Ông ngoại của con là một nhà truyền đạo lưu động. Ông giống như bất cứ nhà truyền đạo nào, chỉ có điều ông còn là một giáo sĩ, người giảng luật Do Thái. Ông không khác chút nào so với những kẻ du thủ du thực mà con thấy trên ti vi bây giờ, ngoại trừ một điều rằng ông thuyết giảng trong những giáo đường Do Thái và ông nói không dễ nghe cho lắm. Tính ông khó ưa lắm và phải mất một thời gian những giáo đoàn của người Do Thái mới hiểu bản chất của ông và tống cổ ông đi chỗ khác, vậy nên khi còn nhỏ mẹ phải sống cảnh nay đây mai đó suốt. Vào thời đó bất cứ người Do Thái chính thống nào tự nhận mình là một giáo sĩ đều có thể thuyết giáo và điều khiển ca đoàn.
Hồi ấy đi đây đó thuyết giảng và hát hò là tất cả những gì mà một số người Do Thái có thể làm. Ngày đó không có những công việc như con biết bây giờ đâu. Sống. Đó là việc của con. Cố gắng tồn tại, đọc Kinh Cựu Ước và hy vọng nó sẽ mang đến cho con cái gì đó để ăn, đó là việc con làm.
Những người Do Thái chính thống sống theo những hợp đồng. Hoặc ít nhất gia đình của mẹ sống như vậy. Hợp đồng hôn nhân. Hợp đồng truyền giáo. Hợp đồng cho bất cứ việc gì. Tiền là một phần cuộc sống của họ bởi vì họ chẳng có gì khác cả, cũng như họ chẳng bao giờ có ngôi nhà thực sự của mình. Ít nhất với gia đình mẹ là như vậy. Thường thì Tateh ký hợp đồng với một giáo đường và sau một năm giáo đường đó không ký tiếp nữa, vậy nên gia đình của mẹ lại gói ghém đồ đạc và chuyển đến nơi khác. Gia đình mẹ sống ở nhiều nơi đến nỗi mẹ không thể nhớ nổi tất cả những nơi đó. Glens Falls, New York, Belleville, New Jersey, Port Jervis, Springfield, Massachusetts; một nơi có tên là Dover. Mẹ nhớ Belleville bởi vì ở đó có người luôn cho bọn mẹ những bộ quần áo cũ. Các giáo đoàn trả công cho gia đình của mẹ bằng thức ăn, một chỗ để ở và những bộ quần áo cũ. Mẹ nhớ Springfield, Massachusetts, bởi vì em gái Gladys của mẹ chào đời ở đó. Mẹ và anh trai gọi em gái là Dee-Dee. Dì của con kém mẹ bốn tuổi. Dee-Dee chào đời năm 1924. Mẹ không rõ bây giờ dì còn sống hay không. Nếu dì còn sống, thì dĩ sẽ là đứa con cuối cùng của bà ngoại con còn sống, không kể mẹ.
Đi bằng xe buýt gia đình mẹ tha lôi tất cả những gì mình có từ thành phố này tới thành phố khác - quần áo, sách vở, mũ, và những tấm mền chăn to sụ mà bà ngoại của con mang từ châu Âu sang. Những tấm mền chăn ấy đầy lông ngỗng. Con có thể gọi chúng là “Piezyna” theo tiếng Do Thái. Chăn đó ấm lắm. Sống ở đâu mẹ và dì của con cũng đắp những tấm mền đó ngủ. Đi đến đâu gia đình mẹ cũng khiến người ta chú ý không chỉ vì nghèo, vì là người Do Thái mà còn vì bà ngoại của con là người khuyết tật. Mẹ thực sự ý thức được điều đó. Mẹ ý thức rất rõ mình là người Do Thái và có người mẹ khuyết tật. Mẹ xấu hổ về mẹ của mình, nhưng con thấy đấy, tình yêu không tự nhiên đến với mẹ cho đến khi mẹ trở thành người theo đạo Cơ Đốc.
Trong một thời gian gia đình của mẹ sống ở bên trên một cửa hàng của người Do Thái ở Glens Falls, một vùng nông thôn của New York, và những người quản lý cửa hàng đó cho anh em mẹ bánh nướng và táo. Bọn mẹ cũng đi trượt tuyết và làm những điều mà các gia đình khác thường làm, còn ông bà ngoại của con có vẻ khá hòa thuận với nhau. Thời gian đó cuộc sống quả thực không tệ, nhưng như thường lệ hợp đồng của ông ngoại không được ký tiếp và thế là cả gia đình lại phải chuyển đi nơi khác. May mà ông được mời làm việc tại một giáo đường ở Suffolk, Virginia. Ông nói với Memeh, “Chúng ta sẽ chuyển đến miền Nam.” Mameh không muốn đi. Bà nói: “Có lẽ ở đây chúng ta sẽ xoay xở được,” bởi vì mẹ và các chị gái của bà đều sống ở thành phố New York, nhưng nói chuyện với ông ngoại con chẳng khác nào nói với một bức tường. Ông nói, “Chúng ta sẽ chuyển đi nơi khác,” và cả nhà mẹ chuyển đến Suffolk, Virginia vào năm 1929. Hồi đó mẹ mới tám hoặc chín tuổi thôi.
Mẹ vẫn còn nhớ mùi của miền Nam. Mùi đó giống như mùi cây khô. Nhớ những chiếc lá. Và lạc. Chỗ nào cũng có lạc. Những chủ vựa lạc có trụ sở ở Suffolk. Ông Obici điều hành trụ sở đó. Ông là một người có máu mặt ở thành phố. Một ông lớn trong lĩnh vực sản xuất và kinh doanh đỗ lạc. Ông có nhiều tiền để cho mọi người. Ông xây dựng một bệnh viện. Ở Suffolk con có thể có được cả cân lạc mà không phải trả tiền. Ở đó các nông dân trồng lạc, chuyên chở lạc, làm dầu lạc, bơ lạc thậm chí cả xà bông từ lạc. Họ đặt tên cho cuốn niên giám của trường cấp ba ở đó là Lạc. Họ thậm chí đã từng tổ chức một cuộc thi để chọn ra người có thể tạo được logo đẹp nhất cho công ty sản xuất và chế biến lạc. Một phụ nữ đã giành chiến thắng trong cuộc thi đó. Họ trao tặng cố ấy hai mươi lăm đô la, mà hồi đó hai mươi lăm đô la là cả tấn tiền.
Hồi đó Suffolk là một thành phố nhỏ chẳng mấy quan trọng, có một khu trung tâm, hai nhà hát - một cho người da đen, một cho người da trắng - vài cửa hàng, mấy trang trại ở ven đô, và một đường tàu hỏa phân chia khu da trắng và khu da đen. Trong nhiều năm, sự kiện lớn nhất diễn ra ở Suffolk là chương trình biểu diễn của một gánh xiếc rong đến thành phố bằng đường tàu hỏa, với một chú cá voi nhồi bông ở toa hành lý. Người dân Suffolk thích gánh xiếc đó. Họ thích bất cứ điều gì khác lạ, hoặc mới mẻ đến từ bên ngoài, ngoại trừ người Do Thái. Ở trường, mẹ bị chúng bạn gọi là “kẻ giết Đức Chúa”, “con Do Thái”. Những cái tên đó gắn liền với mẹ trong một thời gian dài. “Con Do Thái.” Con biết đấy, làm tổn thương một đứa trẻ có khó gì đâu.
Ông ngoại của con làm việc tại giáo đường ở địa phương, nhưng ông để mắt đến một ngôi nhà cũ được xây theo kiểu nhà kho ở bên kia đường tàu trong khu da màu với mục đích mở một cửa hàng tạp phẩm ở đó. Điều ấy khiến một số người trong giáo đoàn không hài lòng. Họ không muốn giáo sĩ tinh thần của mình dính dáng đến việc buôn bán -và buôn bán với người da đen lại càng không! - nhưng Tateh nói: “Chúng ta sẽ không chuyển đi nơi khác nữa. Cứ nay đây mai đó mãi tao mệt mỏi lắm rồi.” Ông biết cuối cùng rồi thì giáo đoàn họ cũng tống tiễn ông đi - Hãy đối mặt với thực tế rằng ông là một giáo sĩ tồi. Ông có một người bạn trong thị xã tên là Israel Lavy, người đã ký quỹ cho phép ông con được sử dụng cái nhà cũ đó. Tateh ném một cái bàn quầy và mấy cái kệ vào đó, cùng một cái máy tính tiền cũ, treo tấm biển ở bên ngoài có mấy chữ “Cửa hàng tạp phẩm Shilsky” và thế là gia đình của mẹ bắt đầu buôn bán. Dân da đen ở đó gọi nó là “Cửa hàng của lão Shilsky”. Vì sao họ lại gọi ông ngoại con như vậy. Họ thường cười ông và cười cái cửa hàng xoàng xĩnh ở phía sau ông, nhưng qua nhiều năm chính họ đã làm cho “Lão Shilsky” giàu lên và khi ông giàu rồi thì không ai cười ông hết.
Cửa hàng của gia đình mẹ nằm trong một cái nhà cũ khá to được dựng bằng gỗ với kiểu dáng kỳ cục và ọp ẹp trông như thể nó được ghép bằng tăm xỉa răng và hồ dán vậy. Nó nằm ở rìa thành phố, gần nhà tù và nhìn ra cầu tàu. Tầng một là cửa hàng, với một góc được dùng để làm kho chứa hàng, một phòng chứa đá để trữ đông, một gian bếp với cái bếp dầu hỏa, và cái sân sau. Bọn mẹ ngủ ở trên gác. Nhà không có phòng khách, không có phòng ăn ở trên gác, chỉ có những căn phòng trống trơn. Mẹ và Dee-Dee ngủ ở một phòng dưới những tấm mền chăn. Mameh thường ngủ chung phòng với hai chị em mẹ, còn anh trai của mẹ - bác Sam của con - và Tateh ngủ ở phòng khác. Mameh và Tateh không có mối quan hệ gần gũi và ấm áp mà nhiều cặp vợ chồng thường có. Mameh là một người vợ, người mẹ rất tốt. Mặc dù bà không được khỏe - một mắt của bà gần như mất thị lực, bà bị đau dạ dày rất nặng và chứng bệnh đó mỗi năm một nặng thêm - với chỉ một tay còn sử dụng được bà làm việc nhiều hơn mẹ có thể làm bằng cả hai tay. Bà làm bánh thánh, làm Kneydlach, món cá Kugl, món gan và nhiều món ăn mà mẹ không nhớ hết được. Bà mạng tất. Mẹ học cách mổ cá, thái rau kê thớt từ bà. Bà giữ các truyền thống tôn giáo của một người nội trợ Do Thái và trung thành với chồng của mình, nhưng Tateh tuyệt đối không có tình yêu dành cho bà. Ông gọi bà bằng bất cứ cái tên nào, đem khuyết tật của bà ra chế giễu. Ông nói: “Nhìn bà tôi phát ớn,”; “Tại sao bà lại cứ cố làm cho mình trông xinh đẹp hơn nhỉ?” Cuộc hôn nhân giữa ông và bà là một hợp đồng làm ăn đối với ông. Ông chỉ muốn có tiền. Chỉ muốn có tiền và muốn trở thành người Mỹ. Đó là hai thứ ông muốn, và ông đã có được cả hai, nhưng ông đã phải trả giá bằng chính gia đình của mình, cái gia đình mà ông phát ớn và phá hoại nó.
Mameh, Tateh và anh em mẹ thực ra không có cuộc sống gia đình. Cái cửa hàng đó là cuộc sống của bọn mẹ. Cả nhà làm việc ở đó từ sáng sớm đến tối khuya, trừ những lúc ở trường, và ông ngoại dạy anh em mẹ tính giờ để làm việc. Cứ đúng ba giờ chiều là ông đứng chống nạnh bên ngoài cửa hàng nhìn xuống đường để tìm mẹ và bác Sam, và sau đó là Dee-Dee, khi bọn mẹ đi bộ qua sáu khu nhà. Từ trường về anh em mẹ phải làm việc ngay lập tức. Bài tập về nhà được bọn mẹ tranh thủ giải quyết trong những lúc cửa hàng vắng khách. Cửa hàng nhà mẹ là cửa hàng duy nhất trong thành phố mở cửa vào ngày Chủ nhật, bởi vì gia đình mẹ tổ chức lễ Sabbath từ thứ Sáu đến tối thứ Bảy, vậy nên vào Chủ nhật bọn mẹ tha hồ bán hàng bởi vì các khách hàng quen và người da trắng thường kéo đến mua hàng vào ngày đó.
Cửa hàng nhà mẹ bán đủ thứ: thuốc lá điếu và thuốc lá sợi - các loại thuốc Camels, Lucky Strike, Chesterfield với giá một xu một điếu, hoặc thuốc lá Wing, một xu hai điều; bọn mẹ bán than, gỗ xẻ, củi đốt, đầu hỏa, kẹo Coca-cola, thuốc giảm đau dạng bột, sữa, kem, trái cây, bơ, đồ hộp, thịt. Đá lạnh là mặt hàng được nhiều người mua. Đá được đặt trong thùng đựng đá lớn ở phía sau cửa hàng và được bán theo khúc hoặc miếng với giá năm mươi xen một miếng. Thùng đựng đá đó to đến mức đủ để một người có thể bước đi trong đó, và mẹ chưa bao giờ làm điều ấy. Bất cứ cái gì cũng có thể khiến nắp thùng đóng sập phía sau mẹ, hoặc làm mẹ mắc kẹt, và mẹ không thích thế. Mẹ mắc chứng sợ những nơi bị bít kín. Mẹ không thể chịu đựng nổi cảm giác bị kẹt ở một chỗ nào đó. Mẹ thích di chuyển. Ngay cả khi còn bé tí xíu mẹ đã thích như thế rồi. Thú tiêu khiển ư? Mẹ chẳng có thú tiêu khiển nào hết. Chạy. Đó là thú tiêu khiển của mẹ. Thỉnh thoảng vào những lúc ông ngoại vắng nhà, mẹ giật cửa và chạy ra ngoài. Mẹ chỉ chạy thôi, chạy đến bất cứ đâu. Mẹ thường chạy xuống những con đường nơi người da đen sinh sống, chạy qua đường tàu đến khu dân cư của người da trắng. Mẹ thích chạy hết tốc lực, chỉ để cảm nhận gió thổi mơn man trên mặt mình và để nhìn ngắm mọi thứ và để không phải ở nhà. Mẹ luôn là kiểu người chạy.
Tất nhiên mẹ muốn chạy để thoát khỏi một số chuyện. Khi mẹ còn nhỏ, Tateh - bố đẻ của mẹ - đã làm những chuyện tồi tệ với mẹ mà mẹ chẳng thể giãi bày cùng ai. Ví dụ, ban đêm ông leo lên giường mẹ và làm những chuyện mà mẹ không thể kể với bất kỳ ai. Khi cả gia đình đi chơi biển ở Portsmouth, ông xuống nước với mẹ, giả vờ để dạy mẹ bơi, và ghì người mẹ vào người ông ở những chỗ nhạy cảm… Khi ông đưa mẹ lên bờ, bà ngoại hỏi: “Con học bơi có tiến bộ không?” Và mẹ trả lời: “Có, Mameh,” còn ông đứng đó nhìn mẹ trừng trừng. Chúa ơi, mẹ sợ cha đẻ của mình.
Bất cứ khi nào có cơ hội, ông đều cố sán đến gần mẹ, trèo lên giường với mẹ, quấy rối mẹ. Mẹ sợ cha mình và không hề yêu thương ông chút nào. Mẹ khiếp sợ ông và mỗi khi ông rời khỏi nhà mẹ lại cảm thấy nhẹ cả người. Những gì ông làm với mẹ ngày ấy ảnh hưởng rất lớn đến cuộc đời mẹ. Khi còn nhỏ mẹ rất tự ti, và nhiều năm sau mẹ vẫn như vậy, thậm chí cho đến bây giờ mẹ không muốn ở gần bất cứ ai có thái độ hống hách hoặc có ý thúc ép mẹ bởi vì điều đó khiến mẹ rất căng thẳng. Mẹ chỉ kể riêng với con thôi bởi vì con là con trai của mẹ và mẹ muốn con biết sự thật, chỉ vậy thôi. Hồi nhỏ mẹ tự ti lắm. Mẹ cảm thấy mình rất hèn kém.
Người ta sẽ nói ra nói vào, đúng không? Họ sẽ nói: “Hừm, con bé đó cảm thấy hèn kém vậy thì lớn lên nó sẽ lấy một thằng mọi đen thôi.” Mẹ không quan tâm. Cha của con đã làm cho cuộc đời mẹ thay đổi. Ông dạy mẹ biết về Đức Chúa Trời, đấng tối cao nâng bổng tâm hồn mẹ và tha thứ cho mẹ, làm mẹ hồi sinh. Mẹ may mắn đã gặp được cha của con nếu không mẹ đã trở thành một ả điếm hoặc đã chết rồi. Ai mà biết được điều gì sẽ xảy ra với mẹ. Mẹ tái sinh trong đạo Cơ Đốc. Đó là sau những gì mẹ đã trải qua. Tất nhiên, làm người Do Thái không có nghĩa là hai mươi tư tiếng trong ngày con đều sống trong đau khổ. Anh em mẹ cũng có những lúc vui vẻ, hạnh phúc, nhất là với mẹ của mình. Ví dụ như trong Lễ Quá Hải[1], dịp lễ mà con phải phải lau dọn nhà cửa thật sạch sẽ. Lau sạch đến mức không thể tìm thấy một chấm bột bánh mì ở bất cứ đâu. Bọn mẹ thích chuẩn bị cho Lễ Quá Hải. Người Do Thái phải dùng những món ăn dành riêng cho dịp lễ đó và gia đình mẹ có một bữa tiệc lớn, khi cả gia đình cùng ngồi vào bàn ăn thưởng thức món bánh thánh không men, mùi tây, trứng luộc và những món ăn truyền thống khác của người Do Thái. Bọn mẹ để một chiếc ghế trống để đón nhà tiên tri Elijah - người Do Thái nghĩ rằng Messiah chưa đến. Sách Haggadah được đọc lên và Tateh hỏi bọn mẹ những câu hỏi chẳng hạn như, tại sao người Do Thái lại mừng Lễ Quá Hải. Con có thể tin rằng bọn mẹ biết câu trả lời hơn là bị cha mình đập vào mặt, nhưng nói thật với con, mẹ thường nhìn cái ghế trống mà bọn mẹ xếp cho Elijah tại bàn ăn và ước gì mẹ có thể đi đến bất cứ nơi nào có Elijah đang hiện diện, ăn ở bất cứ nhà ai khác nơi không có ông ngoại con bò lên giường mẹ vào ban đêm, làm gián đoạn những giấc mơ của mẹ để mẹ không biết rằng đó là cha mình, chỉ là một cơn ác mộng lặp đi lặp lại nhiều lần mà thôi.
[1] Lễ Quá Hải (Pass Over): là một lễ quan trọng của người Do Thái kéo dài trong một tuần.