Hà Nội Rong Ruổi Quẩn Quanh

Lượt đọc: 274 | 0 Đánh giá: 0/10 Sao
★★★★★★★★★★
★★★★★★★★★★
« Lùi Tiến »
Chùa Kim Liên

❊ ❊ ❊

Trong loạt phim Bao Thanh Thiên có lời đề từ thoát ý từ thơ Lí Bạch thời nhà Đường: “Xưa nay chỉ thấy người nay cười, có ai nghe thấy người xưa khóc đâu...” . Quả là vậy. Chúng ta luôn hồi niệm về người xưa, nhưng chỉ thấy dư ảnh trong suy nghĩ, còn bên cạnh ta, dòng thời gian và sóng người luôn tuôn chảy, có khi ào ạt cuốn ta đi trong cái mạch đời vần vũ.

Một hôm nào lãng đãng bước du, ta giả vờ lạc lối đến bên Hồ Tây, gặp một “Bông Sen Vàng” ẩn mình trong cây lá in bóng xuống nước hồ, những gì thức dậy trong ta.

Người Hà Nội vào xuân, thường đi lễ nhiều chùa chiền từ nội phố đến ngoại ô, chùa Kim Liên cũng đón khách thập phương, thiện nam tín nữ, trai thanh gái lịch, cả những ai số mệnh ngặt nghèo, đến cầu lộc, cầu duyên, chen giữa lời khấn nguyện là tiếng nói, câu cười, bước chân êm ả... có ai nghĩ xem nàng công chúa Từ Hoa, con gái yêu của vua Lý Thần Tông, từ thế kỉ mười một, khi xin vua cha cho rời cung cấm ra đây giữa một vùng mây nước, tự mình trồng dâu chăm tằm dệt lụa và dạy dân nghề tằm tang ấy để lập nên giữa hoang vu một làng nghề có tên Nghi Tàm, thì người con gái cao sang quyền quý ấy tại sao lại chịu chia tay với vàng son gấm vóc để lam lũ cỏ cây đồng nước? Vì tình duyên chăng? Vì nhan sắc không được chim sa, cá lặn chăng? Hay còn vì lí do nào đó khiến lã chã lệ tuôn... mà nay chúng ta không thể nào biết được.

Theo tư liệu cũ, công chúa Từ Hoa đem theo một số cung nữ ra đây, lập ra trại Tầm Tang. Đến thời nhà Trần, cung Từ Hoa trở thành hoang phế, nhưng cái tên Nghi Tàm vẫn còn, ngôi nhà chắc chắn chỉ là tre lá thành chùa Đống Long thờ Phật. Vua Lê Thánh Tông (thế kỉ XV) qua đây, mến cảnh nước trời, cho dựng hành cung để xem đánh cá, gọi là Quan Ngư. Đến thế kỉ XVII, nơi đây vì có một tấm bia đá lớn nên được gọi là chùa Đại Bi, bia ghi rằng chùa được dựng năm Dương Hòa thứ 5 (1539). Đến thế kỉ XVIII, đời vua Cảnh Hưng nhà Lê, mới bắt đầu có tên chùa Kim Liên, trên bia có đoạn:

“Năm Cảnh Hưng 32 (1771), chúa Tĩnh Vương Trịnh Sâm sai Quận Thiều Phạm Huy Đĩnh và Thái giám Tuân sinh Hầu Nguyễn Khắc Tuân lấy vật liệu từ chùa Bảo Lâm phía tây thành Thăng Long đem thêm vào để dựng chùa, từ đó chính thức có tên chùa Kim Liên...” . Tấm bia do Bùi Huy Bích Tồn Am soạn năm Tự Đức Mậu Thìn 1868. Ngôi tam quan đồ sộ cực đẹp, ít nơi nào có được vẻ đẹp nguy nga lộng lẫy, là được dựng vào dịp này, cả nhà bái đường và hậu cung như hiện nay.

Theo cuốn “Hà Nội nửa đầu thế kỉ XX” của Nguyễn Văn Uẩn thì: “Chùa Kim Liên là một di tích lịch sử quý giá không những về niên đại mà còn cả về kiến trúc nữa, lối kiến trúc gần gũi với kiến trúc chùa Tây Phương. Chùa lại ở vào một vị trí rất đẹp, chung quanh bốn bề là nước bao bọc một eo đất nhỏ, đường đi vào hẹp mà quanh co. Chùa còn giữ được nhiều tấm bia cổ, tam quan có biển đề “Thanh hư cung”. Hậu đường ngoài tượng các vị sư tổ, còn hai pho tượng ăn mặc có vẻ quan cách, tương truyền là tượng Phạm Huy Đĩnh và Nguyễn Khắc Tuân là những người đứng ra tu sửa...”

Lần giở mấy dòng như thế, ta lãng đãng hồn mình vào ven cỏ Hồ Tây, nghe con cá chép vàng quẫy trăng như bức tranh cổ Hàng Trống. Cá tìm mãi, tìm suốt đời vành trăng có thực và không có thực, như nàng công chúa cách đây chín trăm năm mờ dần, mờ mãi cho ta niềm u uẩn xót thương con người lập ra ngôi chùa mà đến nay chỉ còn ảo bóng.

Ngôi chùa uy nghi, trầm tịch, tam quan lộng lẫy, bề thế giữa vùng sóng nước có tên nghề tầm tang nhưng không còn một ai theo nghề ấy nữa.

Hàng thế kỉ nay, Nghi Tàm chuyển sang nghề khác. Nghề trồng quất cảnh nổi tiếng cho Hà Nội chơi xuân, quả chín là đà, cành xanh mát rượi, cây nhỏ mà cổ thụ, quả vàng rực thay hoa.

Làng hàng xóm là Yên Phụ có nghề làm giấy màu và nuôi cá vàng thì Nghi Tàm ngoài nghề trồng quất còn có nghề sang trọng, chơi mà phú quý, đó là nghề làm cây thế, chủ yếu trồng ngay trong chậu, bắt cây lớn theo ý người. Ta có thể gặp cây cô tòng lả lướt nhiều màu lá. Cây la hán trăm tuổi, cây trắc bách diệp xanh mờ, cây cúc mốc như thoa phấn, cây si già lụ khụ râu dài khoe tuổi, cây lộc vừng quằn quại trong thế đứng trầm tư, rồi trà thâm, bạch trà, hồng trà, rồi lan Ý, trúc Nhật Bản, đến thiết mộc lan, phong lan đủ loại, cây lựu hoa, cây móc diều mỗi cành mấy màu rực rỡ... Có cây có thể cho không, nhưng cũng có cây đổi chục lạng vàng không được.

Từ đê Yên Phụ rẽ tay trái xuống phía hồ dập dềnh sóng, quanh năm qua con đường nhỏ xíu cạnh hồ bơi đã thành hoang phế, lại rẽ trái thêm mấy bước chân ta gặp ngôi tam quan chùa Kim Liên, đóa sen vàng tỏa hương bằng nét kiến trúc tinh xảo tài tình, khiến ta phải sững sờ vì gạch ngói mà thách thức với thời gian hưng phế, vì bàn tay con người trăm năm vẫn in dấu cho đời, vì hồn nàng công chúa xa xưa đã biết chọn đất thiêng để lâng lâng nỗi kệ lời kinh...

Không như nhiều ngôi chùa khác trong Hà Nội; Chùa Kim Liên bao giờ cũng mang vẻ thanh u, tịch mịch, không ồn ã quá bởi bước chân trần tục. Người vãn cảnh thưa thớt, có lẽ vì nặng nỗi niềm hơn. Thậm chí có người ở Hà Nội mấy chục năm mà chưa một lần đến với Kim Liên. Những chùa Quán Sứ, Bà Đá, Quan Hoa, Trấn Quốc, Hòe Nhai, phủ Tây Hồ, đền Quán Thánh, chùa Hà... thường đông đảo khách xuân hơn.

Mùa đông, đàn chim sâm cầm (thực ra không cần viết chữ chim) không hiểu có di cư từ phương Bắc trở về, và như lời một bài hát: “Bầy sâm cầm nhỏ vỗ cánh mặt trời...” có len lỏi trong lau lách đìu hiu, bộ lông màu huyền, cẳng chân khô khẳng lội ven bờ ai người nhìn thấy? Con chim từng là vật quý tiến vua tận xứ Huế xa xôi mấy trăm dặm đường thiên lí, may mà có ông Lí Chắm người Nghi Tàm bóp chết con chim làm khổ người dân ấy, mới thoát khỏi cảnh ngục lồng, và từ đó, gió bấc đổ về, con chim lang bạt được tự do với sóng hồ, mà nay ít người được gặp chứ đừng nói gì đến ăn thịt nó một cách phũ phàng tàn bạo.

Không phải ai đến Nghi Tàm để ngắm cây và chọn quất cũng đều biết đến để rẽ vào ngôi chùa tráng lệ Kim Liên, thắp nén nhang trước bàn thờ Phật, nhớ một chút mơ hồ đến bóng dáng người xưa nghìn năm bỏ màu vàng son rồng phượng để đến với nâu sồng dân dã, không biết khóc cười ra sao...

Giống như nhiều ngôi chùa khác của Việt Nam, chùa Kim Liên cũng nhiều tượng Phật, trong đó có tượng Quan Âm Nam Hải 42 tay, bàn tay nào cũng nuột nà diễm lệ, tuy so le nhau nhưng vẫn với ra cho chúng sinh mong được cứu vớt một phần thế gian trầm phù số kiếp. Bức hoành phi có chữ Hoàng Uẩn (nghĩa là đạo lí sâu xa) thì vẫn là câu châm ngôn cảnh tỉnh người đời, đừng ăn xổi ở thì, mà phải làm Lành, làm Thiện tu chỉnh đời mình trong nghĩa lí làm người.

Chùa Tây Phương của Thạch Thất, Hà Tây chính là thoát ý từ kiến trúc của chùa Kim Liên, nhưng ở vị thế đẹp hơn, trên núi cao, mây trời lồng lộng, và sinh ra sau, nên có phần nguy nga, lộng lẫy hơn chùa Kim Liên, nằm sát sóng hồ, nơi thiêng liêng đế đô thịnh vượng.

Người Hà Nội có thú chơi tao nhã. Gần tết mọi người rủ nhau lên “dinh” đào Nhật Tân để tự mình tưởng mình là Từ Thức hay Lưu Thần, Nguyễn Triệu, lạc lối giữa vạn triệu sắc hoa, rẽ vào Quảng Bá, ngoặt xuống Tứ Liên... chứng kiến cảnh hoa thi với sắc trời, sắc màu rờ rỡ khiến bước chân dùng dằng chẳng muốn rời... Trong số tao nhân mặc khách ấy cũng có đôi người tâm thành vào Kim Liên chiêm ngưỡng vết thời gian lắng hồn mình nơi Niết Bàn ngay giữa thế gian, mà chùa thì lúc nào cũng mở rộng tam quan như Phật mở rộng lòng ra cho cả loài người.

Tạm biệt ngôi “Sen Vàng” bên sóng nước, ta mê hay tỉnh, ta thêm chút sức mạnh tâm linh để góp điều thiện tâm vào cuộc sống. “Kim Liên tự” mang lại cho ta điều ấy.

1997

Nguồn: tve-4u
Được bạn: Mọt Sách đưa lên
vào ngày: 22 tháng 8 năm 2026

« Lùi Tiến »

💬 Thảo luận

Chưa có bình luận nào — hãy là người đầu tiên chia sẻ cảm nhận của bạn!

Đăng nhập để tham gia bình luận.