“Tất cả chúng ta đều từng làm điều gì đó đáng sợ trong cuộc đời, hoặc cảm thấy cần phải làm vậy.”
1.
Vào một ngày cuối tuần tháng 6/1992, con gái của Mike Reynolds từ trường đại học về nhà để dự một đám cưới. Kimber, 18 tuổi, với mái tóc màu mật ong óng ả, hiện là sinh viên Học viện Thiết kế và Sản xuất thời trang ở Los Angeles. Cô sống ở Fresno, Thung lũng Central, California, cách đó vài giờ chạy xe về phía bắc. Sau đám cưới, cô ở lại ăn tối với một người bạn cũ, Greg Calderon. Cô mặc quần short, đi boot và mặc chiếc áo khoác đỏ pha đen của bố cô.
Reynolds và Calderon dùng bữa tại nhà hàng Planet hàng ngày, tại Quận Tower, Fresno. Họ dùng cà phê và sau đó tản bộ trở về Isuzu. Lúc đó là 10 giờ 41 phút, Reynolds mở cửa ghế sau cho Calderon, sau đó đi vòng qua xe đến chỗ ngồi lái. Ngay lúc đó, hai thanh niên đi chiếc xe máy bị đánh cắp hiệu Kawasaki di chuyển từ từ ra khỏi một bãi đậu xe để xuống đường. Họ đội mũ bảo hiểm có kính che mặt bóng mờ. Người điều khiển xe, Joe Davis, có tiền án sử dụng ma túy và súng. Hắn vừa được tạm tha từ nhà tù tiểu bang Wasco do hành vi trộm cắp ô tô. Người ngồi sau là Douglas Walker. Walker từng vào tù 7 lần. Cả hai đều nghiện thuốc phiện đá. Từ đầu giờ tối, họ đã tìm cách cướp xe trên Đại lộ Shaw, trục đường chính của Fresno. “Tôi thực sự không nghĩ nhiều lúc đó,” Walker chia sẻ như vậy vài tháng sau khi được hỏi về tâm trí của hắn đêm đó. “Chuyện gì xảy ra sẽ xảy ra, anh biết đấy. Nó xảy ra rất đột ngột. Chúng tôi đã làm những gì chúng tôi làm. Ý tôi là, đó là tất cả những gì tôi có thể kể cho anh.”
Walker và Davis đã đậu xe dọc Isuzu, sử dụng trọng lượng của xe gắn máy để ép Reynolds vào xe của cô. Calderon đã nhảy ra khỏi ghế sau, chạy vòng sau đuôi xe. Walker chặn đường của anh. Davis tóm lấy ví của Reynolds. Hắn lấy khẩu súng ngắn 0,357 li và dí nó vào tai phải của cô. Cô chống cự. Hắn nổ súng. Davis và Walker trở lại xe, tăng tốc, vượt đèn đỏ. Mọi người đổ dồn ra khỏi khu Daily Planet. Một người đã cố gắng để cầm máu. Calderon đã lái xe về nhà bố mẹ Reynolds nhưng không thể đánh thức họ. Anh gọi và thấy máy điện thoại trả lời tự động. Cuối cùng, vào lúc 2 giờ 30 phút sáng, anh đã gọi được. Mike Reynolds nghe thấy vợ mình kêu toáng lên, “vào đầu! Con bé đã bị bắn vào đầu!” Kimber đã chết một ngày sau đó.
Mike Reynolds giờ đã không còn trẻ. Ông đi khập khiễng và tóc rụng gần hết. Ông ngồi ở bàn trong phòng đọc sách, trong ngôi nhà theo kiểu Mission của mình ở Fresno, cách nơi con gái ông bị bắn không quá năm phút lái xe. Trên bức tường đằng sau nơi ông ngồi là ảnh của Kimber. Bên cạnh cửa bếp là một bức ảnh Kimber đeo đôi cánh thiên thần, đang bay lên trời. “Khi điều này xảy đến, tôi không thể làm gì. Tôi đã nắm tay con bé khi nó đang hấp hối. Đó là một cảm giác bất lực.” Vào lúc đó, ông đã thề nguyện.
“Tất cả mọi thứ tôi đã làm từ trước đến giờ đều liên quan đến một lời hứa với Kimber lúc sắp từ giã cõi đời,” Reynolds nói. “Ta không thể cứu sống con. Nhưng ta sẽ cố gắng hết sức để ngăn điều này xảy ra với bất cứ ai.”
2.
Khi Reynolds từ viện về nhà, ông nhận được điện thoại từ Ray Appleton, nhà tổ chức của một chương trình trò chuyện trên sóng phát thanh Fresno nổi tiếng. “Thị trấn sẽ rối lên,” Appleton nhớ lại. “Vào thời điểm đó, Fresno đứng đầu nước Mỹ về bình quân số vụ giết người. Nhưng việc này diễn ra rất trắng trợn – trước hàng triệu con mắt, trước một nhà hàng nổi tiếng. Tôi nghe tin rằng đêm hôm đó Kimber đã chết, và tôi đã an ủi Mike. Tôi nói: “Bất cứ khi nào ông sẵn sàng, hãy cho tôi biết. Và ông nói, ‘Hôm nay thì sao?’ Đó là nơi mà tất cả mọi chuyện này bắt đầu, 14 giờ sau cái chết của con gái ông.”
Reynolds đã mô tả hai giờ ông dành cho chương trình Appleton là khoảng thời gian khó khăn nhất trong cuộc đời mình. Ông đã khóc. “Tôi chưa bao giờ thấy sự tàn phá như thế trước đây”, Appleton nhớ lại. Ban đầu, hai người đã nhận được các cuộc gọi từ những người biết gia đình Reynolds, hoặc những người chỉ muốn bày tỏ sự cảm thông. Nhưng sau đó ông và Reynolds bắt đầu nói về những gì mà kẻ giết người nói về hệ thống tư pháp của California, và các cuộc gọi bắt đầu được nối máy từ khắp bang.
Reynolds đã trở về nhà và mời tất cả mọi người mà ông nghĩ rằng có thể tạo sự khác biệt. “Chúng tôi gồm 3 thẩm phán, các nhân viên đến từ văn phòng cảnh sát quận, luật sư, người dân và cả nhân viên đến từ hệ thống các trường học,” ông nói. “Và chúng tôi đặt ra câu hỏi, ‘Tại sao điều này lại xảy ra? Nguyên nhân là gì?’”
Kết luận của họ đó là ở California, các hình phạt liên quan đến những vi phạm pháp luật ở mức quá thấp. Lệnh tạm tha trở nên quá dễ dàng và nhanh chóng. Người phạm tội thường xuyên được đối xử không khác biệt gì so với những người phạm tội lần đầu tiên. Douglas Walker, người đàn ông ngồi sau xe gắn máy, từng phạm tội lần đầu năm 13 tuổi vì tội buôn bán ma túy. Gần đây, hắn vừa được tạm tha để thăm vợ đang mang bầu và không bao giờ trở lại nhà tù. Điều này có ý nghĩa gì không?
Cả nhóm cùng đưa ra một đề nghị. Trước sự cương quyết của Reynolds, đề nghị này rất ngắn gọn và đơn giản, được viết bằng ngôn ngữ của giáo dân. Nó được gọi là Luật Bất quá tam. Bất cứ ai bị kết án về một tội thứ hai ở California, sẽ phải chịu án gấp đôi theo luật. Và bất cứ ai bị kết án về tội thứ 3 – tội thứ 3 gồm mọi hành vi phạm tội có thể tưởng tượng – sẽ bắt buộc phải ở tù 25 năm. Không có trường hợp ngoại lệ.
Reynolds và nhóm của ông đã thu thập hàng ngàn chữ ký để hội đủ điều kiện cho cuộc trưng cầu trên toàn tiểu bang. Có vô số những ý tưởng trưng cầu dân ý trong mỗi mùa bầu cử ở California, và hầu hết đều không có kết quả gì. Nhưng Luật Bất quá tam đã gây nên một làn sóng lớn. Nó đã được thông qua với sự ủng hộ kinh ngạc của 72% cử tri của tiểu bang, và trong mùa xuân năm 1994, nó đã được ký thành luật, hầu hết từng lời đều được viết trong sân sau nhà Mike Reynolds. Nhà tội phạm học Franklin Zimring gọi đó là “thử nghiệm hình phạt lớn nhất trong lịch sử nước Mỹ.” Có 80.000 tù nhân ở California vào năm 1989. Trong 10 năm, con số đó sẽ tăng gấp đôi, và tỷ lệ tội phạm ở California giảm xuống nhanh chóng. Từ năm 1994 đến năm 1998, tỷ lệ giết người ở California giảm 41,4%, nạn hiếp dâm giảm 10,9%, tỷ lệ cướp trên đường phố giảm 38,7%, các cuộc tấn công giảm 22,1%, trộm cắp giảm 29,9%, và trộm cắp ô tô giảm 36,6%. Mike Reynolds đã nỗ lực để giữ đúng lời thề trước giường bệnh của đứa con gái xấu số.
Reynolds ngồi trong phòng làm việc tại nhà ở Fresno, xung quanh là các bức hình của cá nhân ông, biển tên, các bức phù điêu, ký các giấy chứng nhận và thảo thư − tất cả đều chứng minh về vai trò phi thường ông đã đóng góp cho chính trị của nước Mỹ. “Từng khoảnh khắc trong cuộc đời, bạn đều có cơ hội cứu sống người khác,” ông tiếp tục. “Bạn biết đấy, ta có thể kéo họ ra khỏi một tòa nhà đang cháy, cứu họ khỏi chết đuối hoặc một số điều điên rồ khác. Nhưng có bao nhiêu người có cơ hội cứu sống nhiều người dân mỗi ngày? Ý tôi là, tôi nghĩ, mình đã rất may mắn.”
Ông dừng lại một chút, như thể ông trở về thời khắc của 20 năm trước khi ông hứa với Kimber. Ông tiếp tục: “Hãy suy nghĩ về anh chàng đã phát minh ra dây đai an toàn. Bạn có biết tên anh ta là gì không? Tôi thì không. Nhưng hãy nghĩ về số người được an toàn hoặc kết quả mà dây đai an toàn, túi khí hoặc hộp đựng thuốc chống trộm mang lại. Tôi có thể ngồi đây và nắm rõ những điều đó. Các thiết bị đơn giản được Joe Average đưa ra, giống như tôi, đã cứu sống được rất nhiều người. Tuy nhiên, chúng ta không tìm kiếm bất kỳ danh tiếng nào hay tìm kiếm bất cứ sự khích lệ nào. Tất cả những gì chúng ta đang tìm kiếm là kết quả, và kết quả là phần thưởng lớn nhất của tôi.”
Quân Anh đã đặt chân đến Bắc Ireland với những ý định tốt đẹp và cuối cùng đã kết thúc với 30 năm đổ máu. Họ đã không nhận được những gì họ muốn, bởi họ không hiểu rằng quyền lực có những hạn chế nhất định. Nó phải được xem là hợp pháp, hoặc cách sử dụng nó có tác dụng ngược lại với dự định ban đầu. Mike Reynolds đã mang lại ảnh hưởng phi thường đến thành phố quê hương ông. Ông đã có được những gì mà ông mong muốn.
3.
Hãy trở lại lý thuyết về đường cong hình chuông mà chúng ta đã thảo luận trong chương về quy mô lớp học. Đường cong hình chuông liên quan chủ yếu đến các giới hạn. Chúng minh họa cho thực tế rằng “nhiều hơn” không phải lúc nào cũng tốt hơn; thực sự, có điểm khi các nguồn lực bổ sung được cho là có lợi nhất chỉ khiến mọi việc trở nên tồi tệ hơn. Dạng hình chuông rõ ràng đã mô tả những tác động của quy mô lớp học, và nó rõ ràng cũng cho thấy kết nối giữa khả năng làm cha mẹ và sự giàu có. Nhưng một vài năm trước đây, một số học giả bắt đầu tranh luận kịch liệt hơn, dẫn đến việc kéo Mike Reynolds và các tuyên bố của ông về chính sách Bất quá tam vào trung tâm của cuộc tranh cãi kéo dài hai thập kỷ. Chuyện gì xảy ra nếu mối quan hệ giữa hình phạt và tội phạm cũng mang dạng hình chuông? Nói cách khác, chuyện gì xảy ra nếu – qua một điểm tới hạn nào đó – việc trấn áp tội phạm không còn ảnh hưởng đến bọn tội phạm và bắt đầu khiến các vụ phạm gia tăng hơn nữa?
Khi luật Bất quá tam đã được thông qua, không ai xem xét khả năng này. Mike Reynolds và những người ủng hộ ông cho rằng họ bắt được thêm mỗi tội phạm thì mỗi năm, họ lại góp phần làm giảm tỷ lệ tội phạm tương ứng. Theo quan điểm của Reynolds, tội phạm tìm thấy lợi ích của việc phạm tội ở California lớn hơn nhiều so với những rủi ro. Ông thấy đối với những người tiếp tục vi phạm luật pháp, ngay cả khi đối mặt với những thay đổi rủi ro – luật Bất quá tam cho hay, hãy xử họ tù chung thân để họ không giờ có cơ hội phạm tội lần nào nữa. Khi nói đến pháp luật và trật tự, Reynolds và các cử tri California tin rằng, “nhiều hơn” luôn tốt hơn.
Đây là khi những lập luận đường cong hình chuông xuất hiện. Hãy bắt đầu với giả định đầu tiên rằng – tội phạm phản ứng với việc gia tăng cái giá phải trả cho việc phạm tội bằng cách phạm tội ít hơn. Đây rõ ràng là điều đúng đắn khi các hình phạt đối với việc vi phạm pháp luật ở mức thấp. Một trong những nghiên cứu tình huống nổi tiếng nhất về tội phạm liên quan đến những gì đã xảy ra trong mùa thu năm 1969 khi cảnh sát Montreal đình công 16 giờ. Montreal đã và vẫn là thành phố tại Mỹ được coi như một trong những khu vực ổn định và tuân thủ pháp luật nhất trên thế giới. Tuy nhiên đã có rất nhiều vụ cướp ngân hàng xảy ra hôm đó mà hầu như mọi ngân hàng trong thành phố đều phải đóng cửa. Những kẻ cướp bóc đổ về trung tâm thành phố Montreal, đập vỡ các cửa sổ. Choáng váng nhất là, một cuộc tranh chấp giữa các lái xe taxi trong thành phố và một dịch vụ xe hơi địa phương mang tên dịch vụ xe Limousine Murray Hill về quyền đón khách từ sân bay đã dẫn đến bạo lực. Các lái xe taxi lao xuống Murray Hill cùng với bom xăng. Cảnh sát Murray Hill đã nổ súng. Các lái xe taxi sau đó đã đốt một chiếc xe buýt và lao nó vào cánh cửa bị khóa ở gara Murray Hill. Chúng tôi đang nói về Canada. Tuy nhiên, ngay sau khi cảnh sát trở lại làm việc, trật tự đã được khôi phục. Các mối đe dọa bị bắt giữ và trừng phạt đã mang lại hiệu quả.
Rõ ràng, sau đó, có một sự khác biệt lớn giữa việc không xử phạt vi phạm pháp luật và thực thi một số hình phạt – giống như có một sự khác biệt lớn giữa một lớp học 40 học sinh và một lớp học 25 học sinh. Ở phía bên trái của đường cong hình chuông, sự can thiệp đã tạo sự khác biệt.
Nhưng hãy nhớ rằng, logic của đường cong hình chuông đó là các chiến lược hoạt động rất hiệu quả ở trạm dừng chân đầu tiên đã đi qua một điểm nhất định, và đó chính xác là những gì nhiều nhà tội phạm học cho rằng sẽ xảy ra bằng sự trừng phạt.
Ví dụ, cách đây vài năm, các nhà tội phạm học, Richard Wright và Scott Decker, đã phỏng vấn 86 tên cướp có vũ trang bị kết án. Hầu hết những gì họ nghe thấy là những ý kiến như thế này:
Tôi đã nỗ lực để cố gắng không nghĩ về việc bị bắt. Điều đó gây ra sự mất tập trung. Bạn không thể tập trung làm bất cứ điều gì nếu bạn đang nghĩ, “điều gì sẽ xảy ra nếu việc mình làm không đi đúng hướng?” Dần dần, nếu quyết tâm đi cướp, tôi sẽ hoàn toàn tập trung vào điều đó, chỉ điều đó mà thôi.
Hoặc:
Đó là lý do chúng tôi đi xa đến mức đó. Chúng tôi càng lớn, càng ngớ ngẩn, sau đó chúng tôi không sợ bị bắt nữa. Bất cứ điều gì xảy ra, đã xảy ra... Bạn chỉ cần không quan tâm đến nó vào thời điểm đó.
Ngay cả khi bị ép, những tên tội phạm được Decker và Wright phỏng vấn “vẫn thờ ơ trước các lệnh trừng phạt.” Họ không nghĩ quá xa đến vậy.
Cái chết của con gái đã khiến Reynolds muốn khiến các tội phạm tiềm năng ở California phải sợ – khiến họ phải nghĩ kỹ trước khi phá luật. Nhưng chiến lược đó không hiệu quả nếu bọn tội phạm nghĩ theo cách này. Joe Davis và Douglas Walker – hai tên côn đồ đã dồn Kimber Reynolds ra ngoài Daily Planet – là dân nghiện ma túy đá. Từ sáng sớm hôm đó, chúng đã tìm cách cướp một chiếc xe hơi ngay giữa ban ngày. Và bạn còn nhớ những gì Walker nói chứ? Tôi không thực sự nghĩ nhiều về điều đó, anh biết đấy. Chuyện gì xảy ra ắt hẳn sẽ xảy ra. Nó xảy ra rất đột ngột. Chúng tôi chỉ làm những gì chúng tôi đã làm. Ý tôi là, đó là tất cả những gì tôi có thể cho các anh biết. Đây có phải là kiểu suy nghĩ kỹ của một con người không?
“Tôi đã nói chuyện với những người bạn của gia đình, những người biết Joe và anh trai hắn, và họ hỏi tại sao hắn bắn Kimber,” Reynolds nói và nhớ lại buổi tối kinh hoàng đó. “Hắn nói rằng hắn có ví, vì vậy chiếc túi của con bé không phải là vấn đề. Nhưng hắn đã bắn con bé bởi cái cách con bé nhìn hắn. Hắn bắn con bé vì hắn nghĩ con bé tưởng hắn đùa, và không tôn trọng hắn. “Lời lẽ của Reynolds mâu thuẫn với logic của luật Bất quá tam. Joe Davis đã giết Kimber Reynolds bởi con bé không dành cho hắn sự tôn trọng mà hắn nghĩ hắn xứng đáng được nhận khi chĩa súng vào đầu con bé. Làm sao có thể thay đổi được mức độ nghiêm trọng của hình phạt để ngăn chặn những kẻ có tư duy như vậy? Bạn và tôi rất nhạy cảm với hình phạt gia tăng, bởi bạn và tôi là những người có chỗ đứng trong xã hội. Nhưng bọn tội phạm thì không. Khi nhà tội phạm học David Kennedy viết: “Có thể chỉ đơn giản là có những người hôm nay sẵn sàng nắm lấy cơ hội, thường là bốc đồng về những gì được họ xem như khả năng rất nhỏ trong việc xử phạt vi phạm nghiêm trọng và sẵn sàng tiếp tục nắm lấy cơ hội tương tự đối với một hình phạt nghiêm trọng hơn trong tương lai.”
Tranh luận thứ hai về luật Bất quá tam – đó là thêm mỗi năm một tên tội phạm ở tù là thêm một năm hắn không thể phạm tội – rất có vấn đề. Tuổi trung bình của một tên tội phạm ở California vào năm 2011, tại thời điểm tội phạm bị kết án do hành vi vi phạm luật Bất quá tam là 43. Trước khi luật Bất quá tam xuất hiện, người đàn ông đó có thể đã từng ở tù 5 năm do trọng tội và được thả ở tuổi 48. Với luật Bất quá tam, hắn sẽ phải ở tù tối thiểu là 25 năm và ra tù lúc 68 tuổi. Theo logic, thì câu hỏi đặt ra là: Với bao nhiêu lần phạm tội thì tội phạm phải ở tù trong khoảng từ 48 đến 68 tuổi? Câu trả lời là: Không nhiều. Hãy nhìn vào các biểu đồ dưới đây, chúng cho thấy mối quan hệ giữa tuổi tác và hành vi phạm tội tấn công nghiêm trọng, giết người, cướp tài sản và trộm cắp.
“Chúng tôi cảm thấy cần phải nói với bạn rằng chắc chắn trong chúng ta có rất nhiều người Do Thái.”
Khi Pháp thất trận vào tháng 6 năm 1940, quân đội Đức đã để Pháp thiết lập một chính phủ tại thành phố Vichy. Dẫn đầu là một anh hùng người Pháp trong Thế chiến I, Marshal Philippe Pétain, người đã được cấp quyền hạn đầy đủ của một nhà độc tài. Pétain đã hợp tác tích cực với người Đức. Ông tước bỏ mọi quyền của người Do Thái, khiến họ mất việc. Thu hồi luật chống bài trừ Do Thái, ông bắt người Pháp gốc Do Thái, tống họ vào trại tập trung và thực hiện những điều mang đậm chất, bao gồm cả việc yêu cầu mỗi buổi sáng, các học sinh Pháp phải vinh danh lá cờ Pháp với kiểu chào phát xít – tay phải xòe rộng, lòng bàn tay hướng xuống. Trong quy mô các điều chỉnh cần thiết dưới sự chiếm đóng của Đức, hầu hết mọi người đều tuân thủ trừ những người sống ở thị trấn Le Chambon-sur-Lignon.
Le Chambon là một trong hàng chục ngôi làng trên cao nguyên Vivarais, một khu vực miền núi không xa biên giới Ý và Thụy Sĩ ở miền nam trung nước Pháp. Các mùa đông ở đây rất khắc nghiệt. Đây là khu vực rất xa xôi và hẻo lánh, các thị trấn lớn gần nhất ở dưới núi, cách xa đó vài dặm. Khu vực này thiên về nông nghiệp, với các trang trại nằm khuất ở phía trong và xung quanh bìa rừng. Trong nhiều thế kỷ, Le Chambon là nơi trú ngụ của nhiều giáo phái Tin Lành bất đồng, chủ yếu là người Huguenot. André Trocmé, mục sư Huguenot địa phương, là một người ủng hộ hòa bình. Vào ngày Chủ nhật sau khi Pháp đầu hàng quân Đức, Trocmé thuyết giảng ở đền thờ Tin Lành của Le Chambon. “Yêu thương, tha thứ, và làm những điều tốt đẹp cho những kẻ làm tổn thương ta là nhiệm vụ của chúng ta,” ông nói. “Tuy nhiên, chúng ta phải nỗ lực không được từ bỏ hay hèn nhát. Chúng ta sẽ kiên trì mỗi khi đối thủ buộc chúng ta phải trái ý Chúa. Chúng ta sẽ làm như vậy mà không sợ hãi, không kiêu hãnh hay hận thù.”
Chào kiểu phát xít với cánh tay để thẳng trong chế độ Vichy, theo Trocmé, là một ví dụ về “sự trái với ý Chúa.” Ông và đồng mục sư, Édouard Theis, đã mở một trường học ở Le Chambon vài năm trước đó mang tên Cévenol. Họ đã quyết định sẽ không dựng cột cờ và không có kiểu chào phát xít tại Cévenol.
Vichy yêu cầu mọi giáo viên người Pháp ký tuyên thệ trung thành với nhà nước và Pétain buộc họ đặt bức chân dung của mình tại mọi trường của Pháp. Nhưng Trocmé và Theis cùng toàn bộ nhân viên của Cévenol đã từ chối. Vào ngày kỷ niệm một năm chế độ Vichy, Pétain đã ra lệnh toàn thị trấn trong khắp cả nước rung chuông nhà thờ vào trưa ngày 1 tháng 8. Trocmé đã nói với người trông coi nhà thờ, một phụ nữ tên là Amélie, không phải bận tâm. Hai cư dân theo đạo Tin Lành trong thị trấn đã đến và phàn nàn. “Chuông không thuộc về thống chế, mà thuộc về Chúa,” Amélie đáp lại thẳng thừng. “Nó được rung lên vì Chúa – chỉ vậy thôi.”
Trong suốt mùa đông và mùa xuân năm 1940, các điều kiện dành cho người Do Thái trên khắp châu Âu ngày càng tồi tệ hơn. Chẳng bao lâu sau, người tị nạn Do Thái bắt đầu xuất hiện ở Le Chambon. Trocmé đi tàu đến Marseille để gặp một Quaker tên Burns Chalmers. Các Quaker cung cấp viện trợ nhân đạo cho những trung tâm giam giữ đã được thiết lập ở miền nam nước Pháp. Các trại tập trung là nơi kinh khủng, đầy chuột bọ và bệnh tật; tại một trại tập trung, 1.100 người Do Thái đã chết trong khoảng từ năm 1940 đến năm 1944. Rất nhiều người trong số những người sống sót đã được đưa về phía đông và chết trong các trại tập trung của Đức Quốc xã. Các Quaker có thể đưa người, đặc biệt là trẻ em, ra khỏi trại. Nhưng họ không có nơi nào để gửi chúng đến. Trocmé tình nguyện để chúng đến Le Chambon. Mùa hè năm 1942, Georges Lamirand, Bộ trưởng của Vichy phụ trách các vấn đề về thanh niên, đã có chuyến thăm Le Chambon. Pétain muốn ông xây dựng các trại trẻ xung quanh Pháp theo khuôn mẫu các trại Thanh niên của Hitler ở Đức.
Lamirand đã cùng đoàn tùy tùng của mình, trong trang phục rực rỡ màu xanh biển kéo lên núi. Chương trình nghị sự của ông là tổ chức một bữa tiệc, sau đó là một cuộc hành quân đến sân vận động của thành phố trong cuộc gặp mặt với các thanh niên địa phương, sau đó là buổi đón tiếp chính thức. Nhưng bữa tiệc đã không được suôn sẻ. Thức ăn không đầy đủ. Trong cuộc diễu hành, các đường phố không có người.
Trong buổi tiếp đón, một nhóm sinh viên đi đến trước mặt Lamirand, và trước toàn bộ thị trấn đã đọc một lá thư cho ông. Nó đã được soạn thảo với sự giúp đỡ của Trocmé. Trước mùa hè năm đó, cảnh sát Vichy đã giam giữ 12.000 người Do Thái tại Paris theo yêu cầu của Đức quốc xã. Những người bị bắt đã phải chịu những điều kiện khủng khiếp tại Vélodrome d’Hiver ở phía nam Paris trước khi được gửi đến các trại tập trung ở Auschwitz. Le Chambon không muốn là một phần trong đó. “Ngài Bộ trưởng,” bức thư bắt đầu:
Chúng tôi học được qua những cảnh đáng sợ đã diễn ra cách đây 3 tuần ở Paris, nơi cảnh sát Pháp, theo lệnh của quân chiếm đóng, đã đến tận nhà các gia đình Do Thái ở Paris để bắt bớ và giam giữ họ ở Vel d’Hiv. Những người cha bị ly tán khỏi gia đình và gửi đến Đức. Bọn trẻ phải lìa mẹ, những người đã phải trải qua cùng số phận như những người chồng của họ... Chúng tôi lo ngại rằng các biện pháp trục xuất người Do Thái sẽ sớm được áp dụng tại khu vực phía Nam.
Chúng tôi cảm thấy có nghĩa vụ phải nói với ngài rằng trong chúng ta có một lượng người Do Thái nhất định. Nhưng, chúng ta không phân biệt giữa người Do Thái và không Do Thái. Điều đó với những điều được giảng dạy trong Kinh phúc âm.
Nếu những người bạn của chúng tôi, có lỗi duy nhất là được sinh ra trong một tôn giáo khác, phải chịu sự trục xuất, hoặc thậm chí kiểm tra, thì họ sẽ không tuân theo lệnh nhận được, và chúng tôi sẽ nỗ lực tìm cách để che giấu cho họ.
Chúng tôi đang che chở những người Do Thái. Ngài không bao giờ nhận ra họ.
Tại sao Đức quốc xã không đến Le Chambon và làm gương cho người dân? Việc đăng ký học tại trường được Trocmé và Theis mở ra tăng từ 18 học sinh vào trước đêm cuộc chiến xảy ra lên 350 vào năm 1944. Không khó để biết được 332 trẻ em tăng thêm này là ai. Thị trấn cũng không che giấu bất cứ điều gì họ đã làm. Chúng tôi cảm thấy có nghĩa vụ phải nói với ngài rằng có một lượng nhất người Do Thái trong chúng tôi. Một nhân viên cứu trợ được mô tả là vẫn đang trên tàu từ Lyon vài lần một tháng chở hàng tá trẻ em Do Thái. Cô sẽ để chúng tại khách sạn May gần ga xe lửa và sau đó đi khắp thị trấn cho đến khi cô tìm thấy nhà ở cho chúng. Ở Pháp, theo luật pháp của Vichy, vận chuyển và che giấu người Do Thái tị nạn là bất hợp pháp. Có lúc, cảnh sát Vichy đến và lập trại ở Le Chambon trong ba tuần, tìm kiếm khắp thị trấn và lùng sục các khu vực xung quanh để tìm người tị nạn Do Thái. Họ chỉ có thể tìm ra và bắt giữ hai người − một người trong số họ đã được thả sau đó. Tại sao họ không sắp hàng cả thị trấn và vận chuyển chúng đến Auschwitz?
Philip Hallie, người viết lịch sử về Le Chambon, lập luận rằng thị trấn đã được bảo vệ vào cuối chiến tranh bởi chính Thị trưởng Julius Schmehling, một quan chức Gestapo cao cấp trong khu vực. Ngoài ra còn có rất nhiều người đồng cảm trong lực lượng cảnh sát Vichy địa phương. Đôi khi, André Trocmé nhận được một cú điện thoại lúc nửa đêm, cảnh báo ông rằng có một cuộc tấn công sẽ xuất hiện vào ngày hôm sau. Những lần khác, đội ngũ cảnh sát địa phương sẽ đến, theo dõi một số người tị nạn ẩn nấp, nhấm nháp một ly cà phê, sau đó cảnh báo người trong thị trấn về ý định của họ.
Nhưng câu trả lời tốt nhất đó là cuốn David và Goliath đã cố gắng làm rõ rằng – việc san bằng một thành phố, mọi người hoặc một phong trào không bao giờ là việc làm đơn giản. Điểm mạnh chưa chắc đã là điểm mạnh và điểm yếu cũng vậy. Người Huguenot ở Le Chambon là hậu duệ của dân Tin Lành gốc Pháp, sự thật là những người đã cố gắng và thất bại trong việc quét sạch họ trước đây. Người Huguenot đã tách ra khỏi Giáo Hội Công Giáo trong thời Cải Cách, khiến họ nằm ngoài tầm ngắm của chính phủ Pháp. Hết vị vua này đến bị vua khác đã cố gắng để khiến họ đoàn tụ với Giáo Hội Công Giáo. Phong trào Huguenot đã bị cấm. Có những cuộc càn quét và tàn sát công khai. Hàng ngàn người Huguenot đã bị treo cổ. Phụ nữ bị cầm tù cả đời. Trẻ em được đưa vào nhà nuôi dưỡng Công Giáo để triệt tiêu đức tin của chúng. Các triều đại khủng bố kéo dài hơn một thế kỷ. Vào cuối thế kỷ thứ XVII, 200.000 người Huguenot đã chạy trốn đến Pháp cho các nước khác ở châu Âu và Bắc Mỹ. Những người còn lại bị buộc ở dưới lòng đất. Họ rút lui về các ngôi làng miền núi trên cao nguyên Vivarais. Họ đã hình thành một chủng viện ở Thụy Sĩ và đưa các giáo sĩ vượt biên. Họ đã học được nghệ thuật lẩn trốn và ngụy trang. Họ đã biết được rằng họ không thực sự sợ hãi. Họ chỉ e mình sẽ sợ hãi.
Sinh năm 1901, André Trocmé có một thân hình cao, rắn chắc, chiếc mũi dài và đôi mắt xanh sắc. Ông tự cho mình là người yêu hòa bình, nhưng ở ông lại không có điểm nào như vậy. Ông và vợ, Magda, thường hay cãi vã. Ông được mô tả là một kẻ bạo lực được Chúa thu phục. “Một người vốn dịu dàng mắc một lời nguyền,” ông viết trong nhật ký của mình. “Anh ta sẽ có kết cục trong vô vị và hèn nhát, và sẽ không bao giờ đặt chân được đến hiện thực giải phóng đầy vĩ đại của Kitô giáo.”
Sáu tháng sau chuyến thăm của Bộ trưởng Lamirand, Trocmé và Édouard Theis đã bị bắt giam trong một trại giam (nơi mà theo Hallie, “họ bị tước đoạt tài sản cá nhân, và đo mũi để xem họ liệu có phải là người Do Thái không”). Sau một tháng, hai người thông báo được thả, nhưng với điều kiện họ phải cam kết sẽ “tuân thủ vô điều kiện trước các cấp chính phủ vì sự an toàn của nước Pháp, và vì lợi ích của cuộc Cách mạng Quốc gia Marshal Pétain.” Trocmé và Theis từ chối. Giám đốc trại giam đã đến gặp họ. Hầu hết những người trong trại đều có kết thúc bi thảm trong một phòng hơi ngạt. Giám đốc trại giam nói “Lời tuyên thệ này không có gì trái với lương tâm của các anh! Thống soái chỉ muốn những điều tốt đẹp cho nước Pháp!”
“Có ít nhất một điểm chúng tôi không đồng tình với thống soái,” Trocmé trả lời. “Ông ấy đã dâng người Do Thái cho Đức... Khi về nhà, chúng tôi chắc chắn sẽ tiếp tục bất tuân các lệnh của chính phủ. Làm sao chúng tôi có thể ký vào nó?”
Cuối cùng, các nhân viên trại giam đã từ bỏ và để họ về nhà.
Sau đó trong chiến tranh, khi Gestapo tăng cường giám sát Le Chambon, Trocmé và Theis buộc phải chạy trốn. Theis dành quãng thời gian còn lại trong cuộc chiến tranh để chở người Do Thái qua dãy Alps đến Thụy Sĩ an toàn. Trocmé dùng giấy tờ giả để di chuyển hết thị trấn này đến thị trấn khác. Dù vậy, ông cũng bị bắt trong một trạm cảnh sát tại nhà ga xe lửa Lyon. Hallie viết:
Chứng minh thư của anh ấy có tên là Béguet, và họ sẽ hỏi anh ấy có phải vậy không. Sau đó, anh sẽ phải nói dối để che giấu danh tính của mình. Nhưng anh ấy không thể; nói dối, đặc biệt là để che giấu bản thân, “đi ngược lại với những thỏa hiệp mà Chúa cho phép tôi làm,” anh ấy viết trong ghi chú tự truyện của mình về vụ việc này. Cứu người – thậm chí là cứu mình – bằng chứng minh giả là một chuyện, nhưng đứng trước người khác và nói dối họ vì lợi ích tự vệ là chuyện khác.
Liệu thực sự có sự khác biệt mang tính nhân văn giữa việc giả chứng minh thư và nói dối tên với cảnh sát không? Có lẽ không. Trocmé, lúc đó, đang đi du lịch cùng với cậu con trai của mình. Hóa ra viên sỹ quan không hỏi giấy tờ của Trocmé. Trocmé đề nghị cảnh sát đưa ông trở lại nhà ga xe lửa, nơi ông đã gặp con trai mình và lẻn lên cửa bên. Khi cảnh sát hỏi có phải ông là Béguet, ông đã quyết định nói sự thật: “Tôi không phải là Monsieur Béguet. Tôi là mục sư André Trocmé.” Ông không quan tâm. Nếu là một Goliath, làm sao bạn có thể đánh bại người có suy nghĩ như vậy? Tất nhiên, bạn có thể giết hắn. Nhưng đây đơn giản là một biến thể của phương pháp tiếp cận tương tự mà đã phản tác dụng đối với người Anh ở Bắc Ireland và chiến dịch Luật Bất quá tam ở California. Việc lạm dụng vũ lực tạo ra các vấn đề về tính hợp pháp, vũ lực mà không có tính hợp pháp dẫn đến sự thách thức, thay vì quy phục. Bạn có thể giết André Trocmé. Nhưng tất cả điều đó có nghĩa là rồi sẽ một André Trocmé khác thế chỗ của ông ấy.
Không phải là đặc quyền hay vận may đã cứu rỗi người Do Thái ở Pháp. Đó là biên hạn và sự phá hủy đã nhắc nhở chúng ta rằng có những giới hạn thực sự khi làm những điều xấu xa và bất hạnh. Nếu bạn tước đi khả năng đọc, bạn sẽ tạo ra món quà của sự lắng nghe. Nếu đánh bom một thành phố, bạn để lại cái chết và sự hủy diệt. Nhưng bạn có thể tạo ra một cộng đồng những người dũng cảm. Nếu cướp đi chamẹ, bạn gây ra đau khổ và tuyệt vọng. Nhưng tuyệt vọng sẽ sản sinh ra sự bất khuất. Bạn nhìn thấy gã khổng lồ và chàng thanh niên chăn cừu trong thung lũng Elah và bạn bị cuốn hút bởi người đàn ông với thanh kiếm, khiên và áo giáp lấp lánh. Nhưng rất nhiều thứ đẹp đẽ và có giá trị trên thế giới xuất phát từ chàng chăn cừu, người sở hữu sức mạnh và mục đích cao cả hơn sức tưởng tượng của chúng ta.
Dự án 1.000.000 ebook cho thiết bị di động
Phát hành ebook: http://wwwtaisachhaycom
Tạo ebook: Tô Hải Triều
Ebook thực hiện dành cho những bạn chưa có điều kiện mua sách.
Nếu bạn có khả năng hãy mua sách gốc để ủng hộ tác giả, người dịch và Nhà Xuất Bản