David & Goliath - Cuộc Đối Đầu Kinh Điển Và Nghệ Thuật Đốn Ngã Những Gã Khổng Lồ

Lượt đọc: 295 | 0 Đánh giá: 0/10 Sao
★★★★★★★★★★
★★★★★★★★★★
« Lùi Tiến »
4. David Boies

❊ ❊ ❊

Bạn không mong con mình gặp chứng khó đọc, phải vậy không?

 1.

Nếu nội soi não người mắc chứng khó đọc, bạn sẽ thấy hình ảnh nhận được có vẻ lạ. Ở một số phần quan trọng nhất định thuộc não bộ − những phần chi phối việc đọc và xử lý từ ngữ − ở người mắc chứng khó đọc ít chất xám hơn bình thường. Họ không có nhiều tế bào não ở những khu vực này. Khi thai nhi phát triển trong tử cung, các tế bào thần kinh được cho là sẽ tiến đến các khu vực thích hợp của não bộ, “giữ chỗ” như các ô trên bàn cờ. Nhưng vì lý do nào đó, các tế bào thần kinh của người mắc chứng khó đọc đôi khi đến nhầm chỗ. Não bộ có một hệ thống não thất, có chức năng như lối vào và lối ra của não. Những người mắc chứng khó đọc có các tế bào thần kinh xếp thứ tự ở tâm thất, như các hành khách mắc kẹt tại sân bay. 

Nếu bạn yêu cầu người mắc chứng khó đọc đọc khi họ đang soi não, các phần được cho là sẽ sáng lên sẽ không sáng lên. Hình ảnh quét não trông giống như một bức ảnh chụp thành phố vào ban đêm từ trên cao xuống. Những người gặp chứng khó đọc sử dụng bán cầu não phải trong quá trình đọc nhiều hơn người bình thường. Bán cầu não phải thiên về khái niệm. Nó không được sử dụng để thực hiện nhiệm vụ cần đến sự chính xác và nghiêm ngặt như đọc sách. Có lúc, khi người mắc chứng khó đọc đọc sách, các bước sẽ bị chậm hơn so với người thường, như thể phần não chi phối hoạt động đọc kết nối với nhau thông qua một kênh rất yếu. Để kiểm tra một đứa trẻ xem chúng có mắc chứng khó đọc không, hãy để đứa trẻ đó tham gia vào hoạt động “gọi tên nhanh”. Đưa cho bé xem các màu lần lượt − một chấm đỏ, rồi đến một chấm xanh lá cây, sau đó một chấm xanh da trời, cuối cùng là một chấm vàng – rồi kiểm tra phản ứng của bé. Nhìn màu. Nhận biết màu. Ghép tên gọi với màu. Nói ra tên màu. Đó là phản ứng tự động ở hầu hết chúng ta. Nhưng với người gặp rối loạn về khả năng đọc; ở đâu đó trong tiến trình này, liên kết giữa bốn bước trên bắt đầu bị phá vỡ. Hỏi một bé 4 tuổi: Con nói từ “banana” mà không có chữ “b” được chứ? Hoặc nói: Nghe ba âm sau: c, a, và t. Con có thể ghép thành từ cat được không? Hoặc ví dụ từ “cat”, “hat”, “dark”. Đây là các câu hỏi đơn giản đối với hầu hết các bé 4 tuổi. Nhưng lại là các câu hỏi thực sự rất khó đối với các bé mắc chứng khó đọc. Nhiều người từng nghĩ rằng những người gặp chứng khó đọc được cho là luôn đọc ngược các từ − “cat” thành “tac” hoặc cái gì đó tương tự như thế − khiến chứng khó đọc là một vấn đề về cách nhìn nhận từ. Nhưng thực tế, nguyên nhân còn sâu xa hơn. Chứng khó đọc là một vấn đề về cách mọi người nghe và thao tác âm. Sự khác biệt giữa “b” và “d” nằm ở 40 phần nghìn giây đầu tiên của âm tiết. Ngôn ngữ của con người được dựa trên giả định cho rằng chúng ta có thể nhận ra 40 phần nghìn giây khác biệt đó, và sự khác biệt giữa âm “b” và âm “d” có thể là sự khác biệt giữa nhận thức một cái gì đó đúng và một cái gì đó sai hoàn toàn. Bạn có thể tưởng tượng ra hậu quả của việc có một bộ não quá chậm chạp đến mức khi các phần riêng rẽ của từ được ghép với nhau, 40 phần nghìn giây này liệu có trôi qua quá nhanh?

“Nếu bạn không có khái niệm nào về các âm ngôn ngữ − nếu bạn bỏ một từ, một âm và bạn không biết phải làm gì, thì sẽ thật khó để đọc văn bản,” Nadine Gaab, nhà nghiên cứu chứng khó đọc tại Đại học Harvard, giải thích. “Bạn có thể mất chút thời gian để học đọc. Bạn đọc rất chậm, điều đó làm giảm khả năng đọc trôi chảy, rồi đến khả năng đọc hiểu của bạn, bởi bạn đọc quá chậm nên đến khi bạn kết thúc câu, bạn đã quên mất phần đầu câu là gì. Vì vậy, nó dẫn đến mọi vấn đề ở trường. Sau đó, nó bắt đầu ảnh hưởng đến mọi môn học. Bạn sẽ làm gì trong các bài kiểm tra toán có nhiều chữ? Hay các bài thi môn xã hội mà bạn phải cần hai giờ để đọc đề? 

“Thường thì, bạn có thể được chẩn đoán bệnh năm lên 8 hoặc 9 tuổi,” cô tiếp tục. “Và chúng tôi thấy rằng đến thời điểm đó, bệnh đã gây ra rất nhiều tác động nghiêm trọng đến tâm lý rồi. Bạn có thể là đứa trẻ hiếu động từ năm 4 tuổi. Nhưng khi học mẫu giáo, tất cả các bạn của bạn bắt đầu biết đọc còn bạn thì không. Vì vậy, bạn chán nản. Các bạn của bạn có thể nghĩ bạn ngốc nghếch. Cha mẹ bạn có thể nghĩ bạn lười biếng. Bạn không biết tự trọng, điều đó dẫn đến tỷ lệ trầm cảm cao. Trẻ mắc chứng khó đọc có thể mắc kẹt ở tuổi thiếu niên bởi chúng rất hiếu động. Bởi chúng không thể nhận thức được mọi thứ. Trong xã hội của chúng ta, khả năng đọc giữ vai trò rất quan trọng.”

2.

Từ đầu cuốn sách đến giờ, chúng ta đã xem xét việc chúng ta thường nhầm lẫn về bản chất của lợi thế như thế nào. Giờ là lúc chúng ta nên chuyển sự chú ý sang chủ điểm khác. Chúng ta có ý gì khi gọi một thứ là bất lợi? Theo lẽ thường, bất lợi là thứ nên tránh – một thất bại hay một khó khăn khiến bạn cảm thấy tệ hơn bình thường. Nhưng không phải lúc nào cũng vậy. Trong các chương tiếp theo, tôi sẽ tập trung vào khám phá ý tưởng cho rằng có những “khó khăn tích cực”. Đó là khái niệm được Robert Bjork và Elizabeth Bjork, hai nhà tâm lý học tại Đại học California, Los Angeles, đưa ra và đó là cách tuyệt vời giúp chúng ta hiểu hơn lý do những kẻ yếu thế có thể đốn ngã những gã khổng lồ. 

Ví dụ, hãy xem xét phép đố sau đây.

1. Một chiếc gậy bóng chày và một quả bóng có giá 1,1 đô-la. Chiếc gậy đắt hơn quả bóng 1 đô-la. Hỏi quả bóng giá bao nhiêu?

Phản ứng đầu tiên của bạn là gì? Tôi đoán bạn sẽ cho rằng quả bóng phải có giá 10 xu. Không thể nào! Chiếc gậy đắt hơn quả bóng 1 đô-la, vậy nên, nếu quả bóng có giá 10 xu, chiếc gậy phải có giá 1,1 đô-la, vậy tổng tiền bóng và gậy không thể là 1,1 đô-la. Câu trả lời đúng phải là quả bóng giá 5 xu. 

Một câu hỏi khác:

2. Nếu 5 chiếc máy mất 5 phút để làm ra 5 vật dụng, thì 100 chiếc máy phải mất bao lâu để làm ra 100 vật dụng? Bạn có thể trả lời ngay là 100 phút. Nhưng đó là một cái bẫy. 100 chiếc máy cũng cần đúng 5 phút để làm ra 100 vật dụng, đúng bằng thời gian 5 chiếc máy làm ra 5 vật dụng.

Đây là 2 trong số 3 câu hỏi ngắn nhất thế giới để kiểm tra trí thông minh. Nó được gọi là Thử nghiệm Phản ánh Nhận thức (CRT). Nó được giáo sư Shane Frederick của Đại học Yale phát minh ra với chức năng đo lường khả năng nắm bắt được thứ phức tạp hơn thực tế − đưa ra những phân tích sâu sắc hơn thay cho những câu trả lời bốc đồng.

Frederick cho rằng nếu muốn nhanh chóng phân loại mọi người theo khả năng nhận thức cơ bản, thì thử nghiệm nhỏ này của ông là một lựa chọn hữu ích, tương đương với các bài kiểm tra có hàng trăm câu hỏi nhỏ và cần vài giờ để hoàn thành. Để chứng minh điều này, Frederick đã để các sinh viên tại 9 trường đại học Mỹ làm Thử nghiệm CRT, và kết quả gần như khớp hoàn toàn với xếp hạng sinh viên của trường dựa trên các bài kiểm tra trí tuệ truyền thống. Sinh viên MIT – có lẽ là sinh viên có chỉ số thông minh nhất thế giới – trung bình trả lời đúng 2,18/3 câu hỏi. Sinh viên Đại học Carnegie Mellon ở Pittsburgh, một học viện danh tiếng khác, trả lời đúng trung bình 1,51/3 câu. Sinh viên Harvard đạt được 1,43/3 câu, sinh viên Đại học Michigan, Ann Arbor đạt 1,18; và sinh viên Đại học Toledo đạt 0,57.

Thử nghiệm CRT thực sự rất khó. Nhưng đây là điều thật kỳ lạ. Bạn biết cách dễ nhất để tăng điểm số bài kiểm tra của mọi người không? Khiến nó khó hơn một chút. Các nhà tâm lý học Adam Alter và Daniel Oppenheimer đã thử cách này vài năm trước đây với một nhóm sinh viên tại Đại học Princeton. Đầu tiên, họ để sinh viên làm thử nghiệm CRT theo cách thông thường, và trung bình, các sinh viên trả lời đúng 1,9/3 câu hỏi. Đó là điểm số khá tốt, mặc dù chưa thấm vào đâu so với điểm số 2,18/3 của sinh viên MIT. Sau đó, Alter và Oppenheimer đã in đề bài này theo phông chữ rất khó đọc – chỉ 10% màu xám, cỡ chữ 10pt, in nghiêng, kiểu phông Myriad Profont – trông giống như thế này:

1. Một chiếc gậy bóng chày và một quả bóng có giá 1,1 đô-la.

Chiếc gậy đắt giá hơn quả bóng 1 đô. Hỏi quả bóng giá bao nhiêu?

Theo bạn, điểm trung bình lần này sẽ là bao nhiêu? 2,45. Đột nhiên, các sinh viên này làm tốt hơn nhiều so với sinh viên MIT.

Thật lạ! Thường thì chúng ta nghĩ rằng chúng ta sẽ giải quyết vấn đề tốt hơn khi chúng được trình bày rõ ràng và đơn giản. Nhưng ở đây, điều ngược lại đã xảy ra. Tỷ lệ đặt ra khiến người đọc thực sự rất khó chịu. Bạn phải nheo mắt để đọc, và phải đọc đến 2 lần, và bạn có thể tự hỏi sao người ta lại in câu hỏi kiểm tra theo cách này. Đột nhiên, bạn phải cố gắng đọc kỹ câu hỏi. 

Thế nhưng, tất cả những cố gắng đó đều được đền đáp. Theo Alter, câu hỏi “khó đọc” sẽ khiến mọi người “nghĩ kỹ hơn về những gì họ đọc. Họ sẽ đầu tư nhiều công sức, thời gian hơn. Họ sẽ quan sát và suy nghĩ cẩn thận hơn. Nếu phải xử lý một khó khăn, họ sẽ đưa ra phương án giải quyết tốt hơn khi bạn buộc họ nghĩ kỹ hơn.” Alter và Oppenheimer đã khiến bài thử nghiệm CRT khó hơn. Nhưng sự khó khăn đó hóa ra lại mang lại hiệu quả tích cực.

Đương nhiên, không phải mọi cái rủi đều có cái may. Những gì Caroline Sacks đã trải qua ở lớp hóa hữu cơ tại Brown là khó khăn tiêu cực. Cô là một sinh viên ham học hỏi, chăm chỉ, tài năng, một người yêu khoa học và không có lợi gì khi đặt mình vào tình huống thoái chí. Khó khăn đã không mang lại cho cô cái nhìn mới về khoa học.

Nhưng có những lúc và những khó khăn mang lại ảnh hưởng tích cực − nơi những gì có vẻ giống như các trở ngại cản trở cơ hội của kẻ yếu thế lại giống như bài kiểm tra của Alter và Oppenheimer. 

Chứng khó đọc có thể là khó khăn tích cực hay không? Thật khó để có thể tin điều này theo hướng tích cực, dựa trên số người phải vật lộn với chứng rối loạn này trong suốt cuộc đời của họ − ngoại trừ một thực tế kỳ lạ. Có rất nhiều các doanh nhân thành công mắc chứng khó đọc. Một nghiên cứu gần đây của Julie Logan tại Đại học City London đã đưa ra con số gần 1/3. Danh sách này gồm rất nhiều các nhà cải cách nổi tiếng trong vài thập kỷ qua. Ví như, Richard Branson, doanh nhân tỷ phú người Anh; Charles Schwab, nhà sáng lập của công ty môi giới giảm giá mang tên ông, cũng như nhà tiên phong về điện thoại di động Craig McCaw; David Neeleman, nhà sáng lập hãng hàng không JetBlue; John Chambers, CEO của gã khổng lồ về công nghệ, Cisco; Paul Orfalea, nhà sáng lập Kinko’s. Nhà thần kinh học Sharon Thompson-Schill nhớ đã phát biểu tại một cuộc gặp mặt các nhà tài trợ cho trường đại học – hầu như tất cả họ đều là các doanh nhân thành công – và nảy ra câu hỏi bất chợt xem có bao nhiêu người trong số họ từng được cho là gặp chứng rối loạn về học tập. “Một nửa trong số họ giơ tay lên,” cô nói. “Thật không thể tin nổi.” 

Thực tế này có thể được hiểu theo hai cách. Một là nhóm doanh nhân này đã thành công bất chấp những khiếm khuyết của bản thân: Họ quá thông minh và sáng tạo đến mức không gì – thậm chí họ phải vật lộn cả đời với chứng khó đọc – có thể ngăn bước họ. Thứ hai, lý do có vẻ hấp dẫn hơn, đó là họ thành công, một phần nhờ khiếm khuyết của mình – rằng họ đã học được điều gì đó trong hoàn cảnh khó khăn và điều đó được chứng minh là một lợi thế rất lớn. Bạn có muốn con mình mắc chứng khó đọc? Nếu khả năng thứ hai là đúng, thì bạn hoàn toàn có thể!

3.

David Boies lớn lên ở vùng nông thôn Illinois. Anh là con cả trong một gia đình có 5 người con. Cha mẹ anh là giáo viên trường công lập. Mẹ anh thường đọc cho anh nghe khi anh còn bé. Anh nhớ những gì mẹ nói bởi anh không thể bắt kịp những gì bà đọc trên giấy. Cho đến tận năm lớp 3, anh mới có thể đọc được nhưng đọc rất chậm và khó khăn. Nhiều năm sau, anh phát hiện ra mình mắc chứng khó đọc. Nhưng lúc đó, anh nghĩ đó không phải là vấn đề. Thị trấn nhỏ nơi anh sống ở vùng nông thôn Illinois không phải là nơi coi khả năng đọc là tiêu chí đánh giá thành tích. Nhiều bạn cùng lớp anh đã bỏ học để làm việc ở trang trại khi có cơ hội. Boies đọc truyện tranh, bởi nó dễ theo dõi do có nhiều tranh hơn chữ. Anh không bao giờ đọc chơi. Thậm chí bây giờ, anh có thể đọc một cuốn sách trong một năm, nếu có thể. Anh xem ti vi – bất cứ chương trình nào “có chuyển động và màu sắc,” anh vừa nói vừa cười. Ngôn ngữ nói của anh cũng bị hạn chế. Anh dùng câu ngắn và từ đơn giản. Có lúc, anh đọc to một điều gì đó và gặp từ anh không biết, anh sẽ dừng lại và đánh vần nó từ từ. 

Khi Boies tốt nghiệp trung học, gia đình anh đã chuyển đến Nam California, lúc đó nền kinh tế ở khu vực này đang rất phát triển. Anh nhận được một công việc ở công trường xây dựng. “Đó là công việc ngoài trời, với những người đàn ông lớn tuổi hơn,” Boies nhớ lại. “Tôi kiếm được nhiều tiền hơn tôi tưởng. Thật vui.” Sau đó, anh làm việc như một nhân viên kế toán trong một khoảng thời gian ngắn ở một ngân hàng. “Cuộc sống của tôi thật tuyệt vời. Tôi đã sống như thế trong một thời gian. Nhưng sau khi đứa con đầu lòng ra đời, vợ tôi ngày càng lo lắng về tương lai của tôi.” Anh vẫn quyết định theo đuổi đam mê với ngành luật từ thời thơ ấu. Giờ đây, David Boies là một trong những luật sư bào chữa nổi tiếng nhất thế giới. 

Việc một công nhân xây dựng với tấm bằng cấp 3 như Boies có thể trở thành thành viên của ngành pháp lý vẫn là một dấu hỏi. Ngành luật đòi hỏi bạn phải đọc tốt – liên quan đến các trường hợp, quan điểm và các phân tích học thuật – trong khi Boies lại gặp chứng khó đọc. Có vẻ thật điên rồ, nhưng đừng quên rằng nếu đang đọc cuốn sách này, bạn là một độc giả − và điều đó có nghĩa là bạn chưa bao giờ nghĩ đến những đường tắt, những chiến lược và đường vòng luẩn quẩn xung quanh việc đọc. 

Boies bắt đầu học tại Đại học Redlands, một trường đại học tư nhỏ cách Los Angeles một giờ lái xe về phía đông. Đến học ở đây là bước đột phá đầu tiên của anh. Redlands là một chiếc ao nhỏ. Boies có thành tích rất xuất sắc. Anh học hành chăm chỉ và có tổ chức. Anh cần hoàn thành một số khóa học căn bản để tốt nghiệp Redlands, tất cả các khóa đều liên quan đến khả năng đọc tốt. Tuy nhiên, trong thời gian đó, các sinh viên có thể xin học luật mà không cần bằng tốt nghiệp. Boies đã bỏ qua các khóa học căn bản này. “Khi phát hiện ra rằng mình có thể học luật mà không cần tốt nghiệp”, anh nói. “Tôi cảm thấy thật tuyệt vời. Tôi không thể tin được điều đó.” 

Boies đã phát hiện ra rằng các bản tóm tắt những trường hợp chính – hướng dẫn tóm tắt những điểm chính liên quan đến các phán quyết tại Tòa án tối cao chỉ trong khoảng 1 trang giấy. Hơn nữa, anh là người biết lắng nghe. “Lắng nghe”, anh nói, “là điều cơ bản tôi làm trong suốt cuộc đời mình. Tôi đã học cách lắng nghe bởi đó là cách duy nhất mà tôi có thể học được. Tôi ghi nhớ lời mọi người nói, những từ mà họ sử dụng.” Vì vậy, anh sẽ tham gia vào các tiết học ở trường luật, tập trung vào lời thầy cô để nghe và ghi nhớ trong đầu. Anh đã luyện tập ghi nhớ từ khi được mẹ đọc sách cho nghe ngày còn bé. Các bạn học của anh, khi mải cắm cúi ghi ghép lại lời thầy cô theo ý hiểu, đã bỏ sót nhiều thứ. Sự chú ý của họ bị xao nhãng. Boies thì ngược lại, anh không gặp vấn đề này, nhưng hóa ra việc anh không thể đọc lại có giá trị hơn. Sau khi kết thúc thời gian học ở trường luật Redlands, anh chuyển sang học tại Đại học Yale.

Khi Boies trở thành luật sư, anh không chọn thực tập về luật doanh nghiệp bởi các luật sư doanh nghiệp cần phải đọc hàng núi giấy tờ. Anh trở thành luật sư tranh tụng, một công việc mà buộc anh phải tự động não. Anh nhớ những gì cần phải nói. Đôi khi, ở tòa, anh tình cờ đọc một điều gì đó và gặp những từ mà anh không thể xử lý kịp thời. Anh dừng lại và đánh vần như một đứa trẻ học đánh vần. Tuy nhiên, điều đó khiến anh giống một người lập dị hơn là một người mắc bệnh. Trong những năm 1990, anh đứng đầu đội truy tố cáo buộc Microsoft vi phạm luật chống độc quyền, và trong quá trình xét xử, anh liên tục nhầm “login” thành “lojin”, một biểu hiện đơn thuần của chứng khó đọc. Nhưng anh đã đưa ra lập luận chặt chẽ trong các cuộc kiểm tra nhân chứng chéo, bởi anh sẽ không bỏ lỡ bất cứ sắc thái, sự thoái thác, hay sự lựa chọn từ ngữ riêng biệt nào – cũng như nghe rõ và ghi nhớ mọi nhận xét, mọi lời khai nhận. 

“Nếu có thể đọc nhanh hơn, tôi sẽ làm được nhiều thứ dễ dàng hơn,” Boies nói. “Nhưng mặt khác, không có khả năng đọc và phải học bằng cách lắng nghe cùng với đặt câu hỏi đồng nghĩa với việc tôi cần phải đơn giản hóa các vấn đề hơn. Điều đó rất quan trọng, bởi trong các vụ xét xử, các thẩm phán và ban hội thẩm đều không có thời gian và khả năng hiểu sâu sắc về vấn đề đó. Một trong những điểm mạnh của tôi là trình bày dễ hiểu nhất có thể.” Còn các đối thủ của anh có xu hướng thường xuyên bị sa lầy vào quá nhiều chi tiết.

Một trong những vụ tranh tụng nổi tiếng nhất của anh – Hollingsworth với Schwarzenegger – liên quan đến một đạo luật của California hạn chế việc kết hôn giữa một người đàn ông và một người phụ nữ. Boies là luật sư cho rằng luật này không hợp hiến, và trong cuộc đấu khẩu đáng nhớ tại tòa, Boies đã bác bỏ nhân chứng chuyên gia của đối thủ, David Blankenhorn, buộc anh ta thừa nhận phần lớn những cách giải quyết của Boies.

“Một trong những điều bạn nói với một nhân chứng khi bạn xếp họ làm nhân chứng đó là ‘cứ bình tĩnh’,” Boies nói. “Ngay cả khi bạn không cần phải làm vậy. Bởi sẽ có lúc bạn cần phải chậm lại, và bạn không muốn cho ban hội thẩm thấy sự thay đổi về tốc độ ở bạn, biểu hiện của việc bạn cần thời gian. Vì vậy – ngày sinh của bạn là bao nhiêu?” Anh nói một cách cẩn thận và cố ý. “’Đó… là … năm 1941’. Bạn không nói, ‘Đó-là-ngày-11-tháng-3-năm-1941-vào-lúc-6-giờ-30-phút-sáng,’ ngay cả khi bạn không cố gắng để che giấu nó. Bạn muốn trả lời những vấn đề như nhau, dễ cũng như khó, để không làm lộ chúng thông qua cách bạn trả lời.” 

Khi Blankenhorn ngập ngừng nhiều trong những khoảnh khắc quan trọng nhất định, Boies đã nắm bắt được điều đó. “Nó nằm ở giai điệu, tốc độ và từ ngữ anh ta dùng. Một số xuất phát từ những lần tạm dừng. Anh nói chậm lại khi cố nghĩ cách tóm tắt điều gì đó. Khi bạn thăm dò và lắng nghe anh ta, bạn có thể biết những điểm anh ta cảm thấy không thoải mái, hay những lúc anh ta chỉ dùng một từ khó hiểu. Và bằng việc tập trung vào những điểm này, tôi có thể buộc anh ta phải thừa nhận các yếu tố quan trọng trong trường hợp của chúng tôi.”

4.

Boies có một kỹ năng đặc biệt giúp giải thích vì sao anh lại làm tốt công việc của mình. Anh ấy là một người rất biết lắng nghe. Nhưng hãy nghĩ đến cách anh ấy phát triển kỹ năng đó. Theo bản năng, hầu hết chúng ta đều bị hút về phía các lĩnh vực mà chúng ta giỏi. Những đứa trẻ có khả năng đọc sẽ tiếp tục đọc nhiều hơn nữa và ngày càng đọc giỏi, cuối cùng, có được việc làm trong lĩnh vực cần đọc nhiều. Đó là “học tập vốn hóa”: chúng ta giỏi một điều gì đó bằng cách xây dựng kỹ năng dựa trên các thế mạnh mà chúng ta có sẵn. 

Nhưng những khó khăn tích cực có logic ngược lại. Trong các thử nghiệm CRT, Alter và Oppenheimer đã khiến các sinh viên làm bài tốt hơn bằng cách đưa ra đề bài ở dạng khó đọc hơn, buộc họ phải bù lại thứ họ đã mất. Đó là những gì Boies đã làm khi anh học cách lắng nghe để bù lại khiếm khuyết của mình. 

Chúng ta chủ yếu học theo phương thức “học tập vốn hóa”. Việc đó rất dễ và rõ ràng. Nếu có một giọng hát tuyệt vời, bạn không cần quá chật vật để tham gia được vào một dàn hợp xướng. “Học tập phần bù”, mặt khác, rất khó khăn. Nó buộc bạn phải đối mặt với những hạn chế, vượt qua những bất an và mặc cảm của bản thân. Hầu hết những người có khiếm khuyết nghiêm trọng không thể làm chủ được tất thảy các bước này. Nhưng có những người có thể làm tốt hơn thực thế bởi “học tập phần bù” rõ ràng luôn mạnh mẽ hơn “học tập vốn hóa”. 

Thật đáng ngạc nhiên về mức độ học tập phần bù thường xuyên của những người mắc chứng khó đọc. ”Thật đáng sợ khi phải đến trường,” một anh chàng tên là Brian Grazer đã nói với tôi. “Tâm trạng tôi thay đổi liên tục. Tôi rất lo lắng về việc sẽ mất rất nhiều thời gian để hoàn thành được một bài tập đơn giản. Suốt thời trung học, tôi chỉ toàn nhận được điểm F, vài điểm D và thi thoảng mới được một điểm C. Tôi chỉ vừa đủ điểm tốt nghiệp bởi mẹ tôi luôn động viên tôi.”

Trước bất kỳ bài kiểm tra hoặc kỳ thi nào, anh đều lập kế hoạch và đưa ra chiến thuật, thậm chí từ ngày còn học tiểu học. “Tôi sẽ ngồi học nhóm với ai đó vào đêm trước kỳ thi,” anh nói. “Bạn sẽ làm gì? Bạn nghĩ mình sẽ trả lời các câu hỏi này như thế nào? Tôi sẽ thử và đoán các câu hỏi này, hoặc nếu có cách biết câu hỏi hoặc bài kiểm tra trước, tôi sẽ làm vậy.”

Khi lên trung học, anh đã có được chiến lược tốt hơn. “Tôi cố gắng từng điểm một,” anh tiếp tục, “có nghĩa là, mỗi lần nhận được phiếu điểm, tôi sẽ gặp từng giáo viên và xin làm lại bài riêng. Tôi nâng điểm D lên điểm C, rồi lên điểm B. Và phần lớn điểm số của tôi đã thay đổi. Tôi hạn chế dần điểm kém. Tôi tự tin hơn. Ở trường đại học, tôi sẽ gặp riêng giáo sư hàng giờ, tìm mọi cách để trình bày quan điểm của mình. Đó là một cách học tuyệt vời”. Grazer hiện là một trong những nhà sản xuất phim thành công nhất Hollywood trong 30 năm qua. Và bạn có tự hỏi, liệu Brian Grazer sẽ có được vị trí ra sao nếu không mắc chứng khó đọc? 

5.

Chúng ta hãy quan sát kỹ hơn mối liên kết kỳ lạ giữa những gì về cơ bản là một sự cố thần kinh và thành công trong sự nghiệp. Trong chương chiếc ao lớn, tôi đã nói về thực tế rằng làm kẻ ngoài cuộc, trong một môi trường ít ưu tú và ít đặc quyền hơn, có thể mang lại cho bạn sự tự do để theo đuổi đam mê và sở thích học tập riêng. Caroline Sacks sẽ có cơ hội thục luyện ngành học mà cô yêu thích nếu lựa chọn trường khác. Các họa sỹ trường phái ấn tượng đã chọn triển lãm nhỏ, thay vì triển lãm danh tiếng nhất thế giới. 

Những người mắc chứng khó đọc cũng là “những kẻ khác biệt”. Họ khác các bạn cùng trang lứa ở trường bởi họ không thể đáp ứng được các yêu cầu của trường về môn học. Liệu những “điểm khác thường” này có mang lại cho họ những lợi thế về sau này không? Để trả lời câu hỏi này, hãy nghĩ về kiểu nhân cách đặc trưng của các nhà cải cách và doanh nhân.

Các nhà tâm lý học đo lường nhân cách thông qua một công cụ mang tên Mô hình 5 yếu tố, hay còn gọi là “Big Five”, đánh giá mỗi chúng ta theo 5 tiêu chí sau.

Tình trạng thần kinh

(nhạy cảmlo lắng hay an tâm/ tự tin )

Hướng ngoại

(nhiệt huyết/ thích giao du hay đơn độc/

đề phòng)

Cởi mở

(Sáng tạo/ tò mò hay cứng nhắc/ thận trọng)

Tận tâm

(Trật tự / siêng năng hay dễ tínhbất cẩn)

Sự nhất quán

(Hợp tácđồng cảm hay chỉ biết quan tâm đến mìnhđối lập) 

Nhà tâm lý học Jordan Peterson cho rằng các nhà cải cách và cách mạng thường tổng hòa các nét tính cách này – cụ thể là 3 đặc điểm cuối: Cởi mở, tận tâm và nhất quán. 

Các nhà cải cách phải cởi mở. Họ phải biết tưởng tượng ra những điều mà những người khác không thể và phải sẵn sàng thách thức những định kiến riêng của họ. Họ cũng cần thận trọng. Rõ ràng, một nhà cải cách có những ý tưởng tuyệt vời nhưng lại thiếu kỷ luật và sự kiên trì sẽ chỉ là kẻ mơ mộng hão huyền. 

Nhưng quan trọng, theo tôi, các nhà cải cách cần đi ngược lại 5 tiêu chí “hài lòng” trên. Họ là những người sẵn sàng chấp nhận rủi ro về mặt xã hội – để làm những việc mà người khác có thể không chấp nhận.

Điều đó không hề dễ dàng. Là con người, chúng ta bị lái sang việc tìm kiếm sự đồng thuận từ những người xung quanh. Tuy nhiên, một ý nghĩ cực đoan và sự thay đổi sẽ chẳng đi đến đâu nếu không có sự sẵn sàng thách thức những lề thói. “Nếu bạn có một ý tưởng mới, và đó là ý tưởng gây rối, rồi mọi người đồng tình với bạn, bạn sẽ làm gì lúc này?” Peterson nói. “Nếu bạn lo lắng về việc làm tổn thương mọi người và ảnh hưởng đến cấu trúc xã hội, bạn sẽ không thực hiện được ý tưởng của mình.” Như nhà soạn kịch George Bernard Shaw từng nói: “Một người hiểu biết sẽ điều chỉnh bản thân phù hợp với thế giới: kẻ thiếu hiểu biết cố khiến thế giới phù hợp với chính mình. Do đó, mọi sự tiến bộ phụ thuộc vào người hiểu biết.”

Một ví dụ rất hay về lập luận của Peterson là khởi đầu của nhà bán lẻ đồ nội thất Thụy Điển, IKEA. Công ty được Ingvar Kamprad thành lập. Sự sáng tạo tuyệt vời của ông nằm ở nhận thức rằng phần lớn các chi phí của đồ nội thất gắn liền với việc lắp ráp: việc lắp sẵn chân bàn không chỉ tốn tiền công mà còn khiến việc vận chuyển bàn thực sự rất tốn kém. Vì vậy, ông bán đồ nội thất chưa được lắp ráp, vận chuyển nó với giá rẻ nguyên kiện, và bán với giá thấp hơn các đối thủ cạnh tranh. 

Tuy nhiên, giữa những năm 1950, Kamprad đã gặp rắc rối. Các nhà sản xuất đồ nội thất Thụy Điển đã khởi xướng một cuộc tẩy chay IKEA. Họ tức giận khi ông bán đồ giá thấp và dừng các đơn đặt hàng. IKEA gần như phá sản. Tuyệt vọng tìm hướng đi, Kamprad nhận ra rằng ngay bên kia biển Baltic từ Thụy Điển là Ba Lan, một đất nước có nguồn lao động rẻ mạt và nguồn gỗ dồi dào. Đó là sự cởi mở của Kamprad: rất ít các công ty thuê ngoài như thế trong đầu những năm 1960. Sau đó, Kamprad đã tập trung vào việc liên kết với Ba Lan. Tuy nhiên, việc đó không hề dễ. Tình hình của Ba Lan trong những năm 1960 rất rối ren. Đất nước thiếu cơ sở hạ tầng, máy móc hoặc lực lượng lao động được đào tạo hay được bảo vệ về mặt pháp lý. Nhưng Kamprad đã nỗ lực hết mình. “Anh ấy là một nhà quản lý vi mô,” Anders Åslund, một nhà nghiên cứu tại Viện Kinh tế Quốc tế Peterson nói. “Đó là lý do anh ấy thành công trong khi những người khác lại thất bại. Anh ấy đến những nơi không hề dễ chịu để chắc chắn rằng mọi việc sẽ diễn ra suôn sẻ. Anh ấy là người cực kỳ cứng đầu. Đó chính là sự tận tâm của anh ấy.”

Nhưng điểm nổi bật nhất liên quan đến quyết định của Kamprad là gì? Đó là năm 1961, khi anh đến Ba Lan: Bức tường Berlin được dựng lên. Chiến tranh Lạnh đang ở giai đoạn căng thẳng nhất. Trong vòng 1 năm, phía Đông và phía Tây đã đi đến bờ vực của cuộc chiến tranh hạt nhân trong cuộc khủng hoảng tên lửa Cuba. Hầu hết mọi người đều không nghĩ đến việc kinh doanh trên đất của kẻ thù vì sợ bị gán mác kẻ phản bội. Nhưng Kamprad không quan tâm đến việc người khác nghĩ gì về mình. Đó là sự nhất quán.

6.

Gary Cohn sinh trưởng ở ngoại ô Cleveland, phía đông bắc Ohio. Gia đình ông kinh doanh hợp đồng điện tử. Đó là vào những năm 1970, trước khi chứng khó đọc được chẩn đoán rộng rãi. Anh bị đúp một năm ở trường tiểu học bởi không thể đọc. Tuy nhiên, anh nói, “tôi cũng không học khá hơn vào năm thứ 2. Tôi bị đuổi học khỏi trường,” anh giải thích. “Khi bạn đánh giáo viên, bạn sẽ bị đuổi. Đó là một trong những sự cố gây rối. Nhưng tôi là nạn nhân. Giáo viên bắt tôi ngồi dưới gầm bàn và bắt đầu đá túi bụi vào người tôi. Vì vậy, tôi đã đánh trả và bước ra ngoài. Năm đó, tôi học lớp 4.”

Anh gọi thời kỳ đó trong đời là “những năm tháng xấu xí”. Bố mẹ anh không biết phải làm gì. “Đó có lẽ là khoảng thời gian khó chịu nhất của tôi, và được nhắc đến khá nhiều.” Anh tiếp tục: “Không phải bởi tôi không cố gắng. Tôi đã rất nỗ lực, nhưng thực sự rất khó, và không ai hiểu cho tôi. Họ nghĩ tôi cố ý quậy phá, không học hành gì để bị đúp. Khi bạn mới chỉ 7, 8 tuổi, tất cả mọi người nghĩ rằng bạn ngu dốt, vì vậy bạn cố gắng pha trò để khẳng định mình. Bạn cố gắng dậy sớm mỗi sáng và tự nhủ, hôm nay, mọi chuyện sẽ khá hơn, nhưng sau một vài năm, bạn nhận ra rằng hôm nay không khác gì so với hôm qua. Tôi đã phải nỗ lực để tồn tại, phải nỗ lực để sốt sót, và rồi chuyện gì xảy ra ắt sẽ xảy ra.”

Cha mẹ anh cố gắng tìm cho anh được một trường phù hợp. “Tất cả những gì mẹ tôi mong muốn là tôi tốt nghiệp được trung học,” Cohn nói. “Tôi nghĩ rằng nếu bạn hỏi mẹ tôi, bà ấy sẽ nói rằng: ‘Ngày hạnh phúc nhất của cuộc đời tôi là khi thằng bé tốt nghiệp trung học. Sau đó, nó có thể lái xe tải, nhưng ít nhất nó phải có bằng trung học.’” Cuối cùng, vào ngày anh tốt nghiệp, mẹ anh đã òa khóc. “Tôi chưa bao giờ thấy bất cứ ai khóc nhiều như vậy,” anh nói. 

Năm 22 tuổi, Gary Cohn bán hàng ở cửa hàng nhôm kính cho US Steel ở Cleveland. Anh vừa tốt nghiệp Đại học Mỹ sau khi đã có sự nghiệp khá ổn định. Một ngày trước Lễ Tạ ơn, khi đến thăm cửa hàng của công ty ở Long Island, anh đã xin phép vị quản lý cho mình nghỉ một ngày để đến Phố Wall. Một vài mùa hè trước đó, anh đã đến thực tập tại một công ty môi giới địa phương và rất hứng thú với việc kinh doanh. Anh tiến đến quầy trao đổi hàng hóa – một phần của khu phức hợp tại Trung tâm Thương mại Thế giới cũ.

“Tôi nghĩ tôi sẽ được nhận vào làm,” anh nói. “Tôi đã lên tầng quan sát và quan sát mọi người rồi nghĩ rằng, tôi có thể nói chuyện với họ được không? Sau đó, tôi đi bộ xuống tầng, đứng ở cửa an ninh. Tất nhiên là không ai cho tôi vào cả. Và sau đó, ngay khi sàn đóng cửa, tôi thấy một anh chàng ăn mặc rất chỉn chu rời tòa nhà, vừa đi vừa nói lớn với nhân viên của mình, “Tôi phải đi, tôi phải đến LaGuardia, tôi đến trễ mất, tôi sẽ gọi cho anh khi tôi đến sân bay.’ Tôi chạy vào thang máy, và nói, ‘Nghe nói anh đến LaGuardia.’ Anh ta đáp lại: ‘Vâng’. Tôi nói, ‘Chúng ta đi chung taxi nhé!’ Anh ta nói: ‘Được chứ’. Tôi nghĩ thật tuyệt vời. Với tình trạng tắc đường ngày thứ Sáu, tôi có thể dành một giờ trên taxi để xin việc.”

Cohn đã nhảy vào taxi với một trong những người có vị trí cao nhất ở một trong những công ty môi giới lớn ở Phố Wall. Và trong tuần đó, công ty đã mở một doanh nghiệp mua và bán các quyền chọn.

“Anh chàng đang điều hành doanh nghiệp quyền chọn nhưng không biết quyền chọn là gì,” Cohn tiếp tục. Anh đang cười vào sự táo bạo đến liều lĩnh đó của mình. “Tôi đã nói dối anh ta suốt dọc đường đến sân bay. Khi anh ta hỏi, ‘anh có biết quyền chọn là gì không?’ Tôi nói, ‘tất nhiên rồi, tôi biết mọi thứ, tôi có thể làm bất cứ điều gì cho anh.’ Về cơ bản, đến khi xuống xe, tôi đã có số của anh ta. Anh nói, ‘Hãy gọi cho tôi vào thứ Hai.’ Tôi gọi cho anh ta vào thứ Hai, bay trở lại New York vào thứ Ba hoặc thứ Tư, phỏng vấn và bắt đầu làm việc vào thứ Hai tới. Trong khoảng thời gian đó, tôi đọc cuốn sách Options as a strategic Investment (tạm dịch: Các quyền chọn như một sự đầu tư chiến lược). Nó giống như Kinh Thánh về chứng khoán.”

Đương nhiên, việc này quả thật không dễ bởi Cohn đã dự liệu điều đó vào ngày phù hợp, anh phải mất 6 giờ để đọc 22 trang sách. Anh vùi đầu vào cuốn sách, đọc từng từ, lặp lại từng câu cho đến khi chắc chắn hiểu. Anh đã sẵn sàng để bắt đầu công việc. “Tôi đứng sau anh ta và nói, ‘Mua cái này, bán cái kia, bán cái đó,’”Cohn nói. “Tôi không bao giờ nói ra sự thật. Hoặc có thể anh ta đã phát hiện ra nhưng không quan tâm. Tôi đã kiếm cho anh ta hàng núi tiền.”

Cohn không xấu hổ về khởi đầu của mình ở Phố Wall. Nhưng sẽ là một sai lầm nếu nói rằng anh tự hào về điều đó. Anh đủ thông minh để biết rằng câu chuyện đó không phải hoàn toàn là hư cấu. Thay vào đó, anh kể rất trung thực. Đó là con người tôi.

Cohn buộc phải lên taxi với vai trò: vờ là nhà buôn chứng khoán giàu kinh nghiệm. Hầu hết chúng ta đều rơi vào tình huống đó. Chúng ta không quen dối trá người khác ngoài bản thân. Nhưng Cohn đã lừa dối nhiều bạn bè từ hồi tiểu học. Thà là thằng hề còn hơn một đứa ngốc. Và nếu bạn sống giả tạo trong suốt cuộc đời, thì việc nói dối trên chuyến taxi kéo dài một giờ đến LaGuardia có gì khó?

Quan trọng hơn, hầu hết chúng ta sẽ không nhảy lên chiếc taxi đó, bởi chúng ta lo lắng về những hậu quả xã hội tiềm năng. Anh chàng Phố Wall có thể đã nhìn thấu rằng chúng ta đã giả làm nhà buôn chứng khoán. Chuyện gì sẽ xảy ra sau đó? Chúng ta có thể bị ném ra khỏi xe. Chúng ta có thể về nhà và nhận ra rằng việc buôn chứng khoán giờ đã nằm ngoài tầm với. Chúng ta có thể xuất hiện vào sáng thứ Hai và tự huyễn hoặc mình. Chúng ta có thể bị phát hiện một tuần hoặc một tháng sau đó, và bị sa thải. Nhưng Cohn, một nhân viên bán khung nhôm và mẹ anh nghĩ rằng việc anh được làm tài xế xe tải là một điều may mắn lắm rồi. Anh đã bị đuổi học, bị coi là một thằng ngốc, và thậm chí, anh phải mất 6 tiếng để đọc 22 trang sách. Anh không còn gì để mất.

“Những năm tháng suốt thời thơ ấu đã giúp tôi quen dần với thất bại,” anh nói. “Một trong rất nhiều đặc điểm ở người mắc chứng khó đọc mà tôi biết đó là đến khi tốt nghiệp đại học, khả năng đối phó với thất bại của chúng tôi đã phát triển rất cao. Do đó, trong các tình huống, chúng tôi thấy nhiều ưu điểm hơn nhược điểm. Sẽ không có tôi ngày hôm nay nếu không có chứng khó đọc. Tôi sẽ không bao giờ có được cơ hội đầu tiên đó.”

Chứng khó đọc – ở khía cạnh tích cực nhất – buộc bạn phát triển kỹ năng mà nếu không có nó, bạn có thể đã chẳng làm được gì. Nó buộc bạn phải làm những điều mà bạn không bao giờ có thể nếu không nỗ lực. 

Gary Cohn hiện là chủ tịch của Goldman Sachs. Anh là một nhà buôn trái phiếu rất giỏi, và hóa ra việc học cách đối mặt với khả năng thất bại là sự chuẩn bị tuyệt vời cho sự nghiệp kinh doanh của anh.

Dịch giả Nguyễn Văn Tân, Nguyễn Trang
Nguồn: TVE-4U
Được bạn: Mọt Sách đưa lên
vào ngày: 18 tháng 10 năm 2026

« Lùi Tiến »

💬 Thảo luận

Chưa có bình luận nào — hãy là người đầu tiên chia sẻ cảm nhận của bạn!

Đăng nhập để tham gia bình luận.