Vườn bao giờ cũng gợi lên sự tươi mát, thảnh thơi, thơ mộng và một chút bâng khuâng, dù chỉ là một mảnh trồng rau mấy luống, một góc tươi dăm gốc hoa, một xum xuê vườn quả, một um tùm vườn chuối... ở quanh quất đâu đây, sau chùa, bên đình hay ngay bên nhà ta, phía sau đằng trước...
Với thành phố, vườn hoa hay công viên còn có vị trí trong hồn người đặc biệt hơn nhiều. Nó cần thiết để con người được thư giãn, với người này thì nhàn tản mà suy ngẫm, với người khác để uống no nê làn không khí trong tươi vào phổi. Ai kia cần một màu xanh cho nó xua đi nỗi tức mắt vì ánh đèn quầng, lúc khác lại là để lâng lâng niềm hân hoan thoáng đãng, say mê trong tiếng chim gù, rộn ràng trước ngàn hoa mơn mởn...
Khoảng trăm năm lại đây, Hà Nội mới có khái niệm công viên, hoặc vườn hoa. Những mảng không gian tràn xanh, lá xanh, trời xanh, đất xanh đến gió và không khí cũng xanh... đã cho con người vốn sống trong chật hẹp (không hiểu có phải vì thế mà nhiều người hẹp luôn cả tấm lòng mình?) được nhuần đẫm vào một thế giới đổi thay giây lát, hồi sinh lại ít hồng cầu đầy mệt mỏi.
Vườn hoa đã có, nhưng chưa phải là đủ, chưa phải là nhiều. Dù sao cũng đáng quý, đáng yêu, nhiều vườn hoa đã thành kỉ niệm êm đềm tha thiết hay chua xót đắng cay của nhiều người phải vì cớ này, cớ khác mà chia tay nhau, mà chia tay Hà Nội, mang vườn hoa Hà Nội trong lòng biệt xứ, tha hương...
Nhà thương nghiệp, người công tác, anh thợ, bà bán hàng... ít quan tâm đến vườn hoa. Người ta phải tự hành xác để đổi lấy miếng ăn vất vả... thì vườn hoa chỉ là khái niệm có cũng được không thì cũng chẳng chết ai, giống như cuốn sách, có thì đọc, không thì cũng không chết đói...
Người có tuổi, mà lớp này mỗi ngày một đông thêm, lớp em bé thơ ngây, những người trẻ tuổi đầy trái tim niềm si mê... thì vườn hoa là một người bạn thân thiết, người bạn tâm tình, người nâng đỡ, người chia sẻ... Biết đâu chả có một cậu chàng nào đến tâm sự với cái gốc cây mà hôm trước đây họ còn có đôi, nay thành cô độc? Cây biết nghe đấy.
Vườn hoa đương nhiên là phải có cây rồi. Như nói đến cô gái, ta nghĩ ngay đến mái tóc mượt mà, bộ ngực thanh tân... Không có cây thì khu đất gọi là vườn kia chỉ còn là tha ma mộ địa. Nhưng nếu thiếu một gương nước long lanh cho mây trời lơ đễnh soi bóng... thì cũng là một sự xộc xệch, khập khiễng, khô khan, như âm dương thiếu nhau, tình yêu đơn phương, lẻ bạn...

Công viên Thống Nhất, nay là công viên Lê Nin, sinh năm 1960 có cả một khu hồ rộng mênh mông, nước trong vắt, có đảo tròn, có cầu cong, lại có đảo hoang vu, giường đá, nhà sàn, vượn hú, ve ngâm... muốn vào đảo phải khỏa mái chèo như chàng Lưu, Nguyễn nhập Thiên Thai, cho con thuyền lênh đênh mấy phút... Công viên có Quán Gió (còn thiếu Cầu Sương cho đồng bộ chăng?), có khu phong lan, có đường xe lửa thiếu nhi, có sân khấu ngoài trời, có nhà gương dị dạng. Gần bốn mươi năm, cây cối ở đây đã mang dáng hình gần như cổ thụ, kể cả cây đa Bác Hồ trồng, xòe như một mâm xôi xanh, trẻ em tha hồ trèo lên ba chạc sát mặt đất không sợ ngã... Đã có bao mối tình hẹn hò dưới tán cây ấy. Cây sinh sôi, tình nẩy nở... sum họp chia li đủ cả, và có cảm giác về bài thơ nổi tiếng “Cuộc chia li màu đỏ” của Nguyễn Mỹ, chính là nói về hai người yêu nhau trên nền xanh ngát của trời mây hoa lá công viên Thống Nhất này.
Công viên Thủ Lệ sinh sau đẻ muộn, có tên thế vì nằm trên đất làng Thủ Lệ, có đền Thủ Lệ còn gọi là đền Voi Phục, thờ thánh Linh Lang. Công viên rộng, cũng là một trường học về sinh vật cho bao trẻ thơ. Được đến đây một buổi, là được một phần thưởng, vừa giải trí, vừa vui vẻ, vừa học được bao điều từ đôi voi cong vòi lên âu yếm, con hổ đi đi lại lại suốt ngày không biết mỏi, con hươu ngơ ngác cả cái chạc sừng, con nhím lủi thủi tìm hang, con đại bàng mốc cả đầu, con trăn lơ mơ ngủ, con cá sấu giả vờ chết, con vượn đu như một nghệ sĩ xiếc tài danh, đàn khỉ chí chóe suốt ngày... Nhất là con gấu, thích đi hai chân để khoe cái “nơ” trắng hình chữ V trên khung ngực đen nhánh, y như chàng phục vụ ở Hotel, quần áo trắng nơ đen, còn chú gấu thì quần áo đen nơ trắng...
Công viên Bách Thảo được sinh ra từ năm 1890, đã hơn trăm năm, thăng trầm có cả. Vẫn còn núi Sưa kia, Sưa Sơn là nó, chứ không phải núi Khán, núi Nùng. Cây sưa từng mọc đầy trên ngọn núi cao hơn 10 mét ấy.
Mới cách đây mấy chục năm, mỗi cây trong ấy còn có biển ghi tên, tiếng La tinh, tiếng Việt. Tiếc là cái hoang vu đang lấn chiếm, nên chỉ còn mấy cây chò cao vút, vươn hẳn lên, vượt hẳn ra tầm ngọn các loài cây khác. May còn có mấy khoang hồ, nơi có hạc rỉa lông, chỗ có sen đua nở. Trại Hàng Hoa cũng là đây, một thời thơ mộng, đi vào tiểu thuyết... Cây muồng cổ thụ hàng chục người ôm đang chết dần, một số cành đã cưa đi, hay là nó chết mòn vì nhớ cái chuồng voi nơi gốc, mà tán lá tỏa mát bốn mùa?
Quen thuộc là vườn hoa Chí Linh, một nửa phía bờ hồ là vườn Indira Găngdi. Đây nguyên là vườn hoa Paul Bert, tên của viên quan Toàn quyền Pháp đầu tiên ở Đông Dương. Khi ông ta chết, còn được dựng tượng ở đây, mà năm 1945, bác sĩ Trần Văn Lai, một nhân sĩ yêu nước làm thị trưởng, đã cho phá bỏ hết những bức tượng đầy chất thực dân và nô lệ ấy, tượng đồng được tập trung về lò nung Ngũ Xã.
Vườn Chí Linh có nhà Bát Giác, là nơi đội nhạc kèn tấu nhạc mua vui mỗi chiều thứ bảy, một thời chắn lưới nuôi chim công, chim sít, bồ câu... Nay con công đã múa ở trên thiên đàng. Nhà kèn định phục hồi ban nhạc nhưng nhạc Rốc, nhạc Pốp... có xu hướng làm nhún nhảy con người, nên nhạc kèn hành khúc không được ưa chuộng lắm.
Vườn Chí Linh có hai cây đa như hai dũng sĩ, và không hiểu sao lại lạc loài một cây bạch dương khổng lồ, bong vỏ, lá như bạch đàn, bên cạnh một cây mai vàng, mùa xuân hoa rực rỡ, rặng lựu đỏ hoa mùa hè, mấy cây bàng cổ thụ có cây bị trận rét cuối những năm tám mươi đánh gục...
Vườn hoa Hàng Đậu, tên chính thức là Vạn Xuân, là một hình chữ nhật, có bể nước vòi phun, nhưng luôn là cái tổ cho “rắn ráo” ở. Tết, chợ hoa Hàng Lược tràn sang đây như cái cốc nhỏ mà bia rượu lại nhiều nên nó phải lênh láng một cách đương nhiên. Lạ một điều, có một quầy đánh bạc núp dưới cái danh “trò chơi có thưởng”, mà không ai nghĩ đến chuyện dẹp bỏ nó.
Còn một vườn hoa duy nhất có bức tượng đồng bán thân, trong Hà Nội. Đó là vườn Pasteur. Không phải bức tượng bị bỏ sót, mà chính bởi ông thầy thuốc này là một bác học, một danh nhân của toàn nhân loại. Chúng ta tôn kính và biết ơn ông, không phải ông là một người Pháp thực dân, mà vì ông đã có công trình tìm ra vi trùng, vi khuẩn, tìm ra bệnh dại cứu được không biết bao nhiêu vạn người. Bức tượng đồng đứng giữa hai hàng cây cọ dầu như hàng quân danh dự mặc áo xanh, chơi điệu nhạc gió trời để chào mừng ông. Ông đứng đây, vì ông đúng là một Con Người, chữ viết hoa, khắc sâu trong lòng toàn thể loài người.
Trước Phủ Bắc Bộ, nay là Nhà khách Chính phủ, có một vườn hoa xinh xắn: Diên Hồng, nhưng người Hà Nội gọi thâm mật là vườn hoa Con Cóc. Nhỏ mà đẹp, vườn hoa này như có cái duyên thầm, giữa tấp nập vẫn giữ được vẻ thanh lịch; khi bốn con cóc phun lên những tia nước như đài hoa đượm sắc cầu vồng. Hàng sấu cổ thụ mà không già vẫn rắc những hạt hoa màu trắng mỗi khi hè sang, như mừng khách năm châu bốn biển, mời các vị bước lên thảm hoa mà đến với đất nước này trong hương thơm rất nhẹ của thứ quả đầy Hà Nội. Khóm tre đằng ngà, mấy cây bằng lăng nước tím màu mùa hạ cũng tưng bừng, trừ khi hơi khói hơi xăng của khách sạn gần đấy thải ra.
Có ba vườn hoa nhỏ đã rời Hà Nội vào cõi vĩnh hằng như đời con người. Vườn Bách Việt (Cửa Nam) có cây mận nở hoa trắng ngần mùa đông mà nhà thơ Ngô Quân Miện rất thích, thường rủ bạn từ tòa báo Độc Lập gần đấy ra ngắm say sưa, cùng với cây dong riềng hoa đỏ bốn mùa... Nay là nút giao thông rồi. Vườn Bình Than, thường gọi là vườn hoa chéo Lê Quý Đôn cũng đã sừng sững một nhà biến thế điện. Vườn hoa không tên chỗ Đường Thành gần Cửa Đông, từng biến thành quầy bán bia hơi nhếch nhác, nay lại thành quán chợ. Vườn hoa có lẽ không cần thiết chăng? Bia cần hơn, chợ cần hơn chăng? Đã ít mà còn mất dần đi như mấy vườn hoa ấy thì quả là buồn, là nỗi nhớ, là trang kí ức khó phai mờ của nhiều thế hệ người Hà Nội, thành phố còn bảo lưu được bao êm ả.
Hai vườn hoa khác mới đang hình thành và sắp hình thành, hi vọng chúng góp tiếng nói xanh, hơi thở xanh cho Hà Nội, đó là vườn hoa Thanh Nhàn và vườn hoa Đống Đa.
Hồ Tây bát ngát trên năm trăm công mẫu, đầy sương mờ mịt. Nhưng vườn hoa Tây Hồ chỉ nhỏ bé trong mấy bước chân. Cũng có một khung nước xi măng nho nhỏ, mà cái vòi phun han gỉ quanh năm. Vườn hoa đầy trăng gió của Hồ Tây sẻ cho một phần, nằm cạnh phố ngắn vào loại thứ hai thành phố: phố Mai Xuân Thưởng, mà một thời các học sinh trường Bưởi phải qua đây, bóng cây rập rờn trên vai áo the thâm dài, áo trắng của trường Bảo Hộ, phố Thụy Khuê....
Trông sang bên kia đường, là vườn hoa Lý Tự Trọng, người anh hùng cách mạng trẻ tuổi. Tượng anh đứng giữa những lùm nhãn đã xum xuê màu xanh lá, cát mịn mặt vườn, các hiệu ảnh tha hồ mà đón khách du ngoạn nơi đền Quán Thánh tịch mịch dưới những hàng muỗm mấy trăm năm, tỏa cái âm u lên nóc đền có pho tượng đồng hơn 4 tấn và pho tượng ông Trùm Trọng bằng đá xanh, người nghệ sĩ đúc đồng như vẫn còn đang suy nghĩ về những ngọn lửa lò trong bài phú Tây Hồ...

Cạnh Nhà hát Lớn, có một vườn hoa nhỏ, ít đặc sắc. Đây nguyên là cửa ô Tây Long (hay Tây Luông), chiến trận đã xảy ra, quân Vua Quang Trung cũng từ đây rút về Quy Nhơn... khi chưa có Nhà hát Lớn... Thời chống Mỹ, đây có quần bán bia theo kiểu “chuồng cọp”, nhiều văn nghệ sĩ cũng đã nghiêng ngả men say. Vườn hoa Cổ Tân khiêm tốn, ai đó tạm dừng chân để vào Bảo tàng Cách mạng, hẳn cũng chỉ là giây lát.
Trở lại phố Cột Cờ, vườn hoa Chi Lăng mà dân Hà Nội trước đây thường gọi là vườn Canh Nông, bởi có nhóm tượng mấy người lính Tây giương súng bắn, cạnh đấy là tứ dân: sĩ, nông, công, thương và một nông dân dắt con trâu như sắp vào buổi cày. Nay vườn hoa có tượng Lê Nin cao trên năm thước tây, trên bệ đá hoa cương hơn hai thước. Cũng lạ, vườn Thống Nhất được đổi tên thành vườn Lê Nin thì không có tượng Lê Nin. Còn tượng Lê Nin thì lại ở vườn hoa Chi Lăng. Đây là một vườn hoa rộng, có một rặng đa già, những cây cơm nguội nhuộm lá mình một màu sắc xanh non, phía sau là mấy cây đề mọc lẫn với dừa dầu...
Hà Nội còn có một số vườn hoa nhỏ có tên hoặc không tên: vườn Tao Đàn ở trước cửa trường Đại học Tổng hợp; vườn Mê Linh nằm ngay đằng sau Nhà tù Hỏa Lò, vườn trong tòa án, vườn trong thư viện Trung ương v.v...
Phải một chiều nắng gắt, người đẫm mồ hôi trong cái nắng tầm tã mà được ngồi xuống chiếc ghế đá giữa công viên, tràn ngập cây xanh, giữa những làn gió xanh, khiến trời xanh như cũng hóa dịu dàng... gió cứ lùa đầy lồng ngực làm cánh áo như mảnh buồm con no gió... và mắt ta soi vào gương nước xanh trong, lăn tăn áng mây lờ lững... ta mới thấy được những gì quý giá của vườn hoa mang lại.
Hà Nội nhiều cây xanh, nhưng chia cho đầu người thì bình quân còn rất thấp, thua xa nhiều thành phố lớn trên thế giới. Vì vậy, một vườn hoa nhỏ, một công viên lớn, và chỉ một gốc cây xanh thôi, cũng đã là rất đáng quý, đáng yêu, đáng giữ. Bốn mùa thay đổi, lá xanh thay nhau, hoa vàng, hoa tím, hoa đỏ chuyển màu... vườn hoa cho con người hết cả đời mình. Đó cũng là tình yêu, là sự dâng hiến trọn vẹn cho người yêu dấu?
Ít ai lại không có một kỉ niệm thân thương nào đó một thời về một vườn hoa nào đó. Không hiểu nghĩ thế có đúng không?
5/1995