dứ dứ nắm đấm về phía chị ngầm hứa một cuộc báo thù kiểu như “Sau buổi lễ mày sẽ chết với mẹ.”

Những bài thuyết giảng của mục sư Owens bắt đầu giống như một chiếc tàu hỏa đồ chơi nhỏ xíu và kết thúc như một đầu máy xe lửa gầm rú. Ông bắt đầu bằng giọng nói chậm, dãi dề, sau đó sự nhiệt tình tăng lên và ông dằn từng tiếng xoay quanh chủ đề mình đang nói như một người mắc chứng nói lắp phát cuồng: “Chúng ta… (im lặng)… biết… ngày hôm nay… à… ừm… tôi đã nói… chúng ta… biết… rằng (im lặng) à… Chúa Jesus (giáo đoàn đồng thanh: Amen!)… a, xuống… (Vâng! Amen!) tôi đã nói XU - UỐNG VÀ - DẪN DẮT - MỌI NGƯỜI Ở JERU -SALEM - AMEN!” Sau đó ông đổi sang kiểu lặp đi lặp lại từ “Amen” với nhịp gấp gáp và lời cứ phóng ra từ miệng ông như vãi đạn. Những tiếng “Amen” bắn ra khắp phòng như những viên đạn. “Thật tốt Amen để biết Chúa Amen và ta sẽ nói cho các con Amen biết rằng nếu chỉ mình các con AMEN đến với Chúa thôi thì sẽ không AMEN có sự đáp lại AMEN AMEN AMEN AMEN! Ta có thể nói AMEN thêm một lần nữa không nhỉ? (Amen!)

Chúng tôi ngồi ở dãy ghế số 5, Xơ Jorrdan mặc chiếc váy màu xanh dương và đội chiếc mũ dành riêng để đi lễ nhà thờ, cười thầm và cười nụ, thỉnh thoảng lại vẫy tay lên trên không giống như những người khác. Mẹ yêu nhà thờ. Mẹ thích nhà thờ Baptist Whosoever của ông, mặc dù ông không phải là mục sư yêu thích của mẹ bởi vì ông bỏ vợ hoặc bị vợ bỏ - chúng tôi chẳng biết nữa. Mẹ là người biết rõ về các vị mục sư; mẹ biết rõ họ như một người sành rượu vang Pháp phân biệt được rượu Beaujolais đỏ với rượu Vouvray trắng. Dù có tài truyền giáo, mục sư Owens không phải là mục sư thuộc tốp năm. Danh sách tốp năm mục sư hàng đầu gồm có cha đẻ của tôi, mục sư W. Abner Brown của nhà thờ Baptist Metropolitan ở Harlem, người bạn của gia đình chúng tôi - mục sư Edward Belton, cùng vài người nữa, và tất cả họ đều là người da đen, trừ mục sư Belton, và hầu hết họ đã qua đời. Mẹ tôi coi họ là những người kỳ cựu, những người đàn ông có phẩm giá và sự cống hiến, những người lớn lên ở miền Nam và nhớ rõ cuộc sống thời xưa như thế nào. Họ biết cách “truyền lửa” tại một nhà thờ theo cách kinh điển, mà không cần phải nói đến chính trị, không gièm pha và không đề cập đến những chuyện tiêu cực, chỉ thực sự nói về Đức Chúa Trời và sự quan tâm dành cho giáo dân. Mẹ tôi thường lẩm bẩm đầy vẻ trầm ngâm: “Cha của con hả, ông ấy sẵn sàng cho bất cứ ai đồng cuối cùng ông ấy có.” Mẹ không thích những nhà thờ lớn, hoành tráng với những người giảng đạo có xu hướng chính trị, cũng không thích những nhà thờ ở Pentecostal bởi chúng quá lộn xộn. Và mặc dù mẹ không thích mục sư Owens cũng như phong cách kỳ cục của ông lắm - đã có lần ông giảng cả một bài về từ “the” - T-H-E - mẹ kính trọng ông bởi vì nhà thờ của ông và những buổi giảng đạo của ông rất gần với nhà thờ New Brown Memorial, nơi mà mẹ gọi là “nhà”. Tuy nhiên không giống như nhà thờ New Brown, nhà thờ Whosoever không phải là một nhà thờ có cửa hàng ở mặt trước. Nó là một tòa kiến trúc nhỏ được xây bằng gạch đứng chơ vơ một mình cách đường cái khoảng năm mét, với một tấm biển gắn trên cửa được thiết kế bởi một tay họa sĩ kẻ chữ trên tấm biển mà không hình dung được nhà thờ đó nhỏ đến mức nào. Tấm biển đó có dòng chữ “WHOSOEVER BAPTIST CHURCH.”

Ơn Chúa. Tôi chưa bao giờ thấy mẹ ở trong nhà thờ Whosoever mà “trở nên hạnh phúc” hay nói cách khác là “nhận được tinh thần của Chúa” và mất kiểm soát. Khi người ta trở nên hạnh phúc như thế, điều đó quá sức chịu đựng đối với tôi. Họ hầu hết là phụ nữ, những bà mẹ vĩ đại mà tôi quen biết và yêu mến, nhưng khi Chúa Trời luôn vào trong xương của họ và nâng bổng họ tới sự tự do ngọt ngào, những phụ nữ dịu dàng, tốt bụng vò tóc tôi rối tung lên, hôn má tôi, dúi cho tôi những đồng tiền xu, đứng phắt dậy khỏi ghế ngồi như những cầu thủ hậu vệ của đội Pittsburgh Steeler. “Oh yesss!” Họ rú lên, dang tay ra, nhảy múa dọc lối đi ở giữa nhà thờ, trượt một cách đầy bạo lực làm túi xách tay bay một nơi, mũ bay một nẻo, trong khi người trợ tế già trông thật nghiêm trang mà cũng thật tội nghiệp cố níu lấy họ một cách kiên quyết để ngăn không cho họ tự làm đau chính mình, để rồi bị rũ ra như một con ruồi. Đôi khi hai hoặc ba người ôm một người đang trong trạng thái phấn khích để ngăn không cho bà ta làm đau chính mình, người co giật gào lên “Jesus, Jesus! Yes!” trong khi chúng tôi trố mắt nhìn đầy kính sợ còn mục sư Owens lắc lư người với chuỗi “AMEN” của ông và tôi không thể hiểu tại sao Đức Chúa Trời lại làm cho những người đó tràn đầy năng lượng như thế, cho đến khi tôi trưởng thành và hiểu được bản chất cũng như sức mạnh của phước lành nơi Chúa. Nhưng thậm chí khi còn nhỏ tôi đã biết Chúa là đấng toàn năng bởi vì sự tôn kính tuyệt đối của mẹ tôi dành cho Ngài, và cũng bởi vì ở nhà thờ thỉnh thoảng mẹ lại làm một điều gì đó mà tôi chưa bao giờ thấy mẹ làm ở nhà hay ở bất cứ đâu: Vào một lúc nào đó trong buổi lễ, thường thì vào lúc giáo đoàn hát một bài hát yêu thích của mẹ, như bài “Chúng con tiến được xa thế này là nhờ niềm tin” hoặc bài “Nơi Chúa Jesus chúng con có một người bạn tuyệt vời” mẹ cúi đầu và khóc. Đó là khoảnh khắc duy nhất tôi thấy mẹ khóc. “Tại sao mẹ lại khóc ở nhà thờ?” tôi đã hỏi mẹ điều đó vào một buổi chiều sau buổi lễ.

“Bởi vì Chúa khiến mẹ hạnh phúc.”

“Vậy tại sao mẹ lại khóc?”

“Mẹ khóc bởi vì mẹ hạnh phúc. Khóc thì đã sao nào?”

“Không sao,” tôi nói, nhưng tôi thấy những người hạnh phúc không khóc như mẹ tôi. Những giọt nước mắt của mẹ dường như đến từ một nơi khác, một nơi rất xa, một nơi sâu thẳm ở bên trong con người mẹ, nơi mà mẹ chưa bao giờ để chúng tôi, những đứa con của mẹ, ghé thăm, và thậm chí khi còn bé tôi đã cảm thấy có một niềm đau ở phía sau những giọt nước mắt của mẹ. Tôi đã nghĩ mẹ khóc là bởi mẹ muốn trở thành người da đen giống như những người khác trong nhà thờ, bởi vì có lẽ Chúa thích người da đen hơn, và một buổi trưa trên đường từ nhà thờ về nhà tôi hỏi mẹ Chúa là người da đen hay da trắng.

Mẹ tôi trút ra một tiếng thở dài. “Ôi, con… Chúa không phải là người da đen. Chúa không phải là người da trắng. Chúa là một linh hồn.”

“Chúa yêu người da đen hơn hay người da trắng hơn hả mẹ?”

“Ngài yêu tất cả mọi người. Chúa là linh hồn.”

“Linh hồn là gì hả mẹ?”

“Linh hồn là linh hồn.”

“Linh hồn của Chúa da đen hay da trắng hả mẹ?”

“Linh hồn không có màu con ạ,” mẹ nói. “Chúa là màu của nước. Nước không có màu.”

Tôi có thể tin điều đó, và khi đã lớn tôi vẫn tin, nhưng anh Richie của tôi thì không. Khi Richie mười bốn tuổi anh ấy đã trở thành một kẻ chuyên hành hạ tôi, hành hạ đủ kiểu từ việc cười khúc khích đến việc trở thành một học sinh trung học bảnh trai, hấp dẫn và là một người chơi kèn saxophone teno nổi tiếng. Anh được nhận vào trường Trung học Nghệ thuật và Âm nhạc ở Manhattan và đã đến lúc nhạc Jazz là đoạn đầu, đoạn cuối và đoạn giữa của cuộc đời anh. Anh bắt đầu thích mặc áo khoác da, đội mũ pork-pie giống như huyền thoại teno Lester Young, gia nhập một ban nhạc R&B ở khu phố bên cạnh, và mẹ tôi càng ngày càng khó ép anh đến trường. Những gã choai ở quanh đó gọi anh là “Hat” và nể anh lắm. Các cô nàng mới lớn thích anh. Anh phát triển tài năng sáng tạo và có những ý tưởng để thực hiện một cách độc lập mà không cần sự ủng hộ hoặc biết đến của mẹ. Cách nhà chúng tôi một vài tòa nhà là một bệ đá cao một mét rưỡi với bảng tưởng niệm sự kiện lịch sử nào đó, và một buổi sáng trên đường tới cửa hàng mẹ tôi nhận thấy rằng đá đã được sơn các màu đỏ, đen và xanh lá cây, màu biểu thị cho phong trào tự do của người da đen. “Mẹ không biết ai đã làm việc đó,” mẹ bình luận. Tôi biết, nhưng tôi không nói. Chính Richie đã làm việc đó.

Tất cả các anh chị của tôi, và bản thân tôi vào một giai đoạn nào đó đều có sự bối rối, khó hiểu về màu da, nhưng Richie xử lý sự bối rối của anh theo cách độc đáo. Khi còn nhỏ anh tin rằng anh không phải là người da đen cũng chẳng phải là người da trắng mà là người da xanh giống như nhân vật trong cuốn truyện hài Người khổng lồ xanh. Anh sáng tạo ra những trò chơi xung quanh câu chuyện đó và hấp thu một cách toàn diện nhân vật đó vào cuộc sống hàng ngày của mình: “Ta là bác sĩ Bruce Banner đây,” anh nói khi anh nhìn thấy tôi ăn miếng bánh kẹp thịt cuối cùng. “Ta cần miếng bánh của nhóc. Hãy đưa nó cho ta ngay bây giờ nếu không ta sẽ nổi giận. Ta phải có được nó! Đừng làm ta nổi giận. Hãy đưa cho ta miếng bánh đó ngay lập tức!!! ĐƯA NÓ CHO TA - Ồ không! Đợi đã… AHHHHHHHHHHH!” và anh trở thành Hulk - người khổng lồ xanh, và nếu tôi không nuốt vội miếng bánh thì gã Hulk sẽ cướp mất.

Một buổi sáng tại lớp học giáo lý, Richie đã giơ tay hỏi mục sư Owens: “Chúa Jesus da trắng phải không ạ?”

Mục sư trả lời rằng “Không”.

“Vậy thì tại sao trong bức tranh này người ta lại biến Ngài thành người da trắng?” Richie hỏi, và giơ cuốn Kinh Thánh có bức tranh Jesus lên.

Mục sư Owens nói: “Chúa Jesus thuộc về tất cả các màu da.”

“Vậy thì tại sao Ngài lại có nước da trắng ạ? Trong ảnh này Ngài trông giống như một người da trắng.” Richie giơ bức tranh lên cao để tất cả mọi người trong lớp học đều nhìn thấy. “Mọi người, chẳng phải Ngài trông trắng lắm sao?” Không ai trong lớp nói gì.

Mục sư Owens bí quá. Ông đứng đó, lau mồ hôi trên mặt bằng chiếc khăn cầm sẵn trên tay, nói lắp ba lắp bắp như khi ông giảng đạo. “À… à… à… à…”

Tôi phát ngượng. Những đứa trẻ khác trong lớp trố mắt nhìn Richie như thể anh ấy bị điên. “Richie, quên chuyện đó đi,” tôi lầm bầm.

“Không. Nếu họ đưa Chúa Jesus vào bức tranh này và Ngài không phải người da trắng, cũng chẳng phải người da đen, thì họ phải vẽ Ngài có nước da màu xám chứ. Chúa Jesus ắt hẳn là người da xám.”

Sau buổi học đó Richie thôi không đi học giáo lý nữa, mặc dù anh ấy không ngừng tin vào Chúa. Mẹ tôi cố bắt Richie đi học trở lại nhưng anh ấy dứt khoát không đi.

Mẹ tôi rất tự hào về mối quan hệ của chúng tôi với Chúa. Lễ Phục Sinh nào chúng tôi cũng phải biểu diễn tại nhà thờ New Brown, chơi nhạc hoặc đọc một mẩu truyện từ Kinh Thánh cho toàn thể giáo đoàn nghe. Mẹ mong ngóng ngày đó, trong khi anh chị em tôi sợ nó như sợ dịch hạch, luôn đợi cho tới tận buổi sáng của ngày lễ đó mới lẩm bẩm học thuộc lòng mẩu truyện mà chúng tôi sẽ kể trước giáo đoàn. Tôi chưa bao giờ gặp khó khăn với những buổi đọc thuộc lòng như thế, nhưng Billy, anh lớn hơn tôi một tuổi, người có trí nhớ mà sau này phục vụ anh đủ tốt để đưa anh vào trường Y của Đại học Yale, thì đi đi lại lại như diễu hành trước cả giáo đoàn trong bộ complê ca-vat, và bắt đầu đọc, “Lần đầu tiên khi Chúa Jesus đến…” rồi câm tịt. Anh ấy đứng ở đó, người giật giật đầy căng thẳng trong sự tắc tịt còn mấy đứa chúng tôi thì nhăn mặt, nín thở để cố không cười phá lên.

“Ô, không sao đâu…” ông McNair, cha đỡ đầu của tôi và là người trợ tế, ngồi bên cạnh mục sư trên bục giảng Kinh lẩm bẩm, trong khi mẹ tôi vặn vẹo người trên ghế nhìn Billy, mặt mẹ đỏ bừng. “Lại lần nữa nào,” cha nói.

“Được thôi,” Billy đáp, và nuốt khan. “Lần đầu tiên khi Chúa Jesus đến… Không, khoan đã… Um. Jerussalem là… Đợi chút…” Anh ấy đứng như trời trồng nhìn trần nhà không chớp mắt, cắn môi, cố gắng một cách tuyệt vọng để nhớ lại mẩu truyện trong Kinh Thánh mà chỉ mới nửa giờ đồng hồ trước đó anh đã học thuộc lòng, trong khi giáo đoàn lẩm bẩm, “Không sao, không sao… cố gắng nào…” còn mẹ tôi thì nhìn anh trừng trừng, đầy tức giận.

Vài giây ngượng ngùng trôi qua. Cuối cùng cha nuôi của tôi nói: “Con không nhất thiết phải kể cho chúng ta nghe một câu chuyện trong Kinh Thánh đâu Billy ạ. Hãy đọc một đoạn Kinh Thánh thôi cũng được.”

“Đoạn nào ạ?” Billy hỏi.

“Bất cứ đoạn nào con muốn,” người trợ tế nói.

“Được ạ.” Billy lại hướng về phía giáo đoàn. Mọi khuôn mặt đều im lặng, nhìn anh ấy.

“Chúa Jesus khóc,” anh nói. Và anh ngồi xuống ghế của mình.

Sự im lặng chết người bao trùm khắp nhà thờ.

“Amen,” người trợ tế nói.

Sau buổi lễ, chúng tôi đi theo mẹ trong khi mẹ hiên ngang bước ra khỏi nhà thờ, và cha nuôi của tôi gặp mẹ ở cửa. “Không sao đâu Ruth ạ,” ông nói và cười khùng khục.

“‘Không, có sao chứ,” mẹ nói.

Về nhà mẹ cho Billy ăn đòn.

Người dịch: Nguyễn Bích Lan
Nguồn: tve-4u
Được bạn: Mọt Sách đưa lên
vào ngày: 23 tháng 8 năm 2026

« Lùi Tiến »

💬 Thảo luận

Chưa có bình luận nào — hãy là người đầu tiên chia sẻ cảm nhận của bạn!

Đăng nhập để tham gia bình luận.