David & Goliath - Cuộc Đối Đầu Kinh Điển Và Nghệ Thuật Đốn Ngã Những Gã Khổng Lồ

Lượt đọc: 281 | 0 Đánh giá: 0/10 Sao
★★★★★★★★★★
★★★★★★★★★★
« Lùi Tiến »
7. Rosemary Lawlor

❊ ❊ ❊

“Tôi không được sinh ra để là người như vậy mà chính bởi định mệnh.”

1.

Khi thảm họa xảy ra ở Bắc Ireland, Rosemary Lawlor vừa lập gia đình. Cô và chồng cô vừa mua một ngôi nhà ở Belfast. Họ cũng vừa có con. Đó là mùa hè năm 1969, người Công Giáo và Tin Lành – hai cộng đồng tôn giáo đã sống một cách khó khăn bên cạnh nhau trong suốt lịch sử của đất nước, đang xung đột. Các vụ đánh bom và bạo loạn diễn ra. Các băng nhóm Tin Lành – những người Trung Thành, như họ vẫn được gọi – lang thang trên khắp các đường phố, đốt rụi những ngôi nhà. Gia đình Lawlor là người Công Giáo, và người Công Giáo luôn là dân tộc thiểu số ở Bắc Ireland. Họ ngày một sợ hãi hơn.

“Tôi sẽ trở về nhà vào ban đêm,” Lawlor cho biết, “và sẽ thấy trên cửa viết: “Taigs out”. “Taigs là một từ xúc phạm đối với người Công Giáo Ireland. Hay ‘Không có Đức Giáo Hoàng ở đây’. Một đêm khác, chúng tôi đã gặp may mắn. Một quả bom đã rơi vào sân sau nhà nhưng không phát nổ. Một hôm, tôi gõ cửa nhà hàng xóm và thấy cô ấy đã biến mất. Hôm đó, tôi phát hiện ra rất nhiều người đã rời đi. Vì vậy, tôi đã nói với chồng tôi: “Terry, chuyện gì đang xảy ra thế này?” Và anh ấy đã nói, “Chúng ta đang gặp nguy hiểm.” 

Chúng tôi đã rời nhà đêm đó. Chúng tôi không có điện thoại. Thời này là giai đoạn trước khi điện thoại di động ra đời. Chúng tôi bước ra ngoài. Nỗi sợ hãi tràn ngập trong tôi. Tôi đặt con trai vào xe đẩy. Tôi đã vơ lấy những bộ quần áo tốt nhất của chúng tôi và thằng bé. Chúng tôi đã nhồi hết đồ vào ngăn dưới chiếc xe. Và Terry nói với tôi: “Chúng ta sẽ rời khỏi đây và sẽ mỉm cười với tất cả mọi người.” Tôi là một bà mẹ trẻ, kết hôn năm 19 tuổi, có một gia đình, một cậu con trai còn ẵm ngửa, một thế giới mới và cuộc sống mới. Tôi đã ra đi như thế. Anh biết không, tôi không có nghị lực để dừng lại. Tôi đã vô cùng sợ hãi.”

Nơi an toàn nhất họ biết là mọi khu Công Giáo ở Ballymurphy, ở Tây Belfast, nơi cha mẹ Lawlor đang sinh sống. Nhưng họ không có xe, và với tình trạng hỗn loạn ở Belfast, không taxi nào muốn dấn thân vào một khu dân cư Công Giáo. Cuối cùng họ đã lừa người lái taxi rằng con mình bị bệnh và cần đến bệnh viện. Họ đóng cửa xe và Terry nói với người lái xe, “Chúng tôi muốn đến Ballymurphy.” Người lái xe đáp lại: “Ồ, không, không được rồi.” Tuy nhiên, Terry đã lấy một quân bài poker ra giả làm súng và dí vào sau gáy người tài xế rồi nói: “Anh sẽ đưa chúng tôi đi.” Tài xế taxi chở họ đến gần Ballymurphy thì dừng lại. Tôi không quan tâm liệu anh có hại tôi không,” ông ta nói. “Tôi không đi thêm nữa.” Gia đình Lawlors đã bế con, không mang theo tài sản và chạy trốn.

Vào đầu năm 1970, mọi thứ trở nên tồi tệ hơn. Vào lễ Phục Sinh năm đó, đã có một cuộc bạo loạn ở Ballymurphy. Quân đội Anh được điều đến: một đội xe bọc thép với dây thép gai trên mũi xe tuần tra trên khắp các đường phố. Lawlor sẽ đẩy chiếc xe của mình qua các binh sĩ được trang bị vũ khí tự động và lựu đạn hơi cay. Một ngày cuối tuần vào tháng Sáu, có một cuộc đọ súng trong khu vực biên giới: một nhóm các tay súng Công Giáo lao ra đường và nổ súng vào một nhóm người theo đạo Tin Lành ngoài cuộc. Đáp lại, những người theo đạo Tin Lành trung thành đã cố gắng đốt cháy một nhà thờ Công Giáo gần bến cảng. Trong 5 giờ, hai bên đã chiến đấu trong cơn bão đạn. Hàng trăm vụ cháy được châm ngòi ở khắp thành phố. Đến cuối tuần, 6 người đã chết và 200 người bị thương. Bộ trưởng Nội vụ Anh chịu trách nhiệm tại khu vực Bắc Ireland đã bay từ London đến, khảo sát khu vực hỗn loạn, và trở về bằng máy bay riêng. “Vì Chúa, hãy mang đến cho tôi một anh hùng Scotland,” ông nói, vùi đầu vào đôi bàn tay. “Một đất nước đẫm máu đến kinh hoàng.”

Một tuần sau, một phụ nữ đã ghé qua Ballymurphy. Tên cô ấy là Harriet Carson. “Cô nổi tiếng là người đã dùng túi xách đập vào đầu Maggie Thatcher tại City Hall,” Lawlor cho biết. “Tôi biết cô ấy đã lớn lên như thế nào. Harriet đã đi khắp nơi với hai chiếc nắp vung, và đập chúng vào nhau rồi hét lên, “Thôi nào, đi ra, đi ra. Những người ở Lower Falls sắp bị sát hại.” Cô hét lên. Và tôi đã ra ngoài cửa. Gia đình tôi đều ở đó. Và cô ấy vẫn hét lên, “Chúng bị nhốt trong nhà. Con cái của họ không thể lấy được sữa, chúng không thể uống trà, không có bánh mì, và hãy ra đây, chúng ta cần phải làm một điều gì đó!”

Lower Falls là một khu phố toàn người Công Giáo ở dưới khu vực Ballymurphy. Lawlor đã đi học ở Lower Falls. Chú của cô sống ở đó cùng với rất nhiều anh em họ. Cô quen biết rất nhiều người ở Lower Falls cũng như ở Ballymurphy. Quân đội Anh đã đặt lệnh giới nghiêm trong toàn bộ khu phố trong khi họ lùng sục vũ khí một cách bất hợp pháp. 

”Tôi không biết ‘giới nghiêm’ là gì,” Lawlor nói. “Tôi đã phải hỏi ai đó, ‘Nó nghĩa là sao?’ Cô ấy nói: ‘Họ không cho phép chúng ta ra khỏi nhà.’ Tôi nói, ‘Sao họ lại làm vậy?’ Tôi đã vô cùng choáng váng. ‘Ý anh là sao?’ Người dân bị nhốt trong nhà của họ. Họ không thể ra nhận bánh mì hay sữa.’ Trong khi người Anh, quân đội Anh, được đá vào cửa ra vào, tàn phá và lùng sục,’ ý tôi là, ‘thật nực cười’. Mọi người chỉ nghĩ đến việc có người bị khóa trong chính căn nhà của họ, và trong đó có cả trẻ con. Bạn phải nhớ, một số nhà lúc đó có 12 đến 15 con. Như vậy đấy. ‘Ý anh là sao họ không thể ra khỏi nhà được chứ?’” Họ tức giận. 

Rosemary Lawlor giờ khoảng 60 tuổi, một phụ nữ khỏe khoắn với đôi má hồng hào, mái tóc màu bạch kim ngắn, lệch sang một bên, ăn mặc khá sành điệu và tinh tế. Những điều đó đã xảy ra vài chục năm nhưng bà vẫn nhớ như in. “Cha tôi nói: ‘Người Anh sẽ khiến chúng tôi phải đứng lên. Họ nói rằng họ đang ở đây để bảo vệ chúng tôi. Họ sẽ giúp đỡ chúng tôi – bạn cứ chờ xem.’ Và ông đã đúng. Họ đã giúp đỡ chúng tôi. Và lệnh giới nghiêm là bước khởi đầu trong đó.”

2.

Cùng năm đó, Bắc Ireland đã rơi vào cảnh hỗn loạn, hai nhà kinh tế – Nathan Leites và Charles Wolf Jr. – đã viết một báo cáo về cách đối phó với quân nổi dậy. Leites và Wolf làm việc cho Tổng công ty RAND, nhóm chuyên gia cố vấn có uy tín đã được Lầu Năm Góc thành lập sau Chiến tranh Thế giới II. Báo cáo của họ mang tên Cuộc nổi dậy và Chính quyền. Trong những năm qua, khi thế giới bùng nổ nạn bạo lực, tất cả mọi người đều đọc tác phẩm của Leites và Wolf. Cuộc nổi dậy và Chính quyền đã trở thành kế hoạch chi tiết cho cuộc chiến ở Việt Nam, và cách các sở cảnh sát giải quyết tình trạng bất ổn dân sự, cũng như cách các chính phủ đối phó với chủ nghĩa khủng bố. Phần kết luận của nó rất đơn giản: 

Điểm cơ bản trong phân tích của chúng tôi là giả định cho rằng dân số, với tư cách cá nhân hoặc nhóm, sẽ biết cách hành xử “hợp lý”, biết tính toán chi phí và lợi ích để liên hệ với các hành động khác nhau, và đưa ra lựa chọn phù hợp... Do đó, để gây ảnh hưởng đến hành vi, cần hiểu rõ hơn về chi phí và lợi ích của cá nhân hoặc một nhóm người có liên quan, và cách tính toán các chi phí và lợi ích đó.

Nói cách khác, để khiến quân nổi dậy hành xử phù hợp về cơ bản là một vấn đề liên quan đến toán học. Nếu bạo loạn xảy ra trên các đường phố Belfast, đó là bởi chi phí để những kẻ nổi loạn đốt nhà và đập phá các cửa sổ không đủ cao. Nếu ở vị trí quyền lực, bạn không phải bận tâm đến cảm nhận của những kẻ phá luật về những gì bạn đang làm. Bạn chỉ cần đủ cứng rắn để khiến họ phải nghĩ kỹ trước khi hành động.

Tướng chỉ huy quân đội Anh ở Bắc Ireland, Ian Freeland là một người đàn ông như vừa bước ra khỏi các trang sách của cuốn Cuộc nổi dậy và Chính quyền. Ông đã từng phục vụ ở Normandy trong Chiến tranh Thế giới II và sau đó chiến đấu chống quân nổi dậy ở Cyprus và Zanzibar. Ông là người ngăn nắp và thẳng thắn, với chiếc lưng thẳng, quai hàm vuông và đôi bàn tay rắn chắc: : Ở ông toát lên ấn tượng đậm nét về người đàn ông biết cần phải làm gì và sẽ làm gì.” Khi đến Bắc Ireland, ông đã cho thấy sự kiên nhẫn của ông có hạn. Ông không ngại sử dụng vũ lực. Ông đã nhận lệnh từ Thủ tướng: Quân đội Anh “phải kiên quyết, phải thể hiện sự kiên quyết với những tên côn đồ và các tay súng.”

Vào ngày 30/6/1970, quân đội Anh đã nhận được một tin mật – chất nổ và vũ khí được giấu trong một ngôi nhà tại 24 đường Balkan ở Lower Falls. Freeland lập tức điều động 5 xe bọc thép chở đầy lính và nhân viên cảnh sát đến. Cuộc lục soát cho thấy ngôi nhà là nơi dự trữ súng và đạn dược. Bên ngoài, một đám đông đang tụ tập. Một số người bắt đầu ném đá, rồi đến bom xăng. Một cuộc bạo loạn được khơi mào. Đến 10 giờ đêm, quân Anh có mặt đông đủ. Một chiếc trực thăng quân đội có trang bị loa bay lòng vòng trên Lower Falls, yêu cầu tất cả người dân ở yên trong nhà nếu không muốn bị bắt giữ. Khi các đường phố không còn một bóng người, quân đội phát động một cuộc lục soát từng nhà. Nếu người dân kháng cự, họ sẽ thẳng tay đàn áp. Sáng hôm sau, Freeland đắc thắng chở 2 quan chức chính phủ Tin Lành và một nhóm các nhà báo đi quanh các khu phố trên thùng sau một chiếc xe tải, khảo sát các con đường vắng tanh.

Quân đội Anh đã đến Bắc Ireland với những ý định tích cực nhất. Lực lượng cảnh sát địa phương bị quá tải, và họ chỉ đơn giản là đến để giúp đỡ – phục vụ như một nhà kiến tạo hoà bình giữa hai phe phái xung đột tại Bắc Ireland. Không phải một nước ngoài xa xôi nào đó: họ đã chiến đấu với chính đất nước của họ, ngôn ngữ của họ và văn hóa của họ. Họ có nguồn lực, vũ khí, binh lính và kinh nghiệm đè bẹp những nhân tố nổi loạn mà họ đang cố gắng có được. Khi Freeland đi trên các con phố vắng tanh ở Lower Falls vào buổi sáng hôm đó, ông tin rằng ông và người của mình sẽ được trở về quê hương vào cuối mùa hè. Nhưng đó không phải là những gì đã xảy ra. Thay vào đó, nó đã biến thành 30 năm đẫm máu và bạo loạn. 

Ở Bắc Ireland, người Anh đã phạm sai lầm quá dễ dàng. Họ rơi vào cái bẫy của niềm tin rằng bởi họ có nguồn lực, vũ khí, chiến sĩ, và kinh nghiệm đè bẹp quân nổi dậy, nên họ không màng đến việc người dân Bắc Ireland nghĩ gì về họ. 

“Người ta nói rằng hầu hết các cuộc cách mạng không phải được khởi xướng bởi các nhà cách mạng ngay từ đầu, mà bởi sự ngu ngốc và tàn bạo của chính phủ,” Seán MacStiofáin, Tham mưu trưởng đầu tiên của IRA lâm thời từng nói khi nhìn lại những năm tháng này. “và ở Bắc Ireland cũng vậy.”

3.

Để hiểu được sai lầm của Anh ở Bắc Ireland, cách đơn giản nhất là phác thảo ra hình ảnh của một lớp học. Đó là một lớp mẫu giáo, một phòng học với những bức tường đầy màu sắc được trang trí bằng các bức vẽ của lũ trẻ. Giả sử tên giáo viên là Stella. 

Lớp học được ghi hình như một phần trong một dự án tại Trường Curry trực thuộc Đại học Virginia, và có đủ các phân cảnh để hiểu rõ nhất về bản chất của cô Stella và lớp học cô ta phụ trách. Sau vài phút, mọi chuyện bắt đầu có dấu hiệu không tốt. 

Stella đang ngồi trước lớp. Cô cầm một cuốn sách và đọc to: “7 lát cà chua”, “8 giọt ô liu”, “9 lát pho mát...” Một học sinh ngồi trước mặt cô, cùng đọc, trong khi cả lớp đang nhốn nháo, tương trưng cho một Belfast thu nhỏ vào mùa hè năm 1970. Một bé gái đang chạy khắp phòng. Một cậu bé đang làm trò. Cả lớp không hề chú ý. Một số bé còn quay hẳn lưng về phía Stella.

Nếu bạn bước vào lớp của Stella, bạn sẽ nghĩ gì? Tôi nghĩ, trước hết, bạn sẽ cho rằng cô ta đang phụ trách một nhóm trẻ ngang bướng. Có lẽ cô ta đang phải dạy tại một trường học thuộc một khu phố nghèo và bọn trẻ đều xuất thân từ các gia đình gặp khó khăn. Có thể học sinh của cô ta đến trường mà không tôn trọng quy định hay nghiêm túc học tập. Leites và Wolf sẽ nói rằng cô ấy thực sự cần phải viện đến kỷ luật. Những đứa trẻ như thế cần một người “chắc tay”. Chúng cần được đưa vào khuôn khổ. Nếu không có trật tự trong lớp học, sao cô ta có thể dạy học? 

Dù vậy, thực tế, trường của Stella không thuộc một khu vực khó khăn nào đó. Bọn trẻ cũng không phải là các trường hợp cá biệt hay ngang bướng bất thường. Khi lớp học bắt đầu, chúng cư xử rất đúng mực, háo hức và sẵn sàng học hỏi. Chúng chỉ bắt đầu hành động sai trái khi bài học bắt đầu, và phản ứng trước cách Stella hành xử. Stella đã gây ra “sự lộn xộn”. Bằng cách nào vậy? Bằng phương pháp giảng dạy thật “kinh khủng” của cô ta.

Stella chọn một bé gái cùng đọc như một cách để thu hút các bé còn lại. Nhưng nhịp tương tác qua lại giữa hai người họ quá chậm chạp và rời rạc. “Hãy nhìn ngôn ngữ cơ thể của cô ta,” một trong những nhà nghiên cứu Virginia, Bridget Hamre, đã nói khi chúng tôi quan sát Stella. “Cô ta chỉ giao tiếp duy nhất với bé gái nọ.” Đồng nghiệp của cô, Robert Pianta, nói thêm: “Không nhịp điệu. Không tốc độ. Việc làm của cô ấy thật vô giá trị.”

Đến khi lớp bắt đầu nhốn nháo. Bọn trẻ gây lộn, nhưng Stella vẫn mặc kệ. Cô ta dán mắt vào cuốn sách và phớt lờ chúng. Bọn trẻ làm vậy bởi chúng không biết làm gì, chứ không phải không biết vâng lời. Tầm nhìn của chúng đến cuốn sách hoàn toàn bị bé gái ngồi trước mặt Stella che khuất. Chúng không thể theo kịp lời cô giáo nói. Chúng ta thường dùng quyền lực để đối phó với sự bất tuân: một đứa trẻ quậy phá, giáo viên phải dùng kỷ luật để giữ trật tự. Tuy nhiên, lớp học của Stella thì ngược lại: không vâng lời được dùng để phản ứng trước quyền lực. Nếu giáo viên không làm đúng phận sự, bọn trẻ sẽ không vâng lời.

“Với những lớp học như thế này, mọi người coi những gì đang diễn ra là vấn đề liên quan đến hành vi,” Hamre nói. Chúng tôi thấy một trong những học sinh của Stella quay ngang quay ngửa và làm bất cứ điều gì có thể để tránh né cô giáo. “Nhưng theo chúng tôi, đây là vấn đề về sự gắn kết chứ không phải vấn đề về hành vi. Nếu giáo viên mang lại sự thú vị, bọn trẻ sẽ háo hức tham gia vào bài học. Thay vì phản ứng theo cách ‘kiểm soát hành vi’, giáo viên cần hiểu, ‘tôi có thể làm điều gì đó thú vị khiến các em không hành xử sai lầm ngay từ đầu?’” 

Video tiếp theo mà Pianta và Hamre bật lên là cảnh một giáo viên lớp 3 giao bài tập về nhà cho học sinh của mình. Mỗi học sinh được phát một phiếu bài tập, sau đó, giáo viên và cả lớp đọc đồng thanh hướng dẫn. Pianta hoảng hốt. “Chỉ ý tưởng đọc đồng thanh hướng dẫn bài tập về nhà cho nhóm học sinh 8 tuổi thôi đã khủng khiếp rồi,” anh nói. “Ý tôi là, tại sao lại có kiểu hướng dẫn này?” Chúng biết đọc. Việc đọc đồng thanh chẳng khác nào việc người bồi bàn trong một nhà hàng đưa cho bạn menu và sau đó đọc tất cả đồ trong menu cho bạn.

Khi một cậu bé ngồi gần giáo viên giơ tay xin phát biểu ý kiến trong lúc cô đang đọc, cô không thèm nhìn cậu bé mà chụp lấy cổ tay của thằng bé dúi xuống. Một đứa trẻ khác bắt đầu làm bài tập được giao – một hành động hoàn toàn hợp lý, cho thấy sự vô lý ở hành động của giáo viên. Giáo viên gằn giọng gọi thằng bé. “Này con, đây là bài tập về nhà.” Đó là kỷ luật. Đứa trẻ đã phá vỡ các quy tắc. Giáo viên đã phản ứng tức thời và cứng nhắc. Nếu bạn nghe những gì giáo viên đã nói và quan sát nó dưới góc nhìn của trẻ thì rõ ràng nó có kết quả khác. Cậu bé không hiểu tầm quan trọng của việc tuân theo các quy tắc thay vào đó là sự giận dữ và thất vọng. Bởi hình phạt cô đưa ra hoàn toàn tùy tiện. Cậu không thể lên tiếng và giải thích. Nếu cậu bé có thái độ thách thức, thì đó là bởi cô giáo đã khiến cậu như vậy, cũng giống như Stella đã biến một học sinh háo hức và chăm chú trở thành đứa trẻ nghịch ngợm. Khi những người có quyền hành muốn những người còn lại hành xử đúng mực, điều đầu tiên và quan trọng nhất, đó là họ cũng phải cư xử đúng mực. 

Điều này được gọi là “nguyên tắc về sự hợp lý,” và sự hợp lý dựa trên ba điều. Trước hết, những người được yêu cầu tuân theo quyền lực phải cảm thấy họ có tiếng nói – rằng nếu họ lên tiếng, họ sẽ được lắng nghe. Thứ hai, luật lệ phải dễ đoán. Các quy tắc ngày mai sẽ gần giống như các quy tắc hôm nay. Và thứ ba, quyền lực này phải công bằng. Không thể đối xử với nhóm này khác nhóm kia.

Tất cả các bậc cha mẹ chuẩn mực đều ngầm hiểu ba nguyên tắc này. Nếu muốn Johnnie thôi không đánh em gái mình, bạn không thể ngoảnh mặt đi và quát thằng bé. Bạn không thể đối xử với cô em gái khác cậu anh trai khi con bé đánh anh mình. Và nếu thằng bé nói rằng nó không đánh em, bạn phải để con giải thích. Cách bạn phạt con cũng quan trọng như hành động tự trừng phạt của chính nó. Đó là lý do tại sao câu chuyện của Stella không có gì đáng ngạc nhiên. Bất cứ ai đã từng ngồi trong một lớp học đều biết rằng điều quan trọng là giáo viên phải có được sự tôn trọng từ học sinh.

Tuy nhiên, điều khó hiểu hơn là tầm quan trọng của những nguyên tắc tương tự khi nó trở thành luật và quy định. Chúng ta biết rõ cha mẹ và giáo viên của mình vì vậy có nghĩa rằng tính hợp lý hẳn giữ vai trò rất quan trọng ở nhà hoặc ở trường. Nhưng quyết định về việc liệu có nên cướp ngân hàng hoặc bắn một người nào đó có vẻ lại thuộc về một phạm trù khác? Đó là những gì Leites và Wolf ám chỉ khi họ nói rằng việc đấu tranh chống tội phạm và quân nổi dậy “không cần sự cảm thông”. Họ cho rằng ở cấp độ đó, quyết định tuân theo quy định là khả năng tính toán hợp lý các rủi ro và lợi ích. Nó không mang tính cá nhân. Nhưng đó chính là điểm mà họ đã sai lầm, bởi việc bắt tội phạm và các phần tử nổi dậy hành xử đúng mực hóa ra phụ thuộc vào sự hợp lý của việc bắt bọn trẻ cư xử đúng mực ở lớp học. 

4.

Ví dụ tôi sắp đưa ra liên quan đến một thử nghiệm đã được thực hiện trong vài năm qua ở Brownsville gần New York. Brownsville là khu vực chỉ có hơn 100.000 người, và nằm ở phía đông của Brooklyn, qua khu dành cho người giàu ở Park Slope và các Giáo đường Crown Heights. Trong hơn một thế kỷ, nó từng là một trong số những góc phố khốn khó nhất ở New York. Có 18 dự án nhà ở công tại Brownsville, nhiều hơn bất kỳ khu vực nào khác của thành phố: từng khối nhà san sát nhau, với lối phát triển về hạ tầng đặc biệt. Khi tỷ lệ tội phạm ở New York giảm đáng kể trong 20 năm qua, Brownsville vẫn luôn tụt lại phía sau, hàng nhóm thanh thiếu niên lang thang trên khắp các đường phố, trấn lột người qua đường. Thi thoảng, cảnh sát phải tăng cường lực lượng xuống các đường phố. Nhưng hiệu quả chỉ mang tính tạm thời.

Năm 2003, một sỹ quan cảnh sát tên Joanne Jaffe đã đảm nhận vị trí đứng đầu Văn phòng nhà ở của thành phố, nhóm chịu trách nhiệm chính cho các dự án nhà ở Brownsville. Cô quyết định thử một điều gì đó mới mẻ. Jaffe bắt đầu bằng việc đưa ra một danh sách các thanh thiếu niên ở Brownsville từng bị bắt giữ ít nhất một lần trong 12 tháng trước đó. Cuộc tìm kiếm đã mang lại 106 cái tên, tương ứng với 180 vụ bắt giữ. Jaffe giả định rằng bất cứ ai bị bắt vì tội trấn lột có thể bị bỏ tù ở đâu đó trong khoảng từ 20 đến 50 vụ phạm tội khác mà không bao giờ bị cảnh sát chú ý, vì vậy theo nguyên tắc ngón tay cái của cô, 106 người chưa thành niên chịu trách nhiệm cho khoảng 5.000 vụ phạm tội trong năm trước đó. 

Sau đó, cô đã điều một lực lượng cảnh sát đặc nhiệm liên hệ với từng người trong danh sách. “Chúng tôi nói với họ: ‘Các cô cậu là thành viên của một chương trình,’” Jaffe giải thích. “Và qua chương trình này, chúng tôi sẽ mang đến cho các cô cậu một lựa chọn. Chúng tôi sẽ cố gắng hết sức để giúp các cô cậu trở lại trường học, có được bằng tốt nghiệp trung học, để giúp đỡ gia đình, tìm ra ý nghĩa đích thực trong cuộc sống. Chúng tôi sẽ cung cấp cơ hội việc làm, cơ hội giáo dục, y tế, tất cả mọi thứ trong khả năng của chúng tôi. Chúng tôi muốn hợp tác với các cô cậu. Tuy nhiên, các cô cậu phải dừng hành vi phạm tội lại. Và nếu không, khi các cô cậu bị bắt vì bất cứ hành động phạm pháp nào, chúng tôi sẽ tìm mọi cách để tống các các cô cậu vào tù. Tôi không quan tâm mức độ nghiêm trọng của nó. Chúng tôi sẽ toàn quyền quyết định đến tương lai của các cô cậu.’”

Chương trình này mang tên J-RIP, hay Juvenile Robbery Intervention Program (Chương trình can thiệp trộm cướp vị thành niên). Nó không phức tạp, ít nhất là ở bề nổi. J-RIP là chính sách hiện đại cường độ cao, mang tính tiêu chuẩn. Jaffe đã đưa lực lượng đặc nhiệm J-RIP túc trực trong một chiếc xe moóc tại bãi đậu xe của một dự án nhà ở, không xa một nhà ga gần đó. Cô đã cung cấp mọi công cụ giám sát cho đội J-RIP của mình. Họ lập danh sách về bạn bè của mỗi J-Ripper – những người từng bị bắt giữ cùng chúng. Họ lên Facebook và tải ảnh của bạn bè chúng và tìm các băng đảng. Họ đã nói chuyện với anh chị em, mẹ của họ, và vẽ ra tấm bản đồ khổ lớn về mạng lưới bạn bè và người quen của mỗi người – giống như cách một tổ chức tình báo có thể theo dõi chuyển động của các nghi can khủng bố.

“Tôi điều người túc trực ở ngoài đó 24/7,” Jaffe nói. “Vì vậy, khi J-Ripper bị bắt, tôi sẵn sàng gửi đến một đội nếu cần. Tôi không quan tâm đó là ở Bronx, hay vào lúc nửa đêm. Chúng phải bị nghiêm trị. Chúng phải biết những gì sẽ xảy ra. Việc này phải diễn ra nhanh chóng. Nếu bị bắt, chúng sẽ thấy mặt tôi.”

Cô ấy tiếp tục, “tôi sẽ nói với chúng, ‘các cô cậu có thể đóng sầm cánh cửa khi tôi đến nhà. Nhưng tôi sẽ gặp các cô cậu trên phố. Tôi sẽ cất tiếng chào các cô cậu. Tôi sẽ tìm hiểu mọi thứ về các cô cậu.’ Chúng tôi nói điều gì đó với ai, ‘Johnnie, hãy đến văn phòng J-RIP vào ngày mai,’ và khi Johnnie đến, chúng tôi nói, ‘cậu đã bị chặn lại ở Bronx đêm qua. Cậu có giấy triệu tập.’ cô nói, ‘Cái gì?’ ‘Cậu đi cùng với Raymond Rivera và Mary Jones.’ ‘Làm sao mà cô biết điều đó?’ Họ bắt đầu nghĩ chúng tôi có mặt ở khắp nơi. Từ khi lập cho mỗi thanh niên một hồ sơ, chúng tôi đã cho chúng thấy chúng tôi biết gì về chúng. Chúng tôi muốn nói, ‘Đây là tất cả bạn bè của các cô cậu. Đây là tất cả thông tin về các cô cậu. Đây là hình ảnh về các cô cậu. Chúng tôi biết các cô cậu cũng liên quan đến sự việc này. Chúng tôi biết các cô cậu là thành viên của nhóm này. Chúng tôi biết hết về các cô cậu.’ Chúng tôi bắt đầu tìm hiểu về trường học chúng được cho là sẽ học, những người mà chúng giao du ở trường. Khi chúng không đến trường, chúng tôi sẽ được thông báo. Vì vậy, nhóm nghiên cứu JRIP của tôi đã ra ngoài kia và thức tỉnh chúng, ‘Hãy dậy đi!’” Nhưng đây chỉ là một phần trong chiến lược của Jaffe. Cô cũng làm những điều không giống như một chiến lược chính sách tiêu biểu. Ví dụ, cô đã dành rất nhiều thời gian tìm đúng kiểu sỹ quan làm việc trong lực lượng đặc nhiệm. “Tôi không thể chỉ đưa toàn cảnh sát vào đây,” cô nói giọng giống một nhân viên xã hội hơn là một cảnh sát trưởng. “Tôi phải có một cảnh sát yêu quý những đứa trẻ. Tôi phải có một cảnh sát không có chút suy nghĩ tiêu cực nào về chúng, và những người có khả năng giúp chúng hòa hợp và đưa chúng đi đúng hướng.” Để dẫn đầu nhóm, cô quyết định chọn David Glassberg, cựu sỹ quan về ma tuý rất thích trò chuyện với các con mình.

Ngay từ đầu, cô cũng bị ám ảnh với việc gặp gỡ gia đình của các J-Rippers để tìm hiểu về chúng. Hóa ra điều đó khó khăn đến mức đáng ngạc nhiên. Trước tiên, cô đã gửi thư đến mọi gia đình, mời họ đến một nhà thờ địa phương để gặp mặt. Không ai xuất hiện. Sau đó, Jaffe và đội của cô đến gõ cửa từng nhà. Một lần nữa, họ cũng chẳng thu được kết quả gì. “Chúng tôi đã đến từng gia đình của 106 trẻ,” cô nói. “Họ nói, ‘Chết tiệt. Đừng có đến nhà tôi.’”

Cuối cùng, phép màu cũng xuất hiện sau nhiều tháng chạy chương trình. “Có một đứa trẻ,” Jaffe nói. Cô đặt tên cho thằng bé là Johnnie Jones. “Đó là một đứa trẻ hư hỏng khoảng 14, 15 tuổi, sống với chị gái khoảng 17, 18 tuổi. Mẹ nó sống ở Queens. Mẹ bọn trẻ thậm chí rất ghét chúng tôi. Không ai để chúng tôi tiếp cận. Vì vậy, vào tháng 11 năm đầu tiên, năm 2007, Dave Glassberg đã đến văn phòng của tôi, vào thứ Tư trước lễ Tạ ơn. 

“Anh ấy nói, ‘Tất cả mọi người trong nhóm sẽ tập hợp lại và chúng ta sẽ mua cho Johnnie Jones và gia đình cậu bé bữa tối lễ Tạ ơn đêm nay.’” 

“Và tôi nói, ‘Anh đang đùa à?’ Nó là một đứa trẻ hư hỏng.”

“Và anh tiếp tục nói, ‘Cô biết tại sao chúng tôi làm điều đó không? Đó là một đứa trẻ hư hỏng nhưng có 7 đứa trẻ khác trong gia đình đó. Chúng ta phải làm điều gì đó cho chúng.’”

”Sau đó, anh nói, ‘Đúng vậy, chúng ta phải khiến tất cả các gia đình khác đón nhận chúng ta. Chúng ta sẽ phải làm gì?’ Lúc đó là 10 giờ sáng, ngày trước lễ Tạ ơn, tôi nói: ‘Dave, chuyện gì xảy ra nếu tôi đến gặp cảnh sát trưởng và xem liệu tôi có thể nhận được 2.000 đô-la và mua cho mỗi gia đình một con gà tây không? Chúng ta có thể làm điều đó không?’”

Cô ấy lên tầng trụ sở cảnh sát để khẩn nài viên cảnh sát trưởng trong 2 phút. “Tôi nói, ‘Đây là việc Dave Glassberg đã làm với đội. Tôi muốn mua 125 con gà tây. Tôi có thể lấy tiền ở đâu?’ Ông ấy đồng ý. Glassberg đã buộc cả đội phải làm thêm giờ. Lái chiếc xe chở gà đông lạnh và đến từng nhà trong các dự án Brownsville. Chúng tôi đặt chúng trong một chiếc túi, dán giấy nhớ: ‘Gia đình chúng tôi chúc gia đình bạn Lễ Tạ ơn an lành’.”

Jaffe đang ngồi trong văn phòng của mình tại trụ sở cảnh sát New York ở trung tâm thành phố Manhattan. Cô mặc quân phục – cao và nghiêm nghị, mái tóc đen dày và giọng nói đậm chất Brooklyn. 

“Chúng tôi gõ cửa,” cô tiếp tục. “Mẹ hoặc bà sẽ mở cửa và nói, ‘Johnnie, cảnh sát đang ở đây. Tôi sẽ nói, ‘Chào bà Smith, tôi là cảnh sát trưởng Jaffe. Chúng tôi có món quà tặng gia đình. Chúng tôi chỉ muốn chúc cả nhà một Lễ Tạ ơn vui vẻ.’ Và họ nói kiểu như, ‘đây là gì vậy?’ Và họ nói, ‘vào đi, mời các anh vào nhà’. Và tất cả mọi người sẽ chạy quanh, ôm nhau và khóc. 5 gia đình tôi đến đều như vậy. Và tôi luôn nói những câu tương tự như: ‘tôi biết đôi khi các bạn có thể ghét cảnh sát. Tôi hiểu tất cả những điều đó. Nhưng tôi chỉ muốn bạn biết rằng chúng tôi thực sự quan tâm, và thực sự muốn các bạn có một Lễ Tạ ơn vui vẻ.’”

Tại sao Jaffe lại bị ám ảnh với việc gặp gỡ gia đình các JRIPper? Bởi cô ấy không nghĩ rằng cảnh sát ở Brownsville được coi là công bằng. Ở khắp Hoa Kỳ, số lượng người da đen phải vào tù cao đến kinh ngạc. (Để đưa ra số liệu thống kê, 69% học sinh nam bỏ học trung học vào cuối những năm 1970 từng phải ngồi tù.) Brownsville là một khu phố đầy rẫy các học sinh nam da đen bỏ học, có nghĩa là hầu như mỗi tội phạm vị thành niên trong danh sách của Jaffe sẽ có một người anhngười chahay họ hàng từng ở tù. Nếu người thân của bạn từng ở tù, thì đối với bạn, luật lệ còn có vẻ công bằng nữa hay không? Liệu bạn có thể lên tiếng và được lắng nghe không? Jaffe nhận ra rằng khi cô đến Brownsville thì cảnh sát ở đây được người dân coi là kẻ thù. Và nếu cảnh sát được coi là kẻ thù, thì làm sao cô có thể khiến một đứa trẻ 15, 16 tuổi – từng trấn lột và ăn cắp – thay đổi cách sống của chúng? Cô có thể đe dọa chúng và cảnh báo chúng về những hậu quả thảm khốc nếu tiếp tục phạm tội. Nhưng đó chỉ là những đứa trẻ vị thành niên, những thanh thiếu niên bướng bỉnh và ngang ngạnh, đã bị cuộc sống xô đẩy dẫn đến phạm tội. Tại sao chúng phải nghe lời cô? Cô đại diện cho tổ chức đã từng đưa cha, anh và những người anh em họ của chúng vào tù. Cô cần giành lại sự tôn trọng của cộng đồng, và để làm điều đó, cô cần sự hỗ trợ từ các gia đình của các thành viên J-Riper. Bài phát biểu ngắn gọn của cô ở Lễ Tạ ơn đầu tiên ấy – tôi biết đôi khi các bạn có thể ghét cảnh sát. Tôi hiểu tất cả những điều đó. Nhưng tôi chỉ muốn các bạn biết, cũng như việc chúng tôi đang quấy rầy bạn bằng cách gõ cửa nhà bạn, rằng chúng tôi thực sự quan tâm và muốn các bạn có một Lễ Tạ ơn an lành – là một lời kêu gọi hợp pháp. Cô đã cố gắng khiến các gia đình phản đối luật pháp – có lúc là trong nhiều thế hệ – thấy rằng luật pháp có thể đứng về phía họ. 

Sau thành công với việc tặng gà tây, Jaffe bắt đầu chương trình tặng quà Giáng sinh. Lực lượng đặc nhiệm J-RIP bắt đầu chơi bóng rổ với những đứa trẻ. Họ đưa chúng ra ngoài ăn sushi. Họ tìm việc làm thêm vào mùa hè cho chúng. Họ lái xe đưa chúng đến các cuộc hẹn với bác sĩ. Sau đó, Jaffe tổ chức một bữa tiệc Giáng sinh, mà mỗi J-Ripper được phép mời cả gia đình mình đến. “Bạn biết tôi làm gì với bọn trẻ ở bữa tiệc Giáng sinh chứ?” Jaffe nói. “Chúng luống cuống trước bạn bè mình. Vì vậy, tôi đã ôm từng đứa. Và luôn miệng nói, ‘Lại đây. Hãy ôm nhau nào.’” 

Điều này nghe có vẻ giống một bộ phim Hollywood dở tệ, phải không? Lý do hầu hết các sở cảnh sát trên thế giới không làm theo Jaffe đó là đối với họ, những gì cô ấy đã làm có vẻ không hợp lý. Johnnie Jones là một đứa trẻ hư hỏng. Mua thực phẩm và đồ chơi cho những người như thằng bé có vẻ là thứ đặc ân tồi tệ nhất. Nếu cảnh sát trưởng trong thị trấn của bạn thông báo, khi đối mặt với một làn sóng tội phạm lớn, rằng cô sẽ ôm và cung cấp đồ ăn cho những tên tội phạm lang thang trên phố, bạn sẽ để yên chứ? Hãy quan sát những gì đã đang xảy ra ở Brownsville.

Khi Leites và Wolf viết rằng “ảnh hưởng đến hành vi phổ biến không cần cả sự cảm thông lẫn phép màu”, họ muốn ám chỉ rằng quyền lực của nhà nước là vô hạn. Nếu muốn áp đặt trật tự, bạn không phải lo lắng về những gì mà người bị áp đặt nghĩ về bạn bởi bạn ở cấp cao hơn họ. Jaffe đã chứng minh được rằng nếu quá lo lắng đến suy nghĩ của người khác về mình, thì những người đưa ra mệnh lệnh lại càng dễ bị tổn thương trước quan điểm của những người mà họ áp đặt lệnh hoặc quy định.

Đó là sai lầm mà tướng Freeland đã mắc phải ở Lower Falls. Ông không quan sát những gì đang xảy ra thông qua lăng kính của những người như Rosemary Lawlor. Ông nghĩ mình sẽ kết thúc được cuộc nổi dậy khi sử dụng vũ lực và đàn áp để rồi nhận thấy rằng cuộc nổi dậy mới chỉ bắt đầu.

5.

Tháng 7 ở Bắc Ireland được coi là “mùa biểu tình”, khi những người theo đạo Tin Lành của đất nước này tổ chức diễu hành để kỷ niệm chiến thắng nhiều năm trước của họ trước số ít người Công Giáo trong nước. Các cuộc diễu hành của nhà thờ, các cuộc diễu hành với “biểu ngữ, băng rôn và khẩu hiệu”, diễu hành nhóm kỷ niệm, và diễu hành “máu và sấm sét”, diễu hành “đuổi cổ Đức Giáo Hoàng”. Có những cuộc diễu hành với vòng bạc, diễu hành với kèn túi, diễu hành với đàn xếp, và diễu hành với những người biểu tình mặc những bộ vest đen và đeo thắt lưng kèm mũ quả dưa. Có hàng trăm các cuộc diễu hành tất thảy, với sự góp mặt của hàng chục ngàn người, mà đỉnh điểm mỗi năm, là cuộc hành quân quy mô lớn vào ngày 12/7, đánh dấu chiến thắng của William of Orange trong trận chiến Boyne năm 1690, khi người theo đạo Tin Lành kiểm soát Bắc Ireland mãi mãi.

Trong đêm trước ngày 12, những người biểu tình trên toàn Ireland tổ chức các bữa tiệc đường phố và đốt những đống lửa rất lớn. Khi lửa bùng lên, nhóm sẽ chọn một biểu tượng để đốt. Trong những năm qua, biểu tượng đó thường là hình nộm Đức Giáo Hoàng hoặc một số quan chức Công Giáo địa phương mà họ ghét. Giai điệu bài hát ngày 12 được hát theo giai điệu bài “Clementine”:

Đốt lửa lên, đốt lửa lên,

Đưa người Công Giáo lên đầu đài, 

Đặt Đức Giáo Hoàng vào giữa, 

Và đốt hết lũ chết tiệt đó đi.

Bắc Ireland không phải là một đất nước rộng lớn. Các thành phố của nó đông đúc và có diện tích khá nhỏ, vì vậy khi những người Trung Thành diễu hành vào mỗi mùa hè trong trang phục mũ quả dưa, khăn thắt lưng và sáo, họ chắc chắn sẽ đi qua các khu dân cư của những người đang ăn mừng thất bại của họ. Con đường huyết mạch ở khu Tây Belfast của người theo Công Giáo có nơi chỉ cách vài phút đi bộ từ các con phố chạy qua trung tâm Tây Belfast của người Tin Lành. Có những nơi ở Belfast, những ngôi nhà của người Công Giáo liền kề với sân sau của nhà người theo đạo Tin Lành, ở đó, gần như mỗi nhà đều có lưới sắt lớn bao trọn khu sân sau để tránh bị bom xăng ném vào nhà từ khu lân cận. Vào đêm trước ngày 12, khi những người Trung Thành đốt lửa xung quanh thành phố, người dân ở khu dân cư Công Giáo sẽ ngửi thấy mùi khói, nghe Kinh thánh và thấy lá cờ của họ bay trong lửa. 

Trong mùa diễu hành, bạo lực luôn nổ ra ở Bắc Ireland. Một trong những sự cố châm ngòi cho bạo động đó là vào năm 1969, một cuộc diễu hành đã dẫn qua một khu phố Công giáo 2 ngày sau khi bạo loạn nổ ra. Khi những người biểu tình trở về nhà, họ đã nổi điên trên các đường phố Tây Belfast, đốt rụi các ngôi nhà. Các cuộc đọ súng vào mùa hè sau đó, để thử lòng kiên nhẫn của Freeland, cũng đã xảy ra trong các cuộc tuần hành của người theo đạo Tin Lành. Hãy tưởng tượng rằng vào mỗi mùa hè, các cựu chiến binh Mỹ từ các bang miền Bắc diễu hành qua các đường phố Atlanta và Richmond để kỷ niệm chiến thắng rất lâu trước đó trong cuộc Nội chiến Mỹ. 

Vào chiều hôm đó, khi các cư dân ở Lower Falls nhìn thấy quân đội Anh đổ về các khu phố của họ, họ rất đỗi tuyệt vọng. Họ cũng tỏ ra lo lắng về cách pháp luật và trật tự sẽ được thực thi. Ngày 12, khi cả lá cờ của họ và hình nộm Đức Giáo hoàng bị đốt trong đống lửa khổng lồ, qua đi. Tổ chức có nhiệm vụ tách riêng hai phe trong suốt mùa diễu hành là lực lượng cảnh sát Ulster Constabulary hoàng gia. Nhưng RUC lại gồm toàn người theo đạo Tin Lành. Nó thuộc về phe bên kia. Các thành viên RUC hầu như không làm gì để ngăn chặn các cuộc bạo loạn xảy ra vào mùa hè trước; một tòa án được triệu tập bởi Chính phủ Anh đã kết luận, sau khi những người Trung Thành với đạo Tin Lành đốt nhà, các nhân viên RUC đã “không thể hành động hiệu quả.” Các nhà báo tại hiện trường đã thông báo rằng những người Trung Thành sẽ tiến tới để gặp cảnh sát và đề nghị mượn họ vũ khí. Một trong những lý do mà quân đội Anh được đưa vào Bắc Ireland là để giữ nhiệm vụ của một trọng tài giữa phe Tin Lành và Công Giáo. Nhưng Anh lại là một quốc gia với số lượng người theo đạo Tin Lành áp đảo, vì vậy những người Công Giáo ở Bắc Ireland thấy rõ mối thiện cảm của những người lính sẽ thuộc về người theo đạo Tin Lành. Khi một cuộc biểu tình của những người Trung Thành diễu qua Ballymurphy vào dịp lễ Phục sinh trước lệnh giới nghiêm, quân Anh đã đứng giữa người biểu tình và người dân, bề ngoài giữ vai trò như một bên trung gian. Nhưng quân đội đã đứng đối mặt với những người Công Giáo trên vỉa hè và quay lưng về phía những người Trung Thành, như thể nhiệm vụ của họ là bảo vệ những người Trung Thành trước những người Công Giáo thay vì ngược lại. 

Tướng Freeland đã cố gắng thực thi pháp luật ở Belfast, nhưng đầu tiên ông cần phải tự hỏi rằng liệu ông có quyền thực thi luật pháp không – sự thật là không. Ông đang phụ trách một tổ chức mà người Công Giáo ở Bắc Ireland tin rằng, với lý do chính đáng, đang hoàn toàn cảm thông với những kẻ đã đốt nhà của bạn bè và người thân họ trong mùa hè trước. Khi luật pháp được thực thi nhưng thiếu tính hợp lý, nó sẽ không được tâm phục khẩu phục mà tạo ra một sự phản ứng dữ dội. 

Nghi vấn lớn về Bắc Ireland đó là tại sao người Anh lại mất quá nhiều thời gian để hiểu ra điều này. Trong năm 1969, các vụ bạo động đã dẫn đến việc 13 người bị chết, 73 vụ nổ súng và 8 vụ đánh bom. Trong năm 1970, Freeland đã quyết định phải mạnh tay với những tên côn đồ và các tay súng, cảnh báo rằng bất cứ ai bị bắt trong những vụ ném bom xăng sẽ “bị bắn”. Chuyện gì đã xảy ra sau đó? Nhà sử học Desmond Hamill viết:

Các [IRA] đã trả đũa bằng cách nói rằng họ sẽ xả súng vào quân lính, nếu người Ireland bị bắn. Lực lượng quân tình nguyện Ulster Tin Lành – một đơn vị bán quân sự bất hợp pháp – đã nhanh chóng tham gia, và bắn một người Công Giáo nếu mỗi lính IRA bị bắn. Tạp chí Times dẫn lời một công dân Belfast: “Bất cứ ai tỉnh táo đều hiểu những gì đang xảy ra.”

Năm đó, đã có 25 trường hợp tử vong, 213 vụ nổ súng, và 155 vụ đánh bom. Người Anh vẫn kiên định. Họ đàn áp thậm chí gắt gao hơn – và trong năm 1971, đã có 184 trường hợp tử vong, 1020 vụ đánh bom và 1756 vụ nổ súng. Sau đó, người Anh đã vạch rõ một lằn ranh. Quân đội thiết lập một chính sách được gọi là “tập trung”. Dân quyền ở Bắc Ireland bị đình chỉ. Đất nước bị ngập lụt đội quân, và quân đội tuyên bố rằng bất cứ ai bị nghi ngờ hoạt động khủng bố có thể bị bắt và bỏ tù vô hạn định, mà không qua xét xử. Vì vậy, rất nhiều người Công Giáo trẻ bị bắt giam trong suốt giai đoạn “tập trung” đến mức ở một khu phố như Ballymurphy, mọi người đều có ít nhất một người thân bị bỏ tù. Nếu có nhiều người thân của bạn từng bị bỏ tù, liệu luật pháp đối với bạn có còn vẻ công bằng nữa không? Trong năm 1972, đã có 1.495 vụ nổ súng, 531 vụ cướp vũ trang, 1.931 vụ đánh bom, và 497 người thiệt mạng. Trong số người thiệt mạng đó có một cậu bé 17 tuổi tên là Eamon. Eamon là em trai của Rosemary Lawlor. 

“Eamon xuất hiện ở cửa nhà tôi,” Lawlor nói. “Thằng bé nói với tôi, ‘em muốn ở lại đây 1 hoặc 2 ngày. Và tôi nói, ‘Tại sao không?’ Sau đó, thằng bé tâm sự với tôi và chồng tôi rằng nó đã bị quân đội Anh quấy rối. Mỗi khi ra ngoài, mọi nơi nó đến, họ đều chặn nó lại và đe dọa.”

Thực sự có phải nó làm việc cho IRA không? Cô không biết, và cô nói điều đó không quan trọng. “Chúng tôi đều là nghi phạm trong mắt họ”, cô nói tiếp. “Eamon đã bị bắn bởi một lính Anh. Nó và một đồng nghiệp khác đang hút thuốc và tiếng nổ vang lên, Eamon lĩnh trọn phát đạn. Nó sống được thêm 11 tuần. Thằng bé mất vào ngày 16/1, khi mới 17 tuổi rưỡi.” Cô bắt đầu khóc. “Cha tôi không bao giờ làm việc tại bến tàu nữa. Mẹ tôi suy sụp. Đã 40 năm rồi, nhưng điều đó vẫn gây nhức nhối.”

Lawlor là một người vợ trẻ, một người mẹ, sống tại Belfast hiện đại. Nhưng sau đó, cô bị mất nhà, bị đe dọa và quấy rối. Người thân của cô ở khu dưới đồi bị giam cầm trong chính ngôi nhà của họ. Em trai cô đã bị bắn chết. Cô không bao giờ muốn hay nghĩ rằng những điều đó xảy ra. “Quân đội Anh đến để bảo vệ chúng tôi bây giờ đã quay ra tàn phá nơi này. Tôi không thể ngồi yên trong nhà khi điều này xảy ra. Tôi không thể chỉ là một bà nội trợ.” 

“Mọi người gọi đó là cuộc Tàn sát,” cô tiếp tục. “Đó là chiến tranh! Quân đội Anh ở ngoài kia với những chiếc xe bọc thép, vũ khí, vv... Chúng ta đang sống trên chiến trường. Quân đội Anh đã đến đây để nhấn chìm chúng tôi. Và chúng tôi giống như những con búp bê cao su có khả năng đàn hồi. Chúng tôi đã bị tổn thương. Rất nhiều người đã không thể đứng dậy. Đó không phải là tính cách của tôi hay con người tôi. Chính hoàn cảnh đã xô đẩy tôi.”

6.

Khi quân của tướng Freeland đổ về Lower Falls, việc đầu tiên mà người dân làm là chạy đến Nhà thờ Thánh Peter, Giáo hội Công Giáo địa phương chỉ cách đó vài khu phố. Đặc điểm của khu vực Lower Falls, giống như rất nhiều khu dân cư Công Giáo khác ở Tây Belfast, đó là tôn giáo của nó. St. Peter là linh hồn của khu vực này. Người đàn ông quan trọng nhất trong cộng đồng là linh mục địa phương. Ông đã đến gặp quân lính. Cuộc tấn công phải được thực hiện một cách nhanh chóng, ông đã cảnh báo họ, nếu không rắc rối sẽ xuất hiện. 

45 phút trôi qua, quân lính xuất hiện: 15 súng ngắn, súng trường, súng tiểu liên Schmeisser, và thùng chất nổ và đạn dược. Nhóm tuần tra sắp xếp rời đi, rẽ vào một con đường tắt đưa họ ra khỏi Lower Falls. Tuy nhiên, trong thời gian đó, một đám đông nhỏ đã tụ tập lại, và khi xe thiết giáp rẽ ở góc đường, một số nam thanh niên đã chạy về phía trước và bắt đầu ném đá vào các binh sĩ. Đoàn tuần tra dừng lại. Đám đông càng tức giận. Những người lính đã đáp trả bằng hơi cay. Đám đông càng giận dữ hơn. Những người nổi loạn thiết lập rào chắn để ngăn bước tiến của quân đội: một chiếc xe tải bị đốt cháy, chặn đứng ở cuối phố. Quân lính càng bắn nhiều hơi cay hơn, cho đến khi Lower Falls mịt mù trong hơi cay. Đám đông vẫn ngày càng giận dữ hơn. 

Tại sao đoàn tuần tra dừng lại? Tại sao họ không tiếp tục đi? Họ lần lữa trên phố chính xác như những gì vị linh mục bảo họ không được làm. Vị linh mục trở lại với những người lính và cầu xin họ một lần nữa. Ông nói, nếu họ ngừng dùng hơi cay, ông sẽ ngăn đám đông ném đá. Nhưng họ không nghe, họ cương quyết trước những tên côn đồ và các tay súng. Vị linh mục quay lại nhìn đám đông. Ngay lúc đó, những tay lính xịt một vòng hơi cay. Hộp đựng bánh thánh rơi xuống chân linh mục, ông loạng choạng trên đường phố, dựa trên một khung cửa sổ và thở hổn hển. Trong một khu phố sùng đạo, quân đội Anh đã xả hơi cay vào linh mục.

Đó là khi cuộc bạo loạn được châm ngòi. Freeland kêu gọi thêm quân tiếp viện. Để thu phục một cộng đồng 8.000 người – sống trong những ngôi nhà nhỏ dọc theo các đường phố hẹp – người Anh đã mang đến 3.000 quân. Và không chỉ có quân đội. Đối với một khu phố sùng Công Giáo, Freeland đã mang đến binh lính từ Hoàng gia Scotland đến – một trong những trung đoàn ủng hộ đạo Tin Lành rõ rệt nhất. Máy bay trực thăng quân đội bay vòng trên không, ra lệnh cho người dân buộc phải ở trong nhà. Rào chắn được đặt ở mọi lối ra. Lệnh giới nghiêm đã được công bố, và các cuộc lục soát từng nhà bắt đầu. Những binh sĩ 20, 21 tuổi, vẫn đau đớn do bị ném đá và bom xăng, xông vào từng nhà, đục lỗ các bức tường và trần nhà, lục soát các phòng ngủ. Một trong những binh sĩ Anh, có mặt trong đêm đó nhớ lại: 

Một anh chàng vẫn mặc đồ ngủ, lao ra chửi rủa, tay cầm chiếc đèn ngủ phang vào đầu Stan. Stan né cú đánh tiếp theo và dùng báng súng thọi lại. Tôi biết rõ rằng rất nhiều người đã lợi dụng cơ hội này để thể hiện sự giận dữ của họ trước những điều đã xảy ra. Tất cả mọi thứ trong nhà đều trở thành đống đổ nát: những bức ảnh gia đình; nữ trang và thánh giá, tiếng trẻ em khóc, mặt kính vỡ lạo xạo trên bức hình của Đức Giáo Hoàng; một cơ thể bị dính đét vào tường trong hội trường; vv… Đó là khi tôi thực sự cảm thấy chúng tôi như đang bị xâm lược. 

337 người đã bị bắt giữ vào đêm đó. 60 người bị thương. Charles O’Neill, một cựu chiến binh không quân tàn tật, đã bị một chiếc xe bọc thép của Anh chèn chết. Khi cơ thể của ông nằm trên mặt đất, một trong những tay lính đã bị một người ngoài cuộc cầm gậy thúc vào người và nói: “Đi nhanh, tên Ireland khốn kiếp – hắn đáng chết.” Một người đàn ông tên Thomas Burns đã bị một tay lính bắn trên đường Falls vào lúc 8 giờ khi anh đang đứng với một người bạn và chuẩn bị trèo lên cửa sổ cửa hàng mình. Khi em gái của anh đến và nhặt xác anh mình, bọn chúng đã bảo cô rằng cô chẳng có việc quái gì trên đường vào giờ này. Lúc 23 giờ, một ông già tên là Patrick Elliman nghĩ điều tồi tệ nhất đã qua đi, chân xỏ xép đi trong nhà và mặc đồ ngủ bước ra để đi dạo trước khi đi ngủ. Ông qua đời trong một vụ nổ súng của binh lính. Một trong những người hàng xóm cũng từng trải qua lệnh giới nghiêm nói:

Đêm muộn hôm đó, quân Anh đã đến và tự đóng quân ở nhà một người đàn ông bị bắn, người em gái vô cùng tức giận đã chuyển đến nhà người anh khác ở đầu phố. Chiều hôm sau đó, binh sỹ cũng đã tự tiện xâm nhập vào một ngôi nhà bỏ trống trong khoảng thời gian “giới nghiêm” khi người anh, cùng với con gái và con rể, trở về nhà và thấy cửa chính bị đạp đổ, cửa sổ bị hỏng, đồ đạc nằm lăn lóc trên sàn, dao cạo râu vứt bừa trên trường kỷ, bát đĩa bẩn đầy trong bồn. Hàng xóm báo cho họ biết rằng các binh sĩ đã ngủ qua đêm ở các phòng trên tầng. 

Leites và Wolf tin rằng các quy tắc và nguyên tắc phải hợp lý. Nhưng quan trọng nhất là hàng trăm những điều nhỏ nhặt cần phải làm – hoặc không làm – để tạo ra sự hợp pháp, giống như việc ngủ trên giường của một người đàn ông vô tội mà bạn vừa bắn và vứt bừa đồ đạc của bạn ở khắp nhà anh ta.

Đến sáng Chủ nhật, tình hình ở Lower Falls càng trở nên tuyệt vọng hơn. Lower Falls không phải là một khu phố giàu có. Rất nhiều người thất nghiệp, hoặc chỉ có công việc thời vụ. Đường phố đông đúc, những căn nhà hẹp – được dựng tuềnh toàng bằng gạch đỏ từ thế kỷ XIX, với mỗi phòng một tầng, và các phòng tắm ở sân sau. Rất ít nhà có tủ lạnh. Chúng tối và ẩm ướt. Mọi người phải mua bánh mì hàng ngày bởi nếu để qua ngày, nó sẽ sớm bị mốc. Nhưng lệnh giới nghiêm đã kéo dài 36 tiếng và không còn bánh mì trong nhà. Các khu dân cư Công Giáo ở Tây Belfast gắn bó chặt chẽ với nhau, và được kết nối bởi rất nhiều mối quan hệ về hôn nhân và máu thịt, đến mức tình hình của Lower Falls đã lây lan rất nhanh chóng. Harriet Carson đã đi qua Ballymurphy, đập hai chiếc nắp nồi vào nhau. Tiếp đến là một phụ nữ tên Máire Drumm. Cô ấy có một chiếc tù và. Cô từng đi qua các đường phố, cất cao giọng gọi: “Hãy đi ra! Hãy chất đầy xe đẩy của các chị bằng bánh mì và sữa! Bọn trẻ đã không được ăn quá lâu rồi.”

Phụ nữ bắt đầu tụ tập thành nhóm đến khi con số này lên tới hàng ngàn người. Lawlor nhớ lại. “Chúng tôi nắm tay và hát, ‘Chúng ta sẽ vượt qua. Rồi ngày nào đó, chúng ta sẽ vượt qua’.”

“Chúng tôi đã xuống đến dưới chân đồi,” cô tiếp tục. Bầu không khí nóng dần lên. Quân Anh đã chuẩn bị sẵn mũ và súng. Dùi cui của họ được rút ra. Chúng tôi quay lại và đi xuống đường Grosvenor, vừa đi vừa ca hát. Tôi nghĩ rằng lính Anh đã rất kinh ngạc. Họ không thể tin rằng những phụ nữ đẩy xe có thể xuống và lấy đồ. Tôi nhớ là đã thấy một tên lính đứng đó gãi đầu, “chúng ta sẽ làm gì với những người phụ nữ đó? Chúng ta sẽ rơi vào tình hình bạo loạn ở đây mất?’ Sau đó, chúng tôi rẽ vào đường Slate. Và quân Anh cũng ở đó. Họ lao ra đấu tay đôi, túm tóc chúng tôi. Lính Anh tóm lấy chúng tôi và ném vào tường. Họ đã đánh bại chúng tôi như thế. Và nếu ngã, bạn phải bật dậy rất nhanh, nếu không muốn bị giẫm lên. Họ hết sức tàn bạo. Tôi nhớ lúc đó đã đứng lên trên nóc một chiếc xe và quan sát những gì đang diễn ra ở phía trước. Sau đó, tôi nhìn thấy một người đàn ông mặt đầy kem cạo râu, và đang lắp niềng răng vào – và bất ngờ quân lính thôi đàn áp chúng tôi.” 

Người đàn ông đang đeo niềng răng là sỹ quan chỉ huy của điểm kiểm soát đường Slate. Ông có thể là người duy nhất có quan điểm sáng suốt về phía quân đội Anh ngày hôm đó, người duy nhất hiểu hết được tầm cỡ của thảm họa đang diễn ra. Một nhóm được trang bị vũ trang đang đánh đập một nhóm phụ nữ đẩy xe đến để lấy thực phẩm cho các con ở Lower Falls. Ông đã ra lệnh cho họ dừng lại. 

“Biểu tình vẫn diễn ra trên đường phố, và những người ở phía sau không biết về những gì đang diễn ra ở phía trước,” Lawlor tiếp tục. “Họ tiếp tục tiến lên. Các phụ nữ đang khóc. Mọi người bắt đầu ra khỏi nhà – kéo họ vào bởi rất nhiều người trong đó bị thương. Khi mọi người bắt đầu ra khỏi nhà, quân Anh bị mất kiểm soát. Hàng ngàn người đổ dồn ra phố, như một hiệu ứng domino. Lần lượt ở từng con phố, các cánh cửa nhà bật mở. Lính Anh đã từ bỏ. Họ đã đầu hàng. Các phụ nữ bị buộc phải vào nhà – và đến khi chúng tôi vào nhà, lệnh giới nghiêm đã bị phá vỡ. Tôi thường nghĩ về điều đó. Tất cả mọi người đều hân hoan. Nó giống như cảm giác – chúng ta đã làm được.

“Tôi nhớ đã về nhà và đột nhiên cảm thấy run bắn, khó chịu và lo lắng về toàn cảnh đã diễn ra. Tôi nhớ đã nói chuyện với cha tôi về điều đó sau này. Tôi nói rằng, “Cha, những lời cha nói đã trở thành sự thật. Họ đã quay lưng lại với chúng ta.’ Và ông nói, ‘Đúng. Quân đội Anh – đó là những gì họ đã làm.’ Ông đã nói đúng. Họ đã quay lưng lại chúng tôi.”

Dịch giả Nguyễn Văn Tân, Nguyễn Trang
Nguồn: TVE-4U
Được bạn: Mọt Sách đưa lên
vào ngày: 18 tháng 10 năm 2026

« Lùi Tiến »

💬 Thảo luận

Chưa có bình luận nào — hãy là người đầu tiên chia sẻ cảm nhận của bạn!

Đăng nhập để tham gia bình luận.