Lưu Cầu Chi Mí

Lượt đọc: 17 | 0 Đánh giá: 0/10 Sao
★★★★★★★★★★
★★★★★★★★★★
« Lùi Tiến »
Chương 2
Con Đường Sắc Phong Và Triều Cống

❊ ❊ ❊

Lời dẫn

Nó từng được coi là thành viên thứ 57 trong đại gia đình dân tộc Trung Hoa.

Tại sao quốc gia Lưu Cầu lại mang đậm dấu ấn Trung Hoa sâu sắc đến vậy?

Nó có mối quan hệ gắn bó khăng khít, hòa quyện như nước với sữa cùng Trung Quốc.

Nó tuân theo lịch pháp Trung Quốc, sử dụng niên hiệu Trung Quốc, vậy thì đó chính là một quốc gia phiên thuộc của Trung Quốc rồi.

Bằng sự trung thành và kiên định, nó đã bước đi trên con đường triều cống phồn hoa.

Trong 267 năm nhà Minh, Lưu Cầu tổng cộng triều cống 171 lần, tính ra ba năm có hơn hai lần, đây là một mức độ khó lòng sánh kịp.

Lịch sử chân thực trong tướng thanh

Xin cảm ơn! Câu chuyện ngày hôm nay của chúng ta bắt đầu từ một đoạn tướng thanh. Phàm ai thích nghe tướng thanh đều biết nước Trung Hoa chúng ta từng có một nghệ sĩ biểu diễn vô cùng nổi tiếng, đó là tiên sinh Lưu Bảo Thụy. Ông cực kỳ sở trường về tướng thanh đơn khẩu, trong đó có một đoạn liên quan đến tỉnh Sơn Đông chúng ta. Đoạn tướng thanh đó tên là "Đấu Pháp", kể rằng vào niên hiệu Vĩnh Lạc nhà Minh, có một lão đạo người Lưu Cầu đến kinh thành lập lôi đài, muốn đọ pháp với người Trung Quốc, nhưng lại bị một gã đồ tể say rượu người Sơn Đông ở chợ là Tôn Đức Long đánh bại một cách ngớ ngẩn. Thế là lão đành tâm phục khẩu phục cúi đầu xưng thần, vẫn cứ năm nào cũng tiến cống, đời đời đến chầu, câu chuyện là như vậy.

Câu chuyện nói rằng nước Lưu Cầu năm nào cũng tiến cống, đời đời xưng thần, năm nay cử một lão đạo tới, hắn biết giải 36 câu đố chữ, biết đọc hơn 70 bộ kinh Kim Cương. Hắn tìm người Trung Quốc chúng ta để đấu pháp, nói rằng nếu chúng tôi thắng hắn, họ sẽ năm nào cũng tiến cống, đời đời đến chầu; còn nếu không thắng nổi hoặc không có ai đấu pháp với hắn, vậy thì phải tôn Lưu Cầu bọn họ làm thượng quốc, nhà Minh chúng ta làm thuộc quốc, chúng ta phải năm nào cũng tiến cống, đời đời đến chầu họ. Hiện tại hoàng thượng đã dán hoàng bảng để tuyển chọn nhân tài, nếu có ai biết giải đố chữ niệm kinh để đấu pháp với lão đạo, thắng thì cần bao nhiêu tiền cho bấy nhiêu tiền, muốn làm quan lớn bao nhiêu cho làm quan lớn bấy nhiêu. Quá trình đấu pháp ở giữa đây, tôi không có thời gian thuật lại chi tiết cho quý vị nghe, nhưng quý vị phải biết rằng gã đồ tể say rượu này là một người Sơn Đông chính gốc, nói tiếng Giao Đông chính gốc, đến tôi còn nghe không hiểu. Điều chúng ta muốn nói là gì? Lão đạo đến từ nước Lưu Cầu thì tôi không biết, nhưng việc sứ thần nước Lưu Cầu đến triều cống, năm nào cũng tiến cống, đời đời đến chầu, chuyện này trong lịch sử quả thực có thật, tuyệt đối không hề hư cấu. Dám chắc là không phải năm nào cũng tiến cống, đời đời đến chầu, nhưng dăm ba bữa thế nào cũng phải tới một lần. Hai từ "triều cống" thì ai chúng ta cũng có thể hiểu được, chẳng qua chỉ là tiến cống. Giống như trò chơi đánh cấu cấp của chúng ta vậy, đúng không?

Thế nhưng, điều này cũng không hoàn toàn giống. Đánh cấu cấp của chúng ta là gì thế? Bên thua phải tiến cống cho bên thắng, nộp những quân bài đẹp của mình lên, còn triều cống thì không giống lắm. Điểm giống nhau là gì? Đem những món đồ tốt của mình như vàng bạc, đặc sản địa phương dâng lên. Nhưng mà, đánh cấu cấp kiểu như là anh tiến cống cho tôi đồ tốt, tôi lại ban trả lại anh đồ tởm. Đúng không? Triều cống thì khác, anh tiến cống cho tôi đồ tốt, tôi còn ban trả lại cho anh đồ tốt hơn. Anh cho tôi một chữ B, tôi đành phải cho anh chữ A. Quý vị biết không? Nó là như vậy, để thể hiện uy nghi của thiên triều thượng quốc chúng ta. Nếu không phải thế, quý vị thử nghĩ xem, ở tập trước chúng ta đã kể cho mọi người nghe rồi đấy, cái gọi là "vạn quốc tân lương", "xa mã phu trên biển" sớm nhất ấy, hắn đi bán cái gì? Đúng không nào. Cho nên, chắc chắn là có vấn đề, chỗ này chúng ta phải giải đáp câu hỏi đã để lại ở phần cuối của bài giảng trước. Tại sao chính điện vương cung của Lưu Cầu lại hướng về phía Trung Quốc? Tại sao quốc gia Lưu Cầu này lại mang đậm dấu ấn Trung Hoa sâu sắc đến thế? "Mân nhân tam thập lục tính" đến Lưu Cầu làm gì? Điều này phải bắt đầu từ hệ thống triều cống thời cổ đại của Trung Quốc.

Hệ thống triều cống của Trung Quốc có từ rất lâu đời, sớm nhất có thể truy nguyên về chế độ kỳ phục thời Tây Chu và chế độ sách phong sau này, nó vẫn luôn là thủ đoạn quan trọng để các triều đại quản lý các nước chư hầu và nước phiên thuộc.

Vào thời nhà Minh, Trung Quốc nhờ vào thực lực hải quân hùng mạnh đã thiết lập nên một hệ thống mậu dịch triều cống trên biển bao trùm Đông Nam Á, Lưu Cầu cũng nhân cơ hội này mà trở thành nước phiên thuộc của Trung Quốc. Vậy, đằng sau quá trình này có câu chuyện gì? Với tư cách là quốc suối (tông chủ quốc) và nước phiên thuộc, giữa Trung Quốc và Lưu Cầu có những quyền lợi và nghĩa vụ gì?

Hệ thống triều cống của Trung Quốc và việc xác lập quan hệ phiên thuộc giữa Trung Quốc - Lưu Cầu

Hệ thống triều cống cổ đại của Trung Quốc xuất hiện sớm nhất vào thời Thương Chu. Chúng ta lấy Tây Chu làm ví dụ, đó là chế độ kỳ phục, một bộ hoàn chỉnh các dịch vụ nghiêm ngặt trong và ngoài. Phục là gì thế? Là sự phục tùng. Nội phục là nội phục, ngoại phục là ngoại phục. Người ta nói "Dưới gầm trời này, không đâu không phải đất của vua", triều đại nhà Chu gọi các chức quan trong triều là nội phục, chư hầu và quan địa phương là ngoại phục; vùng đất do triều đình trực thuộc gọi là bang kỳ, cũng gọi là điền phục. Vùng đất do các chư hầu ở ngoại phục cai quản, mối quan hệ với trung ương chính là quan hệ triều cống. Anh phải phục tùng lãnh đạo, anh phải tiến cống, anh phải cùng phối hợp đánh giặc. Khi đánh giặc, bắt các nước chư hầu tùy theo lớn nhỏ mà xuất ra số lượng binh mã khác nhau, đây chính là hệ thống triều cống sớm nhất mà chúng ta đã kể. Tần Hán là triều đại trung ương tập quyền đại nhất thống, vào thời điểm đó ở toàn bộ khu vực Đông Nam Á, Nam Á này, không có ai dám đối đầu với chúng ta, cho nên mối quan hệ triều cống này đã biến thành cái gì nào? Quan hệ sách phong.

Quan hệ sách phong, tức là các vị vua chư hầu ở bên ngoài đều phải thông qua sự sách phong của hoàng đế chính quyền trung ương chúng ta, sách phong anh làm vua nước này nước nọ. Ví dụ như, vua Hãn Uy Nô, tất nhiên cũng có người đọc là vua Hãn Uy Nô. Ví dụ như Nam Việt Vũ Vương, vua nước Sơ Lặc, vân vân. Dựa vào đó thì có sự khác nhau, dựa vào xa gần mà có triều cống, có khi là ngựa hoặc vàng bạc châu báu, có người dứt khoát tham gia chinh chiến cùng. Thế nhưng đến sau thời kỳ "Loạn vương bát", các triều đại Trung Nguyên suy tàn. Kiểu sách phong này đã đổi thành chính sách ky mị. Ky mị này lại không giống với sách phong, sách phong chính là như tôi đã nói ở trên, phong cho anh một chức vua nào đó, rồi anh tiến cống cho tôi là xong chuyện. Chính sách ky mị này là gì? Không chỉ phong anh làm vua, mà còn phong anh làm một chức quan gì đó, ví dụ như Thuận Đế nhà Lưu Tông Nam triều từng phong vua Bách Tế làm Trấn Đông đại tướng quân, vua vẫn là vua, tướng quân vẫn là tướng quân; phong vua Nhật Bản làm An Đông đại tướng quân. Đến thời nhà Đường thì lại tiến thêm một bước nữa, thậm chí còn thiết lập các châu, huyện ky mị ngay dưới thể chế của người ta, nhằm thể hiện tư tưởng "Hoa - Di nhất thể". Sau khi nhà Minh được thiết lập, Minh Thái Tổ Chu Nguyên Chương quy định: An Nam, Chiêm Thành, Cao Ly, Xiêm La, Lưu Cầu, Ấn Độ, Tô Môn Đáp Lạp, Gia Nวา (Java), Bỉnh Hanh (Pahang), Bạch Hoa, Tam Phật Tề, Bột Nê cùng các nước Nam Dương, Tây Dương khác, thống gọi chung là "bất chinh chi quốc" (các nước không cần đánh). Mười mấy nước này chính là các nước Đông Nam Á và Nam Á ngày nay, trong đó có Lưu Cầu. Từ đây có thể thấy, Lưu Cầu chính là vào thời điểm này đã thiết lập quan hệ phiên thuộc chính thức với bản thổ Trung Quốc. Hoàng đế nhà Minh phái một sứ thần tên là Dương Tải mang chiếu thư đến Lưu Cầu. Chiếu thư này rất dài, phần đầu chắc chắn là tuyên truyền về bản thân một chút, từ một kẻ áo vải cầu xin, từ việc đi xin ăn đã bước lên làm hoàng đế một nước như thế nào, thuật lại toàn bộ, sau khi nói về những chiến tích anh hùng của mình xong, tiếp đó nói rằng mình được vạn dân ủng hộ, sau khi lên làm hoàng đế đã bố cáo cho các nước phiên thuộc ở chốn xa xôi, bọn họ đều đã đồng ý rồi, chỉ có các người ở Lưu Cầu là quá xa xôi nên trẫm quên mất không báo cho biết, nay đặc phái sứ thần Dương Tải đến để các người tường lãm. Đã nhớ chưa?

Nội dung văn bản chiếu thư nguyên văn như sau:

Xưa các bậc đế vương trị vì thiên hạ, phàm là nơi ánh nhật nguyệt chiếu đến, không phân biệt xa gần, đều đối xử một cái nhìn công bằng như nhau. Cho nên Trung Quốc yên định, tứ di được chỗ ổn thỏa, há phải có ý muốn bắt họ thần phục đâu. Từ khi chính sự nhà Nguyên suy đồi, thiên hạ có chiến tranh binh đao suốt mười bảy năm. Trẫm xuất thân từ kẻ áo vải, gây dựng cơ nghiệp ở vùng Giang Tả, đem binh đi tứ chinh những kẻ không chịu quy thuận, phía tây dẹp vua nước Hán là Trần Hữu Lượng, phía đông trói gông Ngô vương Trương Sĩ Thành, phía nam bình định Mân Việt, thu phục Ba Thục, phía bắc thanh trừng U Yên, an định Hoa Di, khôi phục lại cương thổ cũ của Trung Quốc chúng ta. Trẫm được thần dân tôn đại, lên ngôi hoàng đế, định quốc hiệu thiên hạ là Đại Minh, lấy niên hiệu là Hồng Vũ. Do đó sai sứ đi các nước ngoài, truyền bá ý muốn của trẫm, sứ thần đi đến đâu, tù trưởng các tộc man di đều xưng thần vào cống. Riêng ngươi Lưu Cầu, nằm ở phía đông nam Trung Quốc, ở chốn xa xôi ngoài biển khơi, chưa kịp báo tin. Nay đặc phái sứ sang dụ bảo, ngươi hãy biết cho.

Chiếu thư này tuy cũng có chút mùi vị tự cho mình là trung tâm thiên hạ, mở đầu chắc chắn là "Phụng thiên thừa vận, hoàng đế chiếu viết", điều đó là không thể thiếu, nhưng nhìn chung có thể thấy rất bình đẳng, hoàn toàn không có mùi vị uy hiếp, dọa nạt nào cả. Xem ra nhà Minh không làm gì quá đáng với những nước này. Coi là quốc gia quá xa xôi, nhưng vẫn biết phân biệt rạch ròi giữa Hoa và Di, đúng không? Lúc bấy giờ Lưu Cầu có ba vị vua, đúng không? Ba quốc gia. Sát Độ - Trung Sơn vương của Lưu Cầu tiên phong lĩnh chiếu, đồng thời sai em trai là Thái Kỳ cùng đi về Trung Quốc với Dương Tải để dâng biểu xưng thần. Năm thứ hai, Sơn Nam vương Thừa Sát Độ và Sơn Bắc vương Bát Ni Chi cũng lần lượt đến Trung Quốc dâng biểu xưng thần nạp cống. Đến đây chúng ta lại phải nhắc đến trò đánh cấu cấp rồi. Người ta tiến cống cho chúng ta, chúng ta phải ban trả lại. Đã ban trả những gì nào? Mọi người hãy xem. Minh Thái Tổ Chu Nguyên Chương ban thưởng cho Thừa Sát Độ vương mấy phần quà:

"Đại Thống Lịch" cùng năm tấm lụa là dệt kim mỗi loại.

Một cuốn Đại Thống Lịch, thứ hai là năm tấm lụa là dệt kim hoa văn vàng mỗi loại. Lụa là dệt kim xen lẫn chỉ vàng là một loại tơ lụa, mỗi thứ năm tấm, lại ban thưởng cho em trai của vị quốc vương đó là Thái Kỳ quần áo tiền tài khác nhau.

Những thứ này vào thời điểm đó đều là đồ có giá trị. Trong những món đồ có giá trị này, thứ có giá trị nhất là gì? Thứ có giá trị nhất đương nhiên là Đại Thống Lịch. Đại Thống Lịch này là lịch do Lưu Bá Ôn đầu thời nhà Minh tu sửa dựa trên cơ sở Thụ Thọ Lịch của nhà Nguyên tức là Thụ Thọ Lịch của Quách Thủ Kính, là lịch pháp do quan triều đình biên soạn. Phàm là hoàng đế nhà Minh ban cho anh lịch pháp, hễ anh tiếp nhận, thì điều đó chứng minh rằng anh tuân theo lịch pháp Trung Quốc, sử dụng niên hiệu Trung Quốc, vậy thì anh chính là quốc gia phiên thuộc của Trung Quốc rồi. Đại Thống Lịch, anh cầm trong tay không được gọi là Đại Thống Lịch, mà gọi là gì? Lịch pháp do hoàng thượng ban cho gọi là Hoàng lịch. Anh đã cầm Hoàng lịch rồi, cho nên, cũng trong năm đó, Chu Nguyên Chương cảm thấy ban thưởng cho người ta quá ít, chỉ có chút xíu đó thôi, thưởng thêm chút nữa đi, ban cho Trung Sơn vương Sát Độ ấn bạc mạ vàng một chiếc, cùng lụa là bảy mươi hai tấm; lại ban cho Sơn Nam vương Thừa Sát Độ lụa là bảy mươi hai tấm. Vài năm sau lại bù đắp cho hai vua Sơn Nam, Sơn Bắc mỗi người một ấn bạc mạ vàng núm lạc đà.

Ban cho Trung Sơn vương Sát Độ ấn bạc mạ vàng một chiếc cùng lụa là bảy mươi hai tấm. Lại ban cho Sơn Nam vương Thừa Sát Độ lụa là bảy mươi hai tấm.

Bù đắp cho hai vua Sơn Nam, Sơn Bắc mỗi người một ấn bạc mạ vàng núm lạc đà.

Chiếc ấn bạc mạ vàng đó vô cùng quý giá đấy, tại sao? Ấn chính là biểu tượng của thân phận, ai từng xem phim truyền hình "Thiết Xỉ Đồng Nha Kỷ Hiểu Lam" đều biết, Kỷ Hiểu Lam trộm ấn của Hòa Thân, kết quả thế nào? Chỉ nhận ấn chứ không nhận người. Cho nên, có chiếc ấn này rồi, quốc vương nước Lưu Cầu sau này đóng dấu sẽ dùng cái này. Chiếc ấn này đại diện cho cái gì? Đại diện cho thánh chỉ của hoàng đế nhà Minh.

Lúc bấy giờ, Lưu Cầu chia làm ba phần, cho nên ba quốc gia ba vị vua đều có ấn riêng của mình, thế nhưng ba nước cũng đánh nhau suốt, luôn muốn nước này tiêu diệt nước kia, nước kia tiêu diệt nước nọ. Minh Thái Tổ Chu Nguyên Chương sau khi biết chuyện, lại viết cho người ta một bức thư, bảo rằng các người đánh nhau linh tinh làm gì. Trẫm chẳng đã phát ấn cho ba người các ngươi rồi sao? Đừng đánh nhau nữa.

Sứ giả từ ngoài biển quay về, nói rằng ba vua Lưu Cầu tranh chấp lẫn nhau, bỏ bê nông nghiệp, làm tổn thương nhân mạng. Trẫm nghe thấy không khỏi xót xa thương cảm.

Kết quả các vị đoán xem thế nào, ba vị quốc vương này nhìn thấy bức thư của hoàng đế nhà Minh quả nhiên sợ hãi, từ đó không dám đánh nhau nữa, cho đến khi Minh Thái Tổ qua đời, Minh Thành Tổ sắp qua đời, ba nước này mới hoàn toàn thống nhất. Kể từ đó, nước Trung Sơn này không chỉ sử dụng ấn do hoàng đế nhà Minh ban cho, mà viết chữ cũng dùng chữ Hán, thậm chí ngay cả thể thức viết chữ cũng hoàn toàn giống hệt với Trung Nguyên. Chúng ta lấy triều Thanh làm ví dụ, tấu văn của nước Lưu Cầu gửi Trung Quốc thời nhà Thanh, ở phía trên cùng của bìa có một chữ "Tấu" to tướng, bên dưới mới là công văn, câu mở đầu công văn là:

Lưu Cầu quốc Trung Sơn vương thần mưu mưu thành hoan thành huyễn, khể thủ đốn thủ thượng ngôn.

Chữ "Thần" này viết thế nào? Viết giống hệt cách viết của quan lại Trung Quốc, kiểu chữ phải nhỏ hơn một cỡ so với các chữ khác, để không làm hoàng thượng hoảng sợ, đã nhỏ hơn một cỡ lại còn phải viết lệch về phía bên phải; những quy củ ở bên dưới thì nhiều lắm, trong hành văn còn phải chú ý hai điểm. Thứ nhất là chế độ đẩycách dòng (nâng đầu dòng). Hễ gặp những từ ngữ liên quan đến hoàng đế như "Hoàng đế, Thượng dụ, Chỉ, Ngự" thì phải làm sao? Nhất thiết phải nâng lên hai ô để viết, viết chạm sát hai ô. Hễ gặp "Thiên địa, Tông miếu, Sơn lăng, Miếu hiệu, Sắc dụ của các đời thánh" thì "vượt cách một dòng để viết", còn có những chữ như "Triều, Quốc, Cung điện" thì nâng lên một ô để viết. Thứ hai là gì? Còn phải kiêng kỵ húy. Ví dụ như Khang Hi hoàng đế nhà Thanh tên là Ái Tân Giác Lô·Huyền Hiệp, sau này hễ muốn viết chữ "Huyền" thì phải đổi thành chữ "Nuyên", chữ "Hiệp" thì phải đổi thành chữ "Dục", nếu như bản thân anh vốn cũng tên là Huyền Hiệp, thì bây giờ anh phải đổi thành Nuyên Dục. Phần kết cũng giống như vậy, phải viết là gì thế? Thần đẳng vô nhậm chiêm thiên ngưỡng long, thần đẳng vô nhậm chiêm thiên ngưỡng thánh, hoan huyễn từ chí, cẩn phụng biểu xưng hạ dĩ văn. Bài văn được viết như vậy đấy.

Triều đình nhà Thanh coi thể thức viết công văn có phù hợp với quy chuẩn hay không là một việc lớn liên quan đến tôn nghiêm của triều đình. Nước Lưu Cầu tuân thủ không chút sai sót các quy định của Trung Quốc để viết công văn, hai triều Minh - Thanh vô cùng hài lòng về điều này.

"Hải nội tồn tri kỷ, thiên nhai nhược bỉ lân", biển trời mịt mờ không thể cắt đứt lòng ngưỡng mộ của Lưu Cầu đối với quốc gia lễ nghĩa Trung Hoa. Thế nên, sứ thần triều cống do Lưu Cầu phái đến Trung Quốc trong hai triều Minh - Thanh có thể gọi là nườm nượp không dứt. Sau khi đến Trung Quốc, họ phải tuân thủ những lễ nghi ngoại giao nào? Đằng sau những chi tiết lễ nghi thoạt nhìn có vẻ rườm rà ấy lại ẩn chứa những ngụ ý quan trọng nào?

Lễ nghi triều cống

Tất nhiên, Trung Quốc là quốc gia văn minh lễ nghĩa, thiên triều thượng quốc. Người ta đã có quy củ rồi, chúng ta cũng phải đáp lễ chứ nhỉ? Trong quá trình đáp lễ này, cũng phải thể hiện được phong thái của một nước lớn, đúng không nào? Vậy thì bây giờ chúng ta hãy cùng tìm hiểu xem, lễ nghi triều cống của Lưu Cầu, muốn đến Trung Quốc thì chúng ta phải trải qua mấy bước đón tiếp? Bước thứ nhất phải sắp xếp chỗ ở, tiếp theo là yến tiệc, rồi đến dâng biểu tiến cống, nhưng phải tiến hành theo lễ nghi nhất định, lại còn phải tham gia triều hạ nhân các dịp lễ tết. Lúc về còn phải đến Ngọ Môn lĩnh thưởng.

Vào ở quán dịch

Chúng ta ngày nay đi công tác đến đâu, việc đầu tiên chính là phải tìm khách sạn để ở, họp hành, làm báo cáo đều phải có địa điểm. Đại Minh triều, Đại Thanh triều vừa thấy sứ giả Lưu Cầu tới, việc đầu tiên là vội vàng sắp xếp cho họ chỗ ở, ở đâu nào? Hội Đồng Quán. Hội Đồng Quán chính là nơi ở của rất nhiều phiên dịch, sứ thần tiến cống Lưu Cầu đến thì phải có phiên dịch, thông thạo đủ loại ngôn ngữ, phải ở khách sạn năm sao, khách sạn năm sao này chính là nhà trọ Hội Đồng Quán. Nhà trọ được bảo tồn nguyên vẹn nhất hiện nay nằm ở Hội Đồng Quán phố Nam Hoành ngoài Tuyên Vũ Môn Bắc Kinh, cho đến nay vẫn còn lưu lại một vài kiến trúc như chính điện, hậu điện, viện phụ bên tây, với hơn ba mươi gian phòng lớn nhỏ. Trong đó chính điện là ba đại điện, có thể thấy quy cách rất cao.

Yến tiệc

Việc yến tiệc này có quy củ đàng hoàng. Năm Ung Chính thứ tư, tức năm 1726 đã nghị chuẩn sứ thần triều cống Lưu Cầu sẽ đến Trung Quốc.

Sứ thần triều cống Lưu Cầu dự yến ở bộ hai lần, khi quay về đến Phúc Kiến dự yến một lần.

Dự yến ở bộ hai lần, khi quay về Phúc Kiến dự yến một lần, tiệc chiêu đãi chính thức tổng cộng có ba lần, trong đó Lễ bộ phải khoản đãi ăn uống ở Hội Đồng Quán hai lần: một lần là hạ mã yến, tức là tiệc tẩy trần đón gió ngay khi vừa đến Trung Quốc; một lần là lúc quay về, gọi là thượng mã yến, còn gọi là tiệc tiễn hành, những món ăn được dọn lên vô cùng thịnh soạn. Người Lưu Cầu là Trịnh Chương Quan có viết một cuốn "Lưu Khách Đàm Ký", nhắc đến những bữa tiệc đó nhiều đến mức không nhớ nổi, chỉ có một từ duy nhất – "siêu ngon". Không chỉ ăn, ăn xong còn phải gói mang đi nữa. Việc gói mang đi lúc đó không giống bây giờ đâu. Bây giờ chúng ta gói mang đi cái gì? Bây giờ chúng ta gom những thức ăn thừa trong đĩa trong bát vào một chiếc hộp cơm đơn giản. Cách Trung Quốc đối xử với Lưu Cầu không phải kiểu gói mang đi như vậy đâu. Gói mang đi ám chỉ điều gì? Tất cả những thứ trên bàn này đều mang đi hết, nồi niêu xoong chảo, chỉ cần được bày biện trên bàn cho quý vị ăn, thì những thứ này chính là của quý vị, hiểu chưa nào? Đã đọc "Hồng Lâu Mộng" bao giờ chưa? Lưu bà bà vào Đại Quan Viên đi nhầm vào chỗ của Diệu Ngọc, Diệu Ngọc đưa cho Giả Bảo Vệ chiếc chén ấy, chén uống rượu, chén uống trà, kết quả là Lưu bà bà đã dùng rồi, cho bà luôn khỏi phải trả lại. Đây chính là quy củ của Trung Quốc chúng ta đối với Lưu Cầu, anh đã dùng rồi thì không cần phải trả lại cho tôi nữa, cầm hết đi nhé. Quý vị có hiểu không?

Bữa tiệc này là tiệc bình thường, ngoài tiệc tùng ra, còn có những thứ khác nữa. Anh đến Trung Quốc mà đúng dịp hoàng thượng muốn ăn mừng lễ tết với anh thì phải làm sao? Ví dụ như Tết Nguyên Đán, Đông Chí, sinh nhật hoàng thượng và Vạn Thọ Thánh Tiết. Gặp phải mấy dịp đại lễ này, phải làm thế nào? Anh đã gặp phải rồi, năm nào cũng tiến cống, đời đời đến chầu. Ngày nào đến? Phải nhằm đúng mấy ngày này mà đến, quý vị biết không? Hoàng thượng cũng phải mời khách ăn cơm. Hoàng thượng mời khách, là mời ăn cơm ở Thái Hòa Điện. Lúc ấy trống chi nhạc nổi lên rộn ràng, vừa ăn vừa uống, vừa ăn cơm vừa thưởng thức âm nhạc, múa hát. Sau khi ăn no uống say rồi, thì đến lượt Lễ bộ dâng biểu văn tiến cống.

Dâng biểu tiến cống

Dâng biểu văn tiến cống, đi sứ Trung Quốc không thể chỉ ăn với uống không thôi, mà còn phải làm việc chính nữa. Tiếp theo là tham gia luyện tập lễ nghi ở Hồng Lư Tự.

Luyện tập lễ nghi ở Hồng Lư Tự

Hồng Lư Tự để làm gì chứ? Người nước ngoài đến Trung Quốc, làm sao để diện kiến hoàng thượng đây? Tam quỳ cửu khấu, phải dạy cho anh chứ, đúng không nào. Hồng Lư Tự này chính là lớp học đào tạo lễ nghi. Anh có phải là thần dân không? Anh là thần dân cấp mấy? Anh phải có một phẩm hàm quan chức, quý vị biết không? Thay triều phục Trung Quốc vào, phốc phốc phủi sạch bụi bặm đi, những thứ này đều không được làm kinh động đến thánh giá, tất cả mọi thứ chúng ta đều phải học. Học xong rồi thì thế nào? Người nào học giỏi, trẫm sẽ thưởng cho, hôm nay thưởng cho đi Di Hòn Viên, ngày mai thưởng cho đi Viên Minh Viên, để ngắm nghía vui chơi. Cùng đi tham quan đấy, quý vị biết không? Hoàng thượng mà muốn đi đâu chơi, bốn vị đại thần ở Hồng Lư nhìn thấy, liền bẩm với hoàng thượng rằng, vị vương gia Lưu Cầu này học nhanh lắm, học giỏi lắm, hoàng thượng bảo vậy thì cùng trẫm đi chơi một lúc, thế là đi chơi thôi, quý vị thử nghĩ xem điều này tuyệt vời biết bao.

Triều hạ ngày tết

Bước thứ năm, Tết Nguyên Đán, triều hạ ở Thái Hòa Điện.

Phàm là sứ thần tiến cống đến kinh, ... cung hiết Vạn Thọ Thánh Tiết, Nguyên Đán, Đông Chí triều hạ, cùng ngày hoàng thượng lên điện, quan ty Chủ Khách cùng quán khanh Đại sứ v.v..., dẫn dắt sứ thần tiến cống đến chờ hầu ở phòng trực trước Ngọ Môn, dẫn vào Trinh Độ Môn, hoàng thượng ngự Thái Hòa Điện, bách quan hành lễ xong, ban thứ tự dẫn sứ thần cùng tùy quan đến chót ban tây đan trì, nghe xướng thực hiện lễ tam quỳ cửu khấu.

Ở đây chúng ta phải chú ý rằng, "Nguyên Đán" trước đây không phải là Nguyên Đán của ngày nay, mà chính là Tết Nguyên Đán (Tết Âm lịch) ngày nay. Theo ghi chép trong "Thanh Sử Cảo", năm Thuận Trị thứ 8 (1646), định ra ba đại tiết là Nguyên Đán, Đông Chí, Vạn Thọ Thánh Tiết, đến lúc đó sẽ cử hành đại lễ quân thần triều hạ, các sứ tiết nước ngoài đến kinh đô cũng cùng tham gia. Ba đại tiết là Tết Âm lịch, Đông Chí, Vạn Thọ Thánh Tiết, người nước ngoài nhất định phải làm thế nào? Các vị quốc vương của những nước phiên thuộc này muốn đến Trung Quốc, nhất định phải tranh thủ đến vào ba đại tiết này, nhất định phải đến trước ngày 20 tháng Chạp. Anh đến muộn thì sẽ không kịp tham dự Nguyên Đán nữa, đúng không nào? Anh mà đến muộn nữa, thì sẽ không kịp dự Đông Chí đâu, cho nên nhất định phải ở lại Trung Quốc trong suốt thời gian diễn ra mấy đại tiết lớn này. Quý vị thử nói xem một chuyến đi về như thế này phải ăn ở mất bao nhiêu tháng, phải ăn hết bao nhiêu cái đĩa, không thể biết được.

Ban thưởng ở Ngọ Môn

Bước thứ sáu, lĩnh thưởng ở Ngọ Môn. Thứ duy nhất không thể mang về chính là những cái đĩa cái bát mà anh đã ăn. Cha mẹ ơi, khách đến Trung Quốc mà mang theo một đống bát đĩa về nhà. Triều đình cũng mất mặt lắm chứ, thế nên vẫn phải tặng thêm chút gì đó, tặng vàng bạc châu báu. Thứ gì cũng phải có một chút. Cái nghi thức ấy, trong sách lịch sử viết rằng nghi thức của họ náo nhiệt biết bao.

Ngày ban thưởng lớn, bày sẵn bàn ở phía bên trái đường ngoài Ngọ Môn, bày biện vật phẩm ban thưởng lên bàn. Quán khanh mặc triều phục, dẫn dắt sứ thần cùng tùy quan mỗi người mặc triều phục bản quốc... Xướng viên xướng tề ban, ban thứ tự dẫn sứ thần vào trong tây đan trì đứng theo thứ tự, mặt hướng bắc, bên đông xếp trên, xướng tiến, xướng quỳ khấu hưng, thực hiện lễ tam quỳ cửu khấu. Quan ty Chủ Khách dâng sắc ban vật phẩm ban thưởng cho quốc vương, mâu thông sự trao cho sứ thần quỳ nhận, chuyển trao cho tùy nhân, rồi lần lượt ban phát vật phẩm ban thưởng cho sứ thần và tùy nhân. Các bên quỳ nhận xong, xướng khấu hưng, lại thực hiện lễ tam quỳ cửu khấu, đứng dậy, dẫn giải lui ra, quan khanh dẫn sứ thần cùng tùy quan, tùy nhân đều đi ra.

Tất nhiên, cứ ban thưởng như vậy rồi mà ở nước Lưu Cầu vẫn có người cảm thấy chưa hài lòng, còn đi ra các hàng quán tư nhân như Phan Gia Viên để mua thêm ít đồ sứ mang về. Triều cống tôi thưởng cho anh bao nhiêu, thì anh chỉ được mang bấy nhiêu về thôi. Anh không được phép tự ý mua đồ, không cho phép anh dùng tiền để mua sắm. Kết quả là có một lần lại bị chúng ta kiểm tra ra. Không đúng, hoàng thượng chúng ta đâu có thưởng cho anh nhiều thế này, sao mà anh lắm thế kia?! Cuối cùng báo cáo lên hoàng thượng, hoàng thượng bảo thôi thôi bỏ đi, nước của họ cũng nhỏ, chẳng qua chỉ mua ít đồ thôi mà, cứ cho họ mang về đi, bảo họ lần sau đừng tái phạm là được. Quý vị xem Trung Quốc chúng ta độ lượng biết bao, thấy chưa, vị quốc vương Lưu Cầu này khi đến Bắc Kinh đã nhận được quy cách tiếp đãi vô cùng hậu hĩnh, ăn ngon uống say, ăn kèm mang về. Bao nhiêu là đồ đạc cơ chứ? Quá nhiều rồi.

Ghi chép về việc Trung Quốc sách phong Lưu Cầu

Tục ngữ có câu: "Không làm được tướng quân thì làm sứ thần, cũng là bậc đại trượng phu trên đời." Trong quá trình giao bang giữa các quốc gia, sứ thần của hai bên không nghi ngờ gì chính là nhóm người quan trọng nhất. Khoảng cách từ Bắc Kinh đến Lưu Cầu vượt quá 5000 dặm, lại còn phải bôn ba qua cả đường bộ lẫn đường biển, trong điều kiện giao thông kém phát triển thời cổ đại, mức độ gian khổ có thể tưởng tượng được. Thế nhưng mối quan hệ hữu nghị giữa hai triều Minh - Thanh và Lưu Cầu lại kéo dài gần năm trăm năm, vậy thì, sứ thần hai bên đã vượt qua muôn vàn khó khăn như thế nào để duy trì con đường triều cống này luôn thông suốt?

1. Uông Cập đi sứ Lưu Cầu

Quý vị thử nghĩ xem, họ ăn ngon, uống sướng, mang đồ đã đời rồi cứ thế đi về thôi sao? Không phải đâu, vẫn còn việc đấy. Năm Khang Hi thứ 19, tức là tháng 9 năm 1680, Lưu Cầu phái quan tai mục Mao Kiến Long, chính nghị đại biểu Lương Bằng Hãn v.v... dẫn đầu đoàn sứ thần đến triều đình nhà Thanh tiến cống. Sau khi những lễ nghi tiếp đón phía trên của triều đình nhà Thanh đã hoàn thành xong, người ta lại nói đại diện cho toàn thể nhân dân Lưu Cầu thỉnh cầu Khang Hi hoàng đế ban ơn sách phong. Chuyện này là thế nào nhỉ? Hóa ra quan hệ phiên thuộc giữa Trung - Lưu này có quy định:

Lưu Cầu quốc phàm vương tự vị, tiên thỉnh triêu mệnh, khâm mệnh chính phó sứ phụng sắc vãng phong, tứ dĩ đà nữu mạ kim ngân ấn, nãi xưng vương. Vị phong dĩ tiền xưng thế tử, quyền quốc sự.

Chiểu theo quy củ của Trung Quốc, sau khi quốc vương của tất cả các nước phiên thuộc qua đời, hoàng tử của quốc vương, người chuẩn bị kế vị, được gọi là thế tử. Thế tử này phải chịu tang, còn gọi là đinh ưu. Nói là chịu tang ba năm thì là điều giả dối, nhưng ít nhất cũng phải chịu tang hai năm một quý. Sau khi chịu tang xong hai năm một quý này rồi, mới viết thư cho hoàng thượng nước Đại Trung Hoa, báo với Trung Quốc rằng, hoàng thượng ơi nhà chúng tôi không may, cha tôi qua đời rồi, nước chúng tôi không có vua, xin ngài phong cho một người, trong ngoặc đơn tốt nhất là con đi, làm quốc vương nước chúng tôi nhé. Cứ như thế, sau khi hoàng đế Trung Quốc phê chuẩn, thì mới được coi là hợp pháp. Yêu cầu sách phong lần này của Lưu Cầu xuất phát từ nguyên nhân đó. Vị Thượng Chất vương của Lưu Cầu này đã qua đời vào năm Khang Hi thứ 7, tức là năm 1668, thế tử Thượng Trinh quản lý quốc sự. Vào năm Khang Hi thứ 8, tức là qua một năm sau, chiếu theo quy định này, ông đã phái chính nghị đại biểu Lâm Mậu Thịnh v.v... đến Trung Quốc báo tang. Lúc này tình hình ở Trung Quốc ra sao? Khang Hi năm ấy vừa tròn 16 tuổi, cũng chính trong năm này ông đã trừ khử Ngao Bái, một tay thâu tóm triều chính. Đến năm Khang Hi thứ 19, thì xảy ra việc đoàn sứ thần Lưu Cầu đến thỉnh phong mà chúng ta vừa nhắc tới ở trên. Lúc này vừa đúng lúc Khang Hi đang chuẩn bị đánh quân họ Trịnh ở Đài Loan, việc thu phục Đài Loan là một sự kiện lớn đối với Khang Hi, rất bận rộn. Đối với việc thỉnh phong của Lưu Cầu, Lễ bộ bàn bạc rằng:

Lưu Cầu quốc Thượng Trinh tập vương dụ chỉ, tịnh cố vương Thượng Chất ân tuất tế văn, lệnh lai sử tì hồi.

Khang Hi cũng đồng ý, nói rằng:

Lưu Cầu quốc thế tử Thượng Trinh phụ tử lịch tẫn thần nghĩa, trung thành thâm vi khả gia. Trứ y nghị, nhưng chiếu tiền thưởng tứ.

Đoàn sứ thần Lưu Cầu nghe vậy liền nói, bắt chúng tôi tự mang sách phong thư và tế văn về nước thì chúng tôi không đồngنوع đâu, các vị vẫn phải cử sứ thần chuyên trách đến Lưu Cầu của chúng tôi để tiến hành sách phong, thế mới là chính thức. Nói thế nào cũng không chịu, nhất định phải thỉnh cầu Khang Hi phái người đến Lưu Cầu. Khang Hi hết cách đành phải nói:

Y đẳng thâu thành, khẩn thiết cầu khiển sử sách phong, ưng đặc khiển quan vãng, trứ cai bộ tái nghị cụ tấu.

Ấy chà, các vị xem họ thành khẩn thế này, khẩn thiết cầu xin chúng ta phái người đến, quá trung thành, quá mức cảm động rồi, hay là các bộ các ông thảo luận lại đi, bàn bạc ra một phương án xem nào. Cứ như vậy, Lễ bộ chiếu theo chỉ thị của Khang Hi hoàng đế, quyết định phái người đến Lưu Cầu để sách phong hoàng đế. Thêm nữa, còn phải cấp tiền xoa dịu cho bọn họ. Quốc vương của người ta chẳng phải đã qua đời rồi sao? Phải bày tỏ chút thành ý chứ, mang tiền đi tặng cho họ. Quyết định như vậy xong, Khang Hi nói được. Tiếp theo là chọn người, phái ai đi bây giờ? Thời nhà Minh, triều đình chọn người đa phần từ các chức hành nhân, cấp sự trung mà tuyển phái. Hành nhân là một chức quan thời nhà Minh, đời Minh thiết lập ty hành nhân, có ba mươi bảy hành nhân, là chức quan chánh bát phẩm. Trách nhiệm của hành nhân chia làm hai phần trong và ngoài: trong triều chính là ban hành chiếu sắc, tức là ban bố mệnh lệnh của hoàng đế; chiêu mộ hiền tài, chính là quản lý việc tuyển dụng, khen thưởng quan lại, hộ tống đại thần v.v...; bên ngoài chính là sách phong quốc vương, phụng chỉ chiếu dụ, điếu tế, ban thưởng v.v... Nhiệm vụ của cấp sự trung chính là hầu cận, can gián, bù đắp chỗ thiếu sót, nhặt nhạnh điều bỏ sót, xét duyệt. Lại còn có trách nhiệm giám sát, giám sát các bộ phận của lục bộ, hạc tấu trăm quan, bổ sung cho nhau với ngự sử, ngoài ra cũng đảm nhận nhiệm vụ chiêu mộ, ban đầu là chánh ngũ phẩm, sau đó lại đổi thành chánh thất phẩm, chánh bát phẩm v.v... Chức hành nhân và cấp sự trung này tuy phẩm cấp không cao nhưng đều là những kẻ có quyền lực. Việc nhà Minh sách phong Lưu Cầu thông thường đều tuyển bạt từ những người này, thế nhưng không phải là quá nghiêm ngặt, có rất nhiều trường hợp chạy chọt quan hệ, đi cửa sau. Giống như người mà chúng ta vừa kể ở phần trước, chẳng phải có kẻ chạy chọt quan hệ đến chỗ Trịnh Hòa đó sao? Thế nhưng đến thời Khang Hi, việc tuyển bạt đã trở nên nghiêm ngặt hơn, Khang Hi rất coi trọng nhân tuyển này, trước tiên do Lễ bộ từ các cơ quan như Nội các, Hàn Lâm Viện, Lễ bộ, Lục khoa và Ty Hành nhân đề cử 82 người làm ứng cử viên, Khang Hi hoàng đế hạ lệnh do "Cửu khanh Chiêm sự khoa đạo hội tuyết cụ tấu", qua quá trình hội tuyết, đã chọn ra Kiểm thảo Hàn Lâm Viện là Uông Cập làm chính sứ, Trung thư Xá nhân Nội các là Lâm Lân Thường làm phó sứ. Lễ bộ đã chọn ra hai người này, thế nhưng vẫn phải chờ lãnh đạo phê chuẩn, dâng danh sách lên cho Khang Hi. Khang Hi liền hỏi các đại học sĩ Nội các, hai người này thế nào? Mọi người đều nói "văn học khá thông", "con người cũng rất ưu tú", tức là có học thức rất cao, nhân phẩm cũng rất tốt. Khang Hi vô cùng hài lòng, liền quyết định phái hai người bọn họ đi. Theo thông lệ, đoàn sứ thần sách phong này sau khi đã được xác định, trước khi lên đường diện kiến hoàng thượng trước để hỏi xem lãnh đạo có chỉ thị đặc biệt gì không, bản thân có yêu cầu gì cũng có thể đề xuất. Vị Uông Cập này liền đề xuất bảy yêu cầu với Khang Hi, sớ trần thất sự:

Thứ nhất, xin ban ngự bút; thứ hai, xin chiếu lệ dụ tế hải thần; thứ ba, kỳ hạn vượt biển, không nhất thiết phải đợi riêng sứ thần tiến cống; thứ tư, xin mang theo quan sửa tàu cùng vượt biển; thứ năm, xin cấp quan phòng; thứ s/ứ, xin tăng binh hộ tống; thứ bảy, xin ứng trước tiền bổng lộc.

Đó là xin Khang Hi viết cho một bức tranh chữ, viết thêm một bài văn tế để tế hải thần, lại xin mang theo một số thợ sửa thuyền, phòng hờ trên biển thuyền bị hỏng thì phải có người sửa được, lại xin Khang Hi phái thêm binh lính bảo vệ, rồi phát thêm ít tiền vân vân. Bảy việc này, Khang Hi đã đáp ứng cho ông ta bốn việc, hơn một nửa rồi, có thể mang theo thợ sửa thuyền cùng lên đường, lại ứng trước cho họ tiền bổng lộc hai năm, còn viết một bài văn tế để tế hải thần, và đề tặng một bức chữ. Bốn chữ "Trung Sơn Thế Thổ" được treo ngay chính phía trên ngự tọa của quốc vương Lưu Cầu chính là do Khang Hi đề tặng đấy. Khang Hi còn đặc biệt dặn dò Uông Cập và những người khác rằng phải "vụ trì đại thể, đãi dĩ khoan hòa", ý bảo là phải đối xử tốt với họ. Uông Cập và đoàn người nhận lệnh, bắt đầu chuẩn bị xuất phát. Trước tiên viết một bức thư thông báo cho nước Lưu Cầu, báo cho họ biết hành trình, để bên phía đối phương làm tốt công tác nghênh đón, sau đó mới lựa chọn phương tiện giao thông, thời đó chưa có máy bay, đường bộ thì còn đỡ, mấu chốt là ở trên biển, anh phải có một con thuyền thật tốt, đặc biệt là đoạn hàng hải đi Lưu Cầu vô cùng hiểm trở, thuyền vừa chắc chắn lại vừa đẹp là mấu chốt. Theo thông lệ, việc quan trọng thế này, sứ thần phải tự mình giám sát, "Cựu chế, sứ thần tất thân đốc tạo thuyền." Như vậy lại vừa tốn thời gian vừa tốn nhân lực, vật lực, tài lực. Lần này thật khéo, chẳng phải lúc trước chúng ta đã kể là Khang Hi vốn định để sứ thần Lưu Cầu tự mình mang chiếu thư tế văn về Lưu Cầu đó sao? Tại sao? Bởi vì sắp sửa đánh Đài Loan rồi, rất bận rộn, đây là yếu tố bất lợi cho việc sách phong. Uông Cập nghĩ chi bằng chúng ta trực tiếp ngồi chiến thuyền đi Lưu Cầu luôn đi, vừa chắc chắn lại vừa oai phong, lại còn tiết kiệm thời gian lẫn công sức, "Mân cương trị binh, chiến thuyền phương tập, nghị tức thủ chiến thuyền dĩ độ, ký khả tỉnh phí, thả miễn nhu trệ." Cứ như vậy, họ trực tiếp ngồi chiến thuyền xuất phát. Lần này cũng mở ra tiền lệ đoàn sứ thần sách phong dùng chiến thuyền hoặc thương thuyền đi Lưu Cầu. Trước đây đều phải đóng thuyền sách phong chuyên dụng, lần này Uông Cập rất giỏi quan sát tình thế, đã biến yếu tố bất lợi thành yếu tố có lợi. Cứ như vậy, vào năm Khang Hi thứ 22, tức ngày 16 tháng 6 năm 1683, họ xuất phát từ Nam Đài Phúc Kiến lên thuyền, ngày 19 đến Di Sơn Viện, ngày hôm sau liền tiến hành nghi lễ dụ tế Thiên Phi hải thần.

Ngày 23 giờ Thìn, bèn ra Ngũ Hổ Môn, qua Đông Sa Sơn, .... Chiếu theo hải đạo mà khảo sát, ngày 24, đáng lẽ qua Tiểu Lưu Cầu, Hoa Bình Dư, Cơ Long, Đạm Thủy các núi, mà ngày hôm ấy giờ Thìn đã qua Bồ Giai Sơn. Giờ Dậu, đã qua Điếu Ngư Dư, không biết các núi bay qua từ lúc nào. Ngày 25, đáng lẽ thấy Hoàng Vĩ Dư, không biết vì sao lại vượt qua Xích Dư. Ngày 26, đáng lẽ thấy Cô Mễ Sơn, lại không biết vì sao bèn tới Mã Xỉ Sơn.

Đoạn trước chúng ta đã kể trong cuốn "Hải Quốc Ký" của Thẩm Phục cũng có một đoạn ghi chép tương tự như thế này, ngày 24 qua quần đảo Điếu Ngư, ngày 26 nhìn thấy Cô Mễ Sơn, lại đến Mã Xỉ Sơn, lúc này thì đã đến địa giới của Lưu Cầu rồi. Sứ giả Lưu Cầu đi chung thuyền lo lắng không biết nhà mình đã chuẩn bị xong công tác tiếp đón hay chưa, sứ thần sách phong của người ta sắp đến tận cửa nhà rồi, lo là không kịp nghênh đón, bèn nói với Uông Cập dừng lại một lát, để họ về bẩm báo với quốc vương trước, đợi quốc vương chuẩn bị xong xuôi rồi hãy lên bờ. Thế là Uông Cập ra lệnh hạ buồm xuống, dừng lại một chút, thế nhưng không hiểu buồm thuyền gặp sự cố thế nào mà mãi không hạ xuống được. Lại bảo thủy thủ thả neo, thế nhưng neo này cũng chẳng có tác dụng gì, thuyền cứ thế không tài nào dừng lại được. Chỉ trong chớp mắt thuyền đã đến cảng Naha của Lưu Cầu, đi thẳng đến trước "Nghênh Ân Đình". Chuyến đi này thuận buồm xuôi gió rất nhanh chóng, là chuyến sách phong tốn ít thời gian nhất từ trước tới nay. Lúc này, đội ngũ nghênh đón trùng điệp vô số kể, quốc vương, vương hậu đều có mặt đầy đủ, nào là nghi thức này nghi thức nọ, vô cùng long trọng. Ăn ngon, ở tốt xong rồi thì phải làm việc chính, có hai việc phải làm: Thứ nhất, phải dụ tế cố vương, quốc vương của Lưu Cầu chẳng phải đã qua đời rồi sao, phải đến tế cúng; thứ hai, phải sách phong tân quốc vương. Ngày mùng 6 tháng 8 hôm ấy, Uông Cập tuyên đọc bài văn tế cúng Thượng Chất vương do Khang Hi hoàng đế viết. Văn tế ca ngợi sự trung thành của Thượng Chất vương, đồng thời bày tỏ nỗi tiếc thương trước sự ra đi của ông, ban thưởng một trăm lạng bạc, năm mươi tấm lụa rộng, đồng thời tái khẳng định lập phương của triều đình nhà Thanh:

Phàm hữu khác cộng phiên chức, lũ thế thâu thành, tắc tất sinh gia tích mệnh chi vinh, một long phó tuất chi điển.

Nghi lễ tế cúng kết thúc xong, lại chọn ngày lành tháng tốt, tiếp tục tiến hành đại điển sách phong. Trong chiếu thư sách phong, triều đình nhà Thanh biểu thị sự khẳng định đối với việc "Trung Sơn vương thế tử Thượng Trinh lữ sử lai triêu, cống hiến bất giải. ... Đốc thủ thần củng, cung thuận mị chiêu, khắc đản trung thành". Ý đại khái là nói, Thượng Trinh làm rất tốt trong việc triều cống, lại vô cùng trung thành, đã hoàn thành trách nhiệm của một bề tôi, cho nên phái sứ thần sách phong đến để khen ngợi ngươi, lại đặc biệt ban bố sắc lệnh khen thưởng, ban cho vị Thượng vương Thượng Trinh này gấm mãng bào, lụa gấm ba mươi tấm, phi hai tấm. Đến đây, hai việc lớn đã được giải quyết ổn thỏa, sau đó thì có thể tùy ý đi dạo ngắm cảnh chơi đùa rồi. Uông Cập, Lâm Lân Thường đi dạo khắp nơi ở Lưu Cầu để ngắm nghía, còn đề chữ nữa. Người ta có viết những câu như "Ai đó đã đến đây du lịch" đâu cơ chứ, Uông Cập đề ba chữ "Phú Mệnh Đường" cho quán thiên sứ Lưu Cầu, lại viết bài "Lưu Cầu quốc tân kiến Chí Thánh Miếu ký" cho Khổng miếu Lưu Cầu, thúc đẩy sự truyền bá của Nho học tại Lưu Cầu. Ngoài ra, bởi vì hai ông đều là văn nhân, nên không thể thiếu việc ngâm thơ làm phú. Nhìn thấy phong cảnh tươi đẹp của Lưu Cầu, liền xướng họa với văn nhân bản địa Lưu Cầu, để lại rất nhiều tác phẩm thi từ, cũng khiến cho thơ ca Lưu Cầu mang đậm màu sắc Trung Hoa rất lớn, điều này lát nữa chúng ta sẽ nói kỹ hơn sau. Uông Cập và những người khác đi dạo suốt một thời gian dài, đã nắm rõ các sản vật, địa mạo, văn hóa của Lưu Cầu. Họ đâu có đi dạo vô cớ đâu chứ, đây cũng là một nhiệm vụ đấy. Theo thông lệ, sứ thần sách phong sau khi sách phong xong quay về nước phải viết lại toàn bộ quá trình đi sứ Lưu Cầu thành một bản báo cáo, phải đem nộp cho hoàng thượng xem, xem xong rồi còn phải giao nộp cho kho lưu trữ để lưu trữ lại.

2. Bằng chứng thép về chủ quyền quần đảo Điếu Ngư – "Phù Sinh Lục Ký", "Sử Lưu Cầu Tạp Lục"

Báo cáo có sớm nhất còn tồn tại về Lưu Cầu được viết vào năm Gia Tĩnh thứ 13 nhà Minh, tức năm 1534. Lúc bấy giờ, có một vị sứ thần sách phong tên là Trần Khản sau khi về nước đã viết bộ "Sử Lưu Cầu Lục" đầu tiên, cũng nhờ có bản báo cáo do ông viết này, nếu không thì ngày nay chúng ta sẽ không có nhiều tư liệu đến vậy. Uông Cập sau khi về nước cũng viết một cuốn sách mang tên "Sử Lưu Cầu Tạp Lục", ghi lại tất cả những gì tai nghe mắt thấy của mình ở Lưu Cầu. Cuốn sách này có năm phần, "Sử sự", "Cương vực", "Tục thượng", "Vật sản", "Thần dị". Quyển một "Sử sự" chủ yếu ghi chép lại những công tác chuẩn bị trước khi ông đi Lưu Cầu như cáo phó thỉnh phong của nước Lưu Cầu, được tuyển chọn chức sứ, chuẩn bị thuyền phong, nghi chú dụ tế, nghi chú sách phong vân vân, ví dụ như tôi được tuyển chọn thế nào, hoàng thượng dặn dò ra sao, nên hành xử lễ nghi thế nào vân vân; quyển hai "Cương vực" liên quan đến núi sông, địa lý của Lưu Cầu vân vân, còn ghi chép lại tuyến đường chi tiết đi Lưu Cầu, dưới đây sẽ có một câu chuyện mà chúng ta sẽ giới thiệu chi tiết; "Tục thượng" ghi chép lại phong tục trang phục, văn hóa và nghệ thuật của Lưu Cầu vân vân; "Vật sản" ghi chép tình hình vật sản của Lưu Cầu; "Thần dị" ghi chép lại một số tình hình tế thần trên biển. Trong đó có một đoạn ghi chép lại nghi thức tế cúng này:

Ngày 25, thấy núi, đáng lẽ trước Hoàng Vĩ sau Xích Dư, chẳng mấy chốc, bèn đến Xích Dư, chưa thấy Hoàng Vĩ Dư. Chập tối, qua giao, có người viết là câu, gió lớn sóng cả. Ném heo sống dê sống mỗi loài một con, hắt cháo năm đấu, đốt thuyền giấy, đánh chiêng gõ trống, các quân sĩ đều để giáp tuốt gươm, cúi dọc mạn thuyền làm dáng vẻ ngự địch, rất lâu sau mới thôi. Hỏi: "Nghĩa của chữ giao là gì?" Đáp: "Là ranh giới trong ngoài." "Ranh giới phân biệt ở đâu?" Đáp: "Phỏng đoán thôi." Nhưng lúc nãy vừa vặn đúng chỗ ấy, không phải là suy đoán mò mẫm.

Ý nghĩa là gì? Chính là khi đoàn thuyền sách phong của Uông Cập đi qua "Giao", hoặc gọi là "Câu", lúc này gió lớn sóng dữ, đoàn thuyền liền ném một con heo sống và một con dê sống xuống biển, lại hắt năm đấu cháo gạo, đồng thời đốt những chiếc thuyền giấy đã làm sẵn, đánh trống khua chiêng, toàn bộ nhân viên đều rút vũ khí ra, làm tư thế sẵn sàng chiến đấu như đối mặt với kẻ địch lớn, qua một khoảng thời gian rất lâu như thế mới dừng lại. Cái gọi là "Giao" hoặc "Câu" bên trong, còn được gọi là "Hắc Câu", "Hắc Thủy Câu", chính là rãnh biển Lưu Cầu mà chúng ta nói đến ngày nay. Nghi thức tế cúng mà Uông Cập ghi chép lại được cử hành chính là ở rãnh biển Lưu Cầu này. Xét từ góc độ địa lý, rãnh biển Lưu Cầu đã chia cắt hoàn toàn quần đảo Lưu Cầu với thềm lục địa Trung Quốc, quần đảo Điếu Ngư, Hoàng Vĩ Dư, Xích Vĩ Dư cùng đảo Đài Loan đều nằm trên thềm lục địa Trung Quốc có độ sâu dưới 200 mét. Rãnh biển Lưu Cầu ở đây là nơi hay xảy ra tai nạn hàng hải, đồng thời cũng là "ranh giới trong ngoài". Từ ghi chép này có thể thấy ít nhất là vào đầu thời nhà Thanh, Trung Quốc đã coi rãnh biển Lưu Cầu là ranh giới phân chia giữa Trung Quốc và nước ngoài (Lưu Cầu). Ghi chép của Uông Cập là một trong những bằng chứng mạnh mẽ cho thấy quần đảo Điếu Ngư thuộc lãnh thổ nước ta.

Ngoài ra, gần đây chúng ta còn phát hiện ra một cuốn sách, càng chứng minh một cách mạnh mẽ hơn rằng quần đảo Điếu Ngư từ xưa đã thuộc về Trung Quốc.

Trong lịch sử Trung Quốc có một khối ngọc quý nổi tiếng tên là Hòa Thị Bích, nó được tôn sùng là "báu vật truyền đời thiên hạ" đáng giá ngàn vàng, hơn hai ngàn năm nay, những truyền thuyết liên quan đến nó vẫn không ngừng được các đời văn nhân mặc khách ngâm vịnh qua thơ văn. Ngày nay, lại xuất hiện một món đồ được mệnh danh là "Hòa Thị Bích đương đại", hơn nữa nó lại có mối quan hệ vô cùng mật thiết với quan hệ Trung - Lưu và lịch sử quần đảo Điếu Ngư, vậy rốt cuộc nó là gì? Giá trị của nó nằm ở đâu?

Nếu chưa từng nghe qua, tôi nhất định phải giới thiệu cho quý vị. Chuyên gia nghiên cứu Hồng Lâu Mộng nổi tiếng Phùng Kỳ Vô Y tiên sinh từng nói: "'Phù Sinh Lục Ký' là một tác phẩm vĩ đại nữa sau 'Hồng Lâu Mộng'..." Giống như học giả nước ta ở Đài Loan, Du Quốc Cơ tiên sinh từng nói: "Xét thuần túy từ cảm nhận đọc sách cá nhân tôi, cho rằng các tác phẩm lấy tình yêu làm chủ đạo trong văn học truyền thống Trung Quốc, chỉ có hai cuốn sách đủ tư cách được gọi là kiệt tác văn học, một cuốn là 'Hồng Lâu Mộng' của Tào Tuyết Cần; cuốn còn lại chính là 'Phù Sinh Lục Ký' của Thẩm Tam Bạch." Thẩm Tam Bạch là ai? Mà lại có thể ngồi ngang hàng với Tào Tuyết Cần?!

Thẩm Tam Bạch chính là Thẩm Phục, Tam Bạch là biểu tự của ông, là nhà văn học nổi tiếng đời Thanh, ông là tác giả tiểu thuyết "Phù Sinh Lục Ký", đồng thời cũng là nhân vật chính trong tiểu thuyết. "Phù Sinh Lục Ký" là tiểu thuyết thể tản văn tự truyện của ông, giống như "Hồng Lâu Mộng" miêu tả câu chuyện tình yêu bi tráng cảm động giữa Giả Bảo Ngọc và Lâm Đại Ngọc, "Phù Sinh Lục Ký" cũng ghi chép lại tình nghĩa phu thê sâu đậm giữa Thẩm Phục và người vợ Trần Vân. Khiến vô số người say đắm hướng về, ngay cả lão tiên sinh Lâm Ngữ Đường cũng phải cảm thán rằng: "Vân, tôi nghĩ, là người phụ nữ đáng yêu nhất trong văn học Trung Quốc!" Giống như Bảo - Đại trong "Hồng Lâu Mộng", vợ chồng Thẩm Phục cũng không được dung dung gia tộc, trải qua bao trắc trở thăng trầm, cuối cùng âm dương cách biệt. Lịch sử còn có sự tương đồng kinh ngạc hơn nữa, bốn mươi hồi sau của "Hồng Lâu Mộng" bị thất lạc, "Phù Sinh Lục Ký" cũng sáu quyển mà nay chỉ còn sót lại bốn quyển, thật sự khiến người ta tiếc nuối đứt ruột đứt gan. Thế nhưng trời không tuyệt đường người, vừa vặn vào năm 2005, một phát hiện trọng đại đã làm chấn động trong và ngoài nước, nhà sưu tầm Sơn Tây là Bành Lệnh tuyên bố: Ông đã phát hiện ra một phần di văn của bản thảo phần đầu quyển 5 "Hải Quốc Ký" của "Phù Sinh Lục Ký" trong bản thảo "Ký Sự Châu" của nhà thư pháp đời Thanh là Tiền Vịnh! Và vào tháng 6 năm 2008 đã đăng bài "Phát hiện di văn quyển 5 'Phù Sinh Lục Ký' của Thẩm Phục và nghiên cứu sơ bộ" trên tờ "Văn Hối Báo" Hồng Kông. Ngày 22 tháng 4 năm 2010, Cục Bản quyền Quốc gia xác định tác phẩm văn học do Bành Lệnh đệ trình là danh thực tương phó, tiến hành đăng ký quyền tác giả đối với tác phẩm đó. Tháng 4 năm 2010, Nhà xuất bản Văn học Nhân dân xuất bản cuốn "Phù Sinh Lục Ký" bản bổ sung mới, đã thu hoạch thành quả nghiên cứu này. Ngày 25 tháng 10 năm 2010, tờ "Quang Minh Nhật Báo" đã đăng bài viết của Phó Tư Tông - ủy viên quán nghiên cứu văn sử trung ương, chủ nhiệm trung tâm nghiên cứu văn học cổ điển Trung Quốc trường Đại học Thanh Hoa, tiến sĩ hướng dẫn nghiên cứu sinh, cho biết: Việc phát hiện quyển 5 "Hải Quốc Ký" của "Phù Sinh Lục Ký" là một thành quả trọng đại về mặt lịch sử văn học, học thuật tư liệu, tương tự như Đôn Hoàng học của chúng ta, gọi tiến thêm một bước là Hòa Thị Bích đương đại, cũng chắc chắn không có gì là quá đáng cả.

Nói đến đây, có người sẽ cảm thấy, trong quyển 5 của "Phù Sinh Lục Ký" này có nội dung gì chứ? Tôi xin thưa rằng, nó vô cùng quan trọng, quan trọng đến mức chúng ta nghiên cứu lịch sử vương quốc Lưu Cầu đều phải đọc quyển 5 của "Phù Sinh Lục Ký". Có tin không? Tôi đọc cho nghe một đoạn, đoạn này nói rằng: "Mỗi ngày nương theo thủy triều đi một hai mươi dặm. Đến ngày 11, mới ra Ngũ Hổ Môn, hướng về phía đông nhìn ra xa, mịt mờ vô tận, nước biển có màu xanh lục hành, càng đi xa càng xanh thẳm. Ngày 11 (theo chú thích: phải là ngày 12), qua Đạm Thủy. Ngày 13 giờ Thìn, thấy Điếu Ngư Đài, hình thù giống giá bút. Từ xa tế bái Hắc Thủy Câu, bèn khấn vái Thiên Hậu. Chợt thấy chim yến trắng to bằng con mòng biển, bay lượn quanh cột buồm, ngày hôm ấy liền đổi gió. Sáng ngày 14, thấp thoáng thấy Cô Mễ Sơn, đã bước vào địa giới Lưu Cầu rồi. Ngày 15 giờ Ngọ, từ xa nhìn thấy một dải núi non, giống hình con giao long, tên cổ là Lưu Cầu, vì hình dáng rất giống." Quý vị nhìn đoạn văn người ta viết kìa, dịch sang tiếng Hán hiện đại thì rất dễ hiểu. Ông ấy nói rằng, ngày 11 đến Ngũ Hổ Môn, ngày 12 qua Đạm Thủy, ngày 13 thì đến Điếu Ngư Đài, nơi mà ngày nay chúng ta gọi là "quần đảo Điếu Ngư", đã cúng bái Thiên Hậu, Ma Tổ, vượt qua Hắc Thủy Câu tức là rãnh biển Trung - Lưu; ngày 14 đến Cô Mễ Sơn, nhìn thấy Cô Mễ Sơn thì mới thấy quốc giới Lưu Cầu. Phải biết rằng Hắc Thủy Câu chính là rãnh biển Trung - Lưu, là ranh giới trên biển giữa hai nước Trung - Lưu. Vùng lãnh thổ tây nam nhất của nước Lưu Cầu là ở đâu? Chính là Cô Mễ Sơn, tức là đảo Kume Okinawa. Ghi chép của Thẩm Phục sớm hơn 76 năm so với ghi chép của Koga Tatsushiro người Nhật Bản về quần đảo Điếu Ngư.

3. "Lưu Cầu Quốc Chí Lược" của Chu Hoàng

Ngoài cuốn "Sử Lưu Cầu Tạp Lục" của Uông Cập ra, tôi xin giới thiệu thêm cho quý vị một cuốn nữa, một người tên là Chu Hoàng cũng đã viết một cuốn "Lưu Cầu Quốc Chí Lược". Ông ấy cũng là một vị sứ thần sách phong đi sứ Lưu Cầu, sau khi về nước đã viết cuốn sách này, trong đó có rất nhiều tư liệu có thể đối chiếu, bổ sung cho nhau với cuốn của Uông Cập. Tất nhiên, cuốn sách này được hoàn thành muộn hơn của Uông Cập, vào năm Càn Long thứ 21, tức năm 1756, quốc vương Lưu Cầu qua đời, Càn Long hoàng đế liền phái một người tên là Toàn Khôi làm chính sứ, Chu Hoàng làm phó sứ sang Lưu Cầu sách phong, lúc đó vị sắp lên ngôi ở Lưu Cầu tên là Thượng Mục. Chu Hoàng và những người khác cũng giống như trước đây, diện kiến hoàng thượng nhận chỉ thị, đưa ra yêu cầu, rồi chọn lựa thuyền bè tốt, khởi hành từ Phúc Kiến vào ngày mùng 2 tháng 6 năm 1756, một đường đi thẳng đến Lưu Cầu, cho đến tận ngày 26 tháng 2 năm sau mới quay về Bắc Kinh. Nhiệm vụ lần này của ông cũng xấp xỉ giống Uông Cập, trong "Thanh Sử Cảo · Liệt Truyện · Chu Hoàng" có ghi chép lại chuyến đi sứ lần này của ông:

Năm thứ 20, mệnh cùng Thị giảng Toàn Khôi sách phong Lưu Cầu quốc vương Thượng Mục. Ít lâu sau thăng Hữu Trung Hữu Duẫn, lại thăng Thị giảng. Năm thứ 22, sứ hoàn, tấu thượng "Lưu Cầu Quốc Chí Lược", mệnh dĩ Vũ Hưng Điện tụ trân bản ấn hành.

Chúng ta ở đây chủ yếu nói về cuốn "Lưu Cầu Quốc Chí Lược" do ông viết, hy vọng có thể hiểu rõ hơn về Lưu Cầu. Cuốn sách này tổng cộng có mười sáu quyển:

Phần đầu quyển ngoài Phàm lệ, Thư mục, Đồ họa ra, đứng đầu liệt kê Ngự thư, Chiếu sắc, Dụ tế văn; tiếp đến là Tinh dã, Quốc thống, Phong cống, Dư địa, Sơn lâm, Phủ thự, Tự miếu, Thắng tích, Tước trịch, Phức dịch, Điển lễ, Binh hình, Nhân vật, Vật sản, Nghệ văn, Chí dư, thành mười sáu mục — mà trong các mục có phần cần phân tích chi tiết thì liệt kê tiểu mục phụ vào, chia làm mười sáu quyển.

Nội dung ghi chép trong cuốn sách này vô cùng phong phú, quyển một "Tinh dã" giới thiệu địa lý, phương vị, diện tích của Lưu Cầu cùng tình hình hành trình từ Phúc Kiến đi Lưu Cầu. Quyển hai "Quốc thống" giới thiệu mối quan hệ giữa Lưu Cầu và triều đình nhà Thanh thực chất là quan hệ phiên thuộc, lịch sử của Lưu Cầu cùng lịch sử giao bang qua các đời với triều đình Minh - Thanh, đồng thời giải thích tình hình kế vị truyền ngôi của họ Thượng ở Lưu Cầu. Quyển ba "Phong cống" phụ lục thêm các việc chiêu dụ ban thưởng nhập giam, ghi chép vô cùng tỉ mỉ tình hình phong cống của triều đình Minh - Thanh và Lưu Cầu. Quyển bốn (trượng) "Dư địa" phụ lục việc xây dựng cương thành hình thắng thành trì pháo đài, quyển bốn (hạ) "Phong tục" phụ lục hình chất khí hậu tập thượng nghi tiết tiết lễ phục sức xá vũ vân vân. Quyển năm "Sơn xuyên" giới thiệu các đảo núi hải triều phong tín châm lộ phụ thủy tuyền kiều lương trong nước. Quyển sáu "Phủ thự" giới thiệu vương phủ thế tử phủ phụ quán học trường. Quyển bảy "Tự miếu" phụ lục tự viện. Quyển tám "Thắng tích" giới thiệu các phong cảnh danh thắng nơi đó. Quyển chín "Tước trịch" giới thiệu tình hình chức quan vân vân. Quyển mười "Phức dịch" giới thiệu tình hình thuế khóa và phụ lục tiền pháp. Quyển mười một "Điển lễ" giới thiệu tình hình chế độ lễ nghi lễ tiết. Quyển mười hai "Binh hình" giới thiệu tình hình chế độ binh bị luật pháp đồng thời bày tỏ kiến giải của bản thân. Quyển mười ba "Nhân vật" giới thiệu các loại nhân vật có ảnh hưởng trọng đại đối với quốc gia như hiền vương, trung tiết, trung nghĩa, hiếu nghĩa, liệt nữ, văn uyển, phương ngoại. Quyển mười bốn "Vật sản" giới thiệu cốc hóa, rau củ quả, thảo mộc cầm thú, lân, giới trùng vân vân. Quyển mười năm "Nghệ văn" giới thiệu thư tịch đồ bản của họ. Quyển mười sáu "Chí dư" phụ lục các loại tư liệu văn chữ của các đời sứ trước, như "Sử Lưu Cầu lục tự", ký sự du lịch, thi từ và thư tự của các đời sứ tiết vân vân. "Lưu Cầu Quốc Chí Lược" cơ bản bao quát toàn diện các nội dung mọi mặt của nước Lưu Cầu, là những gì Chu Hoàng tai nghe mắt thấy ở Lưu Cầu, đồng thời căn cứ vào tình hình ghi chép của các sứ thần trước và các nhà để viết thành, đúng như lời chính Chu Hoàng đã nói: "Cúi nghĩ thần từ lúc phụng sứ bắt đầu, thân thụ thánh huấn, nghĩ rằng các sứ thần trước đây đại thể có ghi chép, ý muốn tô điểm, truyền văn dị từ; nay nhân lúc tai nghe mắt thấy đến đâu, gia dĩ đính chính, vụ cầu trưng tín, vô sự phô trương! ... Tuân tức vu vãng phản đồ thứ cập sứ quán dư gian, tùy thời thái tập, lược cụ thảo cảo; tục tự hồi kinh sổ nguyệt dĩ lai, phân môn bỉ loại, dĩ thứ tạo tuận."

Châu Hoàng nói rằng, ông vâng chịu sự tín nhiệm và giáo huấn của hoàng đế, phụng mệnh đi sứ Lưu Cầu, đã ghi chép lại những gì tai nghe mắt thấy của bản thân một cách vô cùng chân thực, không có điểm nào khoa trương, không đúng sự thật. Lại tham khảo thêm một số ghi chép của các vị sứ thần đời trước để tiến hành biên soạn, cuốn sách do ông viết ra này cũng đã được lịch sử công nhận. "Cuốn sách này rộng rãi thu thập các ghi chép trước thời Càn Long, bên cạnh đó còn vươn tới ghi chép của bách gia, tư liệu vô cùng tường tận, khảo chứng có căn cứ." Cho nên, nội dung của cuốn sách này cực kỳ đáng tin cậy, nó có hai đặc điểm lớn, cũng có thể nói là có hai cống hiến lớn: Thứ nhất, chính là ghi chép vô cùng tỉ mỉ về các mặt chế độ quan lại, thuế khóa, chế độ binh bị, luật pháp, sản vật, quan niệm xã hội... của Lưu Cầu. Chúng ta hãy nói về luật hình sự của Lưu Cầu, cuốn sách này có viết:

Hình pháp nước ấy, tử hình có ba: Một là lăng trì, hai là trảm thủ, và ba là thương thích (dùng cọc gỗ làm giá chữ thập, trói tay chân, dùng giáo đâm vào tim cho chết, tức thì bêu đầu ngay tại chỗ, khi nào cọc đổ mới thôi); khinh hình có năm: Một là lưu (lưu đày có ba bậc: Có loại đày cố định ở một hòn đảo nào đó để quản thúc, không được phép phóng thích; có loại chứng nào tật nấy, không chịu hối cải, người trong tộc cùng dâng đơn lên pháp ty xin tăng tội lưu đày, thì ấn định thời hạn, đày đến hòn đảo chịu tội. Tụi đầu mục xin cho cải quá, thì cho phép đưa về. Bằng không, đến hạn lại đày ra đảo xa, vẫn theo pháp luật trước mà đày đi. Lại không hối cải, thì bị chuyển lưu đến một hòn đảo khác nằm ngoài ba mươi sáu đảo. Có kẻ phạm tội nặng, thì trói tay chân, dùng chiếc thuyền độc mộc nhỏ đày tới đảo Tây Mã Xỉ, rồi chuyển dạt dần ra các đảo ngoài, tuy nhiên phần lớn đều bị chìm trôi mất tích), hai là bộc nhật (phơi nắng), ba là giáp (tra tấn bằng gông kẹp), bốn là già (gông, có hai bậc nặng nhẹ: Nhẹ thì vài chục cân, nặng thì vài trăm cân), và năm là trì (đánh roi. Trộm cắp là tội nghiêm trọng nhất, phạm tội lần đầu, đánh roi mấy cái, kẹp một lần, phơi nắng một lần; tái phạm, tam phạm thì cứ thế tăng dần lên, cũng có khi lập tức chém đầu ngay tại chỗ, hoặc lập tức đày ra đảo ngoài).

Hình pháp của họ rất nhiều, loại nhẹ có, loại nặng cũng có, hơi nhẹ một chút thì lưu đày. Chẳng phải họ có "ba tỉnh cùng ba mươi sáu đảo" đó sao, chọn một hòn đảo hoang vắng ở xa một chút mà đày ra ngoài đó, càng nặng thì càng đày ra xa, nặng hơn nữa thì trói tay chân lại, cho một chiếc thuyền độc mộc, đày ra ngoài ba mươi sáu đảo. Ngoài biển sóng gió lớn như vậy, một chiếc thuyền nhỏ chẳng biết sẽ trôi dạt đi đâu, thông thường thì không thể quay về được nữa; ngoài ra còn có dùng roi quất, dùng kẹp tra tấn; phạm tội nặng hơn nữa thì khép vào tội chết. Cách chịu chết này cũng khác nhau, lăng trì, trảm thủ, lại có một loại là thương thích. Cái này không phải là xử bắn đâu nhé, còn tàn khốc hơn xử bắn. Xử bắn thì một phát súng là xong chuyện, còn thương thích thì khác, ngọn giáo này chính là mác dài, trước tiên dùng hai khúc gỗ làm thành một giá chữ thập, trói phạm nhân lên đó, rồi cầm giáo đâm vào tim phạm nhân, rất tàn khốc, tôi không kể chi tiết nữa. Luật pháp của Lưu Cầu cũng vô cùng nghiêm ngặt. Xem ra, trong bất cứ hoàn cảnh nào thì chúng ta vẫn cứ phải tuân thủ kỷ luật và pháp luật. Cuốn sách của Châu Hoàng đã ghi chép lại những hình pháp này, ghi nhớ vô cùng tỉ mỉ, có lẽ ông cũng đã từng tận mắt chứng kiến.

Cuốn sách này có một cống hiến quan trọng hơn nữa, chính là trong sách có một phần phụ lục, phụ lục ấy là gì? 《Sử Lưu châm lộ đồ》, chính là bản đồ tuyến đường. Bản đồ tuyến đường mà ông vẽ ra này vô cùng chính xác, tổng hợp kinh nghiệm hàng hải của người đi trước, đánh dấu rất rõ ràng các tuyến đường đi từ Phúc Kiến đến Lưu Cầu cũng như từ Lưu Cầu quay về Phúc Kiến. Chúng ta chớ nên hiểu lầm rằng cứ đi nguyên đường cũ để quay về, đi trên đất liền thì thế, chứ trên biển thì không phải vậy. Chúng ta đều từng học địa lý, đều biết kiến thức về các dòng hải lưu, nào là hải lưu ấm Thái Bình Dương, nào là hải lưu lạnh Chishima, những cái này đều khác nhau cả, nếu sơ sẩy đi nhầm một chút, thì chẳng biết sẽ trôi dạt đến xó nào nữa. Vợ Nhập đi Lưu Cầu được nhắc đến trước đó đi rất nhanh rất thuận lợi, nhưng lúc quay về thì lại không giống như vậy. Nếu gặp phải bão cuồng phong, thì chính là cử tửu nhất sinh.

Bão cuồng phong suốt ba ngày ba đêm, thuyền tròng trành lên xuống, nước tràn ngập trong khoang; toàn bộ thủy thủ trên thuyền chỉ có mười sáu người có thể đứng dậy nổi, bếp núc chìm nghỉm, ai nấy đều đói rét.

Các bạn xem, bão cuồng phong thổi liền ba ngày ba đêm, khoang thuyền cũng bị nước nhấn chìm, đồ ăn, chỗ ở, đồ dùng đều bị ngập hết, cả một con thuyền người đó người lạnh, thương vong rất nhiều. Châu Hoàng đã rút kinh nghiệm từ đây, tổng hợp và tối ưu hóa tuyến đường hàng hải này, con đường nào đi dễ hơn, nhanh hơn, ông đều nghiên cứu cả.

(Năm Càn Long thứ 21) Chọn ngày mùng 2 tháng 6, cung kính nâng chiếu sắc đặt ở chính giữa khoang an quan, từ Nam Đài Giang lên thuyền. Ngày mùng 5, đến cảng Thái Bình. Ngày mùng 6, tế sông, lấy nước. Giờ Thân, đến viện Di Thôn, dụ tế thần biển, hành hương ở cung Thiên Hậu.

Hải đạo Lưu Cầu tuy cùng Phúc Kiến ngay thẳng từ đông sang tây, thế nhưng thân thuyền nên đi cao, không nên đi quá thấp.

Xét kỹ lại các sứ thần đời trước kể từ khi Trần Khản có "lục" đến nay, thuyền phong không đến mức trôi quá về phía bắc, duy chỉ có sứ giả sắc phong đời Minh trước là Hạ Tử Dương cùng với sứ thần triều ta là Vô Nhập, còn lại phần lớn đều dùng châm Mão, khiến cho trôi dạt quá vùng Bắc Sơn. Thần trong chuyến đi này ghi khắc sâu sắc xe đổ phía trước, một mực xóa bỏ thuyết "Chỉ nam quảng nghĩa" chuyên dùng châm Mão, chiết trung ở hai bản ghi chép của Hạ và Vô, thường xuyên ra lệnh cho trưởng nhóm tàu của bản thuyền cung kính tuân thủ. Cho nên từ Ngũ Hổ khai dương, trong vòng ba ngày là thẳng tới Cô Mễ, mới có thể gọi là sánh ngang với sắc phong trước.

Châu Hoàng đã ghi chép tỉ mỉ một số kinh nghiệm bài học giáo huấn trong việc hàng hải, viết thành công cuốn 《Lưu Cầu quốc chí lược》 này, có giá trị tham khảo vô cùng lớn. Thế nhưng, đây chỉ là một phần tuyến đường đi sứ Lưu Cầu mà thôi, đây là đường biển. Ngoài ra, còn có đường bộ. Ngồi thuyền đi Lưu Cầu không phải đi thẳng từ Bắc Kinh, mà phải đi từ Bắc Kinh đến Phúc Kiến trước. Giao thông đường bộ thời đó không hề phát triển giống như ngày nay, có đường cao tốc, tàu hỏa, lại có cả máy bay trên trời, rất khó đi. Giữa đường chốc lát lại gặp phải cuồng phong mưa bão, sạt lở đất đá các thứ, vô cùng không dễ dàng. Bằng không, sao lại có sứ thần ghi chép lại chi tiết cả quá trình đi trên đất liền chứ? Vị sứ thần này là ai? Một người tên là Lý Đỉnh Nguyên vào thời Gia Khánh.

4. Lý Đỉnh Nguyên sứ Lưu Cầu ký

Triều Thanh từng có một vị quan viên tên là Lý Đỉnh Nguyên đã từng viết một cuốn 《Sứ Lưu Cầu ký》, cuốn sách này thuật lại toàn bộ quá trình đi Lưu Cầu, trong đó đoạn đường bộ từ Bắc Kinh đến Phúc Kiến được ghi chép vô cùng chi tiết.

Lý Đỉnh Nguyên đi sứ Lưu Cầu vào năm 1800, Trạng nguyên năm Gia Khánh thứ 5 triều Thanh là Triệu Giới Sơn là chính sứ, còn tiến sĩ Lý Đỉnh Nguyên là phó sứ. Năm trước của năm này, triều Thanh đã xảy ra một chuyện, chuyện gì vậy? Quyền thần Hòa Thân đã bị trấn áp. Chuyện này phải để Lưu Cầu biết rằng, nhân vật số hai của triều đình chúng ta đã bị trấn áp rồi, sau này đừng có tơ tưởng đến hắn ta nữa, chính là ý tứ như vậy đó. Lần đi sứ Lưu Cầu này, Lý Đỉnh Nguyên có một cuốn nhật ký, trong nhật ký ghi chép đặc biệt chi tiết. Bởi vì lần trước người Trung Quốc đi, vẫn là vào những năm đầu Càn Long, mà lần đi này đã là năm Gia Khánh thứ 5 rồi. Thử nghĩ xem, đã qua năm sáu mươi năm, tất cả các chế độ đều không mấy rõ ràng, đi thế nào đây? Có nên lĩnh tiền hay không? Thế là, Lý Đỉnh Nguyên liền đi tìm Kỷ Hiểu Lam. Kỷ Hiểu Lam dạo này rất oai, quản lý nhiều việc, hơn nữa ông lại từng biên soạn 《Tứ khố toàn thư》, kiến thức rộng rãi. Lý Đỉnh Nguyên liền đến chỗ Kỷ Hiểu Lam tìm Kỷ thương lượng, chúng ta có nên lĩnh một chút tiền rồi hãy lên đường hay không? Kỷ Hiểu Lam nói lĩnh tiền gì chứ? Không có tiền! Cứ đi theo đúng lịch trình đi. Thế này là không đúng nha, quan viên triều đình đi công tác toàn lĩnh tiền thôi, ngài đến Phúc Kiến tổ chức thi cử, cho người ta thi cử còn lĩnh được rất nhiều tiền. Tại sao ngài lĩnh tiền mà tôi lại không được lĩnh? Nói nhảm! Có thể so sánh với tôi được sao? Các ngươi là sứ giả triều đình, dọc đường từ trước đã thông cáo xuống dưới rồi, việc tiếp đón ở các nơi dọc đường đều miễn phí, các ngươi ăn uống ngủ nghỉ đều miễn phí, các ngươi cần tiền để làm gì? Không có tiền, đi đi. Đoàn người của Lý Đỉnh Nguyên với tâm trạng vô cùng không vui đã lên đường vào giờ ngọ ngày 28 tháng 2 âm lịch năm đó. Xuất phát từ Bắc Kinh quả nhiên uy phong, dọc theo con đường này mang theo mấy chục người, mang theo rất nhiều rất nhiều lễ vật. Các bạn thử nghĩ xem, chính sử một mình có thể mang theo người nhà, tùy tùng hai mươi người, phó sứ mang theo mười người, người nhà muốn đi thì đều có thể đi theo, thế là thành ba mươi người, lại thêm người do triều đình mang theo, người khiêng kiệu v.v., dọc đường lên tới bảy tám mươi người. Trước tiên xuất phát từ Quảng An Môn, ra khỏi Quảng An Môn năm dặm thì đến Phế Tế Đường, có người đến tiễn hành. Sau khi uống chén rượu tiễn hành này rồi, tối hôm đó đã đến đâu rồi? Đến trạm Đồng Tiết huyện Lương Hương nghỉ lại, đây vẫn còn là địa giới Bắc Kinh. Hôm sau đi qua Đậu Điếm ở Hà Bắc, trạm Châu Tứ, mùng 1 tháng 3 qua Tân Thành, vượt qua trạm Quy Nghĩa ở Bạch Câu vốn là ranh giới Tống - Liêu, sau đó qua trạm Mạc Thành huyện Nhậm Khúc ở Triệu Bắc Khẩu, mùng 3 qua trạm Doanh Hải, lại đi qua huyện Hiến, Giao Hà, Phụ Thành và cảnh châu, mùng 6 tháng 3 thì đến trạm An Đức ở Đức Châu, Sơn Đông của chúng ta, đi tổng cộng 12 ngày trong cảnh giới Sơn Đông, lúc đến Giang Tô thì đã là ngày 18 tháng 3 rồi.

Từ ngày 18 tháng 3 cho đến cuối tháng 4 đầu tháng 5 âm lịch, thời tiết cực kỳ xấu, mưa to liên tục không dứt, trong khoảng thời gian này đi cực kỳ chậm chạp. Về sau đi đến Chiết Giang, đến Hàng Châu là điểm cuối của Đại vận hà Kinh Hàng, ngày mùng 9 tháng 4 thì đến Gia Hưng, từ lúc này trở đi thời tiết mới dần dần hửng nắng, đến tháng 5 mới tới Phúc Kiến. Đến Phúc Kiến rồi thì phải đợi, phải đợi thời tiết đẹp, đợi đến tiết Hạ Chí. Đoạn đường dọc từ ngày 28 tháng 2 cho đến mùng 8 tháng 4 nhuận mới tới Phúc Châu, tổng cộng là 70 ngày. Thực chất đi mất 58 ngày, mỗi ngày phải đi hơn một trăm dặm đường, các bạn nói xem sứ giả đi như thế nào? Sứ giả hoặc ngồi kiệu, hoặc ngồi thuyền, hoặc cưỡi ngựa, tương đối nhàn hạ, nhưng mà đám thuộc hạ thì phải đi bộ, mỗi ngày đi một trăm dặm đường, thử nghĩ xem mới không dễ dàng làm sao. Sau đó lại chờ đợi, chờ mãi cho đến khi gió tín phong Đông Bắc thổi tới thì mới có thể đi được. Ở lại đây hơn hai mươi ngày, sau đó mùng 1 tháng 5 điểm danh. Trải qua sáu ngày đêm thì đến Lưu Cầu, ở đây ghi chép giờ Tỵ mùng 7 gió Tây Nam thổi tới, thủy triều cũng tới khai dương, gió Đinh Mùi, nương theo thủy triều ra cửa Ngũ Hổ. Khi màn đêm buông xuống, tiếp đón khâm sứ Lương Hoán, cùng với việc Lương Hoán dẫn theo hai vị trưởng nhóm tàu của nước đó nắm giữ kim chỉ nam, mắt không chớp lấy một cái. Cái gọi là nắm giữ kim chỉ nam này chính là xem hướng gió, nhìn hướng đi của con thuyền này. Suốt dọc con đường này vô cùng không dễ dàng, từ ngày mùng 7 ra cửa Ngũ Hổ, cho đến giờ Thìn ngày 12 mới vượt qua đảo Mã Xỉ. Trải qua chặng đường của ngày hôm nay, từ ngày mùng 7 xuất phát cho đến ngày 12, lúc này mới đến Thiên sứ quán, chuyến hải trình này dài 110 dặm. Ngày mùng 1 tháng 5 vốn dĩ đã xuất phát, kết quả vì trời không chiều lòng người, cho đến ngày 12 thì thời gian chèo thuyền thực tế là 53 canh giờ, có 5 canh giờ dùng để làm gì? Tránh mưa rồi, không thể hành trình nổi. Chạy trên biển 53 canh giờ đi được 5830 dặm, lại đến Naha, thế là qua 6000 dặm, con đường này mới không dễ dàng làm sao. Đến Lưu Cầu làm lễ sắc phong xong xuôi thì không còn việc gì nữa, phải chờ đợi, mãi cho đến sau tiết Đông Chí mới có thể đi.

Cũng may là vị Lý Đỉnh Nguyên này biết nói tiếng Lưu Cầu, thế là ông đã biên soạn một cuốn từ điển Hán - Lưu. Gọi là 《Cầu Nhã》. Tại sao lại gọi là 《Cầu Nhã》? Mô phỏng theo thể thức của 《Nhĩ Nhã》, đem từ ngữ tiếng Lưu Cầu đối chiếu với tiếng Hán, giải thích âm đọc và ý nghĩa để truyền bá rộng rãi thanh danh và giáo hóa. Mãi cho đến ngày 20 tháng 10 năm đó, đoàn người này không thể chờ đợi thêm được nữa liền giương buồm xuất cảng Naha, bởi vì ngày 20 tháng 10 chính là tiết Đông Chí, đến tiết Đông Chí thì phải mau chóng lên đường, kết quả là không đi nổi, trời đổ mưa lớn, đành ở lại đảo Mã Xỉ, lại đợi thêm năm ngày nữa, mãi cho đến ngày 25 tháng 10 mới bắt đầu quay về nước. Trở về Phúc Châu thì ngược lại rất dễ dàng, mùng 1 tháng Giêng đã tới nơi, chỉ mất có năm ngày. Mà từ Phúc Châu về Bắc Kinh, thì lại là chặng đường bảy tám mươi ngày, vô cùng khó khăn.

Thế nhưng, chúng ta có thể thấy rằng, tuy con đường này muôn vàn khó khăn hiểm trở, thế nhưng Lưu Cầu chỉ trong 267 năm thời nhà Minh mà đã đến triều cống tới 171 lần, ba năm hai lần, lại qua lại cực kỳ thường xuyên. Trung Quốc cũng tính từ năm Hồng Vũ thứ 5 nhà Minh, tức năm 1372 Chu Nguyên Chương lần đầu tiên phái sứ thần đến Lưu Cầu, cho tới năm Quang Hữu thứ 5 nhà Thanh (1879), trong khoảng 507 năm, hai triều Minh - Thanh có 24 lần sắc phong, tổng cộng phái ra 43 vị chánh, phó sứ, trong đó triều Minh 27 người, triều Thanh 16 người, đi tới Lưu Cầu để sắc phong. Những người như Vô Nhập, Châu Hoàng, Lý Đỉnh Nguyên cũng vô cùng không dễ dàng, một mặt phải trải qua muôn vàn khó khăn hiểm trở để đi Lưu Cầu sắc phong, mặt khác lại còn phải ghi chép lại quá trình trong đó để dâng lên hoàng đế và hậu thế đọc. Vô Nhập viết 《Sử Lưu Cầu tạp lục》, Lý Đỉnh Nguyên viết 《Sử Lưu Cầu ký》, Châu Hoàng viết 《Lưu Cầu quốc chí lược》, theo quy định thì chuyện lớn chuyện nhỏ đều phải viết lại. Thế nhưng trong số họ lại có kẻ che giấu một số chuyện, ai vậy? Châu Hoàng. Cuốn 《Lưu Cầu quốc chí lược》 do ông viết mặc dù rất tuyệt, vô cùng có giá trị, thế nhưng có một số chuyện ông không hề viết ra, hoàng đế không hề hay biết. Đây là bản báo cáo viết cho hoàng đế, ngươi phải viết càng chi tiết càng tốt, thế nhưng ông đi Lưu Cầu lại có một chuyện không được viết vào trong đó, không phải là quên, mà là không dám viết. Chuyện này không phải là chuyện nhỏ đâu nhé, chuyện gì vậy? Về chuyện tiền nong, mọi người thử nghĩ xem, chuyện liên quan đến tiền nong thì có chuyện nào là chuyện nhỏ cơ chứ? Tiếp theo đây chúng ta sẽ nói về chuyện này.

Sứ giả là điểm khởi đầu cho sự giao tiếp giữa hai bên, nhưng cũng có thể là điểm kết thúc của tình hữu nghị. Vào thời Càn Long triều Thanh, quan hệ giữa Trung Quốc và Lưu Cầu đã từng xuất hiện nguy cơ chí mạng, nguyên nhân bắt nguồn từ việc biểu hiện khiến người ta thất vọng mà đoàn sứ thần do phía Trung Quốc phái ra đã tạo ra. Rốt cuộc đây là chuyện gì xảy ra? Phải chăng nó báo hiệu cho sự chấm dứt của con đường triều cống? Nguy cơ này rốt cuộc đã được cứu vãn như thế nào?

5. Sự kiện đòi bạc

Châu Hoàng không giống với chuyến đi sứ lần trước của Vô Nhập. Vô Nhập đi thì buồm xuôi gió, lúc về thì sóng to gió lớn, còn Châu Hoàng lúc đi thì sóng to gió lớn, rất xui xẻo. Họ khởi hành vào mùng 2 tháng 6, mãi cho đến ngày 14 tháng 6 mới đến vùng lân cận đảo Cô Mễ Sơn của nước Lưu Cầu, thì vừa hay gặp phải bão nhiệt đới. Một con thuyền đâm vào đá ngầm, khoang thuyền ngập nước, không thể tiến lên được nữa, tất cả đồ đạc đều bị ngập chìm. Cũng may là trên thuyền không có ai chết, sau khi leo được lên bờ thì đành phải ở đó chờ đợi. Thế tử quốc Lưu Cầu nghe tin này xong, vội vàng điều thuyền đến Cô Mễ Sơn, cứu họ lên, rồi đón sang một chiếc thuyền khác để đi tiếp đến Naha. Sau khi đến Naha rồi, để xua tan nỗi sợ hãi cho đoàn người này — trên thuyền có bao nhiêu người vậy? 136 tạp dịch, không tính hai người chánh sứ phó sứ — thì đã cho họ bao nhiêu tiền? Cho họ năm nghìn lạng bạc, chưa tính quần áo chăn màn. Năm nghìn lạng bạc chia cho 136 người, mỗi người một phần, mỗi người được 36 lạng 7 đồng bạc. Trận mưa bão lớn thế này mà mỗi người vớ được 36 lạng bạc, quả là một công việc béo bở. Thế nhưng 136 người này không vui, họ nghe nói mấy chục năm trước cũng từng có một chuyện như thế này, thuyền cũng bị đâm hỏng, lúc đó cho họ bao nhiêu tiền? Mỗi người 128 lạng, lần này cho chúng ta bao nhiêu? 36 lạng 7, so ra kém mất 90 lạng bạc. Lúc chúng ta xuất phát ngày nào cũng cầu nguyện, nhất định phải đâm thuyền, nhất định phải đâm thuyền, đâm thuyền thì mới có thể nhận được 128 lạng. Thế là, người quản lý trong số tạp dịch này là Trần Quốc Đốc liền chạy đến Thiên sứ quán thỉnh cầu chánh phó sứ cùng thế tử quốc Lưu Cầu — lúc này đã được ban sắc phong làm quốc vương — bù thêm cho mỗi người 91 lạng nữa. Kết quả là chánh phó sứ cảm thấy không thỏa đáng nên không thể nhận. Thế nhưng đám người này vẫn không chịu thôi, tiếp tục làm loạn, cuối cùng ép người ta đến mức không còn cách nào khác, từ trên xuống dưới đều biết người Đại Thanh đang làm loạn. Cho đến ngày 16 tháng 8, bọn họ lại uy hiếp rất nhiều người, lại chạy đến chỗ sứ thần tiếp tục làm loạn. Từ tháng 7 đến tháng 8, hơn một trăm con người Đại Thanh này đã làm loạn ở Lưu Cầu hơn một tháng trời. Cuối cùng không còn cách nào khác, người ta đành phải đưa thêm hai vạn lạng bạc nữa, mỗi lính tráng được 120 lạng, cộng thêm 30 lạng 7 trước đó, thành ra mỗi người được 156 lạng 7. Đoàn người này lúc ấy mới vui vẻ rời đi. Không phải ai cũng nhận được số tiền bằng nhau, lính tráng mỗi người 120 lạng cộng thêm 36 lạng kia, thế nhưng thân đinh, thợ thủ công, thủy thủ thì mỗi người một trăm lạng, cộng thêm 36 lạng 7 kia thành 136 lạng 7. Sự tình khéo léo thế nào, người đằng trước làm loạn trên hai chiếc thuyền, thì đằng sau lại có một chiếc thuyền nữa cũng gặp phải bão nhiệt đới, cũng theo cách này mà tới. Họ đến muộn hơn, mãi đến ngày 12 tháng 12 âm lịch mới đến Lưu Cầu. Vua Lưu Cầu vừa nghe thấy thế liền bảo cứ xử lý như vậy đi. Lính tráng 156 lạng 7, gia đinh, thợ thủ công, thủy thủ 136 lạng 7, ai nấy đều phát tài, vô cùng vui mừng. Ngày 21 tháng 8 âm lịch năm Càn Long thứ 21, sứ thần sắc phong tuyên chiếu, đọc thánh chỉ của hoàng đế, thế tử Thượng Mục liền trở thành Trung Sơn vương. Sau đó, họ trở về Phúc Châu vào ngày 13 tháng 2 năm Càn Long thứ 22.

Sau khi về đến Phúc Châu, phải nhanh như bay viết một bản tấu chương gửi cho hoàng thượng trước. Ngày 19 tháng 2 viết một bản tấu chương, gửi cho hoàng thượng trước. Bản thân nghỉ ngơi chỉnh đốn ở đây rồi mới đi. Mùng 6 tháng 3 rời khỏi Phúc Châu. Châu Hoàng này viết một cuốn sách tên là 《Lưu Cầu quốc chí lược》, trong cuốn sách này không hề viết chuyện mỗi người nhận được hơn 150 lạng bạc. Bản tấu chương gửi cho hoàng thượng rất dài, tên là 《Hàn lâm viện thị giảng Toàn Khôi, Châu Hoàng tấu sắc phong sự tuấn, kính trần độ hải tình hình chiết》, cũng không hề nhắc đến chuyện mọi người đều nhận được rất nhiều bạc, tiền được cho không, không hề nhắc đến. 《Lưu Cầu quốc chí lược》 cũng không nhắc tới. Bọn họ vừa mới đi được một ngày, tức ngày mùng 7 tháng 3, Tuần phủ Phúc Kiến Chung Âm nhận được một văn bản tư từ của Quốc vương Trung Sơn Lưu Cầu là Thượng Mục do Bố chính sứ Phúc Kiến Đức Phúc đệ trình. Văn bản tư từ này viết cực hay, hai chiếc thuyền đều lần lượt đến nơi, bởi vì trên đường gặp tai nạn, ta nhìn thấy thế nên phải cho họ tiền xua tan sợ hãi, thế là đã đưa cho những người đó 156,7 lạng bạc, những người khác 136,7 lạng bạc, tổng cộng chi trả hơn năm vạn lạng, để bọn họ vui vẻ quay về, thế nhưng thuyền của các ông đã hỏng rồi, chuyến trở về này là thuyền của chúng tôi, số bạc đó là cho không họ, có thể trả lại con thuyền đó cho chúng tôi được không? Các bạn xem Thượng Mục đó có kỳ lạ không cơ chứ, số tiền đó là ta tặng cho các ngươi, chứ con thuyền đó ta đâu có tặng cho các ngươi, phiền hãy giao lại thuyền của chúng tôi nhé. Kết quả là Chung Âm và Phúc Đức đọc xong liền lẩm bẩm: Hả? Người của chúng ta từ đất nước các ngươi tống tiền trắng trợn hơn năm vạn lạng bạc, thế này sao được chứ? Nhìn Thượng Mục này xem, người ta vừa đi hôm mùng 6 tháng 3, thì hôm sau văn bản tư từ đã tới nơi, tính toán thời gian chuẩn xác đến từng ly từng tí. Cái này gọi là gì? Nghệ thuật kiện cáo đấy, ngươi không có nghệ thuật thì sao mà làm được chứ? Trong tình hình như vậy, kết quả là sự kiện đòi bạc lần này đã được báo cáo lên triều đình từng cấp một. Cuối cùng, triều đình liền hỏi phải làm sao bây giờ? Mân Triệt Tổng đốc Cát Nhĩ Cát Thiện cảm thấy việc này không đúng, nên đáng tội chém. Đến ngày 25 tháng 5 năm Càn Long thứ 22, Hình bộ cuối cùng đã đưa ra phán quyết xử trảm Trần Quốc Đốc, bêu đầu thị chúng. Ông Nguyên, Hoàng Đăng, Chu Hoa, Chu Văn Thái, Lâm Tứ, Âu Nguyên Đức, Diêu Chương v.v. đều bị xử trảm. Lại còn có Lương Đại Hữu, Lâm Thăng, Lưu Quang Quốc bị xử giảo (thắt cổ), trảm giam hậu đợi mùa thu lại đem ra xử chém, Trần Gia Yên, Lưu Hiển Tông bị cách chức, giải về kinh thành, những người còn lại thì đều xử lý theo kiến nghị ban đầu ở trên. Cho đến lúc này thì đám người này đều đã bị xử lý. Khi đem bọn họ ra xử chém, hoàng đế đặc biệt cho tập hợp tất cả những người Lưu Cầu có mặt ở kinh thành lại, để họ nhìn xem có phải những người này đi công tác, đến đất nước các ngươi, thấy chưa? Chính là bộ dạng này đây, đã bị chém rồi đấy. Cho bọn họ tận mắt nhìn thấy cảnh xử chém, xử chém xong xuôi rồi thì lấy trước công quỹ ra để trả lại hơn năm vạn lạng bạc đó. Chỉ vì chuyện này mà đã giết rất nhiều người, thế nhưng Châu Hoàng lại vô sự, ông không hề nhận tiền. Tuy nhiên, ông cũng có trách nhiệm. Lúc trước Vô Nhập không chỉ bản thân không nhận, mà còn quản thúc người dưới cũng không nhận, không những không chủ động đòi hỏi, mà lúc đó quốc vương Lưu Cầu chủ động muốn cho, ông cũng không thèm nhận. Đợi khi ông về nước được một năm, quốc vương Lưu Cầu còn phái người đuổi theo đến tận Bắc Kinh để đưa tiền. Lúc đó Lưu Cầu phái Mao Quốc Trân, Vương Minh Tá đến Trung Quốc tạ ơn, đồng thời khẩn cầu hoàng đế Khang Hi hạ lệnh cho Vô Nhập nhận tiền, nói rằng chúng tôi muốn cho chút ít tiền để bày tỏ tâm ý, thế nhưng sứ thần Vô Nhập nhất quyết không chịu nhận. Các ngài xem chúng tôi lặn lội đường sá xa xôi đến đây, hoàng đế ngài hãy hạ lệnh cho bọn họ nhận lấy đi. Đợi đến khi Khang Hi đồng ý rồi, lúc bấy giờ Vô Nhập mới nhận lấy. Vị Vô Nhập này vừa nhận được tiền, lại vừa giành được danh tiếng, so sánh ra thì Châu Hoàng làm việc không được tốt lắm. Thế nhưng, nhìn từ sự kiện này, một mặt chúng ta cảm thấy đi công tác đến Lưu Cầu vô cùng xa xôi đằng đẵng, mặt khác cũng có thể thấy rằng Trung Quốc đối xử với Lưu Cầu cực kỳ tốt, cực kỳ chu đáo, và Lưu Cầu đối với Trung Quốc cũng vô cùng mang ơn mang đức. Quan hệ giữa Trung - Lưu cứ như vậy mà ngày càng tốt đẹp hơn. Mân nhân tam thập tính, vị Thẩm Phục này đến Lưu Cầu chính là kết quả của việc tăng cường giao lưu kinh tế, văn hóa và chính trị giữa hai bên.

So sánh quan hệ triều cống giữa Trung - Triều và Trung - Lưu

Chúng ta nói rằng không chỉ quan hệ giữa Lưu Cầu và Trung Quốc tốt đẹp như vậy đâu, mà còn rất nhiều quốc gia khác cũng thế. Trước đó đã từng nhắc tới, có rất nhiều quốc gia đã thiết lập quan hệ phiên thuộc với Trung Quốc. Thời nhà Minh là thời kỳ đỉnh cao của chế độ triều cống, các nước triều cống vào thời điểm này lên tới hơn một trăm nước. Về số lượng các nước triều cống thời nhà Minh, có mấy cách nói như sau: Một là các nước triều cống được liệt kê trong 《Minh hội điển》 là 111 nước, cho dù có loại trừ các tiểu quốc vùng Tây Vực nằm ở khu vực Tân Cương ngày nay ra, thì số lượng của chúng vẫn vượt quá 100 nước; hai là 《Minh sử》 liệt kê 148 nước. Vậy, triều cống của các quốc gia này đều giống nhau cả sao? Chắc chắn là không giống rồi, rồng sinh chín con còn mỗi con mỗi khác nữa là, huống hồ chi là những quốc gia có dân tộc khác nhau, vùng đất khác nhau này. Số lần triều cống của họ, mức độ thân sơ trong quan hệ với Trung Quốc đều khác nhau. Dựa trên những yếu tố này, các nước triều cống này lại được chia thành nước triều cống điển hình và nước chuẩn triều cống; điển hình có Triều Tiên, An Nam — An Nam chính là Việt Nam ngày nay —, tiếp đó là Lưu Cầu mà chúng ta vừa nhắc đến; nước chuẩn triều cống có Nhật Bản, Thái Lan, Miến Điện, Lào v.v. Nước triều cống điển hình có quan hệ khăng khít hơn với Trung Quốc, chịu ảnh hưởng từ Trung Quốc sâu sắc hơn. Vậy, chúng ta hãy lấy Triều Tiên và Lưu Cầu — hai nước triều cống điển hình này — ra để so sánh một chút nhé. Triều cống của Triều Tiên với việc Lưu Cầu triều cống cho Trung Quốc có giống nhau hay không? Ngoài tuyến đường đi ra, còn có điểm gì khác biệt nữa? Hãy so sánh xem sao.

Quốc gia cổ đại trên bán đảo Triều Tiên thiết lập quan hệ triều cống với Trung Quốc sớm nhất là Bách Tế. Ngay từ thời Nam Bắc triều, Bách Tế đã thiết lập liên lạc với Trung Quốc, bọn họ chiếm ưu thế "lửa gần bén tay". Vào thời Đông Tấn, Tấn An Tôn Tư Mã Đức Tông đã sắc phong thủ lĩnh Bách Tế là A Dư Ánh làm "Sử trì tiết, đô đốc bách chư quân sự, Trấn đông đại tướng quân, Bách Tế vương". Một quốc gia khác trên bán đảo Triều Tiên là Tân La vào năm 381, tức thời kỳ Thập lục quốc ở Trung Quốc, năm Kiến Nguyên thứ 17 thời Tiền Tần đã tiến cống. Hoàng đế nhà Tiền Tần lúc đó là ai? Phù Kiên nổi tiếng, chính là kẻ đã bại trận trong trận chiến Phi Thủy đó. Khi nhà Tùy được thành lập, Bách Tế đã phái sứ thần đến Lạc Dương bày tỏ lời chúc mừng, xưng thần nạp cống với nhà Tùy, xác lập quan hệ tông phu. Hiệu suất rất cao. So sánh ra thì Tân La chậm hơn rất nhiều, phải hơn chục năm sau, Tân La mới phái người đến Lạc Dương xác lập quan hệ tông phu. Nhắc đến đây, lại có một vấn đề thế này. Những ai đã học lịch sử đều biết, bán đảo Triều Tiên thời cổ đại có ba quốc gia, cũng giống như Lưu Cầu vậy. Lưu Cầu có Sơn Bắc quốc, Sơn Nam quốc, Trung Sơn quốc; còn Triều Tiên thì có Bách Tế, Tân La và Cao Câu Lệ. Vậy thì Bách Tế và Tân La đều thiết lập quan hệ tông phu với Trung Quốc, còn Cao Câu Lệ thì đi đâu rồi? Hóa ra Cao Câu Lệ có quan hệ không tốt với Trung Quốc, suốt ngày đánh nhau. Không chỉ liên tục đánh nhau với nhà Tùy, nhà Đường lúc bấy giờ, mà nó còn bắt nạt cả Bách Tế lẫn Tân La. Ba nước bọn chúng đánh nhau thì cũng coi như là chuyện bình thường đi, ba nước Lưu Cầu chẳng phải cũng từng đánh nhau đó sao? Thế nhưng người ta đánh thì đánh vậy thôi, sau đó Chu Nguyên Chương bảo bọn chúng đừng đánh nữa, thế là người ta liền không đánh nữa; còn ba quốc gia trên bán đảo Triều Tiên thì không được như vậy. Lý Thế Dân nhà Đường cũng khuyên, bảo bọn chúng đừng đánh nữa, thế nhưng bọn chúng lại chẳng thèm nghe. Chủ yếu là kẻ nào không nghe? Chính là Cao Câu Lệ. Nó không những không nghe, mà còn liên kết với Bách Tế để tiêu diệt Tân La. Điều này đã chọc giận nhà Đường: Các ngươi chẳng phải đang liên thủ bắt nạt Tân La đó sao? Ta sẽ giúp đỡ Tân La. Bằng cách đó, nhà Đường đã phái binh liên thủ với Tân La tiêu diệt Bách Tế, sau đó lại tiêu diệt Cao Câu Lệ. Phái ai đi vậy? Chính là vị đại tướng nổi tiếng Tiết Nhân Quý mà có lẽ mọi người đều biết, đã tiêu diệt Cao Câu Lệ, tiêu diệt Bách Tế. Thế là đất đai, dân số đều thuộc về Tân La. Tân La rất vui mừng, bèn phái người đến Trường An tạ ơn, lại còn áp dụng niên hiệu nhà Đường, sử dụng lịch pháp nhà Đường — đương nhiên là trước khi đánh nhau nó đã sử dụng rồi —, nhà Đường giúp nó đánh nhau, Tân La liền liều mạng tiến cống. Nào là nhân sâm, ngưu hoàng và các loại dược liệu khác, rạng đông, ngà cá và các loại hàng dệt may, lại còn có cả da hải cẩu cùng các sản phẩm từ biển khác đều được đưa hết đến Trường An. Chỉ tính riêng vào năm Thần Long thứ 2 năm 706, Tân La đã đưa đồ cống phẩm đến Trường An tận ba lần. Sau đó vào năm 918, vương triều Cao Ly được thành lập, thống nhất bán đảo Triều Tiên, đồng thời vào năm 962 đã chủ động tiến cống cho Bắc Tống, năm thứ hai Cao Ly cải dụng niên hiệu Bắc Tống, đánh dấu việc Cao Ly và nhà Tống xác lập quan hệ tông phu. Sau khi nhà Tống diệt vong, nhà Nguyên thành lập, Cao Ly lại sử dụng lịch pháp nhà Nguyên. Sau khi nhà Minh được thành lập, lại càng đối đãi với Cao Ly (Triều Tiên) vô cùng hậu hĩnh, Chu Nguyên Chương đã liệt Triều Tiên vào danh sách các nước bất chinh. Trong những năm Hồng Vũ (từ năm 1368 đến năm 1398), Cao Ly (Triều Tiên) tổng cộng triều cống 60 lần, trung bình mỗi năm 2 lần; trong những năm Vĩnh Lạc (từ năm 1403 đến năm 1424), Triều Tiên triều cống 91 lần, trung bình mỗi năm 4 lần; trong những năm Hồng Hi, Tuyên Đức (1425 đến 1435), Triều Tiên triều cống tới 67 lần, tính ra mỗi năm có tới 6 lần.

Cả Triều Tiên và Lưu Cầu đều duy trì quan hệ triều cống vô cùng mật thiết với Trung Quốc, cả hai bên có rất nhiều điểm tương đồng ở nhiều phương diện: đều chịu sự sắc phong của Trung Quốc, sử dụng niên hiệu và lịch pháp của hai triều Minh - Thanh; so với các quốc gia khác thì quan hệ của hai nước này với Trung Quốc khăng khít hơn, cho nên ngoài những buổi tiến cống chính thức đã được quy định ra, bình thường vào các dịp lễ tết hoặc khi gặp sự kiện lớn thì họ cũng tiến cống cho Trung Quốc. Triều Tiên thì chọn đúng vào các dịp lễ tết để đi, ví dụ như tiết Chính Đán tức là ngày mùng 1 Tết, Tết Nguyên Đán, ngày lễ Thiên Thu tức là ngày sinh nhật của hoàng đế, Triều Tiên đều đến triều cống. Cống phẩm có thuyền rồng bằng vàng, đài sen đôi chén, vỏ đồi mồi đao kiếm, vải mộc nhỏ, ngựa, cung tên, nhân sâm, da rái cá v.v.; vật phẩm ban thưởng và ban lại của nhà Minh có kim ấn nhà nước, 《Đại thống lịch》, nhạc khí miếu xã, áo mão chín chương, gấm vóc lụa là thêu thùa, đoạn gấm sa la, Tứ thư Ngũ kinh, hộp mạ vàng mạ bạc, ngà voi sừng tê vò vò vò vò vò... Ngoài ra, hàng hóa mà Triều Tiên mua từ nhà Minh có dược phẩm, hàng dệt tơ lụa, sách vở, vị thuốc bổ, đồ sứ v.v., chủ yếu dùng để thỏa mãn cuộc sống xa hoa của giới quý tộc vương thất. Bên cạnh đó, còn có các nhu yếu phẩm trong sản xuất nông nghiệp, thủ công nghiệp và quân sự. Những thứ mà nhà Minh mua vào từ Triều Tiên phần lớn là vải thô, các sản phẩm từ biển và sản phẩm thủ công mỹ nghệ bản địa. Đầu thời Thanh, cống phẩm mà triều đình nhà Thanh đòi hỏi ở Triều Tiên tương đối nhiều, mang tính chất cướp bóc nhất định, sau đó dần dần giảm bớt, cống phẩm hàng năm từ 18 khoản ban đầu đã giảm xuống còn 9 khoản vào năm Ung Chính thứ 6 (1728), biên độ giảm vẫn khá lớn. Chủng loại cống phẩm thì đại đồng tiểu dị so với nhà Minh. Triều đình nhà Thanh đối với Triều Tiên ngoài việc ban thưởng lại như bình thường ra, còn có ban thưởng đặc biệt, ban thưởng thêm v.v. Thương mại triều cống giữa nhà Thanh và Triều Tiên cũng vô cùng thường xuyên, chủ yếu có thương mại "bát bao", chợ phía sau cửa ải và chợ phía sau sứ đoàn (Bát bao Thẩm Dương). Ngoài ra, trong hoạt động thương mại giữa hai triều Minh - Thanh với Triều Tiên, còn xen lẫn cả hoạt động thương mại buôn lậu.

Lưu Cầu ngoài cống phẩm chính thức ra, cũng có "gia cống", chính là cống phẩm được cộng thêm ngoài lề, như cống phẩm chúc mừng, cống phẩm tạ ơn, cống phẩm tâu bày v.v. Chúng ta chớ nên cho rằng, người ta lặn lội đường sá xa xôi đến như vậy, sao lại còn bắt người ta phải tiến cống thêm ngoài lề làm gì nữa chứ? Đây tuyệt đối không phải là thu thuế đâu nhé, Trung Quốc đối với các nước triều cống vẫn luôn ôm ân nguyên tắc "đến mỏng đi dày". Như đã nói ở trước, các ngươi cho nhiều, trẫm ban lại còn nhiều hơn; các ngươi cho đồ tốt, trẫm ban lại đồ còn tốt hơn. Bọn họ đến "gia cống", thì Trung Quốc có "gia tứ", "đặc tứ". Tôi xin nói bổ sung thêm một chút về cống phẩm của Lưu Cầu. Trước đó đã kể ra một số thứ rồi, thế nhưng vẫn còn những đồ tốt chưa được kể đến. Vào năm Đạo Quang thứ 4, tức năm 1824, cống phẩm mà Lưu Cầu mang đến có những gì nào? 9 vạn 8 nghìn cân tảo biển, 9 nghìn 7 trăm cân bào ngư, 5 nghìn cân hải sâm, 2 nghìn 5 trăm cân vi cá mập, 2 nghìn 4 trăm cân nước tương. Bào ngư và hải sâm nhiều như vậy, lại còn có cả vi cá mập nữa, đều là những thứ vô cùng quý giá. Đồ vật mà Trung Quốc ban tặng lại có những gì nào? Lụa là, sa la, đồ gốm, đồ sắt, đồ sứ, đồ đúc, đồ sơn mài, đồ tế khí, tiền giấy, thuyền biển, ấn chương, văn phòng tứ bảo, ủng dài, đồ da, dược phẩm cùng các vật dụng sinh hoạt sản xuất khác. Lưu Cầu là quốc gia quần đảo, họ thiếu những thứ này, chứ còn bào ngư hay hải sâm thì tuyệt đối không hề thiếu chút nào. Mọi người xem, Lưu Cầu và Triều Tiên tiến cống cho Trung Quốc rất nhiều đồ đạc như vậy, lại còn đến nhiều lần như thế, thế là triều đình hai triều Minh - Thanh liền mở "kênh xanh" cho họ. Bởi vì hoạt động thương mại triều cống lúc bấy giờ cũng có rất nhiều hành vi lừa đảo, cho nên triều đình hai triều Minh - Thanh bèn phát hành "khám hợp" cho các nước triều cống trước. Cái gọi là khám hợp là gì? Chính là một văn bản chính thức, đóng ấn đỏ chính thức lên đó, sau đó xé đôi ra, các ngươi cầm một nửa, trẫm cầm một nửa. Lúc gặp mặt thì đem ra đối chiếu với nhau, đối chiếu khớp với nhau thì là thật, đối chiếu không khớp thì là giả. Đây chính là ám hiệu, là tín vật, thời cổ đại cũng thường được dùng trong đính ước hôn nhân của nam nữ, một miếng ngọc bội bẻ làm đôi, lâu ngày không gặp mặt, hễ gặp mặt liền lấy một cặp ra đối chiếu, vừa vặn khớp thành một miếng ngọc bội hoàn chỉnh, thế là coi như tìm được một nửa còn lại của mình rồi. Còn bây giờ thì sao? Nam nữ cũng có, cổ bạn đeo một chiếc khóa, cổ người ta đeo một chiếc chìa khóa, một chiếc chìa khóa mở một chiếc khóa, chính là ý tứ như vậy đó. Triều đình hai triều Minh - Thanh đã làm cho các nước triều cống thứ này, thế nhưng lại không làm cho Lưu Cầu và Triều Tiên. Tại sao vậy? Bởi vì thường xuyên gặp mặt, nếu như còn làm cái gì mà ám hiệu với chả tín vật nữa, thì thành ra vô vị mất rồi. Các ngươi thử nói xem, ngày nào các ngươi cũng về nhà, lúc bước chân vào cửa còn phải nói ám hiệu nữa chắc? Ngày nào các ngươi chẳng đến cơ quan cùng đồng nghiệp, chẳng nhẽ lại phải lôi chứng minh thư ra đối chiếu trước xem có phải là người đó hay không? Không cần. Điều này chứng minh cho vấn đề gì? Chính là Lưu Cầu và Triều Tiên thân thiết giống như người một nhà vậy.

Tuy nói là thân thiết như người một nhà, thế nhưng cho dù có là người một nhà đi chăng nữa, thì vẫn có điểm khác biệt. Vậy, Triều Tiên và Lưu Cầu có điểm gì không giống nhau? Có người nói rằng cống phẩm của họ không giống nhau. Đúng vậy, chắc chắn là không giống rồi, đó là bởi vì đặc sản của họ không giống nhau, những thứ mang theo đều là đặc sản của mỗi bên. Hơn nữa, tuyến đường họ đi cũng không giống nhau. Triều Tiên đi đến Trung Quốc chủ yếu là đường bộ, xuất phát từ Bình Nhưỡng, bước qua sông Áp Lục là đến Trung Quốc, qua khỏi Sơn Hải Kỷ là tới Bắc Kinh, chỉ có hơn ba nghìn dặm đường mà thôi; còn Lưu Cầu của người ta thì xa hơn nhiều lắm. Ngoài những điều này ra, còn có một số điểm khác biệt mà có lẽ mọi người chưa rõ, chính là về thời hạn triều cống. Dưới hai triều Minh - Thanh, thời hạn triều cống của Triều Tiên ít nhất là một năm ba cống, có khi một năm bốn cống, năm cống, nhiều nhất lên tới sáu cống, bảy cống. Triều Tiên là quốc gia có số lần triều cống nhiều nhất trong số các nước phiên thuộc dưới hai triều Minh - Thanh, còn Lưu Cầu xếp ngay phía sau, đứng vị trí thứ hai. Ngoài lý do đường sá xa xôi ra, còn có một nguyên nhân vô cùng quan trọng nữa, đó là triều đình hai triều Minh - Thanh quy định Lưu Cầu không được đến quá thường xuyên. Hoàng đế Vĩnh Lạc triều Minh quy định Lưu Cầu hai năm triều cống một lần là được rồi, thế nhưng Lưu Cầu không chịu, cho rằng thời gian hai năm là quá dài, yêu cầu một năm phải đi một lần. Hoàng đế Vĩnh Lạc không còn cách nào khác đành phải đồng ý. Thế nhưng đồng ý thì đồng ý vậy thôi, quy định thì cứ quy định vậy thôi, Lưu Cầu cũng chẳng mấy khi tuân thủ theo, thường xuyên là một năm đến mấy bận. Người ta đã đến rồi, chẳng nhẽ lại đuổi người ta quay về hay sao, đến thì cứ để cho đến vậy. Đến thời hoàng đế Thuận Trị nhà Thanh, đã quy định nghiêm ngặt rằng Lưu Cầu hai năm triều cống một lần và bắt buộc phải tuân thủ, thế nhưng Lưu Cầu vẫn không hề tuân thủ nghiêm ngặt, mà còn nhiều lần khẩn cầu cho nhiều lên một chút, nhiều hơn nữa một chút, thế nhưng triều đình nhà Thanh không đồng ý. Cho dù là vậy, Lưu Cầu vẫn cứ hễ có thể đến nhiều hơn thì lại đến nhiều hơn. Lưu Cầu nghĩ thầm, đằng nào thì số lần cũng bị hạn chế rồi, chi bằng mỗi một chuyến đi, chúng ta đi đông người lên một chút. Như vậy tuy số lần bị giảm đi, thế nhưng hễ đến một chuyến là có ngay mấy trăm người. Như đã nói ở trước, việc tiếp đón này chính là một khoản chi phí khổng lồ, ăn uống, chỗ ở, vui chơi, lúc ra về lại còn phải ban thưởng nữa, khoản chi tiêu này cũng không hề nhỏ chút nào. Triều đình hai triều Minh - Thanh lại quy định quy mô số lượng người cũng phải bị hạn chế. Thời Thành Hóa nhà Minh quy định chỉ cho phép một trăm người, tối đa cộng thêm năm người; thời Gia Tĩnh nhà Minh quy định không được vượt quá 150 người; đến thời Thuận Trị nhà Thanh ngoài việc quy định không được vượt quá 150 người ra, còn quy định chỉ cho phép 15 người vào kinh, những người khác thì đứng đợi ở bên ngoài. Thế nhưng Lưu Cầu không chịu, liên tục khẩn cầu cho phép chúng tôi mang theo nhiều người hơn một chút. Khang Hi mềm lòng, nới lỏng hạn chế một chút, quy định không được vượt quá 300 người, lúc này bọn họ mới cảm thấy hài lòng. Thế nhưng đối với Triều Tiên, nhà Thanh lại không có sự hạn chế về quy mô số lượng này.

Giữa Lưu Cầu và Triều Tiên vẫn còn những điểm khác biệt nữa. Ngươi đến Trung Quốc rồi, nói theo ngôn ngữ bây giờ chính là ngươi phải qua hải quan, hàng hóa xuất nhập khẩu vào thời đó cũng phải thu thuế hải quan. Triều đình hai triều Minh - Thanh quy định thu thuế thông thường đối với các nước Tây Dương, còn đối với Triều Tiên thì giảm miễn một phần thuế quan, dành cho họ sự quan tâm chiếu cố. Thế nhưng đối với Lưu Cầu thì hoàn toàn miễn thuế, không thu một đồng tiền nào cả. Đội tàu lớn nhỏ nhiều như thế, hàng hóa nhiều như vậy, đều được miễn thuế hoàn toàn. Điều này cũng phản ánh đầy đủ sự hữu nghị giữa Trung và Lưu, đây là sự ưu đãi về mặt kinh tế. Ngoài ra, về mặt chính trị cũng dành cho Lưu Cầu sự chiếu cố đặc biệt. Quan hệ tông phu giữa Trung - Triều đôi khi được duy trì thông qua việc triều đình tăng cường kiểm soát đối với Triều Tiên, thậm chí là sử dụng cả vũ lực; thế nhưng quan hệ giữa Trung - Lưu từ trước đến nay vẫn luôn là mối quan hệ hài hòa, ngập tràn tiếng cười vui, Trung Quốc chưa bao giờ can thiệp vào nội chính của Lưu Cầu, mà luôn đối đãi bằng lễ nghĩa. Cho nên, nói theo ngôn ngữ ngày nay, quan hệ giữa Trung - Lưu thực sự là cực kỳ gắn bó, cực kỳ lợi hại.

Thế nhưng, tôi phải nhắc nhở tất cả mọi người rằng, ngay vào lúc quan hệ qua lại giữa Trung - Lưu đang diễn ra vô cùng tấp nập không biết mệt mỏi, quốc vương Lưu Cầu đang đắc ý vênh váo với danh xưng "Vạn quốc tân lương" của mình, thì vương quốc Lưu Cầu lại vô tri vô giác bước vào một thời đại mang tên tiền tố "bị", giống như những từ ngữ hiện đại của chúng ta ngày nay như "bị" có việc làm, "bị" đại diện, "bị" quyên góp, Lưu Cầu cũng bị ép phải bước lên một con đường một đi không trở lại. Rốt cuộc đã xảy ra chuyện gì? Rốt cuộc thứ gì đã phá vỡ sự yên bình trên vùng đất kỳ diệu này? Vận mệnh của Lưu Cầu sẽ đi về đâu? Hồi sau chúng ta sẽ tiếp tục phân giải.

Nguồn: Việt Nam Thư Quán dịch từ kanunu8.com
Được bạn: Mọt Sách đưa lên
vào ngày: 4 tháng 11 năm 2026

« Lùi Tiến »

💬 Thảo luận

Chưa có bình luận nào — hãy là người đầu tiên chia sẻ cảm nhận của bạn!

Đăng nhập để tham gia bình luận.