David & Goliath - Cuộc Đối Đầu Kinh Điển Và Nghệ Thuật Đốn Ngã Những Gã Khổng Lồ

Lượt đọc: 312 | 0 Đánh giá: 0/10 Sao
★★★★★★★★★★
★★★★★★★★★★
« Lùi Tiến »
3. Caroline Sacks

❊ ❊ ❊

“Nếu học ở Maryland, có lẽ tôi vẫn gắn bó với khoa học.”

1.

150 năm trước đây, khi Paris là kinh đô nghệ thuật của thế giới, thì hàng tối, một nhóm họa sĩ thường tụ tập ở Guerbois Café nằm trên phố Batignolles. Trưởng nhóm, Édouard Manet, là một trong những thành viên lớn tuổi nhất và có thâm niên gắn bó với nhóm lâu nhất, một người đàn ông điển trai và thích giao du, khoảng hơn 30 tuổi, ăn mặc hợp thời và hấp dẫn những người xung quanh bởi sự nhiệt huyết và khiếu hài hước. Bạn thân của Manet là Edgar Degas. Hai người đều sở hữu sự sôi nổi, nhiệt huyết và miệng lưỡi sắc bén. Paul Cézanne, một thanh niên cao ráo và cục cằn. Claude Monet chỉ biết quan tâm đến bản thân và có ý chí mạnh mẽ. Bạn thân của anh là “cậu trai dễ tính” Pierre-Auguste Renoir, người đã vẽ 11 bức chân dung Monet trong suốt thời gian họ làm bạn. Người giữ điểm cân bằng cho nhóm là Camille Pissarro: rất quan tâm đến chính trị, trung thành và nguyên tắc. Thậm chí Cézanne – kẻ xấu tính và điên rồ nhất – cũng yêu quý Pissarro. Nhiều năm sau đó, ông tự xưng là “Cézanne, học trò của Pissarro”.

Cả nhóm họa sĩ đáng chú ý này sẽ cùng nhau sáng tạo ra nghệ thuật hiện đại với phong trào mang tên Trường phái Ấn tượng. Họ vẽ nhau, lần lượt, và ngồi vẽ cạnh nhau đồng thời ủng hộ và hỗ trợ nhau cả về mặt cảm xúc lẫn tài chính, và ngày nay các bức họa của họ được treo ở mọi bảo tàng nghệ thuật lớn trên thế giới. Nhưng vào những năm 1860, họ gặp rất nhiều khó khăn. Monet bị phá sản. Renoir từng phải mang lương thực đến “cứu tế” cho anh. Renoir cũng chẳng khá khẩm hơn. Anh còn không có đủ tiền để mua tem thư. Hầu như không có nhà buôn nào quan tâm đến các bức họa của họ. Khi các nhà phê bình nghệ thuật đề cập đến Trường phái Ấn tượng – chỉ có một nhóm nhỏ các nhà phê bình nghệ thuật ở Paris vào những năm 1860 – họ thường phê phán các họa sỹ này. Manet và bạn bè ngồi ở Guerbois, quán cà phê với những mảng tường ốp màu tối, những bàn đá cẩm thạch và những chiếc ghế sắt mảnh để cùng ăn uống, tranh luận về chính trị, văn học nghệ thuật và quan trọng nhất là về sự nghiệp của họ – bởi các họa sỹ ấn tượng đều phải vật lộn với một câu hỏi quan trọng: Họ nên làm gì với các triển lãm Salon?

Nghệ thuật đóng một vai trò rất lớn trong đời sống văn hóa của Pháp vào thế kỷ XIX. Hội họa do một cơ quan chính phủ quản lý mang tên Bộ Toàn quyền và Mỹ thuật – nó được coi là một nghề như nghề y hoặc pháp luật ngày nay. Một họa sĩ tiềm năng sẽ bắt đầu tại École Nationale Supérieure des Beaux-Arts (Cao đẳng Mỹ thuật Quốc gia Pháp), Paris, nơi họ được đào tạo nghiêm ngặt và chính quy, từ việc sao chép các bản vẽ đến vẽ mẫu thật. Ở mỗi giai đoạn học tập, họ sẽ phải tham gia vào các cuộc thi. Những người kém sẽ bị đào thải. Những người làm tốt sẽ giành được giải thưởng và học bổng danh tiếng, và đỉnh cao của nghề này là Salon, triển lãm nghệ thuật quan trọng bậc nhất ở châu Âu. 

Hàng năm, mỗi họa sĩ Pháp sẽ gửi 2 đến 3 bức tranh sơn dầu đẹp nhất của mình đến ban giám khảo gồm các chuyên gia. Các nghệ sĩ mang tác phẩm của mình đến Palais de l’Industrie, một phòng triển lãm được xây dựng để phục vụ cho Hội chợ Thế giới Paris nằm giữa đại lộ Champs-Élysées và sông Seine. Trong suốt vài tuần sau đó, ban giám khảo sẽ lần lượt bỏ phiếu cho mỗi bức tranh. Những bức tranh không được chấp nhận sẽ được đóng dấu chữ “R” – Reject (Từ chối). Những bức được chấp nhận sẽ được treo trên các bức tường của Palais, và trong vòng hơn 6 tuần bắt đầu từ đầu tháng 5, có đến hàng triệu người sẽ tham gia triển lãm, chiêm ngưỡng những tác phẩm của các nghệ sĩ lớn nhất và nổi tiếng nhất nhưng cũng không quên dành lời chê bai cho những tác phẩm mà họ không thích. Những bức họa đẹp nhất sẽ được trao huy chương. Những người chiến thắng được tôn vinh và giá trị của các tác phẩm của họ sẽ tăng cao. 

“Ở Paris, có khoảng 15 người yêu nghệ thuật có khả năng thích một bức tranh mà không được Salon chấp thuận,” Renoir từng nói. “Có khoảng 80.000 người sẽ không mua những tác phẩm của một họa sĩ mà không có các bức tranh được treo ở Salon.” Một trong những khách thường xuyên ở cà phê Guerbois, Frédéric Bazille, từng thú nhận, “Tôi luôn thường trực nỗi sợ bị loại.” Khi nghệ sĩ Jules Holtzapffel không được chấp nhận ở Salon năm 1866, ông đã tự bắn vào đầu. “Các thành viên ban giám khảo đã từ chối tôi. Nghĩa là, tôi không có tài năng,” ông viết trong lá thư tuyệt mệnh của mình. “Tôi đáng chết”. Đối với một họa sĩ ở Pháp thế kỷ XIX, Salon là thiên đường, và lý do mà Salon là sự nhức nhối của các họa sỹ Trường phái Ấn tượng bởi nó liên tục từ chối họ. 

Salon có quan điểm truyền thống. “Các tác phẩm được kỳ vọng phải chính xác đến từng li, đã ‘hoàn thành’ và được đóng khung trang trọng, với quan điểm đúng đắn và mọi tiêu chí nghệ thuật quen thuộc,” sử gia nghệ thuật Sue Roe viết. “Sáng màu thể hiện kịch tính thú vị, tối màu cho thấy sự trang trọng. Trong tranh tường thuật, cảnh sắc không chỉ nên “chính xác”, mà còn nên lột tả được sự hài hòa về mặt đạo đức. Ở Salon, khán giả muốn được nâng cao tinh thần và giải trí. Nhìn chung, họ biết mình thích gì, và muốn xem những gì họ biết.” Rose cho rằng các kiểu tranh đoạt huy chương là các bức tranh sơn dầu lớn, được chau chuốt đến từng chi tiết nhỏ, vẽ cảnh nước Pháp thời cổ hoặc thần thoại, với đàn ngựa, các đoàn quân hoặc những phụ nữ xinh đẹp, với các tựa như Soldier’s Departure (Cuộc hành quân), Young Woman Weeping over a Letter (Cô gái khóc bên lá thư), và Abandoned Innocence (Sự trong trắng bị lãng quên) vv…

Trường phái ấn tượng có một ý tưởng hoàn toàn khác về những gì cấu thành nên nghệ thuật. Họ vẽ cuộc sống hàng ngày. Nét vẽ của họ rõ ràng nhưng nhân vật chủ điểm lại không. Đối với Salon và đám đông khắp Palais, tác phẩm của họ thiếu chuyên nghiệp, thậm chí gây sốc. Vào năm 1865, thật đáng ngạc nhiên, Salon đã chấp nhận một bức tranh của Manet vẽ một gái mại dâm, bức họa có tên là Olympia đã khiến cả Paris náo động. Bức tranh được bảo vệ nghiêm ngặt để ngăn đám đông khán giả khỏi kích động. “Một bầu không khí cuồng loạn và thậm chí đáng sợ lan rộng khắp,” sử gia Ross King viết. “Một số khán giả ngất trong ‘tràng tiếng cười điên cuồng’ khi số khác, chủ yếu là phụ nữ, ngoảnh mặt, tránh nhìn bức tranh trong sợ hãi.” Năm 1868, Renoir, Bazille và Monet đã nỗ lực để các bức tranh của họ được Salon chấp nhận. Nhưng nửa chừng của 6 tuần, các tác phẩm của họ bị gỡ bỏ khỏi không gian trưng bày chính và tống vào kho lưu, căn phòng tối nhỏ ở phía sau của tòa nhà. Điều này tệ chẳng khác nào việc không được chấp nhận từ đầu. 

Mọi người đều đồng ý rằng Salon là triển lãm nghệ thuật quan trọng bậc nhất thế giới. Nhưng được Salon chấp nhận cũng có cái giá của nó: tạo ra loại hình nghệ thuật mà họ không thấy ý nghĩa, và liều mình chìm nghỉm trong hàng ngàn các tác phẩm của những nghệ sĩ khác. Các họa sỹ Trường phái Ấn tượng thường xuyên cãi vã hàng đêm về việc liệu họ nên tiếp tục gõ cửa Salon hay tự tổ chức triển lãm cho bản thân? Họ muốn trở thành con Cá nhỏ trong chiếc Ao lớn Salon hay con Cá lớn trong chiếc Ao nhỏ do họ lựa chọn?

Cuối cùng, các họa sỹ Trường phái Ấn tượng đã có được lựa chọn đúng đắn, là một trong những lý do khiến các tác phẩm của họ được treo ở mọi bảo tàng nghệ thuật lớn trên thế giới. Những tình thế tiến thoái lưỡng nan này liên tục xuất hiện trong cuộc sống của chúng ta, và thường thì chúng ta không có được lựa chọn khôn ngoan. Đường cong hình chuông nhắc nhở chúng ta rằng có một điểm mà tại đó tiền bạc và các nguồn lực sẽ thôi không khiến cuộc sống của chúng ta tốt hơn mà bắt đầu khiến nó tồi tệ đi. Câu chuyện về Trường phái Ấn tượng cho chúng ta thấy một vấn đề tương tự thứ hai. Chúng ta chạy theo thứ tốt nhất và chú trọng vào những tổ chức tốt nhất có thể mà hiếm khi dừng lại và cân nhắc – như các họa sỹ trường phái ấn tượng đã làm – những tổ chức có uy tín nhất có phải luôn là lựa chọn tốt nhất của chúng ta? Có rất nhiều ví dụ minh chứng cho quan điểm này nhưng ví dụ lột tả rõ nhất là suy nghĩ về việc liệu chúng ta sẽ học đại học ở đâu. 

2.

Caroline Sacks lớn lên ở khu đô thị xa nhất thuộc Washington, DC, một vùng đô thị. Cô học ở trường công đến hết trung học. Mẹ cô là một kế toán viên còn cha cô làm việc cho một công ty công nghệ. Khi còn bé, cô hát trong ca đoàn nhà thờ, thích viết và vẽ. Đam mê của cô là khoa học. 

“Tôi đã bò quanh bãi cỏ, tay lăm lăm chiếc kính lúp và một cuốn sổ vẽ, bám theo lũ bọ và vẽ chúng,” Sacks nói. Cô ấy là một phụ nữ trẻ biết suy nghĩ và ăn nói lưu loát, luôn trung thực và thẳng thắn. “Tôi thực sự thích những con bọ và cả cá mập nữa. Vậy nên có lúc, tôi nghĩ mình sẽ trở thành một bác sĩ thú y hoặc một nhà ngư học. Eugenie Clark là người hùng của tôi. Cô ấy là nữ thợ lặn đầu tiên. Cô ấy lớn lên ở New York trong một gia đình nhập cư và đã vươn lên dẫn đầu lĩnh vực của mình, dù có rất nhiều người cho rằng ‘phụ nữ không thể lặn dưới đại dương’. Khoa học lúc nào cũng giữ một phần quan trọng trong những gì tôi làm.”

Sacks luôn đứng đầu lớp về thành tích học tập thời trung học. Cô đã đăng ký khóa học khoa học chính trị tại trường cao đẳng gần đó khi vẫn còn học trung học, cũng như một khóa học giải tích đa biến tại trường cao đẳng cộng đồng địa phương. Ở cả hai khóa học, cô đều nhận được điểm A, giống như các môn học ở trường trung học. Cô đạt điểm tuyệt đối trong mọi môn học thuộc các khóa học nâng cao thuộc chương trình Dự bị đại học. 

Mùa hè năm lớp 10, cha cô đã đưa cô đi thăm thú một vòng các trường đại học Mỹ. “Chúng tôi đã đến 5 trường trong 3 ngày”, cô nói. “Đó là Wesleyan, Brown, Providence College, Boston College và Yale. Wesleyan thì hấp dẫn đấy nhưng khuôn viên nhỏ. Đại học Yale cũng tuyệt nhưng không phù hợp với tôi.” Nhưng Đại học Brown, ở Providence, Rhode Island đã chiếm trọn trái tim cô. Ngôi trường nhỏ xinh và biệt lập, nằm yên bình trong khu phố được xây dựng từ thế kỷ XIX với những tòa nhà gạch đỏ Gruzia và kiểu thuộc địa trên đỉnh một ngọn đồi dốc thoai thoải. Đó có thể được coi là khuôn viên trường đại học đẹp nhất tại Hoa Kỳ. Cô viết đơn xin học ở Brown, và thêm cả Maryland. Một vài tháng sau đó, cô nhận được thư chấp nhận đơn xin học. 

“Tôi nghĩ sinh viên ở Brown rất giàu có, hiểu biết và quảng giao,” cô nói. “Nhưng sau khi nhập học, tôi phát hiện ra ai cũng giống mình – ham học hỏi, háo hức, hứng khởi và không chắc có thể kết bạn với họ được hay không.” Phần khó nhất là đăng ký chọn khóa học, bởi cô thích mọi thứ. Cuối cùng, cô đã đăng ký lớp Hóa học Đại cương, tiếng Tây Ban Nha, lớp Quá trình hình thành và phát triển của ngôn ngữ, và Nguồn gốc thảo dược của Y học hiện đại, mà theo cô là “nửa học về thực vật học, nửa quan sát công dụng của các thảo dược bản địa và các lý thuyết hóa học mà chúng dựa trên.” Cô đang vô cùng hạnh phúc.

3.

Liệu Caroline Sacks đã lựa chọn đúng? Hầu hết chúng ta sẽ nói rằng cô ấy đã làm đúng. Khi đi thăm thú các trường đại học cùng cha, cô đã xếp hạng các trường theo thứ tự ưa thích giảm dần. Đại học Brown đứng số một. Tiếp đến là Đại học Maryland bởi nó cũng tốt như Brown. Brown thuộc nhóm các trường Ivy League. Nó có nhiều nguồn lực hơn, nhiều sinh viên có khả năng học tập hơn, uy tín hơn, và đội ngũ giảng viên chất lượng hơn Maryland. Trong bảng xếp hạng các trường đại học Mỹ được công bố hàng năm bởi tạp chí US News & World Report, Brown thường xuyên nằm trong top 10 hoặc 20 các trường đại học hàng đầu Hoa Kỳ. Đại học Maryland còn xa mới được xếp vào nhóm này.

Nhưng hãy xem xét quyết định của Caroline dưới góc nhìn tương tự như các họa sỹ Trường phái Ấn tượng nghĩ về Salon. Trong những cuộc tranh cãi không hồi kết ở quán Guerbois, các họa sỹ thuộc Trường phái Ấn tượng hiểu lựa chọn giữa Salon và một triển lãm cá nhân không chỉ đơn thuần là lựa chọn giữa thứ tốt nhất và thứ tốt thứ hai. Đó là lựa chọn giữa hai điều hoàn toàn khác biệt, mỗi lựa chọn có những điểm mạnh và hạn chế riêng. 

Salon là nơi hun đúc nên danh tiếng với sự đánh giá tác phẩm rất gắt gao. Palais là một khu nhà kho rất lớn trong một tòa nhà dài 300 thước với một lối đi trung tâm 2 tầng. Một Salon điển hình có thể chấp nhận khoảng 4.000 bức tranh, và chúng được treo thành 4 tầng, đến tận trần nhà. Chỉ có những bức tranh được ban giám khảo đồng thuận mới được treo ngang tầm mắt người xem. Nếu tranh của bạn được treo tận giáp trần, thì người xem sẽ rất khó quan sát. Không họa sĩ nào được phép gửi hơn 3 tác phẩm. Người xem thường rất đông. Salon là chiếc ao lớn chứa đầy những con cá nhỏ. 

Pissarro và Monet nghĩ rằng nếu tự tổ chức triển lãm riêng, họ sẽ không bị ràng buộc bởi các quy định hạn chế của Salon. Họ có thể vẽ bất cứ điều gì họ muốn. Họ sẽ không bị lạc lối trong đám đông, bởi họ sẽ không trở thành đám đông. Vào năm 1873, Pissarro và Monet đã đề xuất Trường phái Ấn tượng nên thành lập hội ái hữu nặc danh mang tên Société Anonyme Coopérative des Artistes Peintres, Sculpteurs, Graveurs (Hội họa sĩ và nhà điêu khắc vô danh). Không có cạnh tranh hay hội đồng thẩm định, và không có huy chương, mọi nghệ sĩ sẽ được đối xử như nhau. 

Hội tìm được địa điểm trên Đại lộ Capucines. Tòa nhà gồm nhiều phòng nhỏ với những bức tường nâu đỏ. Triển lãm Trường phái Ấn tượng mở cửa vào ngày 15/4/1874 và kéo dài một tháng. Vé vào cửa giá 1 franc. Chỉ có 165 tác phẩm nghệ thuật được trưng bày, bao gồm 3 bức của Cézannes, 10 bức của Degas, 9 bức của Monets, 5 bức của Pissarros, 6 bức của Renoirs, và 5 bức của Alfred Sisley. Trong triển lãm, các họa sỹ có thể triển lãm bao nhiêu tranh sơn dầu tùy thích và treo sao cho chúng dễ nhìn nhất. Các sử gia nghệ thuật Harrison White và Cynthia White viết, “Nhờ buổi triển lãm của hội độc lập, họ đã thu hút được công chúng.”

Họ nhận được mọi sự hỗ trợ đến từ cộng đồng và bạn bè – và đó là nơi sự sáng tạo và cá tính được thỏa sức tung hoành. “Chúng tôi đang bắt đầu tạo ra vị thế riêng,” Pissarro tràn trề hy vọng. Không lâu sau đó, thế giới bên ngoài bắt đầu chú ý đến họ. Trong lịch sử nghệ thuật hiện đại, chưa từng có được một cuộc triển lãm quan trọng hoặc nổi tiếng nào hơn thế. Nếu bạn cố gắng để mua những bức tranh trong những căn phòng gác thượng ngày nay, nó sẽ có chi phí vào khoảng hơn một tỷ đô-la. 

Caroline Sacks đã phải đối mặt với một lựa chọn tương tự. Cô ấy có thể là con Cá lớn ở Maryland, hoặc con Cá nhỏ ở một trong những trường đại học danh tiếng nhất thế giới. Cuối cùng cô đã phải trả giá đắt. 

4.

Caroline Sacks bắt đầu gặp rắc rối vào mùa xuân năm thứ nhất, khi đăng ký môn Hóa học Đại cương. Cô nhận ra mình đã đăng ký quá nhiều khóa học và hoạt động ngoại khóa. Khi biết điểm giữa kỳ 3, quá choáng váng, cô đã đến gặp giáo sư của mình. “Ông đã cùng tôi xem lại bài một lượt và nói, ’Em hổng quá nhiều kiến thức cơ bản về các khái niệm, vì vậy thầy nghĩ em nên học lại, đừng bận tâm gì đến kỳ thi hết năm, hãy học lại và đăng ký thi vào mùa thu tới.’” Cô đã làm theo gợi ý của giáo sư. Cô tham gia khóa học vào mùa thu năm thứ hai. Nhưng tình hình cũng không mấy thay đổi. Cô đã bị sốc, “Tôi đã từng luôn đạt điểm tuyệt đối. Thật đáng thất vọng.”

Khi được Brown chấp nhận đơn xin học, cô đã biết rằng nơi đây không giống như trường trung học. Cô sẽ không còn là học sinh thông minh nhất lớp nữa và cô chấp nhận thực tế đó. “Tôi biết, dù có chuẩn bị kỹ càng thế nào đi nữa, vẫn sẽ có những bạn đã được tiếp xúc với những điều mà tôi thậm chí còn chưa bao giờ được nghe tới. Vì vậy, tôi đã cố gắng để không quá huyễn hoặc bản thân.” Nhưng môn hóa đã vượt quá sức tưởng tượng của cô. Các sinh viên trong lớp luôn cạnh tranh nhau. “Tôi đã gặp rất nhiều rắc rối khi nói chuyện với các bạn trong lớp,” cô tiếp tục. “Họ không muốn chia sẻ bí quyết học tập với tôi. Họ không muốn trao đổi về cách để hiểu hơn về bài học, bởi điều đó có thể khiến tôi ‘vượt’ họ.”

Vào mùa xuân năm thứ hai, cô đăng ký học lại môn Hóa hữu cơ nhưng mọi thứ càng trở nên tồi tệ hơn. Cô đã không thể tiếp thu được gì: “Bạn nhớ khái niệm, và rồi bạn được đưa một phân tử mà bạn chưa từng thấy trước đây, và buộc phải tạo ra một phân tử khác mà bạn cũng chưa bao giờ thấy trước đó; cứ như vậy. Tôi đã nỗ lực hết mình nhưng vẫn không thể tiếp thu được.” 

Cô đã rất đau khổ và tức giận. Cô không muốn miệt mài trong khi tất cả những việc đó chẳng đưa cô đến đâu. “Tôi đoán đó là khi tôi bắt đầu nghĩ rằng có lẽ tôi nên bỏ cuộc,” cô nói.

Thế nhưng, khi nói đến việc từ bỏ đam mê, cô đã vô cùng tiếc nuối vì không tham gia được những khóa học yêu thích. Mùa hè sau năm thứ hai, cô cảm thấy vô cùng dằn vặt trước quyết định của mình: “Tôi là một ‘cô gái khoa học,’ và thật đáng xấu hổ khi từ bỏ và nói rằng, ‘Tôi sẽ làm việc gì đó dễ dàng hơn bởi tôi không đủ sức chịu đựng.’ Có lúc, đó là cách duy nhất để tôi đối diện với nó như thể tôi đã thất bại hoàn toàn. Đó là mục tiêu của tôi nhưng tôi đã không thể hiện thực hóa nó.”

Vấn đề là, Sacks không so sánh mình với mọi sinh viên học hóa hữu cơ trên thế giới. Cô so mình với bạn học tại Brown. Cô là con cá nhỏ thuộc một trong những chiếc ao sâu nhất và cạnh tranh nhất – và việc so mình với những chú cá rực rỡ khác đã khiến cô hoàn toàn mất tự tin. Điều đó khiến cô cảm thấy mình thật ngu ngốc, dù thực tế không phải vậy. “Các bạn khác thật giỏi, ngay cả những người không biết gì như tôi lúc đầu, còn tôi thì ngược lại.”

5.

Caroline Sacks đang trải qua “cảm giác bị tước đoạt”, một thuật ngữ được nhà xã hội học Samuel Stouffer đưa ra trong Chiến tranh thế giới thứ II. Stouffer được quân đội Mỹ ủy quyền kiểm tra thái độ và tinh thần của lính Mỹ, và ông đã nghiên cứu nửa triệu nam nữ, quan sát mọi thứ từ cách các quân nhân quan sát sỹ quan chỉ huy của họ, cảm nhận về sự đối xử của các quân nhân da màu đối với những khó khăn mà binh lính gặp phải khi đóng quân ở tiền đồn bị cô lập. 

Nhưng Stouffer đã đặt ra một câu hỏi rất ấn tượng. Ông đề nghị cả lính Quân cảnh lẫn lính Không quân (tiền thân của Lực lượng Không quân) cho biết, theo họ, mức độ phục vụ như thế nào là đủ tốt để được công nhận và đề bạt thăng tiến. Câu trả lời rất rõ ràng. Quân cảnh có quan điểm tích cực về tổ chức hơn lính Không quân. 

Xét về bề ngoài, điều đó không có nhiều ý nghĩa. Quân cảnh là lực lượng có tỷ lệ thăng tiến thấp nhất trong tất cả các lực lượng vũ trang. Lực lượng không quân chiếm tỷ lệ cao nhất. Cơ hội để một binh nhì thăng cấp cao gấp đôi một chiến sỹ cùng cấp bậc trong Quân cảnh. Vậy, tại sao các chiến sỹ Quân cảnh lại hài lòng hơn? Như Stouffer giải thích, đó là do các chiến sỹ Quân cảnh so sánh mình với các chiến sỹ Quân cảnh khác. Và nếu bạn được thăng tiến trong Quân cảnh, đó là một sự kiện hiếm hoi khiến bạn vô cùng hạnh phúc. Và nếu bạn không được thăng tiến, bạn cũng giống như rất nhiều đồng sự khác của mình, vậy nên chẳng có lý gì để bất mãn cả.

“So với lính Không quân có cùng nền tảng giáo dục và độ tuổi,” Stouffer viết. Cơ hội được thăng tiến của anh ta cao gấp đôi. “Nếu anh ta được thăng tiến, vì thế, đối với phần lớn các đồng sự trong ngành, thành tích của anh ta ít được chú ý hơn các Quân cảnh. Nếu anh ta không được thăng tiến, trong khi phần lớn mọi người được thăng tiến, anh ta sẽ tự cảm thấy áp lực và thất vọng về bản thân, điều có thể được coi như sự chỉ trích về hệ thống thăng tiến.”

“Stouffer cho rằng cảm giác bị tước đoạt của chúng ta mang tính tương đối. Đây là một trong những quan sát vừa rõ ràng vừa sâu sắc, và nó giải thích cho mọi quan sát khó hiểu khác. Ví dụ, theo bạn, ở đâu có tỷ lệ tự tử cao hơn: các quốc gia có công dân tự nhận là rất hạnh phúc, như Thụy Sĩ, Đan Mạch, Iceland, Hà Lan và Canada? Hay các quốc gia như Hy Lạp, Ý, Bồ Đào Nha và Tây Ban Nha, nơi công dân cho rằng họ không được hạnh phúc? Câu trả lời là các nước có công dân tự cho là hạnh phúc. Nếu bạn chán nản ở nơi mà hầu hết mọi người đều không lấy gì làm hạnh phúc, bạn sẽ so mình với những người xung quanh và sẽ không cảm thấy quá tệ. Nhưng bạn sẽ cảm thấy thực sự khó khăn nếu thấy chán nản ở một đất nước mà ai cũng thường trực nụ cười trên môi.

Việc Caroline Sacks quyết định tự đánh giá mình bằng cách quan sát các bạn cùng lớp hóa hữu cơ không phải là một hành vi kỳ lạ và bất hợp lý. Đó là bản năng của con người. Chúng ta so sánh mình với những người có hoàn cảnh tương tự, điều đó nghĩa là sinh viên ở một trường ưu tú – trừ nhóm đứng đầu lớp – sẽ phải đối mặt với áp lực mà họ không phải đối mặt trong môi trường kém cạnh tranh hơn. 

Hiện tượng về cảm giác bị tước đoạt áp dụng cho giáo dục được gọi là hiệu ứng Cá lớn-Ao nhỏ. Các cơ sở giáo dục càng ưu tú, các sinh viên càng cảm thấy mình học tệ hơn. Các sinh viên thuộc nhóm đầu lớp ở các trường hạng trung có thể dễ dàng rơi vào nhóm đáy ở một trường thực sự tốt. Và cảm giác đó – mang tính chủ quan và bất hợp lý – lại rất quan trọng. Cảm nhận về khả năng của bản thân trong lớp – khả năng tự ý thức về năng lực học tập – sẽ định hình nên sự sẵn lòng giải quyết những thách thức và hoàn thành các nhiệm vụ khó khăn của bạn. Đó là một yếu tố quan trọng về động lực và sự tự tin. 

Lý thuyết Cá lớn-Ao nhỏ được nhà tâm lý học Herbert Marsh tiên phong ứng dụng, đối với Marsh, hầu hết các bậc phụ huynh và học sinh lựa chọn trường học dựa trên những tiêu chí sai lầm. “Rất nhiều người nghĩ rằng đăng ký học trường chọn sẽ tốt,” ông nói. “Điều đó không đúng. Thực tế, điều đó sẽ gây ra sự lẫn lộn.” Ông tiếp tục: “Khi tôi sống ở Sydney, có một số trường chọn công lập thậm chí còn uy tín hơn nhiều các trường tư thục ưu tú. Bài thi đầu vào các trường này rất cạnh tranh. Vì vậy, Sydney Morning Herald, một tờ báo lớn, luôn gọi cho tôi bất cứ khi nào họ tổ chức thi tuyển sinh. Việc này diễn ra hàng năm, nên thật áp lực khi phải nói điều gì mới mẻ. Vì vậy, cuối cùng tôi chỉ biết nói – có lẽ tôi đã không nên nói vậy – nếu muốn thấy những tác động tích cực của các trường học ưu tú đến cái tôi cá nhân, thì các anh nên đo lường các bậc cha mẹ.”

6.

Những gì đã xảy ra với Caroline Sacks rất phổ biến trong xã hội. Hơn một nửa số sinh viên Mỹ khởi đầu với khoa học, công nghệ và các chương trình toán học (hay STEM, như chúng ta đã biết) đã bỏ học sau năm thứ nhất hoặc năm thứ hai. Dù bằng khoa học là tài sản quý giá nhất mà một người trẻ tuổi có thể có trong nền kinh tế hiện đại, nhưng một số lượng lớn các cử nhân STEM tương lai cuối cùng lại chuyển sang nghệ thuật, nơi các tiêu chuẩn về học vấn ít khắt khe hơn và các môn học ít cạnh tranh hơn. Đó là lý do chính gây nên tình trạng thiếu hụt các nhà khoa học và các kỹ sư được đào tạo chất lượng tại Mỹ.

Để hiểu thêm về những người bỏ học và lý do của họ, hãy quan sát tỷ lệ học sinh ghi danh học khoa học ở Hartwick College thuộc khu trên của New York. Đó là một trường nghệ thuật tự do có quy mô nhỏ rất phổ biến ở vùng Đông Bắc nước Mỹ.

Tất cả các chuyên ngành STEM của Hartwick được chia thành ba nhóm – 1/3 đầu, 1/3 giữa, 1/3 cuối – tính theo kết quả kiểm tra toán của họ. Điểm SAT, bài thi được nhiều trường đại học Mỹ sử dụng như bài thi tuyển sinh. Phần toán học của bài thi tương đương với 800 điểm. 

Nếu chúng ta coi SAT là một hướng dẫn, thì có sự khác biệt khá lớn trong khả năng toán học cơ bản giữa sinh viên giỏi nhất và kém nhất ở Hartwick.

Giờ hãy quan sát tỷ lệ các bằng khoa học tại Hartwick mà mỗi nhóm trên có được. 

Sinh viên trong nhóm 1/3 đầu tại Hartwick chiếm hơn một nửa số bằng khoa học của trường. 1/3 nhóm cuối chỉ đạt được 17,8% số bằng khoa học ở Hartwick. Những sinh viên đến Hartwick với khả năng toán học kém nhất sẽ lần lượt bỏ học toán và khoa học. Đây có vẻ là lẽ thường. Việc học toán và vật lý cao cấp vốn được cho là rất cần thiết đối với kỹ sư hoặc nhà khoa học tương lai lại thực sự rất khó khăn – và chỉ số ít các sinh viên trong nhóm 1/3 đầu đủ thông minh để theo kịp. 

Giờ hãy làm một phân tích tương tự đối với Đại học Harvard, một trong những trường đại học danh giá nhất thế giới.

Không ngạc nhiên khi các sinh viên Harvard có điểm toán học trong bài thi SAT cao hơn nhiều so với trường Hartwick. Thực tế, các sinh viên trong nhóm 1/3 kém nhất ở Harvard có điểm số cao hơn những sinh viên giỏi nhất tại Hartwick. Nếu bằng cấp về khoa học đo lường mức độ thông minh của bạn, thì tất cả các sinh viên Harvard đều có bằng, phải vậy không? Ít nhất là trên giấy tờ, không sinh viên nào ở Harvard, không đủ thông minh để học tốt các môn học. Giờ hãy quan sát tỷ lệ bằng cấp mà mỗi nhóm này có được. 

Thật lạ, các sinh viên trong nhóm 1/3 cuối ở Harvard đã bỏ toán và khoa học với tỷ lệ tương đương như ở Hartwick. Harvard có tỷ lệ bằng khoa học tương tự như Hartwick. 

Hãy nghĩ kỹ hơn về điều này. Chúng ta có một nhóm các sinh viên đạt thành tích cao tại Hartwick. Hãy gọi họ là các Ngôi sao Hartwick. Và chúng ta có một nhóm các học sinh yếu kém ở Harvard và hãy gọi họ là Đáy cùng ở Harvard. Mỗi nhóm đều học cùng giáo trình và tìm cách giải quyết cùng các vấn đề trong các khóa học như toán cao cấp, hóa hữu cơ, và theo kết quả thi, họ có khả năng học tập tương đương. Nhưng đại đa số các ngôi sao Hartwick đạt được thứ họ muốn và trở thành các kỹ sư hoặc nhà sinh học. Trong khi đó, những người thuộc Đáy cùng ở Harvard – đến học ở trường danh giá bậc nhất – lại mất tinh thần đến mức bỏ nghiên cứu khoa học và chuyển sang các lĩnh vực phi khoa học khác. Họ là những con cá nhỏ trong chiếc ao lớn đáng sợ. Các ngôi sao Hartwick là những cá lớn trong những chiếc ao nhỏ màu mỡ. Khi xác định khả năng thành công, điều quan trọng không nằm ở sự thông minh của bạn. Mà ở khả năng bạn cảm nhận được sự thông minh của mình tương quan với các bạn khác trong lớp.

Ngoài ra, mô hình này cũng đúng đối với bất cứ trường nào mà bạn quan sát – dù có chất lượng giảng dạy và học như thế nào đi chăng nữa. Các nhà xã hội học Rogers Elliott, Christopher Strenta đã thu thập được những con số tương tự liên quan đến 11 trường cao đẳng nghệ thuật tự do khác nhau trên khắp Hoa Kỳ:

Sau đó, hãy cơ cấu lại suy nghĩ của Caroline Sacks khi cô phải đối mặt với lựa chọn giữa Đại học Brown và Đại học Maryland. Bằng cách vào học tại Brown, cô được hưởng lợi từ uy tín của trường. Các mối quan hệ ở trường và giá trị mà thương hiệu Brown ảnh hưởng đến tấm bằng của cô sẽ giúp cô có được lợi thế hơn khi xin việc. Đây là những lợi thế cổ điển của chiếc Ao lớn. 

Nhưng cô cũng sẽ gặp không ít rủi ro. Theo một nghiên cứu được thực hiện bởi Mitchell Chang thuộc Đại học California, khả năng một người hoàn thành được bằng STEM tăng 2 điểm phần trăm trên mỗi 10% điểm SAT trung bình giảm. Các bạn của bạn càng thông minh, bạn càng cảm thấy mình kém cỏi, và khả năng bạn từ bỏ môn học sẽ cao hơn. Bởi khoảng cách giữa điểm SAT trung bình của sinh viên Đại học Maryland và Brown là 150 điểm, tương đương với việc cô ấy đã giảm khả năng tốt nghiệp với tấm bằng khoa học xuống hơn so với thực tế 30%. Khi các sinh có trình độ nghệ thuật tự do chật vật tìm việc làm, thì các cử nhân STEM gần như yên tâm về sự nghiệp của mình. Có rất nhiều công việc dành cho các kỹ sư, kỹ thuật viên hay những người có tấm bằng khoa học với mức lương cao. Vì vậy, việc chọn một trường danh giá cũng mang lại rủi ro rất lớn.

Thêm một ví dụ về chiếc ao lớn trong thực tế. Ví dụ này rất rõ nét. Giả sử một trường đại học đang tuyển dụng các cử nhân trẻ ưu tú nhất. Họ nên đưa ra chiến lược tuyển dụng nào? Họ nên thuê những người tốt nghiệp các trường danh giá nhất? Hay nên thuê những người tốt nghiệp bằng loại ưu ở bất kể trường nào? 

Hầu hết các trường đại học đều chọn phương án đầu tiên. Họ thậm chí còn ra vẻ tự hào: Chúng tôi chỉ tuyển dụng các sinh viên tốt nghiệp các trường hàng đầu. Nhưng tôi hy vọng rằng về điểm này, ít nhất bạn cũng phải có chút hoài nghi về nó. Những con cá lớn ở chiếc ao nhỏ cũng đáng được bạn cân nhắc kỹ lưỡng đó chứ? 

May mắn thay, có một cách rất đơn giản để so sánh hai chiến lược này. Nó xuất phát từ tác phẩm của John Conley và Ali Sina Önder về các sinh viên tốt nghiệp chương trình tiến sĩ kinh tế. Trong kinh tế học thuật, có rất ít các tạp chí kinh tế mà tất cả mọi người trong ngành đọc và đánh giá cao. Các tạp chí hàng đầu chỉ chấp nhận các nghiên cứu tốt nhất và sáng tạo nhất; và các nhà kinh tế sẽ đánh giá chúng theo số lượng bài báo nghiên cứu mà họ được đăng trên các tạp chí danh tiếng. Để tìm ra chiến lược tuyển dụng tốt nhất, Conley và Önder cho rằng tất cả những gì chúng ta cần làm là so sánh số bài báo đã được xuất bản bởi những con cá lớn trong chiếc ao nhỏ và số lượng bài nghiên cứu được xuất bản bởi những con cá nhỏ trong ao lớn. Và họ thấy rằng: Những sinh viên giỏi nhất từ các trường bình thường luôn làm tốt hơn những sinh viên bình thường từ các trường tốt nhất. 

Tôi nhận ra đây là một thực tế rất khác thường. Ý tưởng cho rằng các trường đại học không nên tuyển dụng các sinh viên tốt nghiệp từ Harvard và MIT có vẻ thật điên rồ. Thế nhưng phân tích của Conley và Önder cũng khó có thể bị bác bỏ. 

Hãy bắt đầu với các chương trình tiến sĩ kinh tế hàng đầu tại Bắc Mỹ − tất cả trong số đó đều là các chương trình hàng đầu trên thế giới: Harvard, MIT, Yale, Princeton, Columbia, Stanford và Đại học Chicago. Conley và Önder đã chia các sinh viên tốt nghiệp của mỗi chương trình theo vị trí xếp hạng trong lớp, sau đó tính toán số lần mỗi tiến sĩ xuất bản các bài báo học thuật trong 6 năm đầu tiên sau khi tốt nghiệp.

Hãy chỉ quan sát con số phía bên trái – các sinh viên thuộc nhóm hoàn thành 99% giờ học. Xuất bản ba đến bốn bài báo trên các tạp chí có uy tín nhất sau khi tốt nghiệp đã là một thành tích. Họ thực sự giỏi. Điều đó rất có ý nghĩa. Trở thành sinh viên kinh tế tại những trường đại học hàng đầu như MIT hay Stanford là một thành tựu phi thường. 

Tuy nhiên, rắc rối mới bắt đầu nảy sinh. Hãy chuyển sang nhóm thứ 80. Các trường như MIT và Stanford hay Harvard có khoảng hơn 20 nghiên cứu sinh mỗi năm, vì vậy nếu bạn thuộc nhóm thứ 80, bạn đứng thứ 5 hoặc thứ 6 trong lớp. Đây cũng là những sinh viên xuất sắc. Nhưng các sinh viên thuộc nhóm thứ 80 này xuất bản các bài báo chỉ bằng một phần rất nhỏ so với những sinh viên giỏi nhất. Và hãy nhìn vào cột cuối cùng nhóm thứ 55, những sinh viên chỉ ở trên mức trung bình. Họ đủ thông minh để biến nó thành một trong những chương trình sau đại học cạnh tranh nhất thế giới, và hoàn thành việc học ở nhóm nửa đầu của lớp. Thế nhưng họ không đăng bất cứ bài báo nào. Theo các nhà kinh tế chuyên nghiệp, họ được cho là thật đáng thất vọng. 

Tiếp theo, hãy quan sát các sinh viên tốt nghiệp những trường bình thường (tên gọi mà một người đến từ một trong 7 trường ưu tú đặt ra). Trong bảng xếp hạng các trường đại học hàng năm của tạp chí US News & World Report, đó là những trường xếp gần cuối danh sách. Tôi đã chọn ba trong số đó để so sánh. Đầu tiên là trường cũ của tôi, Đại học Toronto. Thứ hai là Đại học Boston. Thứ ba là trường “không thuộc top 30” như những gì Conley và Önder gọi, chỉ ở mức trung bình trong tất cả các trường ở gần cuối danh sách bảng xếp hạng.

Thật đáng ngạc nhiên? Những sinh viên giỏi nhất tại trường không thuộc top 30 có số bài báo được đăng trung bình là 1,05, tốt hơn nhiều so với mọi người, trừ các sinh viên giỏi nhất tại Harvard, MIT, Yale, Princeton , Columbia , Stanford và Chicago. 

Conley và Önder đã cố gắng giải thích những phát hiện của họ. “Để được vào học ở Harvard,” họ viết, 

Các học sinh phải có kết quả học tập xuất sắc, điểm thi hoàn hảo, những lá thư giới thiệu đáng tin cậy, và biết cách chuẩn bị tất cả hồ sơ để gửi đến hội đồng tuyển sinh. Do đó, các ứng cử viên thành công phải chăm chỉ, thông minh, được đào tạo bài bản, hiểu biết và có tham vọng. Tại sao đa số các ứng viên thành công này, những người chiến thắng và đã làm mọi điều đúng đắn đến thời điểm họ tốt nghiệp trung học, trở nên không mấy ấn tượng sau khi họ được đào tạo? Chúng ta đang khiến sinh viên thất vọng, hay sinh viên đang làm chúng ta thất vọng? 

Đương nhiên, không ai làm ai thất vọng cả. Chỉ là điều khiến các trường học ưu tú trở thành những địa điểm tuyệt vời như vậy đối với những người đứng đầu khiến nó trở thành những nơi khó đến đối với những người khác. Chiếc ao lớn đã lấy hết những sinh viên thông minh và khiến họ thoái chí nản lòng. 

Harvard chính là tổ chức thực tế của chiếc ao lớn trong 50 năm qua. Trong những năm 1960, Fred Glimp đã giữ vị trí Giám đốc tuyển sinh và đã thiết lập nên những gì được gọi là chính sách “nhóm ¼ Đáy cùng hạnh phúc”. Trong bản ghi nhớ đầu tiên sau khi nhậm chức, ông viết: ““Bất kỳ lớp nào, dù khả năng ra sao, đều có nhóm ¼ Đáy cùng. Tâm lý “học lực ở mức trung bình” có ảnh hưởng ra sao đến mọi người thậm chí là cả các nhóm có năng lực? Có ảnh hưởng nào đồng nhất được với sức chịu đựng về tâm lý hoặc nỗ lực học tập hết mình dù thuộc nhóm ¼ đáy cùng hay không?” Ông biết chính xác ao lớn đã làm thoái chí mọi người đến mức nào. Công việc của ông là tìm ra những sinh viên gặp đủ khó khăn và có đủ thành tích ngoài lớp học để vượt qua áp lực chiếc ao cực lớn của Harvard. Do đó Harvard đã bắt đầu (vẫn còn tiếp tục cho đến ngày nay) nhận lượng lớn các học sinh tài năng, có trình độ học vấn thấp hơn các bạn cùng lớp. Về lý thuyết, nếu ai đó là tấm bia đỡ đạn trong lớp, tốt nhất là người đó nên tự có phương án dự phòng. 

Logic này cũng được áp dụng đối với cuộc tranh luận về chương trình hành động tích cực. Tại Hoa Kỳ, một cuộc tranh cãi lớn về việc liệu các trường cao đẳng và trung học chuyên nghiệp có nên hạ thấp các tiêu chuẩn nhập học đối với học sinh các dân tộc thiểu số có hoàn cảnh khó khăn? Những người ủng hộ chương trình hành động tích cực cho rằng việc giúp các học sinh dân tộc thiểu số được nhận vào các trường chọn là một việc làm hợp lý dựa trên lịch sử lâu đời của nạn phân biệt đối xử. Những người phản đối cho rằng việc được vào học tại các trường chọn quan trọng đến mức các tiêu chí nhập học phải dựa hoàn toàn trên thành tích học tập. Nhóm trung lập cho rằng việc sử dụng các cuộc thi đua làm cơ sở xét duyệt là một sai lầm và chúng ta thực sự nên ưu tiên người nghèo. Cả 3 nhóm này đều mặc nhiên cho rằng việc được vào học ở một trường học lớn là một lợi thế quan trọng đến mức họ nên cạnh tranh. Nhưng tại sao mọi người lại tin rằng những trường hàng đầu lại đáng để họ cạnh tranh?

Các chương trình hoạt động tích cực diễn ra, nhất là ở các trường luật, nơi các sinh viên da màu thường xuyên có được vị trí trong các trường cao hơn thực lực của họ 1 cấp. Kết quả? Theo giáo sư luật học Richard Sander, hơn một nửa sinh viên luật người Mỹ gốc Phi tại Hoa Kỳ − 51,6%. Sau khi đọc về sự khó khăn trong việc có được một tấm bằng khoa học nếu thuộc nhóm chót lớp, bạn có thể sẽ đồng ý rằng những số liệu thống kê này thật đáng sợ. Hãy nhớ lại những gì Caroline đã nói? Ôi, những bạn khác thật giỏi môn này, thậm chí cả những người ban đầu không biết gì như tôi, còn tôi thì ngược lại. Sacks thực sự rất thông minh. Nhưng Đại học Brown đã khiến cô cảm thấy mình kém cỏi – và nếu thật sự muốn tốt nghiệp với tấm bằng khoa học, tốt nhất là cô ấy nên chuyển sang Maryland, trường thấp hơn một bậc. Không có ai sáng suốt cho rằng giải pháp cho các vấn đề của cô là để cô chuyển sang một trường học thậm chí còn cạnh tranh hơn như Stanford hay MIT. Tuy nhiên, khi nói đến hành động tích cực, đó chính xác là những gì chúng ta đã làm. Chúng ta chọn những sinh viên triển vọng như Caroline Sacks và đẩy họ lên một mức cao hơn. Tại sao chúng ta lại làm điều đó? Bởi chúng ta nghĩ chúng ta đang giúp họ.

Điều đó không có nghĩa hành động tích cực là sai. Nó hoàn toàn được thực hiện với những ý định tốt nhất, và các trường ưu tú thường có các nguồn lực sẵn có để giúp những sinh viên nghèo mà các trường khác không có. Nhưng điều này không thay đổi được thực tế, như Herbert Marsh nói, rằng lợi thế của chiếc ao lớn rất lộn xộn, và thật lạ khi các nhược điểm của chiếc Ao lớn hiếm khi được nhắc đến. Cha mẹ vẫn động viên con cái họ chọn học trường tốt nhất có thể, với lý do rằng trường tốt nhất sẽ giúp họ làm được bất cứ điều gì họ muốn. Chúng ta mặc nhiên cho rằng, ao lớn sẽ có nhiều cơ hội hơn. Điều đó có nghĩa là chúng ta đã phạm sai lầm. Nó có nghĩa là chúng ta đánh giá thấp lợi thế của bất lợi. Chính chiếc ao nhỏ mới là nơi tối đa hóa cơ hội của bạn, để bạn làm bất cứ điều gì bạn muốn. 

Khi viết đơn xin vào đại học, Caroline Sacks không biết mình đang có cơ hội được gắn bó với thứ cô yêu thích. Nhưng giờ cô đã biết điều đó. Kết thúc buổi nói chuyện của chúng tôi, tôi hỏi cô chuyện gì sẽ xảy ra nếu cô chọn học ở Đại học Maryland. Cô đã trả lời không do dự rằng: “Có lẽ tôi vẫn gắn bó với khoa học.”

7.

“Tôi là một sinh viên nhiệt huyết, tôi thực sự thích học và thích đến trường, tôi cũng học khá tốt”, Stephen Randolph bắt đầu cuộc trò chuyện như vậy. Anh là một thanh niên cao lớn với mái tóc nâu sẫm chải chuốt và chiếc quần kaki thẳng nếp. “Tôi học đại số trung học từ năm lớp 4, làm bài tập đại số cấp 2 năm lớp 5 và hình học năm lớp 6. Đến khi học cấp 2, tôi đã học toán, sinh, hóa, và lịch sử Mỹ hiện đại – các môn học của cấp 3. Tôi cũng đã đến một trường đại học địa phương bắt đầu từ năm lớp 5, học một số tiết toán và cũng học các môn khoa học khác từ lớp 5. Tôi thực sự nghĩ rằng đến khi tốt nghiệp trung học, tôi đã có thừa các chứng chỉ để ngay lập tức nhận được bằng cử nhân của Đại học Georgia. Tôi khá chắc chắn về điều đó.”

Mỗi ngày, từ năm lớp 1 đến khi tốt nghiệp trung học, Randolph đều đeo cà vạt đến trường. “Thật xấu hổ,” anh nói, “thật điên rồ. Nhưng tôi đã làm vậy. Tôi quên mất nguyên do của việc đó. Tôi chỉ muốn đeo cà vạt vào ngày đầu tiên đến lớp rồi kể từ đó và tiếp tục làm vậy. Tôi nghĩ mình thật tẻ nhạt.” 

Randolph luôn đứng đầu lớp thời trung học. Điểm đầu vào đại học gần như tuyệt đối. Anh được cả Harvard lẫn MIT chấp nhận. Trong tuần đầu tiên ở trường, anh đi qua sân trường tại Harvard và cảm thấy ngạc nhiên trước sự may mắn của bản thân. “Đối với tôi, tất cả mọi người ở đây đều đã được nhận vào Harvard. Thật điên rồ, nhưng đúng là tôi đã nghĩ, tất cả mọi người ở đây đều thú vị, thông minh và tuyệt vời, đây quả là một trải nghiệm đáng nhớ. Tôi có vẻ nhiệt tình thái quá.”

Câu chuyện của anh gần giống hệt hoàn cảnh của Caroline Sacks. Vậy, chuyện gì xảy ra với Stephen Randolph ở Harvard? Tôi nghĩ bạn có thể đoán được câu trả lời. Vào năm thứ 3 tại trường, anh học cơ học lượng tử. “Tôi học không tốt lắm,” anh thừa nhận. “Tôi nghĩ mình có thể sẽ bị nhận điểm B¯.” Đó là điểm số thấp nhất mà anh từng nhận được. “Tôi cho rằng mình học không giỏi môn đó hay không đủ thông minh để học nó. Có lẽ tôi cho rằng tôi đã phải học giỏi nhất môn này hoặc là một thiên tài về môn này để có động lực tiếp tục. Một số bạn tiếp thu bài nhanh hơn tôi – ta thường có xu hướng tập trung vào những người này thay vì những người cũng học kém như ta.” 

“Tôi rất hứng thú với các loại tài liệu,” anh tiếp tục. “Nhưng thành tích kém cỏi – như khi ngồi trong lớp và không hiểu gì về bài học với suy nghĩ, ‘mình sẽ không bao giờ hiểu được điều này!’ Và hiểu rất ít khi làm bài tập, nói đúng hơn, hầu như tôi không hiểu chút nào và luôn nghĩ rằng các bạn khác trong lớp hiểu rõ hơn mình. Tôi nghĩ Harvard là nơi quy tụ rất nhiều sinh viên thông minh nhưng thật khó để cảm thấy mình thông minh ở đó.” Anh quyết định từ bỏ. 

“Bạn biết đấy, việc giải được các bài toán ẩn chứa điều gì đó rất hấp dẫn,” Randolph nói và có chút tiếc nuối thoáng qua gương mặt anh. “Bạn bắt đầu với một vấn đề mà bạn không biết cách giải quyết, nhưng bạn cũng biết có những quy tắc nhất định bạn phải tuân theo và có những cách tiếp cận nhất định bạn phải sử dụng; và thường thì trong quá trình này, kết quả trung gian phức tạp hơn vấn đề ban đầu và rồi kết quả cuối cùng thật đơn giản. Thật vui khi làm được điều đó.” Randolph đã được học ở trường mà anh mong muốn. Nhưng anh có nhận được kiến thức mà mình mong muốn hay không? “Nói chung, tôi hài lòng với kết quả,” anh nói. Sau đó, anh cười buồn. “Ít nhất đó là điều tôi luôn tự nhủ.”

Đến cuối năm thứ 3 tại trường đại học, Randolph quyết định tham gia kỳ thi tuyển sinh vào trường luật. Sau khi tốt nghiệp, anh làm việc cho một công ty luật ở Manhattan. Harvard đã lấy một nhà vật lý để đổi cho thế giới một luật sư. “Tôi làm về luật thuế,” Randolph nói. “Thật buồn cười. Có rất nhiều sinh viên học chuyên ngành toán học và vật lý đã chuyển sang làm luật thuế.”

Dịch giả Nguyễn Văn Tân, Nguyễn Trang
Nguồn: TVE-4U
Được bạn: Mọt Sách đưa lên
vào ngày: 18 tháng 10 năm 2026

« Lùi Tiến »

💬 Thảo luận

Chưa có bình luận nào — hãy là người đầu tiên chia sẻ cảm nhận của bạn!

Đăng nhập để tham gia bình luận.