Màu Của Nước

Lượt đọc: 153 | 0 Đánh giá: 0/10 Sao
★★★★★★★★★★
★★★★★★★★★★
« Lùi Tiến »
4
Sức mạnh của người da đen

❊ ❊ ❊

Khi tôi còn nhỏ, tôi thường tự hỏi mẹ mình từ đâu đến, mẹ xuất hiện trên trái đất này như thế nào. Khi tôi hỏi mẹ điều đó, mẹ nói: “Chúa tạo ra mẹ,” và lảng sang chuyện khác. Khi tôi hỏi có phải mẹ là người da trắng không, mẹ nói, “Không. Da mẹ sáng màu,” và lại lảng sang chuyện khác. Trả lời những câu hỏi về lịch sử của bản thân là điều không phù hợp với quan điểm của mẹ về việc nuôi nấng mười hai đứa con da nâu tò mò và hoang dại. Mẹ ban hành những mệnh lệnh và lệnh của mẹ là luật. Bởi mẹ từ chối tiết lộ những chi tiết về bản thân và quá khứ của mẹ, và bởi cha dượng của tôi hầu như không có mặt ở nhà để đối diện với những câu hỏi về bản thân ông hoặc về mẹ nên những gì tôi biết được về quá khứ của mẹ đều do tôi tự tìm hiểu từ các anh chị của mình. Chúng tôi đổi chác thông tin về mẹ theo cái cách người ta đổi những cái thẻ bóng rổ, đưa ra từng mẩu tí ti sau một hồi quanh co với một mớ những chuyện ngoài lề, chuyện vớ vẩn, ranh mãnh đôi khi ngu xuẩn. “Chuyện đó quan trọng gì đối với mày hả?” anh Richie chế giễu khi tôi hỏi anh rằng chúng tôi có ông bà ngoại hay không. “Mày là con nuôi, nhóc ạ.”

Tôi và các anh chị trêu chọc nhau hàng giờ. Đó là cách chúng tôi đương đầu với những thực tế mà chúng tôi không thể thay đổi, chẳng thể kiểm soát được. Tôi nói với anh Richie rằng tôi không tin anh.

“Mày tin hay không tao không quan tâm,” anh khụt khịt. “Mẹ này không phải là mẹ đẻ của mày đâu. Mẹ đẻ của mày đang ở trong tù.”

“Anh nói dối!”

“Tuần tới mày sẽ thấy mẹ đưa mày trả lại cho mẹ đẻ của mày. Mày nghĩ vì sao mẹ lại tốt với mày như thế trong suốt tuần qua hả?”

Bỗng nhiên tôi chợt nhớ ra rằng, quả thực mẹ đã tốt với tôi suốt cả tuần. Nhưng chẳng phải lúc nào mẹ cũng tốt với tôi sao? Tôi không thể nhớ được, một phần vì đầu óc của một đứa trẻ tám tuổi đang bối rối của tôi có một nỗi sợ hãi đang dâng lên, nỗi sợ rằng có thể Richie nói đúng. Suy cho cùng, mẹ trông chẳng giống tôi. Thực ra mẹ trông cũng chẳng giống Richie hay David - hay bất cứ đứa con nào của mẹ. Tất cả chúng tôi rõ ràng đều đen, hoặc có nước da nâu đậm, nâu nhạt, nâu vừa, một số có làn da sáng, và tất cả chúng tôi đều có mái tóc xoăn. Mẹ tự định nghĩa mình là người “có nước da sáng màu”, một tuyên bố mà ban đầu tôi đã chấp nhận như là sự thật nhưng về sau tôi quyết định rằng đó không phải là sự thật. Mẹ của Billy Smith, thằng bạn thân của tôi, có nước da trắng giống như mẹ và có mái tóc đỏ dài đến bắp chân, nhưng trong thâm tâm tôi tin chắc rằng mẹ của Billy là người da đen còn mẹ mình thì không. Có điều gì đó trong tôi, một nỗi nhức nhối giống như một chỗ sưng tấy không lúc nào hết và tôi càng lớn thì chỗ sưng tấy đó càng phát triển. Nó ở trong máu của tôi, bạn có thể nói như vậy, và mặc dù nó rất mơ hồ, nó lại khiến tôi bận tâm lắm. Tuy nhiên mẹ không chịu thừa nhận mẹ là người da trắng. Tại sao mẹ từ chối, điều đó tôi không rõ, nhưng ngay cả các giáo viên của tôi dường như cũng biết mẹ tôi là người da trắng còn tôi thì không. Vào những lần sinh hoạt ngoại khóa ở trường, câu hỏi thường được các giáo viên trường tôi đưa ra là: “James là con nuôi chăng?” một câu hỏi ngay lập tức kích động sự phản ứng tức giận từ mẹ tôi.

Tôi nói với Richie: “Nếu em là con nuôi thì anh cũng là con nuôi.”

“Không,” Richie đáp. “Chỉ có mày là con nuôi thôi nhóc ạ, mày sẽ được đưa trả lại cho mẹ đẻ của mày ở trong tù.”

“Thế thì em sẽ bỏ trốn trước khi điều đó xảy ra.”

“Mày không thể làm điều đó đâu. Mẹ sẽ gặp rắc rối lớn nếu mày làm chuyện đó. Mày không muốn thấy mẹ gặp rắc rối chứ, đúng không nhóc? Việc mày là con nuôi đâu phải lỗi tại mẹ đúng không nào?”

Với trò đùa của mình Richie đã đạt được mục đích. Nỗi hoảng sợ dâng lên trong lòng tôi. “Nhưng em không muốn đến với mẹ đẻ của em đâu. Em muốn ở đây với mẹ này…”

“Mày phải đi. Tao rất tiếc.”

Trò đùa cứ thế tiếp diễn cho đến khi tôi khóc nhè. Tôi nhớ tôi cứ đi đi lại lại cả ngày trong căng thẳng trong khi Richie, người biết chắc đã làm tôi khổ sở, thản nhiên ngủ tít. Đêm hôm đó tôi nằm thao thức trên giường đợi mẹ đi làm về lúc hai giờ sáng, và rồi mẹ dẹp cái trò bịp bợm kia đi khi tôi ngồi xuống bàn bếp trong bộ đồ lót cũ như giẻ rách. “Con không phải là con nuôi,” mẹ cười thành tiếng.

“Vậy mẹ là mẹ đẻ của con à?”

“Tất nhiên.” Và mẹ dành cho tôi một cái hôn thật âu yếm.

“Vậy thì ông bà của con là ai?”

“Ông Nash của con mất rồi và bà Etta của con cũng vậy.”

“Họ là ai hả mẹ?”

“Họ là cha mẹ của bố con.”

“Ông bà quê ở đâu ạ?”

“Ở miền Nam. Con còn nhớ ông bà không?”

Tôi có một ký ức mờ nhạt về bà Etta của mình, một người phụ nữ da đen với khuôn mặt đẹp, người dường như hơi bối rối, thường đi loanh quanh trong bộ váy màu xanh da trời và cái cần câu cá, cùng với mồi câu và dây dợ, một sợi dây lủng lẳng quanh mắt cá chân của bà. Đối với tôi bà dường như không có thật.

“Vậy mẹ có biết ông bà không, mẹ?”

“Mẹ biết chứ, biết rất rõ, rất rõ.”

“Ông bà có yêu quý mẹ không?”

“Tại sao con hỏi nhiều thế hả?”

“Con chỉ muốn biết thôi mà. Ông bà có yêu quý mẹ không? Bởi vì ông bà ngoại của con không yêu mẹ, vậy ông bà nội có yêu quý mẹ không?”

“Ông bà ngoại của con yêu quý mẹ đấy chứ.”

“Vậy thì ông bà ngoại đâu hả mẹ?”

Mẹ im lặng một lát. “Bà ngoại của con đã mất lâu rồi, lâu lắm rồi,” mẹ nói. “Còn ông ngoại, ông là một con cáo. Đêm nay con hỏi thế thôi nhé, đừng hỏi nữa. Con có muốn ăn bánh có vị cà phê không?” Hỏi thế đủ rồi. Nếu việc giành được sự chú ý đã bị phân tán của mẹ thêm năm phút nữa là một biệt tài trong gia đình có những mười hai đứa con thì việc có được một chút quà ăn vặt lúc nửa đêm ở nhà tôi là một điều thậm chí còn kỳ diệu hơn. Tôi nhịn hỏi để ăn bánh, mặc dù không lúc nào tôi không thắc mắc, lắc lỏm, một phần vì ý thức về bản thân mỗi ngày một tăng của tôi và một phần vì nỗi lo cho sự an toàn của mẹ, bởi vì mặc dù còn là một đứa trẻ tôi đã có cảm giác rất rõ ràng rằng người da đen và người da trắng không hòa hợp với nhau, và điều đó đặt mẹ và cả chúng tôi vào tình trạng khó khăn.

Năm 1966, khi tôi chín tuổi, phong trào “Sức mạnh của người đen” tràn vào mọi yếu tố ở khu dân cư St. Albans, thuộc quận Queens. Năm trước đó Malcolm X đã bị giết hại và sức mạnh của ông ta khi chết còn lớn hơn cả khi còn sống. Kiểu tóc châu Phi trở thành mốt. Đảng Báo Đen của người da đen trở thành một đảng có sức mạnh. Những tòa nhà công cộng, những bức tượng, những tượng đài, thậm chí những cái cây, buổi tối còn là những mầu nhẹ sáng hôm sau đã được sơn màu đỏ, đen, và xanh lá cây, “những sắc màu biểu tượng của sự tự do”. Ban đêm những ban nhạc chơi nhạc trên đường phố trong khi lũ trẻ mới lớn bị ảnh hưởng bởi âm nhạc tụ tập với nhau nói về cuộc cách mạng của người da đen. Các anh chị của tôi đi quanh nhà đọc thơ của nhóm “Những thi sĩ cuối cùng”, như một ban nhạc Rap đọc những bài thơ được đệm bằng tiếng nhạc và những câu thơ lôi cuốn được đọc làm nền cho âm nhạc, cùng với những bài hát có tên “Dân da đen sợ cuộc cách mạng” và “Trên tàu điện ngầm.” Sáng thứ Bảy nào tôi và lũ bạn cũng đạp xe đến góc phố Dunkirk và đại lộ Ilion để xem những tay đua xe địa phương trổ tài gần nhà máy sản xuất đồ uống Sun Dew, cố xem ai có thể lái xe phóng nhanh nhất qua chỗ lún trên đường, cái chỗ khiến cho ngay cả chiếc xe hơi đi chậm nhất cũng nảy lên như bay. Cha dượng của tôi lái chiếc Pontiac 64 của ông qua chỗ lún đó với tốc độ mười lăm dặm một giờ mà tôi ngồi trên xe còn nảy bật người lên. Những tay đua xe phóng qua đó với tốc độ chín mươi dặm một giờ và xe hơi của họ bay như chim, xoay tròn trên không trung, tiếp đất cách chỗ đó hơn năm mét, thường trong tình trạng mất kiểm soát, đôi khi đập vào tường của nhà máy Sun Dew trước khi trở thành một đống sắt bẹp rúm. Xe của họ có những cái tên như “Smokin’s Joe” và “Miko”, “Dream Machine” được sơn nguệch ngoạc ở trên mui, nhưng chiếc xe yêu thích của chúng tôi là một chiếc GTO màu đen bóng loáng, được độ công phu với mấy chữ Black Power (Sức mạnh của người da đen) được viết bằng sơn trắng mịn kéo dài từ đầu xe lên đến mui. Nó là chiếc xe chạy nhanh nhất và lái xe của nó dĩ nhiên là người can đảm nhất. Anh ta lái xe như một gã điên, và sau khi bỏ xa một chiếc Corvette trong khói bụi, anh ta điều khiển chiếc xe to đùng của mình chạy một vòng mừng chiến thắng đãi chúng tôi, lái với tốc độ chậm, thò một cánh tay cuồn cuộn cơ bắp của mình ra ngoài cửa sổ xe, trong khi chiếc xe của anh ta gầm lên còn chúng tôi thì huýt sáo, reo hò, giơ nắm tay lên và đồng thanh hô “Black Power!”. Anh ta cười thành tiếng và rú ga cho chúng tôi xem, lốp xe rít lên, gầm lên trong khi xe chạy ra xa trong sự nổ tung của kim loại lấp lánh và nhiệt, đèn xi nhan lóe sáng khi anh ta chạy biến vào trong con ngõ phố tối om trước khi cảnh sát có cơ hội ập tới bắt giữ anh ta. Chúng tôi đã nghĩ anh ta là Chúa Trời.

Nhưng tôi phần nào rất sợ cái phong trào mang tên sức mạnh của người da đen vì một lý do rõ ràng. Tôi cứ nghĩ nó sẽ là sự chấm hết của mẹ tôi. Tôi đã cố nuốt nỗi sợ dân da đen của người da trắng, như hồi đó người ta vẫn nói. Chuyện bắt đầu với một ký giả người da trắng hoàn toàn tỉnh táo và nghiêm túc xuất hiện trong chiếc ti vi đen trắng giới thiệu một đoạn phim chiếu một cuộc mít tinh của đảng Báo Đen do Bobby Seale hoặc Huey Newton hoặc một lãnh đạo trẻ người da đen trong quân đội dẫn đầu, la hét cùng với hàng trăm, hàng trăm sinh viên người Mỹ gốc Phi đầy giận dữ, trong khi đám đông gào lên, “Black Power! Black Power! Black Power!” Tôi sợ hết hồn. Tôi thầm nghĩ, những người này sẽ giết chết mẹ mình mất. Ngược lại, mẹ tôi dường như không hề lo lắng. Phương châm của mẹ là: “Nếu chuyện gì không liên quan tới việc học hành và đi nhà thờ của con, thì mẹ chẳng quan tâm và câu trả lời của mẹ là không, cho dù nó là chuyện gì.”

Mẹ quyết tâm duy trì cho chúng tôi sự riêng tư tuyệt đối, điểm tốt ở trường, và không tin tưởng bất cứ người ngoài nào, thuộc bất cứ chủng tộc nào. Chúng tôi được dạy không bao giờ tiết lộ về cuộc sống gia đình cho bất cứ nhân vật nào thuộc giới cầm quyền: giáo viên, nhân viên xã hội, cảnh sát, chủ tiệm bán hàng, thậm chí cả bạn bè. Nếu bất cứ ai hỏi chúng tôi về cuộc sống gia đình, chúng được dạy phải trả lời, “Tôi không biết,” và trong nhiều năm tôi đã làm như thế. Ngôi nhà của mẹ là một thế giới khép kín mà mẹ đã tạo ra. Mẹ chỉ định đứa con cả của mình ở nhà là “vua” hoặc “nữ hoàng” để quản lý gia đình khi mẹ vắng nhà và bắt đầu từ đó chúng tôi tạo ra những chú hề trong hoàng cung, các nô lệ, các nhạc sĩ, các thi sĩ, những con thú cưng. Chơi trên đường phố là điều không được khuyến khích và thường bị cấm và nếu chúng tôi vẫn cố chuồn đi chơi thì “hãy nhớ tha cái mông của con về nhà này trước khi trời tối,” mẹ cảnh báo, một cái luật mà mẹ bắt chúng tôi phải khắc ghi tận xương tủy. Tôi thường lách luật, lẻn về nhà vào lúc trời tối, khi tia nắng cuối cùng le lói phía chân trời đằng tây, đóng cửa thật khẽ, hy vọng mẹ đã đi làm vắng, để rồi chỉ vừa quay vào đã bắt gặp mẹ đứng ngay trước mặt, tay chống nạnh, giơ chiếc thắt lưng trên tay lên, ánh mắt đầy giận dữ quét qua quét lại phía ô cửa sổ, sau đó đi tới chỗ tôi, mắm môi, cố quyết định lúc đó ở bên ngoài còn sáng hay đã tối. “Vẫn còn sáng mẹ ạ,” tôi gợi ý, giọng tôi run run, các anh chị của tôi tập trung lại, đứng phía sau mẹ giương mắt chờ xem cuộc tàn sát sắp diễn ra.

“Trời như thế kia mà bảo là còn sáng hả?” mẹ vừa nói một cách cáu kỉnh vừa bước về phía cửa sổ.

“Khá tối rồi đấy ạ,” các anh chị của tôi thỏ thẻ phía sau mẹ. “Rõ là tối rồi đấy mẹ ạ!” anh chị tôi nói to tướng rồi cười khúc khích. Nếu đúng lúc đó ở phòng khác một đứa em của tôi bỗng dưng khóc thét lên thì tôi quả là may mắn quá và mẹ sẽ phải đến chỗ có tiếng khóc, tạm vắt chiếc thắt lưng da lên núm cửa. “Chớ có làm như thế nữa,” mẹ ngoái đầu lại cảnh báo, còn tôi thì được tự do.

Nhưng cho dù mẹ quan tâm đến sức mạnh của người da đen, mẹ cũng chẳng có thời gian để nói về nó. Mẹ làm thợ đánh máy và chuyên làm ca đêm tại Ngân hàng Manhattan Chase, rời khỏi nhà lúc ba giờ chiều và trở về nhà lúc hai giờ sáng, vậy nên mẹ có rất ít thời gian để quan tâm đến những trò chơi, và thậm chí còn có ít thời gian hơn để quan tâm đến những cuộc khủng hoảng về bản sắc. Ở cha mẹ tôi có sự pha trộn lạ lùng của tính hay ngờ vực và đa nghi của người châu Âu gốc Do Thái và người Mỹ gốc Phi vào gia đình của chúng tôi. Về phần mình, cha tôi, Andrew McBride, một mục sư Baptist, không tin rằng thế giới sẽ chấp nhận gia đình pha trộn chủng tộc của ông. Ông luôn đảm bảo các con mình không vướng vào những rắc rối, luôn lo lắng về tiền bạc, tin tưởng Chúa Trời sẽ lo những việc còn lại. Sau khi ông qua đời và mẹ tái giá, cha dượng của tôi, Hunter Jordan, dường như kế thừa những gì cha đẻ tôi bỏ lại, tập trung vào việc học hành và đi lễ nhà thờ của chúng tôi. Về phần mẹ, mẹ không có khuôn mẫu nào cho việc nuôi nấng chúng tôi ngoài kinh nghiệm mẹ rút ra từ chính gia đình theo đạo Do Thái của mẹ, bất chấp những thiếu sót - bản chất cứng rắn, dữ dội về lời ăn tiếng nói, chú trọng đến tiền bạc, tính hoài nghi sâu sắc đối với người ngoài, ấy là chưa kể đến sự bạo ngược của ông ngoại tôi - đại diện cho những điều tốt nhất và xấu nhất về tinh thần của người nhập cư: chăm chỉ, không tào lao, luôn tìm kiếm sự xuất sắc, không tin vào giới quyền lực, và có niềm tin sâu sắc vào Chúa Trời và sự giáo dục. Cha mẹ tôi không phải là những người theo chủ nghĩa duy vật. Họ tin rằng có tiền mà không có hiểu biết thì chẳng có ý nghĩa gì, rằng giáo dục kết hợp hài hòa với tôn giáo là cách để thoát khỏi đói nghèo ở Mỹ, và qua nhiều năm họ đã cho thấy rằng mình đúng.

Tuy nhiên xung đột là một phần trong cuộc sống của chúng tôi, và điều đó được viết trên mọi khuôn mặt, mọi bàn tay, cánh tay của chúng tôi, và để thấy sự mâu thuẫn sống và sống sót theo đúng bản chất của nó, chúng tôi không cần phải nhìn đâu xa, chỉ cần nhìn chính mẹ mình là biết. Những mâu thuẫn của mẹ tôi va chạm với nhau như những chiếc xe trò chơi đụng nhau ở đảo Coney. Mẹ cảm thấy người da trắng thực sự có ác cảm với người da đen, nhưng mẹ bắt chúng tôi học ở trường dành cho người da trắng để có được sự giáo dục tốt hơn. Người da đen đáng tin cậy hơn, nhưng bất cứ chuyện gì dính dáng đến người da đen thì dường như đều không đạt chuẩn. Mẹ tôi không thích những người nhiều tiền, nhưng lúc nào mẹ cũng cần tiền. Mẹ không thể chịu được sự phân biệt chủng tộc đối với bất cứ màu da nào và mẹ không ưa giới tư sản da đen, những người tìm cách cạnh tranh với những người da trắng theo kiểu trưởng giả học làm sang và “làm những điều ngớ ngẩn như bọc đi văng bằng nhựa và cầm tách trà với những ngón tay kiểu cách.” “Ngớ ngẩn!”, mẹ rít lên. Mẹ chẳng bận tâm đến chuyện các ông bố bà mẹ khoe khoang thành tích của con mình, nhưng mẹ khăng khăng rằng chúng tôi phải phấn đấu để vươn tới đích cao nhất trong nghề của mình. Mẹ không ủng hộ chính sách trợ cấp xã hội và không bao giờ xin trợ cấp mặc dù chúng tôi gặp khó khăn, nhưng lại bênh vực những người được hưởng lợi từ trợ cấp xã hội. Mẹ ghét nhà hàng và không bước chân vào một nhà hàng nào cho dù bữa ăn ở đó miễn phí. Mẹ thực sự thích sống giữa những người nghèo, những người thuộc tầng lớp lao động ở Red Hook, chung cư dành cho người nghèo ở Brooklyn, những người trộn xi-măng, những người nướng bánh, những người làm bánh rán, những người đã lên chức bà, và những người theo đạo ủng hộ món ăn truyền thống của người da đen đã trở thành bạn của mẹ trong suốt cuộc đời. Chính trong thời gian sống giữa những người đó cha mẹ tôi bắt đầu lập nên Nhà thờ Baptist tưởng nhớ New Brown, một nhà thờ nhỏ bây giờ vẫn còn hiện hữu ở Red Hook. Mẹ tôi yêu nhà thờ đó và cho đến bây giờ mẹ vẫn yêu Red Hook, một trong những khu chung cư nhếch nhác, nguy hiểm nhất ở thành phố New York. Vào bất cứ một ngày đã được ấn định nào đó mẹ dậy sớm, bắt xe buýt của hãng New Jersey Transit từ nhà mình ở Ewing, New Jersey đến Manhattan, sau đó đi tàu điện ngầm tới Brooklyn và lang thang quanh những khu dân cư ở đó như Đức Giáo hoàng, và là người da trắng duy nhất ở đó vẫy tay chào những người bạn, đi qua chỗ những người nghiện ma túy, mỉm cười với những bà mẹ trẻ đang đẩy xe nôi, luồn lách vào một hành lang tối om ở 80 phố Dwight trong khi những gã choai choai mặc áo nỉ có mũ trùm đầu trố mắt nhìn mẹ, người phụ nữ da trắng lạ mặt không còn trẻ, đi giày hiệu Nike, với dáng đi vòng kiềng, mặc áo len đỏ chầm chậm tập tễnh leo lên ba tầng cầu thang tối tăm, sặc mùi nước tiểu bất chấp chứng viêm khớp để thăm người bạn thân nhất của mình, bà Ingram ở căn hộ 3G.

Khi còn nhỏ tôi thường thấy ngạc nhiên trước sự thoải mái của mẹ khi mẹ ở giữa những người da đen. Dường như hầu hết những người da trắng mà tôi biết đều sợ người da đen. Thậm chí khi còn bé tôi đã ý thức được điều đó. Tôi đọc thấy nỗi sợ đó trên báo, giữa những dòng tin thể thao mà tôi thích trên tờ Bưu điện New York và tờ Tin tức Long Island, trong sự từ chối gọi Cassius Clay Muhammad Ali là “Người da đen theo đạo Cơ Đốc xuất sắc,” và trong sự chỉ trích gay gắt nhằm vào những vận động viên người da đen như Bob Gibson của St. Louis Cardinals, người mà tôi coi là thần tượng. Thực ra tôi thậm chí không cần mở những trang báo đó cũng thấy được nỗi sợ hãi ấy. Tôi có thể thấy nó trên khuôn mặt của những người da trắng nhìn chằm chằm vào tôi, mẹ tôi, các anh chị của tôi khi chúng tôi ở trên tàu điện ngầm, và thỉnh thoảng họ ném những tràng cười về phía chúng tôi, chỉ tay, lẩm bẩm những lời đại loại như “nhìn bà kia và những đứa nhóc da đen của bà ta kìa.” Tôi nhớ có lần một người đàn ông da trắng xô đẩy mẹ tôi một cách giận dữ khi mẹ dẫn chúng tôi vào thang máy, nhưng mẹ không phản ứng gì, chỉ phớt lờ ông ta đi. Tôi nhớ có lần hai người phụ nữ da đen chỉ tay vào chúng tôi và nói, “Nhìn con mụ da trắng kia kìa,” và có lần một người đàn ông da trắng hét vào mặt mẹ tôi ở Manhattan, gọi mẹ là “người tình của mọi đen.” Mẹ phớt lờ tất cả bọn họ, trừ khi sự lăng nhục đe dọa các con của mẹ, và trong trường hợp đó mẹ sẽ đối mặt và đấu tranh chống lại kẻ lăng nhục như một con mèo trong ngõ hẻm, rít lên đầy giận dữ và không chút sự hãi. Mẹ có cái kiểu phớt lờ sự lăng mạ rất tự nhiên, thản nhiên, né những lời lăng mạ nhằm vào gốc gác da trắng của mẹ như một võ sĩ quyền anh dày dạn kinh nghiệm tránh những cú đấm. Khi Malcolm X, nhân vật được coi là ma quỷ của người da trắng, bị giết, tôi hỏi mẹ ông ta là ai và mẹ trả lời: “Ông ấy là một người đàn ông đi trước thời đại.” Mẹ thực sự thích Malcolm X. Mẹ đặt ông ấy gần ngang hàng với những người mẹ coi là anh hùng trong những phong trào đấu tranh vì dân quyền, như Paul Robeson, Jackie Robinson, Eleanor Roosevelt, A. Philip Randolph, Martin Luther King, Jr., và các nhân vật xuất sắc của dòng họ Kennedy. Khi Malcolm X nói về “con quỷ da trắng” mẹ cảm thấy sự ám chỉ đó không nhằm vào mẹ. Mẹ coi những thành tựu vì dân quyền của người Mỹ da đen với niềm tự hào, như thể đó là những thành tựu của cá nhân mẹ. Và bản thân mẹ thỉnh thoảng cũng nói về “người da trắng” như ngôi thứ ba, như thể mẹ chẳng có gì liên quan đến người da trắng hết, và quả thực mẹ không liên quan, bởi vì hầu hết bạn bè và những mối quan hệ xã hội của mẹ đều xoay quanh những phụ nữ da đen mà mẹ kết giao ở nhà thờ. “Những người da trắng này bị làm sao thế nhỉ?” mẹ trầm ngầm sau khi đọc thấy một số chuyện điên rồ trên tờ Nhật báo New York. “Họ đánh nhau vì tiền của người đàn ông vừa mới chết. Không một ai trong số họ nhòm ngó đến ông ta khi ông ta còn sống, ấy vậy mà bây giờ xem họ tranh giành tiền của ông ta này. Quên đi, cưng ạ” - đấy là lời mẹ nói với tờ báo - “Chồng bà chết rồi, phải không? Ông ấy chết rồi! Bà có cơ hội rồi. Tiền có làm ông ấy sống lại được không hả? Không!” Rồi mẹ quay sang chúng tôi và bắt đầu bài thuyết giảng trước sau như một của mình: “Các con không cần tiền. Tiền để mà làm gì nếu đầu các con rỗng tuếch! Hãy trau dồi kiến thức cho cái đầu! Thế giới này điên hay mẹ điên nhỉ? Có thể là mẹ điên.”

Rất có thể là như vậy - chí ít, tôi cũng nghĩ vậy. Tôi biết không một phụ nữ da trắng nào khác ngày nào cũng bước lên tàu điện ngầm ở Manhattan vào lúc một giờ sáng và ngủ thiếp đi cho đến khi tới trạm dừng của mình ở quận Queens bốn mươi lăm phút sau. Thường thì tôi không thể chợp mắt cho đến khi tôi nghe thấy tiếng mẹ tra chìa khóa vào ổ khóa. Thái độ không biết lo cho sự an toàn của bản thân ở mẹ - đặc biệt khi mẹ ở giữa những người da đen, nơi mẹ trông thật khác biệt so với những người xung quanh và dường như dễ trở thành mục tiêu của bọn côn đồ - khiến tôi lo rối cả ruột. Bây giờ khi đã lớn tôi hiểu những nguyên tắc Thiên Chúa giáo của mẹ và hiểu rằng mẹ tin rằng Chúa Trời phù hộ cho mẹ vượt qua tất cả những cuộc chiến trong đời mẹ, nhưng khi còn nhỏ, đức tin của tôi không mạnh đến mức ấy. Đã có lần mẹ dẫn tôi đến Harlem để thăm chị Jacqueline, chị cùng cha khác mẹ của tôi, người mà chúng tôi gọi là Jack, là con gái của cha tôi với người vợ trước và là người giống một người cô của tôi hơn là một người chị. Mẹ tôi và chị nói chuyện đến khuya trong khi chị Jack nấu những món ăn truyền thống của người da đen gồm mỳ ống, pho mát, khoai lang thái lát, và bánh quy cho chúng tôi. “Mang món này về nhà cho bọn trẻ, dì Ruth ạ,” chị Jack nói với mẹ. Chúng tôi bỏ thức ăn vào trong những cái túi dùng để đựng đồ khi đi mua hàng và mang lên tàu điện ngầm mà không gặp khó khăn gì, nhưng khi chúng tôi xuống xe buýt ở St. Albans gần nhà, hai người đàn ông da đen từ phía sau xông tới và một người chộp ví của mẹ. Chiếc túi đựng đầy mỳ sợi, pho mát và khoai lang bung ra và thức ăn bay tứ tung trong khi mẹ cố giữ ví, quay cuồng đối phó với kẻ cướp giật, chẳng nói một lời khi mẹ và hắn đều cố giành giật vì chiếc ví và cơn giành giật điên cuồng đó cuốn mẹ từ vỉa hè vào trong ngõ phố vắng vẻ tối om như hai vũ công múa ba-lê ghì chặt nhau trong vũ điệu chết người. Tôi đứng như trời trồng trong cảm giác bị sốc, mở to mắt nhìn. Cuối cùng tên côn đồ cướp được ví của mẹ, chạy biến trong khi đồng bọn của hắn cười hô hố còn mẹ thì ngã xuống đất.

Mẹ đứng dậy, lặng lẽ nắm tay tôi, và bắt đầu đi bộ về nhà mà không thốt ra một lời nào.

“Con không sao chứ?” Vài phút sau mẹ hỏi tôi.

Tôi gật đầu. Tôi sợ đến nỗi không mở miệng nói được. Tất cả thức ăn mà chị Jack đã nấu cho chúng tôi vương vãi, tung tóe trên mặt đường phía sau chúng tôi. “Tại sao mẹ không kêu lên hả mẹ?” Tôi hỏi khi cuối cùng lưỡi tôi cũng cử động được.

“Chỉ là một chiếc ví thôi mà,” mẹ nói. “Đừng bận tâm về chuyện đó nữa. Hãy về nhà thôi.”

Chuyện không may đó càng củng cố thêm nỗi sợ hãi trong tôi, nỗi sợ rằng mẹ luôn luôn bị hiểm nguy rình rập. Mùa hè nào chúng tôi cũng cùng những đứa trẻ nghèo trong thành phố tham gia chương trình của tổ chức Fresh Air Fund và được gửi đến nghỉ hè trong các gia đình hoặc đến trại hè miễn phí. Ai trong số anh chị em của tôi may mắn hơn thì được ở trong những gia đình tự nguyện nhận trẻ đến ở, nhưng tôi phải đi đến trại hè nơi họ nhét mười đứa trẻ vào một căn lều trong suốt hai tuần. Đôi khi những chỗ đó giống như nhà tù hoặc trại cải tạo lao động hơn là trại hè. Trẻ ở trại hè đánh nhau suốt. Thức ăn thì thật khủng khiếp. Tôi đánh nhau liên tục. Những đứa trẻ gọi tôi là Cochise bởi vì tôi có nước da sáng màu và mái tóc xoăn. Dẫu vậy tôi thích cái tên đó. Lần đầu tiên tôi đi trại hè, mẹ dẫn tôi đến điểm tập trung, trung tâm sinh hoạt cộng đồng ở Far Rockaway, một nơi đã từng là khu của người da trắng thuộc tầng lớp trung lưu và những người Do Thái như nhà soạn kịch Neil Simon, nhưng từ lâu rồi nó đã trở thành một khu dân cư của người da đen và dường như mẹ tôi là người da trắng duy nhất mà mọi người thấy trong suốt nhiều dặm ở khu đó. Những người tổ chức trại hè đặt một cái bàn ở bên trong và họ bảo chúng tôi cởi giày, cởi sơ mi ra, kiểm tra ngón chân của chúng tôi để xem có đứa nào bị nấm da chân, bị sởi, thủy đậu hay không, sau đó họ đưa chúng tôi ra ngoài dồn chúng tôi lên một chiếc xe buýt màu vàng cho một chuyến hành trình dài đến vùng nông thôn của bang New York. Khi tôi ngồi trên xe buýt, nhìn mẹ mình không dứt, nhìn khuôn mặt da trắng duy nhất trong cả một biển người da đen, qua cửa sổ xe tôi thấy một người đàn ông da đen cùng đứa con trai của ông ta bước tới. Ông ta để ria mép, mặc quần da màu đen và áo khoác da, đeo cả tấn đồ trang sức và đội chiếc mũ nồi màu đen. Ông ta trông thật bảnh bao, nổi bật trong đám đông. Thằng con của ông ta rất đẹp trai, mặc diện, và rất lịch sự. Ông ta đặt hành lý của con trai vào phía sau xe buýt và khi thằng bé chuẩn bị lên xe, thay vì ôm nó, người cha đó chìa bàn tay ra, và thế là cặp cha con đó trao nhau một cái bắt tay rất đẹp mắt mang đậm tinh thần gắn bó của sức mạnh da đen, một kiểu bắt tay được gọi là “dap”, kiểu bắt tay kéo dài năm phút, với các ngón tay siết chặt, ngón cái giơ lên, quặp xuống, ngón trỏ gập lại, cổ tay kêu lách cách, những chiếc vòng tay kêu leng keng. Dường như kiểu bắt tay đó hợp thời đến mức gây kinh ngạc. Tất cả mọi người trên xe buýt đều trố mắt nhìn. Cuối cùng thằng bé đó lảo đảo, thở hổn hển bước lên xe đến ngồi cạnh tôi, gõ ngón tay vào cửa sổ và vẫy chào cha nó, người mà giờ đây đang đứng cạnh mẹ tôi, vẫy tay chào con mình.

“Cậu học kiểu bắt tay đó ở đâu vậy?” một đứa trẻ hỏi thằng bé.

“Bố tớ dạy tớ đấy,” thằng bé nói đầy vẻ hãnh diện. “Bố tớ là Báo Đen đấy.”

Xe buýt nổ máy trong khi tôi hoảng sợ. Một người của đảng Báo Đen ư? Hắn đang đứng cạnh mẹ mình ư? Vậy là cơn ác mộng khủng khiếp nhất của tôi đã thành sự thật rồi, mặc dù thú thực tôi không biết những người của đảng Báo Đen là ai. Tôi đã bị nhiễm cái hình ảnh về họ trên hệ thống truyền thông.

Xe buýt bắt đầu chuyển bánh trong khi tôi đứng dậy mở cửa sổ sát chỗ tôi ngồi. Tôi muốn cảnh báo mẹ. Ngộ nhỡ những người của đảng Báo Đen muốn giết mẹ thì sao? Cửa sổ bị kẹt. Tôi cố chạy đến một cửa sổ khác. Người phụ trách túm lấy tôi, ấn tôi ngồi xuống. Tôi nói: “Cháu phải nói với mẹ cháu điều này.”

“Vậy thì hãy viết thư,” ông ta nói.

Tôi lao tới ghế của thằng con trai gã Báo Đen ở phía sau mình - cửa sổ ở chỗ nó đang mở. Người phụ trách lại ấn tôi trở lại chỗ ngồi.

“Mẹ ơi, mẹ”! Tôi gào lên trước ô cửa sổ đóng kín. Mẹ tôi đang vẫy tay. Chiếc xe buýt chạy xa dần.

Tôi gào lên, “Coi chừng hắn đấy!” nhưng tôi và mẹ cách nhau quá xa mà cửa sổ lại đóng kín. Mẹ không thể nghe được những gì tôi nói.

Tôi nhìn thấy Báo Đen đang vẫy tay chào con trai hắn. Mẹ tôi vẫy tay tạm biệt tôi. Dường như chẳng ai để ý đến ai.

Khi các bậc phụ huynh đã ở ngoài tầm nhìn, tôi quay sang con trai của Báo Đen đang ngồi phía sau mình và giơ nắm đấm đấm thẳng vào mặt nó. Thằng bé vội đưa tay ôm cằm, nhìn tôi bằng ánh mắt sửng sốt khi mặt nó méo xệch trong sự bàng hoàng cùng những giọt nước mắt.

Người dịch: Nguyễn Bích Lan
Nguồn: tve-4u
Được bạn: Mọt Sách đưa lên
vào ngày: 23 tháng 8 năm 2026

« Lùi Tiến »

💬 Thảo luận

Chưa có bình luận nào — hãy là người đầu tiên chia sẻ cảm nhận của bạn!

Đăng nhập để tham gia bình luận.