Hà Nội Rong Ruổi Quẩn Quanh

Lượt đọc: 272 | 0 Đánh giá: 0/10 Sao
★★★★★★★★★★
★★★★★★★★★★
« Lùi Tiến »
Trấn quốc Hồ Tây

❊ ❊ ❊

Người Hà Nội không ai lạ gì với đường Cổ Ngư, nay là đường Thanh Niên, một con tàu xanh không bao giờ đắm, nổi lên giữa lòng hai con hồ. Nói cách khác, nó ngăn một mảnh Hồ Tây ra thành Hồ Trúc Bạch. Trúc bạch nguyên là tên một xóm làng xa xưa, nơi các cung nữ bị phế truất hoặc đã già nua phải lưu đầy ra đây trồng dâu, chăn tằm, dệt lụa mà sinh sống, dệt nên thứ lụa trắng muốt đem vào dâng cung vua, phủ chúa, còn thừa bán rộng ra kinh thành. Lụa trắng ấy là Trúc Bạch.

Hồ Tây mênh mông, gió tha hồ phóng túng, mây tha hồ lang thang bóng vào lòng hồ và sương tha hồ bốc lên bảng lảng để thơ và mộng lồng vào nhau, cho giai nhân danh sĩ bao thời làm nơi đi về hò hẹn, có cả Trạng nguyên Phùng Khắc Khoan gặp Bà Chúa Liễu đã thành tiên vẫn nhớ cảnh trần. Hồ rộng đến hơn năm trăm công mẫu, có lúc mờ ảo sóng bạc đầu, nên còn có tên là hồ Lãng Bạc, Dâm Đàm, Đoái Hồ, Tây Hồ và nay đơn giản: Hồ Tây.

Trong lòng người Hà Nội, đường Thanh Niên, Hồ Trúc Bạch và nhất là Hồ Tây bao giờ cũng chất chứa những điều nao nao tâm sự, lời tỏ tình trong một chiều vàng, bước dạo chơi dưới vòm phượng đỏ, lúc gió tung mái tóc như mây hoặc một đêm trăng gắn bó đôi hồn... Mà cũng có thể lênh đênh con thuyền thoi hai mái chèo trên sóng lướt, thả hồn say sưa phía bờ kia có chùa Kim Liên, có bến Xuân La, Xuân Đỉnh, có bãi rộng “dinh” đào Nhật Tân, Nghi Tàm, Quảng Bá...

Hồ Tây cho Hà Nội một hơi thở dài khoan khoái sau khi phải dồn dập, gấp gáp những mệt mỏi đời phồn hoa, cũng từng là li cung, hành doanh bao thuở... và chiều trong, mây vắng còn hiện rõ phía đoài ba đỉnh núi Ba Vì lam tím...

Nhưng Hồ Tây còn đáng nâng niu hơn khi khói hương phảng phất, ta rời đường Thanh Niên, đặt bước giữa hai hàng quân danh dự thẳng vút, đội màu lá như những chiếc dù cởi mở, là hàng cau to óng nuột nà mới có vài chục năm nay, tạm rời khói xăng, bụi bặm để đến với thanh u tịch mịch, mà chẳng cần phải trèo núi xa xôi những dặm trường vất vả: Chùa Trấn Quốc đây mà.

Trấn Quốc có mặt từ thời tiền Lý (544 - 548), đã đến mười lăm thế kỉ. Nguyên chùa ngự tọa ngoài đê con sông Nhĩ nhưng vì dâu bể, bên lở bên bồi, chùa được di vào đảo Kim Ngư của Hồ Tây và được trùng tu liên tục nhiều đời. Năm 1615 đời vua Lê Kính Tông là đó. Vài trăm năm sau mới có con đê Cố Ngự, chệch âm thành Cổ Ngư, mới có con đường cong như vành trăng thượng huyền từ Cổ Ngư rẽ vào chùa, mở lối đi về thay cho những con thuyền thúng...

Nào, ta rũ bụi phồn hoa, thả bay đi lo toan lao tâm khổ tứ để vào đây, hoài niệm cùng vườn tháp nhấp nhô cao thấp, nhỏ to lời vang vọng giữa hư vô, nghe rõ tiếng chua me, cỏ ấu đang phập phồng hơi thở dưới chân tháp đầy hơi ẩm sương hồ, nghe lao xao trong gió tiếng mõ cầu kinh đang luận bàn “Sắc sắc không không”. Ra phía trước sân chùa, thả tầm nhìn vào mênh mông sóng biếc, ta đứng dưới gốc bồ đề nguyên sinh ra từ Tây Trúc được Tổng thống Ấn Độ mang đến đây cho cây bén rễ, mang theo màu thiền. Mỗi chiếc lá để có hình tim, cuống nhỏ nên mỏng manh, chỉ phơ phất gió, tim lá đã rung rinh dào dạt như chúc con người mau thành quả phúc cùng thanh sạch.

Cũng giống như hầu hết những ngôi chùa khác trên đất nước Việt mến thương, chùa Trấn Quốc có nhiều lớp, có nhà bái đường, nhiều tượng Phật từ thấp đến cao, từ to đến nhỏ, vàng son lấp lánh, hương khói quanh năm u trầm huyền diệu... Đặc biệt có pho tượng Thích Ca nhập Niết Bàn bằng gỗ thếp vàng lộng lẫy.

Chùa còn có 14 tấm bia, trong đó có bia của Trạng nguyên Nguyễn Xuân Chính, tiến sĩ Phạm Quý Thích dựng năm 1639 và 1815...

Hòa thượng Kim Cương Tử, ngày thường hay ngồi trên chiếc tràng kỉ có màu nâu bóng lộn, sạch bong để tiếp khách thập phương. Người đôn hậu đổi trao về lẽ đời, lẽ đạo... khi nắng sớm hừng đông tỏa trên ngọn hàng cau, qua nhà Tổ, qua Vườn Tháp, hay chiều buông sương lam đưa hồi chuông thu không lan dần trên mặt hồ bát ngát.

Chùa Trấn Quốc nằm trên bán đảo phía đông của Hồ Tây, nên thuộc đất làng Yên Phụ, nơi có ngôi đình thờ thánh theo chiều dọc hiếm thấy ở các ngôi đình khác. Hàng năm, dân làng tổ chức đám rước từ đình sang chùa rồi từ chùa về làng bằng cả một đoàn thuyền nối đuôi nhau cờ dong trống thúc, tưng bừng lễ hội mùa xuân, cho con người tạm rời bến “Mê” để vào cõi “Giác” hoàn tâm, nơi ít năm trước đây, chùa còn thơm hương hoa nơi cái eo hồ xinh xinh, có bậc gạch lên xuống cho khách rửa mặt, rửa tay như rửa sạch lòng trần bằng nước Hồ Tây có xức nước sen thơm.

Mùa đông, cây đề nguyên gốc bên Tây Trúc, rụng lá để chờ mùa xuân rắc mưa như rắc lộc non từ trên trời cao xuống những cành tưởng như khô héo trong gió lộng bốn bên hồ.

Người vào chùa Trấn Quốc, ngoài việc thành tâm lễ Phập, còn là để có một chút ngao du ngắn, được thăm một danh lam nổi lên thanh bình giữa ngàn vạn ồn ào tất bật, Tịch mịch ngay giữa lòng thành phố, cái đáng quý còn đáng được bình phương lên nữa.

Cáng võng những thời xa, và xe cộ giòn tiếng máy bây giờ... xin cứ để nó nằm nghỉ bên bờ cỏ phía ngoài con đường đắp nổi, dưới chân cây phượng lăn tăn xanh. Chỉ mang vào chùa trái tim khát thèm được thánh thiện, mang đôi mắt đợi chờ được thêm sáng láng mà chùa như một ngôi chùa gắn vào hòn non bộ vĩ đại là cảnh trí của phía tây kinh thành đã trải bấy thời gian, có khi đã qua bốn chục kiếp người.

Trai thanh, gái lịch tha hồ lên con tàu ăn uống dập dềnh. Đôi người nào say đắm tha hồ ngồi dưới bóng cây đa búp đỏ cổ thụ của quán nước ngon làng. Các em học trò cứ phấp phới tà áo dài trắng như mây, như bướm, như gió, như hoa, lượn quanh chỗ tượng đài kỉ niệm ngày chiến thắng bắt sống tên giặc lái máy bay. Còn cụ già tha hồ thanh thản rải chiếc chiếu dưới rặng ngọc lan nghe gió Hồ Trúc Bạch hòa gió Hồ Tây, bập bềnh những làn sương mờ ảo như đã bao đời...

Chiều Trấn Quốc. Trời bình lặng. Hồ như một lão tăng chân tu, ngồi thiền trong hoàng hôn, lắng nghe câu kệ giữa bốn bề mây nước, dù phế hưng vẫn rộn rã những nẻo nào...

Hà Nội vẫn may mắn còn rất nhiều chùa chiền, đền miếu. Nào Kim Liên, Một Cột, Liên Phái, Quán Sứ, Thái Cam... Nào đền Quán Thánh, Bích Câu đạo quán, nào đền Bạch Mã, đền Lý Quốc Sư..

Riêng Trấn Quốc vẫn thuộc loại chùa cổ nhất, như đã đắc đạo trên đường tu luyện mà mặt nước Hồ Tây đầy huyền thoại cáo trắng, trâu vàng chứng quả. Chùa không nhiều bậc đá rêu phong, hay núi non trùng điệp, nhưng thật yên bình cùng sóng nước ngân nga, vẫn có thể có tâm hồn ta giọt nước cành dương, rửa đi một phần thế tục, để làm Lành làm Thiện với nhân gian...

1997

Nguồn: tve-4u
Được bạn: Mọt Sách đưa lên
vào ngày: 22 tháng 8 năm 2026

« Lùi Tiến »

💬 Thảo luận

Chưa có bình luận nào — hãy là người đầu tiên chia sẻ cảm nhận của bạn!

Đăng nhập để tham gia bình luận.