Vào một ngày tháng Sáu năm 1974, mẹ tôi đi vào gian bếp trong căn nhà của chúng tôi ở quận Queens và nói: “Chúng ta sẽ chuyển đến Delaware. Dọn đồ đi.” Mẹ có năm đứa con ở nhà và bảy đứa đang học đại học. Mấy đứa con của mẹ đang học sau đại học, trong đó có những đứa đang học trường Y. Tất cả đều có học bổng hoặc được vay tiền để học và hầu như không tự kiếm tiền được nên không thể giúp mẹ về tài chính. Nhà của chúng tôi đã ọp ẹp lắm rồi và mẹ không thể duy trì nó được nữa.
Chúng tôi đóng gói đồ đạc trong nhiều tuần. Tôi đã sẵn sàng chuyển đi. Nếu chúng tôi ở lại New York thì gần như chắc chắn tôi phải học thêm một năm nữa mới tốt nghiệp trung học. Thêm vào đó tôi tiếp tục giao du với đám bạn cũ ngày càng lún sâu vào bóng tối. Tôi cần thấy những gương mặt mới, cần một sự khởi đầu mới. Trái lại, các em gái của tôi thích sống ở New York, không ai gặp vấn đề như của tôi, không ai muốn chuyển đi. Chúng yêu cầu có một cuộc họp gia đình. Mẹ ngồi xuống nói chuyện, lắng nghe lý lẽ của chúng, bặm môi, và lắc đầu. “Nếu các con cảm thấy như vậy,” mẹ nói, “thì chúng ta sẽ ở lại.” Mẹ đứng dậy và thông báo bằng giọng phấn khởi: “Chúng ta sẽ không chuyển đi nữa,” và bước ra khỏi phòng. Cứ như thể mẹ vừa mới lấy ra một quả lựu đạn, giật chốt, thả nó xuống sàn nhà, và điềm nhiên bước ra cửa thoát hiểm. Tôi và các em trai sửng sốt nhìn nhau. Lúc đó nhà của chúng tôi đã được rao bán và đang được bán rồi. Đã có người mua nó. Hợp đồng đã được ký rồi. Các giáo viên đã được thông báo về việc chuyển đi của chúng tôi. Mọi sự chuẩn bị đã hoàn tất rồi. Chúng tôi tranh cãi về chuyện đó trong nhiều giờ. “Chúng ta sẽ chuyển đi,” tôi nói.
“Quên đi,” các em gái tôi cãi lại.
“Chúng ta phải đi,” các anh của tôi ra lệnh. Các anh ấy cảm thấy mẹ không đủ khả năng tài chính để sống ở New York nữa.
Mẹ được gọi quay trở lại phòng, trở lại với cuộc tranh luận. “Hãy để mẹ suy nghĩ đã,” mẹ nói. Mẹ ngồi xuống ghế dài và ngủ ngay lập tức, ngáy khò khò trong khi chúng tôi tranh luận. Mẹ là người duy nhất mà tôi biết có thể ngủ ngay tức thì trong vòng hai phút - ngủ sâu, ngủ ngáy khò khò - và chỉ một số tiếng động nhất định mới có thể đánh thức mẹ được. Bão cũng chẳng thể khiến mẹ nhúc nhích, nhưng tiếng trẻ con khóc hoặc tiếng nồi xoong rơi sẽ khiến mẹ ngồi bật dậy như một người lính trước tiếng còi báo động. Khi mẹ tỉnh dậy, mẹ chỉ đi loanh quanh không nói gì. Nhiều ngày trôi qua. Cuối cùng mẹ thông báo: “Chúng ta sẽ ở lại.” Các em gái của tôi reo lên. Chúng tôi uể oải dỡ đồ ra. Ngay ngày hôm sau mẹ hô to: “Chúng ta sẽ chuyển nhà!”. Các con trai của mẹ reo lên. Chúng tôi lại gói ghém đồ đạc. Trong nhiều tuần lúc thì mẹ hô chuyển đi, lúc thì mẹ hò ở lại trong khi người môi giới nhà đất vò đầu bứt tai cố quyết định xem mình có “nuốt” nổi tiền hoa hồng của vụ môi giới hay không. Cuộc tranh luận quả thật kéo dài đến tận một buổi sáng tháng Tám khi chúng tôi thuê một chiếc xe tải U-Haul, chất đầy đồ đạc lên thùng xe - vài đứa chúng tôi leo lên thùng xe áp tải đồ - ngất ngưởng di chuyển xuống đường 1-95 nhằm hướng Wilmington, Delaware thẳng tiến, hệt như cảnh trong phim Beverly Hillbillies. “Tại sao lại là Wilmington nhỉ?” Chúng tôi hỏi mẹ.
“Tại sao không?” Mẹ hỏi lại. “Ở đó mọi thứ đều rẻ.” Mẹ đã mua một ngôi nhà nhỏ ở thành phố với giá chưa đến mười hai nghìn đô la, mức giá nằm trong khả năng chi trả của mẹ.
Chúng tôi chẳng biết chút gì về Delaware. Mẹ có một người bạn cũ mẹ quen từ hồi mẹ ở Harlem đang sống tại đó. “Ở Delaware cậu sẽ ổn thôi,” bạn của mẹ nói, nhưng từ lúc chiếc U-Haul dừng ở trước ngôi nhà mới, chúng tôi hoàn toàn bị mất phương hướng.
Chúng tôi cứ nghĩ ở Wilmington chúng tôi sẽ hoạt động bình thường như ở New York, có thể bắt tàu điện ngầm và xe buýt, có thể dựa vào phương tiện giao thông công cộng và nhịp sống đều đều của thành phố. Nhưng Wilmington không có tàu điện ngầm và chỉ người nghèo mới đi xe buýt, mà xe buýt chỉ chạy đến chín giờ tối. Không giống New York, nơi mẹ có thể kéo tác dụng của một đồng đô la ra dài cả dặm và dẫn đàn con của mẹ tới miền đất hứa của Macy, Gimbels, Ohrbach, cho chúng giải trí ở ba viện bảo tàng, các công viên, các bữa tiệc đường phố, những buổi biểu diễn ca nhạc dành cho số đông. Wilmington là một vùng của những khu mua sắm dành cho dân ngoại ô, những ban nhạc diễu hành của trường trung học, những nữ hoàng khiêu vũ tóc vàng, chuyện ngồi lê đôi mách của dân tỉnh lẻ, và một thành phố cận kề mà từ đó những người da trắng khuất dạng nhanh như tốc độ của những chiếc xe Ford Pintos đưa họ đi. Chúng tôi bị sốc bởi sự phân biệt chủng tộc của thành phố ấy và vùng ven đô của nó, nơi mà hầu hết những đứa trẻ da đen đều học ở những trường thành thị thiếu thốn cả cơ sở vật chất lẫn nhân sự trong khi trẻ da trắng học ở những trường nằm ở vùng ngoại ô sạch sẽ với cơ sở vật chất đầy đủ. Những trường học phân biệt chủng tộc đó tồn tại như một sự ngạc nhiên hoàn toàn đối với mẹ tôi, người thậm chí không quan tâm đến vấn đề đó, cũng như những cảm xúc của người miền Nam ở thành phố - bất cứ khu phía nam nào của phố Canal ở Manhattan đối với chúng tôi đều là miền Nam - gợi lại những kỷ niệm không vui trong mẹ. Mẹ ghét miền Nam.
Vài tháng sau khi chuyển tới đó, một nhóm quân cảnh của bang Delaware chặn chúng tôi lại trên một đường cao tốc tối om sau khi anh David của tôi, người lúc ấy đang lái xe và đã trót cho xe cua một vòng chữ U phạm luật. Nhóm cảnh sát đó toàn những gã cao to, ngạo mạn và không hề có lòng trắc ẩn. Họ bao vây chiếc xe mà bên trong đó có một bà mẹ da trắng và một đàn con da đen, rọi đèn pin khắp xe, bắt David - khi ấy là một nghiên cứu sinh đang học chương trình đào tạo tiến sĩ của trường Columbia - đứng ở ngoài trời lạnh buốt không có áo khoác trên người để tra vấn anh bằng những câu hỏi đầy giễu cợt. Sau đó họ lôi anh vào tòa án và chúng tôi đi theo sau trong sợ hãi và tức giận. Mẹ rất tức giận vì đứa con trai có học, nhút nhát của mình - mẹ luôn tự hào về David và sẵn sàng mang sách đến trường hộ anh nếu như anh nhờ mẹ - bị điệu tới trước mặt một thẩm phán, người đã yêu cầu anh tự nói mình có vi phạm luật giao thông hay không. Mẹ lập tức phản ứng theo kiểu của luật sư E Lee Bailey. “Đừng nhận tội!” mẹ hét lên. “Họ sẽ tống con vào tù đấy!”
“Con xin mẹ,” David nói, cố làm cho mẹ bình tĩnh khi vị thẩm phán đang chăm chú theo dõi.
“Không, không!” mẹ gào lên. “Con không có tội - không có tội gì hết!”
Giờ đây nghĩ lại tôi thấy toàn bộ sự việc đó chỉ là một thủ tục chặn xe, dán phiếu phạt, một cuộc dạo chơi tới tòa án ban đêm, và sau này khi tôi làm phóng viên của tờ Wilmington News Journal đưa tin về hoạt động của cảnh sát tôi đã thấy được mặt tốt hơn nhiều của cảnh sát bang Delaware. Nhưng mẹ tôi không có được sự nhìn nhận đó, và từ đó trở đi mẹ ghét Delaware. “Chúng ta sẽ chuyển về New York,” mẹ nói. “Chúng ta chưa bán nhà. Chúng ta sẽ thoát khỏi cái hợp đồng đó.”
Các em gái của tôi dồn nhau lên tàu hỏa Amtrak ở Wilmington, mang theo tất cả tư trang trong những chiếc túi đi chợ. Các kế hoạch bất ngờ được thực hiện. Những cuộc hẹn được rút lại. Những lời hứa bị xóa bỏ: “Tất cả các anh sẽ đi theo sau chúng em bằng xe tải… Chúng em sẽ đăng ký học… Hãy nói chuyện với thầy hiệu trưởng cho em, được chứ? Hẹn gặp các anh ở New York.” Và đám con gái lên đường.
Hai giờ sau tôi nói chuyện với mẹ. “Có gì ở New York hả mẹ?” Tôi hỏi mẹ. “Chẳng có gì dành cho chúng ta ở đó hết. Tất cả đã chấm hết rồi. Mẹ không thể trả tiến để lấy lại nhà đâu.” Thật đáng tiếc, mẹ đồng ý. Lũ con gái réo gọi từ thành phố và mẹ ra lệnh cho chúng quay trở lại.
Mẹ quay cuồng trong cái vòng luẩn quẩn chỉ vì mẹ đang cố gắng để sống sót, và chuyển từ chỗ này đến chỗ kia luôn là cách của mẹ khi mọi chuyện trở nên khó khăn. Mẹ là một bà góa năm mươi tư tuổi sống bằng đồng lương hưu ít ỏi và tiền an sinh xã hội với năm đứa con phải nuôi. Chưa bao giờ mẹ đơn độc trong việc chuyển nhà, tìm hiểu hàng xóm, mua nhà, lái xe. Những việc ấy quá lớn để bất cứ ai có thể làm một mình. Việc của mẹ qua hai cuộc hôn nhân - cuộc hôn nhân thứ nhất kéo dài mười sáu năm, cuộc hôn nhân thứ hai kéo dài mười bốn năm - là làm mẹ của những đứa con; nhưng giờ đây mẹ phải chèo chống cả một gia đình, và giờ mẹ mới học cách để chèo chống. Mẹ cũng kiệt quệ về mặt cảm xúc và cảm thấy vô cùng có lỗi trong việc chuyển chúng tôi khỏi New York. Buổi tối mẹ thường ngồi ở bàn bếp, lẩm bẩm: “Mình đã làm gì nhỉ? Mình đã nghĩ gì nhỉ?” nhìn đăm đăm vào khoảng không, cầm tách cà phê nguội lạnh còn nguyên chưa uống.
Cầu nguyện khiến mẹ thay đổi thái độ. Việc cầu nguyện và hệ thống trường công khiến mẹ phải hành động gấp gáp hơn dự liệu. Khi mẹ nhìn thấy những cuốn sách rách tả tơi mà chúng tôi mang từ trường về nhà, mẹ đứng phắt dậy. “Với sự giáo dục này các con sẽ chỉ trở thành những kẻ vô dụng,” mẹ nói. Mẹ mua một chiếc Toyota cũ với giá chín trăm đô la, theo học một khóa dạy lái xe, và bất chấp thực tế rằng người dạy lái xe là một lão già đê tiện, kẻ mà theo như lời mẹ đã dùng tay “sờ soạng” mẹ, mẹ vẫn lấy được bằng lái xe trong vòng hai tuần. Mẹ mở danh bạ điện thoại ra, đưa ngón tay lướt danh sách các trường tư và các trường dành cho học sinh Công giáo, gọi điện tới các trường đó, tìm hiểu những đối tượng nào có thể được nhận học bổng, và lái xe đưa tôi đến một trường trong số đó. Thầy hiệu trưởng của trường phỏng vấn tôi trong nhiều giờ. Ông đưa cho tôi bài kiểm tra viết, một bài kiểm tra về địa lý, sau đó giao cho tôi làm một mớ bài tập toán khiến tôi bị thách thức. Nếu như hai năm trước đó tôi không bỏ học quá nhiều thì có lẽ tôi đã giải quyết những bài tập đó một cách dễ dàng, nhưng tôi suýt trượt tốt nghiệp lớp mười một và chỉ may mắn tôi mới trở thành học sinh trung học năm cuối. Thầy hiệu trưởng không thông cảm. Ông nói vì tôi sẽ vào học lớp năm cuối ở trường của ông, tôi không đủ điều kiện. Trường từ chối nhận tôi.
Tôi vào học tại trường Trung học Pierre S. Du Pont, một trường học dành cho các học sinh da đen, cùng với các em Kathy và Judy của tôi và tôi khá thích trường đó. Học sinh ở đó gọi tôi là “dân New York” giống như những người ở Louisville đã gọi tôi, nhưng giờ đây tôi tránh xa những nhóm chơi bời, quan tâm đến âm nhạc, chuyên tâm tập saxophone và kèn trombone, những nhạc cụ mà tôi chọn để chơi trong ban nhạc diễu hành. Sự thay đổi đó tốt cho tôi và tôi bỏ được cần sa, bỏ rượu nhờ kỷ luật của âm nhạc với sự giúp đỡ của một giáo viên âm nhạc tài năng, một người đàn ông da đen tên là C. Lawler Rogers. Nói chung, việc học hành ở Delaware dễ hơn mười lần ở New York, và tôi được chọn đi biểu diễn ở châu Âu cùng với ban nhạc American Youth Jazz, một ban nhạc được tổ chức bởi một giáo viên da trắng rất tốt bụng đến từ New Castle tên là Hal Schiff.
Chuyến đi châu Âu của ban nhạc American Youth Jazz không phải là chuyến đi miễn phí. Bạn phải tự lo chi phí cho chuyến đi, mà tôi thì không thể. Chi phí của tôi được một cặp vợ chồng giàu có ở Chadds Ford, Pennsyvania, tên là David H. và Ann Fox Dawson tài trợ, và họ cũng là những người đã tài trợ để nuôi dưỡng những đứa trẻ có hoàn cảnh khó khăn của thành phố trong nhiều năm. Ông Dawson là một người đàn ông cao lớn, có mái tóc màu muối tiêu, là phó chủ tịch của công ty Du Pont. Ông và vợ là những nhà tài trợ chính của ban nhạc, trao học bổng cho những nghệ sĩ có hoàn cảnh khó khăn. Đổi lại, những người nhận tài trợ từ ông phải làm việc trong tư gia của ông vào cuối tuần và trong kỳ nghỉ hè, vậy nên trong vòng một năm tôi chuyển từ một kẻ “phê” cần sa ở một góc phố của Louisville sang chân phục vụ tại các bữa tiệc dành cho những nhân vật có máu mặt ở Chadds Ford. Tôi chải mái tóc xoăn của mình, mặc bộ complê và thắt chiếc nơ mà ông Dawson cho mượn, bê những khay đựng đồ khai vị giữa những bàn tiệc - tôi và Pearl, một phụ nữ da đen giúp việc nội trợ cho bà Dawson trong nhiều năm. Cũng như tôi, cô Pearl sống ở Wilmington, và một hôm tôi kéo cô ấy ra một chỗ, hỏi: “Tại sao cô làm việc cho người da trắng?” Cô nhìn tôi như thể tôi bị điên. Cô Pearl và bà Dawson khá thân nhau. Cô nói: “Cậu cũng đang làm việc ở đây đấy thôi, đúng không nào?” và tôi cứng họng. Tại các sự kiện của gia đình Dawson tôi im lặng phục vụ những người da trắng - trong đó có cả chủ tịch của Du Pont và thống đốc bang Dataware. Những người đó chẳng có gì giống tôi hết, cũng chẳng giống mẹ tôi hay bất cứ ai trong gia đình tôi, nhưng tôi không tức giận họ. Nỗi tức giận của tôi hướng vào cái thế giới được thay thế bởi tham vọng cháy bỏng. Tôi không muốn trở thành những người giống như họ, đứng đó nhấp rượu, thể hiện cung cách mực thước, giả vờ vui vẻ khi mà thực ra họ chẳng vui vẻ gì - tôi giống mẹ tôi trong cách suy nghĩ đó - nhưng những người ấy có làm gì tôi đâu. Tôi có thể thấy họ đang sẵn lòng giúp ban nhạc, và giúp tôi, bởi vì tôi vô cùng muốn đi châu Âu, vậy nên tôi biết ơn họ. Tôi chẳng trông đợi gì ở họ ngoài điều đó.
Tôi là người phục vụ tiệc vụng về nhất mà bà Dawson có, và thật đáng khen là bà không đuổi việc tôi ngay lập tức. Khi tôi cất áo khoác cho khách tôi làm nhăn áo, làm bẹp mũ của họ, làm tràn rượu, làm rơi đổ khai vị ra khắp nơi. Bà Dawson liên tục nói: “James, bê khay như thế này này… không, như thế này cơ… bây giờ đặt nó lên trên… kéo thẳng nơ ra nào… đặt khăn lên cánh tay như thế này này… Nâng khay lên, nâng lên… ôi!” Xoảng! Cái khay rơi xuống đất. Tôi thích bà Dawson bất chấp thực tế tôi thường khiến bà bực mình. Bà là một phụ nữ hoạt bát, hóm hỉnh, đòi hỏi cao, là người da trắng đầu tiên tôi có một cuộc trò chuyện không dứt về âm nhạc và văn học, hai thứ mà bà rất thích. Bà khiến tôi quan tâm đến những nhà soạn nhạc cổ điển và những nhà văn mà trước kia tôi chưa từng nghe nói đến, cố chỉnh sửa những gì mà bà cho là cách ăn nói và cư xử yếu kém của tôi, điều mà tôi chẳng thích chút nào, và thường khiến tôi ngồi với bà, đọc thơ, những câu thơ mà sau này trong cuộc sống thường bất ngờ xuất hiện trong trí nhớ của tôi cứ như thể ai đó đã trồng chúng vào đó, những câu thơ mà thực ra bà đã nhắc đến: James James/ Morrison Morrison/ Weatherby George Dupree/ Đã chăm sóc mẹ cẩn thận/ Dù cậu bé mới lên ba…
Phục vụ tại các bữa tiệc của bà không phải là việc duy nhất của tôi. Tôi không phải là một người hầu da đen. Hầu hết công việc của tôi ở ngoài đồng. Đất đai của gia đình đó gồm nhiều héc-ta, gồm chuồng ngựa, một vườn rau rộng, một bể bơi, được trông nom bởi một người đàn ông da trắng trẻ tuổi tên là Harry. Chúng tôi cắt cỏ, xén tỉa cây, dọn chuồng ngựa, lái máy kéo, bận rộn cả ngày. Harry là anh chàng người miền núi thông minh, thích săn hươu, luôn có một thùng bia và một khẩu súng dài để ở sau ghế lái của chiếc xe bán tải. Tôi thích Harry và thường làm cho anh cười cả ngày. Anh ngạc nhiên không hiểu bằng cách nào mà tôi trốn được tất cả những việc bụi bặm mà bà Dawson muốn tôi làm.
“James, chú mày là một thằng lười,” một buổi trưa anh ta nói với tôi, “và nếu chú mày không chăm chỉ hơn, thì bà Dawson sẽ phát hiện ra đấy.” Tôi chẳng thèm để ý, nhưng một thời gian sau lời tiên tri của anh ta trở thành sự thật. Tôi phải thức dậy từ năm giờ sáng bắt xe buýt từ Wilmington đến nhà bà Dawson và thường thì khi đến nơi tôi đã mệt lử. Một buổi trưa nóng nực bà Dawson bắt gặp tôi đang ngủ trong luống dâu tây trong khi đáng lẽ tôi phải đang nhặt cỏ mới đúng và quả thực tôi đã nói với bà Dawson là tôi đi nhặt cỏ. Bà nổi giận, đuổi việc tôi ngay tắp lự. “Làm sao bà có thể đuổi việc cháu được!” Tôi nói. “Cháu nhất định phải đi châu Âu!”
“Tôi sẽ cho cậu đi châu Âu,” bà nói, “nhưng tôi vẫn sa thải cậu. Cậu bé ạ, cậu phải học cách làm việc.” Khi bà nói tôi sẽ được đi châu Âu, tôi ôm chầm lấy bà. Tôi không thích bà gọi tôi là “cậu bé” nhưng tôi không phiền lòng vì bà đuổi việc tôi. Bà đã dành cho tôi một ân huệ. Tôi đã giữ liên lạc với bà trong nhiều năm. Bà giúp đỡ tôi trong những năm tôi học đại học và tiếp tục chương trình đào tạo sau đại học; bà không trả mọi chi phí cho tôi, nhưng nếu tôi gặp khó khăn quá, bà đều giúp đỡ. Hai năm sau khi tôi vào học tại trường Oberlin, một buổi sáng tôi đi ra kiểm tra hộp thư và tìm thấy một bức thư của bà trong đó bà nói rằng chồng bà đã qua đời vì bệnh ung thư. Hôm đó khi tôi đang đứng trên đường phố với một nhóm sinh viên da đen, một người lên tiếng: “Quên bọn da trắng đó đi. Bọn nhà giàu. Bọn ấy không gặp vấn đề gì đâu,” và tôi nói lại, “Ừ, tớ nghe cậu,” trong khi bức thư ở trong túi áo tôi chứa đựng những lời đau buồn của một người phụ nữ da trắng đã lớn tuổi, người luôn giúp đỡ tôi - và giúp đỡ nhiều người khác giống như tôi. Lúc ấy đối với tôi đứng ở đó, nói những lời không thật lòng quả là đau khổ. Đôi khi sự thật giống một người đi theo kiểu đánh võng, lao từ nửa bên này sang nửa bên kia của thế giới và tôi không bao giờ tìm thấy anh ta.
Khi tôi bước vào năm cuối ở trường trung học, tôi biết mình muốn học lên đại học và muốn trở thành một nhạc sĩ. Tôi không thể làm mãi cái việc mà tôi đang làm, lang thang quanh Wilmington phụ việc ở cửa hàng 7-Eleven, tham gia một ban nhạc pop chơi nhạc ở VFW và các quán hàng tồi tàn. Tôi có một sự thôi thúc muốn ra trường và học soạn nhạc cho kèn saxophone và nhạc jazz như những nhân vật đi trước mà tôi ngưỡng mộ - Bird, Coltrane, Clifford Brown - nhưng tôi sợ rằng có thể mình sẽ không bao giờ đi khỏi Delaware. Mẹ cũng muốn tôi đi học ở nơi khác, nhưng mẹ không có khả năng. Tôi chưa bao giờ thấy mẹ buồn như thời gian đó. Mẹ buồn như thể chân mẹ bị cắt lìa. Ngày hôm trước Lễ Tạ ơn của năm 1974, chiếc Toyota cũ kỹ của mẹ bị hỏng mà mẹ thì không có tiền để sửa xe, và điều đó có nghĩa là chúng tôi phải bắt xe buýt đến một siêu thị vắng vẻ ở rất xa nhà để tìm mua gà tây giá rẻ. Chúng tôi tìm được gà, nhưng khi bắt xe buýt về nhà túi giấy đựng gà đông lạnh bị bục; con gà rơi ra khỏi túi, lăn xuống lối đi trên xe buýt, và người lái xe chộp lấy nó. Các hành khách và người lái xe cười rộ, nhưng với mẹ tôi đó là hình ảnh thu nhỏ của toàn bộ trải nghiệm của mẹ ở Delaware, hình ảnh con gà chết tiệt đó lăn xuống cái lối đi ấy, trước mắt những người đó. Mẹ có vài người bạn ở trên xe. Những người da đen lúng túng trước cảnh đó. Những người da trắng bực mình với mẹ. Nhưng chẳng có sự giải thoát nhanh chóng và dễ dàng nào ở đó cả.
Trường đại học không gần nhà chúng tôi. Chị Becky, vợ của anh cả tôi, đã đến Ohio học ở trường Đại học Oberlin và và chị bảo rằng tôi nên nộp đơn vào trường đó bởi vì đó là một trường đào tạo nghệ thuật tự do rất tốt, một khu tiêu chuẩn để học âm nhạc, và hơn hết, có học bổng bằng tiền mặt. Bảng điểm ở trường trung học của tôi không thuận lợi lắm, điểm SAT của tôi thấp, nhưng điểm âm nhạc và điểm viết văn của tôi tốt và tôi có sự giới thiệu uy tín. Thật ngạc nhiên, trường đó nhận tôi. Mẹ cực kỳ vui khi tôi báo tin đó với mẹ. Mẹ ôm chầm lấy tôi, vui mừng hớn hở, đặt cái giấy báo của trường vào trong hộp đựng giày để dưới gầm giường của mình, gặp ai ở siêu thị hay ở thư viện mẹ cũng khoe: “Con trai tôi sẽ vào học ở trường Oberlin đấy. Chị đã bao giờ nghe nói đến trường Oberlin chưa? Ôi, để tôi nói cho chị nghe nhé…” Tôi là đứa con thứ tám được mẹ cho học đại học. Bảy anh chị của tôi đều đã tốt nghiệp đại học, thậm chí hầu hết đều học trên đại học.
Trong một ngày mưa, đầy mây mù của tháng Chín năm 1975, tôi gói ghém tư trang trong một chiếc túi màu xanh cũ kỹ và mẹ lái xe đưa tôi đến bến xe buýt Greyhound. Như thường thấy, mẹ khánh kiệt, dốc từng đồng đô la, tiền lẻ, tiền xu lên mặt quầy thanh toán để trả tiền vé một chiều cho tôi đến Ohio. Khi tôi bước lên xe buýt mẹ dúi một nắm tiền lẻ vào tay tôi. “Đó là tất cả những gì mẹ có,” mẹ nói. Tôi đếm nắm tiền ấy. Mười bốn đô la cả thảy. “Con cảm ơn mẹ.” Tôi hôn mẹ và bước nhanh vào trong xe để giấu những giọt nước mắt đang trào ra khóe mắt mình. Tôi cảm thấy tôi đang bỏ rơi mẹ - mẹ ghét Delaware mà tôi lại bảo mẹ phải ở lại đó, và giờ tôi nhấc chân đi. Nhưng mẹ muốn tôi đi. Khi tôi ngồi xuống ghế trên xe buýt dõi mắt tìm mẹ qua cửa sổ, tôi chợt nghĩ rằng từ khi tôi còn bé mẹ đã luôn muốn tôi đi. Mẹ luôn gửi tôi lên một chiếc xe buýt ở một nơi nào đó, đến trường tiểu học, đến trại hè, đến với những người họ hàng ở Kentucky, đến trường đại học. Mẹ đẩy tôi ra xa mẹ giống như mẹ đã đẩy các anh chị tôi ra xa mẹ khi chúng tôi sống ở New York, thực sự đẩy họ ra khỏi cửa để đi học đại học. Khi các anh chị tôi nộp đơn vào các trường đại học gần nhà mẹ không biết. “Nếu con ở nhà, con sẽ ngu đần,” mẹ nói. “Hãy đi ra ngoài và học cách sống tự lập.” Ấy thế mà mẹ lại đưa tay quệt nước mắt và lặng lẽ nhìn ra cửa sổ khi các anh chị tôi mỉm cười, vẫy tay chào tạm biệt mẹ từ ngoài lối đi, gồng người lên dưới sức nặng của chiếc túi vải rẻ tiền được dùng đi dùng lại và giờ đây đang nằm trên chiếc xe buýt Greyhound, chứa đầy tư trang của tôi. Mẹ luôn khóc khi các anh chị tôi đi, mặc dù chưa bao giờ mẹ khóc trước mặt chúng tôi. Mẹ lui vào phòng riêng để khóc. Tôi thực sự lo mẹ sẽ khóc khi tôi bước lên xe buýt, nhưng khi tôi nhìn mẹ qua cửa sổ xe tôi nhẹ cả người khi thấy mẹ không hề khóc. Mẹ bước đi, vừa đi vừa bặm môi, chau mày. Mẹ bước đi như thế, tay để trong túi áo, khi gió thổi những chiếc lá trong những cơn cuộn xoáy và thổi những chiếc cốc giấy bị vứt bỏ bay quanh chân mẹ. Mẹ mặc một chiếc áo mưa màu nâu, trùm một chiếc khăn quanh đầu, một người phụ nữ da trắng đơn độc bước đi trên đường phố mờ tối trước một trạm xe buýt tồi tàn ở Wilmington, Delaware, phía dưới trụ đường ray của tàu hỏa Amtrak phát ra những tiếng rầm rầm và dưới bầu trời đầy mây. Mẹ dường như rất xúc động và bồn chồn đến nỗi tôi tự hỏi liệu mẹ có phải vào phòng tắm để khóc không. Khi động cơ xe buýt bắt đầu gầm lên, mẹ không vẫy chào mà khẽ phẩy tay và nói, “Đi đi! Đi đi!” rồi vội vã bước đi. Xe lăn bánh và mẹ khuất dạng trong một phút, nhưng sau đó xe chạy đến góc đường và tôi nhìn qua cửa sổ lại thấy mẹ ở vỉa hè bên kia đường trong tình trạng suy sụp. Mẹ đứng dựa người vào bức tường phía dưới cầu vượt đường sắt, đầu cúi gục, đưa tay vắt nước mắt như thể những giọt nước mắt tuôn ra từ đôi mắt mẹ có thể được vắt thành sự lãng quên.