Hà Nội Rong Ruổi Quẩn Quanh

Lượt đọc: 274 | 0 Đánh giá: 0/10 Sao
★★★★★★★★★★
★★★★★★★★★★
« Lùi Tiến »
Hồ nước oan khiên

❊ ❊ ❊

Một công trình kiến trúc, một khu vực thiêng liêng, thường có một gương nước kèm theo, sẽ được tôn lên nhiều lần. Cửa đình, trước chùa, bên lăng miếu, một khuôn viên v.v... xưa nay là thế, đã thành quen thuộc.

May mắn sao, Hà Nội là thành phố có nhiều gương hồ như thế.

Lòng đang đầy lo toan, người đầy bứt rứt... được dừng lại giây lát bên hồ, gió trời làm chiếc quạt ân tình, mây lãng đãng dưới lòng nước sâu cho ta thanh thản, mặt hồ thành tấm gương cho ta soi vào đấy mà tẩy rửa ưu tư, thiên nhiên trở nên hào phóng trước nhỏ bé lòng ta...

Hẳn cái vùng trũng Lông Đỗ, Đại La, trước khi Lí Công Uẩn rời đô từ Hoa Lư chật hẹp về đây, những mặt hồ long lanh ánh nước, lan tỏa mặt trời giữa vùng bao la bát ngát... đã làm rung động tâm hồn ông vua sáng suốt ấy, nên mới xảy ra quyết định lịch sử cho nghìn đời.

Nghìn năm đã qua đi. Chúng ta thử hỏi với nhau xem đã sử dụng, bảo tồn di sản cha ông để lại như thế nào?

Hãy chỉ nói vài ba gương hồ của trái tim đất nước.

Đoái Hồ, Dâm Đàm, Lãng Bạc, Tây Hồ và nay là Hồ Tây đang bị coi là trọng tội thì mới ngày ngày bị đóng cọc vào lòng hồ, cọc tre, cọc gỗ, cọc sắt, xuyên xuống đầy nhức nhối và hẹp dần, co lại như tấm da lừa. Nếu không được cứu, được giải oan thì chẳng bao lâu, miếng da lừa này mất hẳn, Hà Nội có còn không?

Bên cạnh con tàu xanh không bao giờ đắm có tên là Cổ Ngư, là đường Thanh Niên, mùa đông xao xác gió trăng, rung rinh quả xoan tây đen huyền, mùa hè rực rỡ một trời phượng đỏ và hoa ban tím... là Hồ Trúc Bạch, nơi xóm xưa cung nữ dệt lụa trắng những ngày tàn, nay cũng đang gặp nguy cơ. Không ai còn nhìn thấy đâu là gò Mỏ Phượng. Nó đã bị chìm lấp vào đáy lều, vào nền nhà nham nhở, và xung quanh là rác rưởi, là đất gạch phế thải, ngày mỗi dềnh lên thay cho bờ nước. Phía bên kia, những tấm biển quảng cáo đầy chữ Tây chữ Mỹ, tưởng như đây là một khu ngoại ô của một nước xa lắc nào. Hồ Trúc Bạch đã bị ô nhiễm nặng. Một thời, than và nước thải của nhà máy điện Yên Phụ thải ra làm chết cá, lúc nào mặt hồ cũng bốc mùi (chứ không phải sương đâu). Nay, là nước thải của mấy mặt phố xunh quanh: Châu Long, Ngũ Xã, Trúc Lạc... Ngay giữa lòng Cổ Ngư cái lô cốt bằng xi măng, tường cao từng khối, không những che chắn tầm nhìn, khuất gió bay, mà còn thải những vỏ ốc, vỏ bia xuống lòng hồ. Chúng ta có đói khát đến thế, nghèo đến thế, đến nỗi phải xây cái quán ăn đồ sộ như thế ở đây để lấy chút lãi cho Nhà nước?

Có khi là ở đây chỉ cần vài cái dù che, mấy rặng cỏ hương và màu, những chiếc ghế đá cho người nghỉ chân... để ai đó nghìn trùng về thăm đất nước, người nào hành hương tới Thủ đô, được thấy đất trời hào phóng những cây xanh, gió no cho thích xin mời đến những phố đầy hàng ăn uống khác. Chùa Trần Quốc bên cạnh kia, nhất định không vui gì chấp nhận những khuôn mặt đỏ gay bia rượu, những cái miệng sặc sụa mùi mắm muối vào đây dâng lễ. Kẻ phá đền Cẩu Nhi làm quán uống bia sao không bị trừng trị?

Vòng về Văn Miếu - Quốc Tử Giám, công trình không nguy nga nhưng đồ sộ, không vàng son vẫn đầy chất lịch sử văn hiến... tượng trưng cho cả một nền học thuật nghìn xưa. Theo quan niệm kiến trúc cũ, trước mặt ngôi trường Đại học đầu tiên ấy, không thể thiếu một gương hồ. Đúng thế, Hồ Văn hay Văn Hồ đó. Có thể hình dung ra sau buổi bình giảng, giảng Thư, giảng Kinh, quan Tế tửu, quan Tư nghiệp cùng văn nhân danh sĩ, ông Cử, cụ Nghè ra đây thưởng trăng, nghiêng chén trà đậm, gió trời phóng khoáng... Vậy Văn Hồ đâu? Đó là một ao rau muống ngập cả bèo cùng rau rút, và cũng đã teo lại chỉ còn là cái vũng. Đảo giữa hồ um tùm hoang phế như mồ lạnh miền sơn cước. Trông sang cổng Tam quan, có cột trụ của Văn Miếu, chỉ còn thấy rào dây thép gai, cọc gỗ trong đó là những đống cát, đống sỏi, gạch để xây dựng hay để buôn bán, cạnh đó là hàng bán cây cảnh, đất cát bừa bãi, từng chồng chậu nghiêng ngả và kề bên là chí chát xưởng chạm khảm với lều che mái chắn... Văn Hồ đang bị tiêu diệt, Chẳng lẽ vì bận công kia việc nọ to tát nhường nào, chúng ta lãng quên, thậm chí tuyên án tử hình một con hồ đầy chứng tích của nền văn hóa và kiến trúc đáng kính trọng? Văn Hồ kêu cứu, nhưng hình như không ai nghe thấy.

Hồ Thuyền Quang, Hồ Hai Bà Trưng cũng đang lâm vào tình trạng lo ngại đến sởn lòng, gặp dịp Phật Đản hoặc tết ông Táo, người ta phóng sinh cá, xong, thả luôn cả túi chất dẻo xuống hồ, có lúc túi trắng, túi xanh lấp hết mặt nước, cứ dập dềnh không biết trôi đi đâu, phải vài hôm mới chìm hết, mà ta biết rằng đây là loại cao phân tử độc, phải hàng nghìn năm nó mới tự phân hủy hết. Nguy cơ lắm chứ. Bỏ qua nhiều hồ nước khác đều chung số phận là cái hồ chứa nước thải ngày đêm, cứ dềnh lên ngập ngụa sau mỗi trận mưa. Trở lại khu hồ có tên Hồ Lục Thủy, Hồ Thùy quân, Hồ Tả Vọng, Hữu Vọng, Hồ Hoàn Kiếm với nước xanh rờn, đầy cây xanh tỏa bóng, với Điếu ngư đài, Cung Thụy Khánh, nay là Gò Rùa, Đền Ngọc Sơn, cùng đình Trấn Ba v.v... đã bị co hẹp lại nhiều, chứng cớ là chỗ bến xe điện, đã hóa thành bãi trông giữ xe ô tô với cái biển dùng tiếng nước ngoài, và sặc sụa mùi ét xăng cùng Tây ba lô, quần cụt nhí nhố.

Nhà thơ Hy Lạp Lu-đê-mít (Ludemis) đã có bài thơ hay về Hà Nội, ví Hồ Gươm như một lẵng hoa tươi quý báu. Nay lẵng hoa tươi ấy đang bị bé lại, nếu không nói là có chút gì đó héo tàn đầy lo ngại, khi xung quanh, những căn nhà quá đồ sộ, quá cao, mọc lên, biến hồ thành một chiếc ao con lúc nào không biết, và đến lúc ấy thì... quá muộn, gió sẽ không nơi mà thổi, mây tìm đâu mà soi, hình ảnh rùa vàng và gươm thần sẽ tan vào đâu, vào bóng những ngôi nhà hay vào những bàn tiệc đầy rượu ngoại và phòng ngủ cho thuê...

Khoan nói đúng hay sai việc phải chi hàng tỉ đồng để nạo vét đáy hồ bằng cơ giới, thay nước hồ làm chết mất giống tảo lam, kè xi măng làm mất chỗ cho rùa lên phơi nắng hoặc truyền lại giống nòi... những cái đó, các nhà khoa học sẽ có ý kiến phán xử. Chỉ nói đến những ngôi nhà đầy trêu ngươi, như chọc tức mắt người, bởi còn nhớ, khi ngôi nhà ốp đá trắng kia đang xây dở, báo chí lên tiếng đừng xây quá cao, thì lập tức sau đó, nó có chiều cao làm các nhà báo và người dân Hà Nội phải ngỡ ngàng. Một sự trả đũa dư luận chăng? Cho đến nay, có người gọi ngôi nhà có hai hàng kẻ thẳng đứng ấy là cái máy chém. Mới gần đây, một ngôi nhà đồ sộ nữa những khung nhôm, kính tím lại tiếp tục theo gương anh nó, mọc lên, án ngữ cả nột ngã ba, ngã tư trước đây thông thoáng. Khu có tượng vua Lê nhiều năm nay chính ngành Văn hóa đáng lẽ có nhiệm vụ bảo vệ, tôn tạo, thì lại chính mình bao vây, bỏ mặc cho hoang tàn, đặt xưởng mộc, xây sân khấu, để cho thợ xây phơi cả quần áo lên bia tưởng niệm Nguyễn Du và cột tượng vua Lê. Nay, về căn bản, có cổng, có tường, nhưng vẫn đang chìm trong tịch mịch, không ai được vào thăm vì có cái khóa to tướng. Không những thế, người ta còn có dự án xây ở chỗ này những công trình cao 16 mét để làm dịch vụ du lịch, nói cách khác là để hầu hạ người có tiền và khách nước ngoài, với hàng ăn quán nhậu thế nào thì có... trời mà hiểu. Nếu không tỉnh ngộ, thì tượng vua Lê chỉ cao chưa đầy chục mét sẽ chìm khuất vào nhà tắm, tường sau cùng “toa lét” của những ngôi nhà cao tầng ấy, và Hồ Gươm thành ao bé tẻo teo thực sự.

Nhà Thủy Tạ đã lên tầng hai, với mái xanh mái đỏ, dùng làm quán bia và ăn uống khác với cái tên mĩ miều “Đình làng restaurant”, nhưng xem ra chẳng có chút gì là ngôi đình quê hương mà chỉ che chắn không cho ai nhìn thấy Hồ Gươm.

Người Hà Nội hôm nay đang sống khá chật chội. Bình quân diện tích đầu người mới vài ba mét, nên chiến tranh nhà đất đang nổ ra khốc liệt. Cây xanh tuy nhiều nhưng cũng mới chỉ vài mét vuông cho mỗi người dân... thì những gương hồ, mặt nước, những tán cây xanh càng cần thiết biết bao cho môi trường sống của con người, chưa nói là Thủ đô.

Chúng ta đang và đã sử dụng những di sản, tài sản quý báu của cha ông nghìn đời để lại như thế nào? Tự hỏi những ai cũng thầm thấy câu trả lời.

Có lẽ chỉ gõ lên một tiếng chuông là chưa đủ. Cần những hồi trống ngũ liên cấp báo chăng? Những gì là văn hóa còn sót lại là thiêng liêng trong lòng người dân, trong lòng dân tộc. Sẽ là có tội với người xưa và cả người sau, nếu hôm nay chúng ta không chú ý giữ gìn bản sắc văn hóa dân tộc và những di sản, tài sản văn hóa ấy. Hơn bảy mươi triệu người Việt Nam đang trông chờ.

Tháng 5/1996

Nguồn: tve-4u
Được bạn: Mọt Sách đưa lên
vào ngày: 22 tháng 8 năm 2026

« Lùi Tiến »

💬 Thảo luận

Chưa có bình luận nào — hãy là người đầu tiên chia sẻ cảm nhận của bạn!

Đăng nhập để tham gia bình luận.