Màu Của Nước

Lượt đọc: 76 | 0 Đánh giá: 0/10 Sao
★★★★★★★★★★
★★★★★★★★★★
« Lùi Tiến »
3
Kosher

❊ ❊ ❊

Cuộc hôn nhân của ông bà ngoại con được thu xếp bởi một giáo sĩ được trọng vọng, người chuyên đi tới gặp các bậc cha mẹ để xem của hồi môn và soạn những hợp đồng hôn nhân theo luật Do Thái, và điều đó có nghĩa là tình yêu chẳng liên quan gì tới hôn nhân. Gia đình nhà bà ngoại con có đẳng cấp và tiền bạc. Mẹ không biết gia đình bên nội của mình xuất thân từ đâu. Bà ngoại con là tấm vé để ông ngoại con sang Mỹ, và một khi ông đã đặt chân lên đất Mỹ, ông coi như chẳng còn quan hệ gì với bà. Ông đến đây dưới sự bảo lãnh của chị cả của bà ngoại con, bà Laurie, và chồng của bà, Paul Schiffman. Con không thể cuốc bộ sang Mỹ được. Con phải có một người bảo lãnh, người sẽ nói: “Tôi bảo lãnh cho người này.” Ông ngoại sang Mỹ trước, và vài tháng sau bà ngoại, mẹ và anh trai của mẹ, bác Sam được đưa sang sau. Khi đó mẹ hai tuổi còn bác Sam bốn tuổi, vậy nên mẹ không nhớ bất cứ điều gì về chuyến đi dài đầy nguy hiểm đến nước Mỹ ngoài những gì mẹ thấy qua các bộ phim. Trong chiếc hộp để dưới gầm giường, mẹ còn giữ tấm giấy thông hành ghi rõ mẹ đến nước này vào ngày 23 tháng Tám năm 1923 trên một chiếc tàu thủy mang tên Austergeist. Trong suốt hơn hai mươi năm mẹ luôn giữ cái giấy đó bên mình. Đó là sự bảo vệ của mẹ. Mẹ không muốn người ta ném mẹ ra khỏi nước Mỹ. Ai ư? Bất kỳ ai… Chính phủ, bố đẻ của mẹ, bất cứ ai. Mẹ đã nghĩ họ có thể sẽ ném một người ra khỏi nước Mỹ như tống cổ anh ta ra khỏi một trận bóng rổ vậy. Ông ngoại của con thường nói: “Ta là công dân Mỹ còn chúng mày thì không. Ta có thể tống cổ chúng mày về châu Âu bất cứ khi nào ta muốn.” Ông thường dọa như vậy, dọa tống cổ vợ con ông về châu Âu, nhất là bà ngoại con, bởi vì bà là người cuối cùng trong gia đình bà đến đây và ở Ba Lan bà đã chạy trốn lính Nga trong một thời gian dài. Bà thường nói về Czar hoặc Kaiser và về chuyện lính Nga đến làng của bà, bắt những người Do Thái đứng xếp hàng và bắn chết họ như những kẻ máu lạnh. “Mẹ đã phải chạy trốn suốt cả đời,” bà thường nói như vậy. “Mẹ đã ôm con và anh con trong tay trong khi mẹ chạy trốn.” Bà sợ châu Âu và mừng rơn khi được sống ở Mỹ.

Khi bà và anh em mẹ rời tàu, đặt chân lên đất Mỹ, cả nhà ta sống với ông bà ngoại của mẹ, Zaydeh và Bubeh, tại phố 115 and St. Nicholas ở Manhattan. Mặc dù khi đó mẹ còn bé xíu, mẹ vẫn nhớ Zaydeh của mình rất rõ. Ông có bộ râu dài, tính tình vui nhộn và dường như luôn uống trà nóng bằng ly thủy tinh. Tất cả những người đàn ông trong gia đình của mẹ đều để râu dài. Zaydeh còn giữ một bức ảnh chụp ông và mẹ đẻ ra ông trên bàn làm việc. Ảnh được chụp trong khi gia đình vẫn còn ở châu Âu. Ông và cụ ngoại đứng bên nhau, Zaydeh mặc bộ complê đen, đội mũ và hồi đó đã để râu, còn cụ ngoại đội tóc giả, như một tập tục tôn giáo. Dưới mái tóc giả đó là cái đầu hói của cụ, mẹ tin như vậy. Đó là lý do tại sao phụ nữ lại che đầu. Họ bị hói.

Mẹ quý mến ông bà ngoại của mình. Họ có trái tim ấm áp và mẹ yêu quý họ như bất cứ đứa cháu nào yêu ông bà của mình. Ông bà ngoại của mẹ giữ gìn căn hộ của họ sạch sẽ và thật dễ chịu với những đồ nội thất bằng gỗ gụ sẫm màu chắc nịch. Bàn ăn của các cụ lúc nào được trải vải ren trắng lấp lánh. Các cụ là những người Do Thái chính thống, hàng ngày ăn uống theo luật kosher. Con cần phải đọc về nó mới hiểu được bởi vì mẹ không phải là chuyên gia. Có những người viết ra những cuốn sách về chủ đề đó, hãy tìm đọc chúng và hỏi họ! Hoặc hãy đọc Kinh Thánh! Hãy nói cho mẹ biết! Mẹ là ai? Mẹ chẳng là ai cả! Mẹ không thể kể với cả thế giới chuyện này! Mẹ không biết! Cái cách bọn mẹ thực hành nó, mỗi bữa ăn lại sắp xếp bàn ăn mỗi khác, khăn trải bàn khác, đĩa bát khác, thìa nĩa khác, dao khác, mọi thứ đều khác không giống với bữa trước. Và con không thể ăn các bữa theo kiểu hổ lốn được, ăn kiểu gì phải ra kiểu đấy. Giống như con ăn kiêng thì ra ăn kiêng và ăn mặn thì ra ăn mặn, không thể pha trộn. Vậy nên bữa này con ăn kiêng, bữa sau con ăn mặn. Không pha trộn. Không ăn thịt lợn nhé - không có những miếng thịt lợn ăn với salat cà chua đâu, không có thịt lợn xông khói và trứng đâu, quên đi. Con đặt mông xuống và ăn những gì con được cho là nên ăn, và làm những gì được cho là phải làm. Bọn mẹ đã từng sử dụng khăn trải bàn loại đặc biệt cho những bữa ăn chay bởi vì có thể lau sạch nó bằng một chiếc khăn rửa bát đơn giản chứ không phải giặt. Mỗi tối thứ Sáu vào lúc mặt trời lặn con thắp nến lên, cầu nguyện và lễ Sabbath bắt đầu. Lễ Sabbath kéo dài đến lúc mặt trời lặn của ngày thứ Bảy. Không bật đèn hoặc tắt đèn, không xé giấy, không lái xe hơi, không đi xem phim, thậm chí không làm cái việc đơn giản như nhóm bếp lò. Con phải ngồi yên tại chỗ đọc trong ánh nến. Hoặc nếu không, chỉ ngồi im. Đối với mẹ ngồi yên tại chỗ là việc khó nhất. Thậm chí là con gái mẹ vẫn thích chạy nhảy. Mẹ thích ra khỏi nhà, đi chơi. Thích chạy. Điều duy nhất mẹ được phép làm trong lễ Sabbath là đọc những tạp chí lãng mạn. Mẹ làm điều đó trong nhiều năm.

Mẹ còn nhớ cái ngày Zaydeh qua đời trong căn hộ đó. Mẹ không biết cụ mất như thế nào, chỉ biết cụ chết, đơn giản vậy thôi. Vào thời đó con người ta không sống lay lắt và ngớ ngẩn như bây giờ, với những cái ống treo ở miệng và làm giàu cho cánh bác sĩ như bây giờ đâu. Họ chết là chết thôi. Chết. Vĩnh biệt. Cụ ngoại của con chết. Họ đặt cụ nằm trên giường và dẫn anh em mẹ vào phòng để nhìn cụ lần cuối. Họ nhắc bổng mẹ và bác Sam lên nhà để nhìn cụ. Bộ râu của cụ xẹp lép trên ngực cụ còn hai tay cụ đan vào nhau. Cụ đeo một chiếc cà vạt màu đen nhỏ xíu. Trông cụ như đang ngủ. Mẹ nhớ khi ấy mẹ tự nhủ rằng cụ không thể chết được, bởi vì dường như mới trước đó không lâu cụ vẫn sống, cười đùa và làm trò, vậy mà bây giờ cụ chết rồi. Người ta chôn cụ ngay trong ngày hôm đó trước khi mặt trời lặn và bọn mẹ ngồi shiva[1] cho cụ. Tất cả những tấm gương ở trong nhà đều bị che đi. Người lớn trùm khăn kín đầu. Mọi người đều ngồi trên những cái hộp. Sau đó cụ bà mặc đồ đen trong một thời gian dài. Nhưng con biết đấy, mẹ cảm thấy người ta chôn cụ ông quá nhanh. Mẹ muốn hỏi một ai đó, “Ngộ nhỡ Zaydeh chưa chết thì sao? Ngộ nhỡ ông chỉ đùa thôi, ngộ nhỡ lúc tỉnh dậy ông thấy mình đã bị chôn thì sao?” Nhưng một đứa trẻ con trong gia đình của mẹ không được mở miệng hỏi này hỏi nọ. Trẻ con làm những gì người lớn bảo phải làm. Trẻ con phải vâng lời.

Mẹ luôn nhớ chuyện đó, và mẹ nghĩ đó là lý do tại sao giờ đây mẹ mang nỗi sợ bị giam cầm, bởi vì mẹ không biết chết nghĩa là gì. Mẹ biết gia đình mình không nói về cái chết. Mẹ không được phép nói từ đó. Người Do Thái thời xưa họ nhổ nước bọt xuống sàn khi họ nói từ “chết” bằng tiếng I-đít. Mẹ không biết liệu đó có phải là mê tín hay không, nhưng nếu ông ngoại của con nói từ “chết” thì con có thể chắc chắn rằng hai giây sau một bãi nước bọt sẽ bay ra từ miệng ông. Tại sao? Tại sao không? Ông có thể mửa ra sàn nhà ông và không ai được phép nói một lời. Mẹ không biết tại sao ông lại nhổ bọt, nhưng khi ông ngoại của mẹ qua đời mẹ cứ tự hỏi “Ngộ nhỡ Zaydeh chưa chết thì sao ? Ngộ nhỡ ông nằm giữa những người chết mà ông thì vẫn còn sống thì sao?” Chúa ơi… bất cứ chỗ nào quá kín đều khiến mẹ cảm thấy không thể thở nổi và mẹ tưởng chừng mình sắp chết. Đó là lý do tại sao mẹ kể với con tất cả để đảm bảo rằng khi nào mẹ chết thật thì mới là chết. Hãy đá mẹ, đấm mẹ và chắc chắn rằng mẹ đã chết thật bởi vì cứ nghĩ đến chuyện bị chôn sống, nằm đó bị lấp đất lên và bị vây quanh bởi những người chết trong khi mình còn sống, Chúa ơi, là mẹ sợ muốn chết.

[1] Kosher là luật lệ ăn uống của người Do Thái chính thống.

Người dịch: Nguyễn Bích Lan
Nguồn: tve-4u
Được bạn: Mọt Sách đưa lên
vào ngày: 23 tháng 8 năm 2026

« Lùi Tiến »

💬 Thảo luận

Chưa có bình luận nào — hãy là người đầu tiên chia sẻ cảm nhận của bạn!

Đăng nhập để tham gia bình luận.