David & Goliath - Cuộc Đối Đầu Kinh Điển Và Nghệ Thuật Đốn Ngã Những Gã Khổng Lồ

Lượt đọc: 292 | 0 Đánh giá: 0/10 Sao
★★★★★★★★★★
★★★★★★★★★★
« Lùi Tiến »
2. Teresa Debrito

❊ ❊ ❊

“Lớp đông nhất của tôi có 29 em. Ồ, thật hấp dẫn!”

1.

Khi trường trung học Shepaug Valley được xây dựng do sự bùng nổ tỷ lệ sinh, có 300 học sinh từ xe buýt đổ xuống trước cổng trường mỗi sáng. Tòa nhà có cánh cửa đôi ở lối vào để xử lý đám đông này, và các hành lang bên trong tòa nhà lúc nào cũng chật cứng người. 

Nhưng đó là trước đây. Sự bùng nổ tỷ lệ sinh đã chững lại. Vùng Connecticut nơi Shepaug tọa lạc – với những ngôi làng được xây dựng từ thời thuộc địa và những đường quê duyên dáng uốn lượn quanh co – được các cặp vợ chồng giàu có đến từ New York phát hiện ra. Giá bất động sản tăng cao. Các gia đình trẻ không đủ khả năng tài chính để sống ở khu vực này. Các suất đăng ký học giảm xuống còn 245 em, sau đó chỉ còn hơn 200 em. Hiện chỉ có 80 học sinh lớp 6 ở trường. Dựa trên số lượng học sinh các trường tiểu học sắp tốt nghiệp trong khu vực, con số này có thể sẽ sớm giảm đi một nửa, có nghĩa là quy mô lớp học trung bình sẽ sớm thấp hơn mức trung bình toàn nước Mỹ. Một trường đã từng rất đông học sinh nay trở thành một nơi riêng tư, yên tĩnh.

Bạn sẽ gửi con mình đến trường trung học Shepaug Valley chứ? 

2.

Câu chuyện về Vivek Ranadivé và đội bóng rổ nữ Redwood City cho thấy những gì chúng ta cho là lợi thế hoặc bất lợi không phải lúc nào cũng đúng, mà thay vào đó, chúng ta nhầm lẫn các khái niệm này với nhau. Trong chương này, và chương tiếp theo, tôi muốn áp dụng ý tưởng này cho hai câu hỏi có vẻ đơn giản về giáo dục. Tôi nói “có vẻ” bởi chúng có vẻ đơn giản dù chúng ta sẽ khám phá ra rằng, chúng không hề đơn giản. 

Câu hỏi về trường trung học Shepaug Valley là câu hỏi đầu tiên. Tôi đoán là bạn sẽ rất vui mừng khi để con mình học trong một trong những lớp học thân thiện như thế này. Hầu như ở khắp nơi trên thế giới, các bậc phụ huynh và các nhà hoạch định chính sách mặc nhiên cho rằng các lớp học có sỹ số nhỏ hơn là những lớp tốt hơn. Trong vài năm qua, chính phủ của các nước đơn cư như Hoa Kỳ, Anh, Hà Lan, Canada, Hong Kong, Singapore, Hàn Quốc và Trung Quốc đều thực hiện những bước tiến quan trọng trong việc giảm quy mô lớp học. Khi thống đốc bang California công bố các kế hoạch nhằm giảm quy mô lớp học trên toàn bang, danh tiếng của ông tăng gấp đôi chỉ trong vòng ba tuần. Trong 1 tháng, 20 thống đốc khác cũng công bố các kế hoạch tương tự, và trong vòng một tháng rưỡi, Nhà Trắng cũng công bố kế hoạch giảm quy mô lớp học. Cho đến ngày nay, 77% người Mỹ nghĩ rằng việc sử dụng tiền thuế của dân để giảm quy mô lớp học thay vì tăng lương giáo viên là một việc làm có ý nghĩa. 77% dân số không phải là một con số nhỏ.

Trước đây có 25 học sinh trong một lớp học tại Shepaug Valley. Bây giờ đôi lúc chỉ có 15 em. Điều đó nghĩa là học sinh ở Shepaug được giáo viên quan tâm nhiều hơn trước, và theo lẽ thường thì những em được giáo viên quan tâm hơn sẽ học tốt hơn. Học sinh ở ngôi trường Shepaug Valley mới và thân thiện phải học tốt hơn học sinh ở ngôi trường Shepaug cũ? 

Có một cách rất tuyệt để kiểm chứng xem điều này. Connecticut có rất nhiều các trường như Shepaug. Đây là bang có nhiều thị trấn nhỏ với các trường tiểu học nhỏ, và các trường học nhỏ trong những thị trấn nhỏ có thể bị ảnh hưởng bởi sự tăng giảm của tỷ lệ sinh và giá bất động sản – điều đó có nghĩa là một khối có thể quá tải trong năm nay nhưng lại có lèo tèo vài em học sinh trong năm tiếp theo. Ví dụ, dưới đây là hồ sơ đăng ký vào lớp 5 tại một trường ở Connecticut:

Trong năm 2001, có 23 học sinh lớp 5. Các năm tiếp theo là 10! Từ năm 2001 đến năm 2002, mọi thứ trong trường học vẫn như không đổi. Tình hình kinh tế địa phương và dân số khu vực hầu như bất biến. Điều duy nhất thay đổi là số học sinh lớp 5. Nếu lượng học sinh trong năm đăng ký đông học tốt hơn những học sinh trong năm có lượng đăng ký ít hơn, thì chúng ta có thể chắc chắn rằng đó là do quy mô lớp học hay không? 

Đây là một “thử nghiệm tự nhiên”. Đôi khi các nhà khoa học thực hiện các thí nghiệm chính thức để thử và kiểm tra các giả thuyết. Nhưng hiếm khi thế giới thực mang lại một cách thử nghiệm tự nhiên khác nhằm kiểm chứng cùng một lý thuyết – các thử nghiệm tự nhiên có nhiều lợi thế hơn các thử nghiệm chính thức. Vậy, chuyện gì xảy ra nếu bạn dùng thử nghiệm tự nhiên liên quan đến Connecticut – so sánh các kết quả hàng năm của mỗi trẻ tình cờ học ở những lớp sỹ số ít với trẻ tình cờ học ở những lớp đông học sinh? Nhà kinh tế học Caroline Hoxby đã làm được điều đó, quan sát mọi trường tiểu học ở bang Connecticut, và bà đã không tìm ra kết quả nào. “Có rất nhiều nghiên cứu cho rằng họ không thể tìm thấy ảnh hưởng đặc biệt được thể hiện thông qua số liệu về sự thay đổi của một chính sách nào đó,” Hoxby chia sẻ. “Điều đó không có nghĩa là không có ảnh hưởng nào. Nó chỉ có nghĩa là họ không thể tìm thấy số liệu về nó. Trong nghiên cứu này, tôi tìm thấy những ước lượng rất chính xác xung quanh điểm 0. Tôi thu về một con số 0 tròn trĩnh. Hay nói cách khác, là nó không có ảnh hưởng gì.”

Đương nhiên, đây chỉ là một nghiên cứu. Nhưng bức tranh sẽ không rõ ràng nếu bạn quan sát mọi nghiên cứu về quy mô lớp học – và đã có hàng trăm các nghiên cứu được thực hiện trong những năm qua. 15% trong số đó tìm thấy những bằng chứng mang tính thống kê rằng học sinh trong những lớp sỹ số ít học tốt hơn. Số nghiên cứu phát hiện ra rằng học sinh ở lớp sỹ số ít học kém hơn chiếm tỷ lệ tương tự. 20% giống như nghiên cứu của Hoxby không tìm thấy ảnh hưởng gì – và khoảng 20% các nghiên cứu tìm thấy rất ít bằng chứng ở cả hai hướng đến mức không đủ cơ sở để đưa ra kết luận cuối cùng. Nghiên cứu về quy mô lớp học điển hình đã kết luận như sau:

Trong 4 quốc gia – Australia, Hong Kong, Scotland và Hoa Kỳ – chiến lược xác định của chúng tôi dẫn đến những ước tính rất không chính xác, không cho phép bất kỳ sự khẳng định tự tin nào về ảnh hưởng của quy mô lớp học. Ở Hy Lạp và Iceland dường như có những ảnh hưởng không nhỏ của việc giảm quy mô lớp học. Pháp là quốc gia duy nhất có những điểm khác biệt đáng chú ý giữa việc giảng dạy toán học và khoa học: Trong khi quy mô lớp học có ảnh hưởng khá lớn và điển hình đến việc giảng dạy môn toán nhưng các môn khoa học thì không. 9 hệ thống trường mà quy mô lớp học không ảnh hưởng đến cả lớp toán và khoa học là hai trường của Bỉ, một của Canada, một của Cộng hòa Séc, một của Hàn Quốc, một của Bồ Đào Nha, một của Romania, một của Slovenia, và một của Tây Ban Nha. Cuối cùng, chúng ta có thể bác bỏ bất kỳ ảnh hưởng đáng chú ý nào về quy mô lớp học đến thành tích học tập của học sinh ở hai nước, Nhật Bản và Singapore.

Sau khi phân loại hàng ngàn trang dữ liệu về thành tích của học sinh đến từ 18 quốc gia riêng biệt, các nhà kinh tế đã kết luận chỉ có 2 nơi trên thế giới – Hy Lạp và Iceland – “bị ảnh hưởng không nhỏ của việc giảm quy mô lớp học.” Hy Lạp và Iceland? Việc giảm quy mô lớp học ở Mỹ đã dẫn đến việc hơn 250.000 giáo viên được tuyển mới từ năm 1996 đến năm 2004. So với cùng kỳ, việc đầu tư vào mỗi học sinh tại Hoa Kỳ đã tăng 21% – với hàng chục tỷ đô-la đầu tư vào việc tuyển dụng thêm giáo viên. Có thể nói, không có ngành nghề nào trên thế giới tăng nhanh về số lượng và chi phí trong hơn hai thập kỷ qua như nghề sư phạm. Hết quốc gia này đến quốc gia khác đều lần lượt đầu tư khoản tiền tương tự để được như Shepaug Valley – nơi mỗi giáo viên đều có cơ hội biết mọi học sinh của mình – và chúng ta nghĩ rằng, “Đó là nơi phù hợp với con em mình.” Tuy nhiên, bằng chứng cho thấy điều mà chúng ta cho là lợi thế lớn có thể chưa chắc đã là lợi thế.

3.

Cách đây không lâu, tôi ngồi với một trong những người quyền lực nhất Hollywood. Ông bắt đầu câu chuyện bằng cách kể cho tôi nghe về thời thơ ấu của mình ở Minneapolis. Ông sẽ đi khắp các phố gần nhà vào đầu mỗi mùa đông để nhận đăng ký dọn tuyết ở lối dẫn vào nhà. Sau đó, ông sẽ thỏa thuận về công việc với lũ trẻ trong khu phố. Ông trả tiền khi chúng hoàn thành công việc bằng tiền mặt và thu tiền của các hộ gia đình sau bởi ông biết đó là cách chắc chắn nhất để nhóm trẻ làm việc chăm chỉ. Nhóm của ông gồm có 8 đến 9 trẻ. Vào mùa thu, họ chuyển qua cào dồn lá cây.

“Tôi sẽ đi kiểm tra công việc của chúng để báo với khách hàng rằng đường vào nhà họ đã được dọn sạch như mong muốn,” ông nhớ lại. “Lúc nào cũng có 1 hoặc 2 đứa trẻ không làm tốt, và tôi sẽ phải ‘sa thải’ chúng.” Lúc đó, ông mới chỉ là cậu bé 10 tuổi. Năm 11 tuổi, ông đã có 600 đô-la tiết kiệm trong ngân hàng, tất cả đều do ông tự kiếm được. Đó là vào những năm 1950. Và khoản tiền đó tương đương với 5.000 đô-la ngày nay. “Bất kỳ kẻ ngốc nào cũng có thể tiêu tiền. Nhưng để kiếm được nó, giữ nó và trì hoãn sự hài lòng – thì bạn phải học cách nhìn nhận nó thật khác biệt” ông nói.

Gia đình ông sống ở nơi mà người ta gọi là “khu phố hỗn hợp”. Ông học trường công và mặc lại đồ cũ. Cha ông là “sản phẩm của Thời kỳ suy thoái”, và có quan điểm rất rõ ràng về tiền bạc. Người đàn ông đến từ Hollywood nói rằng nếu ông muốn thứ gì đó – một đôi giày chạy mới hoặc một chiếc xe đạp chẳng hạn – cha ông sẽ đề nghị ông góp một nửa tiền. Nếu ông rời phòng mà quên tắt đèn, cha sẽ đưa cho ông hóa đơn tiền điện. “Ông ấy nói, ‘Này, hóa đơn tiền điện tháng này đây. Con thật lười biếng và thậm chí còn quên tắt đèn. Chúng ta đang phải trả tiền cho sự lười biếng của con đấy. Nhưng nếu tôi bật điện cả ngày để làm việc, thì lại chẳng sao.” 

Mùa hè năm 16 tuổi, ông đã đến làm việc tại xưởng kinh doanh phế liệu kim loại của cha mình. Đó là một công việc lao động chân tay rất vất vả. Ông được đối xử như những công nhân khác. “Điều đó khiến tôi không muốn sống ở Minneapolis,” ông nói. “Nó khiến tôi không bao giờ muốn làm việc cho cha mình. Thật khủng khiếp. Bẩn thỉu. Vất vả. Nhàm chán. Người tôi ám đầy mùi phế liệu. Khi nhìn lại, tôi nghĩ rằng cha tôi muốn tôi làm việc ở đó vì ông biết nó sẽ khiến tôi có động lực để làm điều gì đó tốt đẹp hơn.” 

Ở trường đại học, ông nhận và cung cấp dịch vụ giặt khô cho các bạn cùng lớp giàu có. Ông đã tổ chức các chuyến bay tự túc cho sinh viên đến châu Âu. Ông đi xem các trận bóng rổ với bạn bè và ngồi ở những ghế “chẳng ai thèm ngó ngàng” – bị che khuất bởi các trụ cột – và tự hỏi liệu được ngồi trong hàng ghế ưu tiên ngoài sân sẽ có cảm giác thế nào. Ông đã nhập học trường kinh doanh và luật ở New York, sống trong một khu phố tồi tàn ở Brooklyn để tiết kiệm tiền. Sau khi tốt nghiệp, ông được nhận vào làm ở Hollywood, có cơ hội việc làm tốt hơn, rồi tốt hơn nữa, những vụ hợp tác, những giải thưởng và hàng loạt những thành công ngoài sức tưởng tượng – hiện ông đang sống ở một ngôi nhà tại Beverly Hills có diện tích lớn như một nhà chứa máy bay, sở hữu máy bay phản lực riêng, một chiếc Ferrari, và lối dẫn vào nhà chẳng khác nào một số tòa lâu đài thời trung cổ ở châu Âu. Ông hiểu giá trị của đồng tiền bởi ông đã được “đào tạo” về giá trị và chức năng của nó trong suốt những năm tháng thơ ấu trên những nẻo phố Minneapolis.

“Tôi muốn được tự do hơn. Tôi khao khát những thứ khác biệt. Tiền bạc là một công cụ giúp tôi thỏa mãn những khát vọng và mong muốn của mình,” ông nói. “Không ai dạy tôi điều đó. Tôi đã tự học nó. Nó giống như phép thử và sai. Tôi thích hương vị ngọt ngào của nó. Tôi có được sự tự tin từ nó. Tôi cảm thấy tự tin hơn với cuộc sống của tôi.”

Ông đang ngồi trong văn phòng tại gia rộng lớn và nói rằng, cuối cùng ông cũng đã đạt được mục đích của mình. Ông có những đứa con đáng yêu. Giống như bất kỳ bậc cha mẹ nào, ông muốn chu cấp cho chúng bất cứ thứ gì chúng muốn, nhưng cũng thật mâu thuẫn. Ông đã thành công nhờ miệt mài trên hành trình dài gian khó để nắm bắt được giá trị của đồng tiền và ý nghĩa của công việc cũng như niềm vui và sự viên mãn khi tự vạch ra cho mình con đường riêng. Nhưng nhờ thành công của bản thân ông nên sẽ rất khó cho các con ông học hỏi được những bài học tương tự. Con cái của triệu phú ở Hollywood không cào lá ở các khu phố Beverly Hills. Cha của chúng không đưa hóa đơn điện hàng tháng cho chúng với vẻ mặt giận dữ nếu chúng quên tắt đèn. Chúng không ngồi ở hàng ghế “chẳng ai muốn ngồi” ở sân bóng rổ. Chúng ngồi ngay giáp sân. 

“Tôi luôn cảm thấy khó khăn khi nuôi dưỡng con trẻ trong môi trường giàu có,” ông nói. “Mọi người bị hủy hoại bởi những khó khăn về kinh tế. Nhưng họ cũng bị hủy hoại bởi sự giàu có khi đánh mất tham vọng và đánh rơi niềm kiêu hãnh cũng như không còn cảm giác gì với những giá trị của bản thân. Nghèo cũng khó mà giàu cũng không xong. Một cuộc sống vừa đủ có thể sẽ ổn hơn.” 

Ông sẽ không bao giờ sống ở đâu ngoài những ngôi nhà đẹp nhất, không ngồi ở bất cứ đâu ngoài những nơi đẳng cấp nhất. Nhưng ông không đề cập đến sự thoải mái về vật chất. Gia đình ông có 3 anh em, ai cũng nỗ lực để tạo được dấu ấn riêng trong cuộc sống. Và theo ông, một người thành đạt với khối tài sản khổng lồ hàng triệu đô-la sẽ gặp khó khăn hơn trong việc nuôi dạy con cái như cha ông đã làm. 

4.

Ông không phải là người đầu tiên rơi vào tình huống khó nghĩ này. Theo tôi, đó là điều mà hầu hết chúng ta đều hiểu, thông qua trực giác của mình. Một nguyên tắc quan trọng chi phối suy nghĩ của chúng ta về mối quan hệ giữa năng lực làm cha mẹ và tiền bạc đó là nhiều hơn không phải lúc nào cũng tốt hơn. 

Thật khó để có thể làm cha mẹ tốt nếu bạn quá nghèo. Điều đó là một sự thật hiển nhiên. Nghèo đói khiến ta mệt mỏi và căng thẳng. Nếu phải làm hai công việc để kiếm sống, bạn lấy đâu ra sức lực để đọc sách cho các con trước khi đi ngủ. Nếu bạn là một ông bố, bà mẹ đơn thân phải làm việc để nuôi sống gia đình và trang trải cuộc sống với một công việc tay chân nặng nhọc, bạn lấy đâu ra năng lượng để đem đến cho các con tình yêu, sự quan tâm, kỷ luật phù hợp để có một gia đình hạnh phúc.

Nhưng không ai có thể nói rằng càng nhiều tiền, bạn càng đảm nhận tốt vai trò giáo dục con cái. Nếu được yêu cầu vẽ một biểu đồ về mối quan hệ giữa khả năng nuôi dạy con cái và tiền bạc, bạn sẽ không vẽ theo cách này:

Tiền chỉ khiến việc nuôi dạy con cái dễ dàng hơn tới một điểm nhất định – khi nó không còn mang lại nhiều sự khác biệt nữa. Những học giả nghiên cứu về hạnh phúc cho rằng việc có nhiều tiền hơn sẽ không khiến con người ta hạnh phúc hơn khi thu nhập gia đình đạt mức 75.000 đô-lanăm. Sau đó, điều mà các nhà kinh tế học gọi là “lợi nhuận biên giảm dần” xuất hiện. Nếu gia đình bạn kiếm được 75.000 đô-lanăm và hàng xóm nhà bạn kiếm được 100.000 đô-lanăm, thì 25.000 đô-la chênh lệch sẽ chỉ đồng nghĩa với việc họ có thể lái chiếc xe đẹp hơn và đi ra ngoài ăn nhẹ thường xuyên hơn. Nhưng nó không khiến họ hạnh phúc hơn bạn, hoặc được trang bị tốt hơn để làm nhiều điều nhỏ nhặt hay lớn lao cho thấy các bạn là bậc cha mẹ tốt. Một đồ thị mô phỏng tốt hơn mối tương quan giữa năng lực làm cha mẹ và thu nhập có dạng như sau:

Nhưng đường cong đó cũng chỉ là một phần của câu chuyện. Bởi khi thu nhập của các bậc làm phụ huynh đủ cao, thì năng lực làm cha mẹ của họ bắt đầu giảm sút. Đối với hầu hết chúng ta, những giá trị trong thế giới mà chúng ta lớn lên không khác gì thế giới mà chúng ta tạo ra cho con em mình. Nhưng điều đó không đúng với những người giàu có. Nhà tâm lý học James Grubman đã sử dụng cụm từ đầy ý nghĩa, “kẻ nhập cư đến vương quốc của sự giàu có”, để mô tả thế hệ triệu phú đầu tiên – qua đó, ông muốn ám chỉ rằng họ phải đối mặt với những thách thức tương tự liên quan đến con cái họ mà bất cứ người nhập cư đến một quốc gia mới nào phải đối mặt. Một người như ông trùm Hollywood sinh trưởng ở mảnh đất của tầng lớp trung lưu, nơi sự khan hiếm là một động lực tuyệt vời, một người thầy nghiêm khắc. Cha ông đã dạy cho ông ý nghĩa của đồng tiền, sự độc lập và nỗ lực không ngừng. Nhưng các con ông lại sống trong Thế giới mới với những người giàu có, nơi các quy tắc hoàn toàn khác biệt và khó hiểu. Làm thế nào ông có thể dạy chúng về “nỗ lực làm việc chăm chỉ, sự tự lập, ý nghĩa của đồng tiền” khi chúng đang sống một cuộc sống vương giả, không cần nỗ lực làm việc chăm chỉ, tự lập, hay tìm hiểu về ý nghĩa của đồng tiền? Đó là lý do tại sao nhiều nền văn hóa trên thế giới có một câu tục ngữ mô tả những khó khăn khi nuôi dạy con cái trong sự giàu có. Ngạn ngữ Anh có câu “Shirtsleeves to shirtsleeves in three generations.” Ông cha ta cũng có câu nói “Không ai giàu ba họ, không ai khó ba đời.” Sự giàu có ẩn chứa những hạt mầm của sự hủy diệt.

“Cha mẹ phải đặt ra các giới hạn riêng. Nhưng đó là một trong những điều khó khăn nhất đối với những kẻ “nhập cư đến vương quốc của sự giàu có”, bởi họ không biết phải nói sao khi con cái họ đưa ra lý do “Nếu không mua nó, thì sẽ hết mất,” Grubman chia sẻ. “Họ không muốn nói dối con rằng, ‘Chúng ta không có đủ tiền’, bởi nếu bạn có con đang ở tuổi thiếu niên, đứa bé sẽ nói: ‘Bố đi xe Porsche, còn mẹ đi xe Maserati cơ mà.’ Các bậc cha mẹ phải chuyển từ cách nói ‘Không, chúng ta không thể’ sang ‘Không, chúng ta sẽ không làm điều đó.’”

Nhưng câu nói đó còn khó hiểu hơn nhiều. Đôi khi, ở vị trí làm cha mẹ, bạn có thể chỉ phải nói câu đó 1 hoặc 2 lần. Bọn trẻ của các gia đình trung lưu sẽ không mất nhiều thời gian nhận ra rằng thật vô ích khi hỏi xin cha mẹ mua cho một chiếc xe, bởi điều đó là không thể. 

Nhưng câu trả lời “Không, chúng ta sẽ không làm vậy” trước lời đề nghị mua một chiếc xe cần một cuộc trao đổi, sự trung thực cũng như các kỹ năng để giải thích rằng những gì có thể không phải lúc nào cũng đúng đắn. “Tôi đưa ra kịch bản này cho các bậc phụ huynh giàu có, và họ không biết nói gì,” Grubman chia sẻ. “Tôi phải hướng dẫn họ: ‘Bố mẹ có thể mua nó cho con. Nhưng bố mẹ không làm vậy. Bố mẹ thấy không cần thiết.’” Nhưng tất nhiên, bạn phải có các quy tắc riêng, và biết cách làm rõ chúng, biết cách khiến bọn trẻ tin vào chúng – tất cả những điều này đều rất khó đối với bất cứ ai, trong bất kỳ hoàn cảnh nào, và đặc biệt, nếu bạn có một chiếc Ferrari, một chiếc chuyên cơ riêng, một biệt thự ở Beverly Hills, vv…

Giàu có cũng là vấn đề của bậc cha mẹ. Người đàn ông kia đã qua cái điểm mà tiền bạc đóng vai trò quan trọng đối với mọi thứ và có thể khiến mọi việc tốt hơn. Ông đang ở cái điểm mà tiền bạc khiến việc nuôi dạy con cái trong môi trường bình thường và khéo hòa nhập trở nên khó khăn hơn. Đồ thị mối tương quan giữa năng lực làm cha mẹ và thu nhập có dạng:

Đó là dạng đường cong hình chuông. Đường cong hình chuông vốn rất khó hiểu. Chúng luôn khiến chúng ta ngạc nhiên, và một trong những lý do khiến chúng ta thường nhầm lẫn giữa lợi thế và bất lợi đó là chúng ta quên mất khi nào chúng ta đang ở trong lòng đường cong hình chuông.

Điều này đã mang chúng ta trở lại câu đố về quy mô lớp học: Chuyện gì sẽ xảy ra nếu mối quan hệ giữa sỹ số lớp học và thành tích học tập không phải như thế này:

Hoặc sẽ như thế này:

Hay như thế này:

Teresa DeBrito là hiệu trưởng trường trung học Shepaug Valley. Trong nhiệm kỳ 5 năm tại trường, cô đã được chứng kiến tỷ lệ học sinh trong mỗi lớp giảm dần theo năm. Đối với các bậc cha mẹ, đây có vẻ là một tin tốt. Nhưng đối với cô, khi nghĩ đến điều ấy, cô nghĩ ngay đến dạng đường cong cuối cùng. “Trong một vài năm tới, chúng ta sẽ có ít hơn 50 trẻ từ tiểu học lên cấp 2,” cô nói. Cô sợ, “chúng tôi rồi sẽ rất chật vật.”

Các đường cong hình chuông có 3 phần, và mỗi phần tuân theo một logic khác nhau. Phần bên trái là nơi “nhiều hơn sẽ tốt hơn”. Phần giữa là nơi “nhiều hơn cũng không có gì khác biệt”. Và phần bên phải là nơi “nhiều hơn có thể khiến mọi thứ tệ hơn”. 

Nếu nghĩ về bài toán quy mô lớp học theo cách này, bạn sẽ dần thôi cảm thấy nó khó hiểu. Số lượng học sinh trong một lớp giống như số tiền mà các bậc cha mẹ kiếm được. Tất cả phụ thuộc vào vị trí của bạn trên đường cong hình chuông. Ví dụ, Israel có truyền thống sở hữu những lớp học khá đông ở trường tiểu học. Hệ thống giáo dục của đất nước này sử dụng “Quy tắc Maimonides,” được đặt theo tên của giáo sĩ Do Thái thế kỷ XII, người ra lệnh các lớp học không được vượt quá 40 học sinh. Điều đó có nghĩa là các lớp tiểu học thường có nhiều nhất là 39. Lớp nào có 40 học sinh đồng nghĩa với việc chúng sẽ được tách đều ra thành 2 lớp. Nếu bạn thực hiện một phân tích theo phong cách Hoxby và so sánh một trong những lớp học có sỹ số đông với một lớp 20 học sinh, thì lớp ít học sinh sẽ học tốt hơn. Điều đó không có gì đáng ngạc nhiên. Một lớp với 36 hoặc 37 học sinh sẽ khiến giáo viên khó quản lý. Israel nằm ở bên trái đường cong hình chuông.

Trong những trường Hoxby quan sát, hầu hết các biến thể nằm giữa quy mô các lớp học ở cấp trung học cơ sở và phổ thông. Khi Hoxby nói rằng nghiên cứu của cô không phát hiện ra điều gì hay không tìm thấy ảnh hưởng thực sự của việc giảm quy mô lớp học xuống thấp hơn mức trung bình. Nói cách khác, đâu đó ở giữa Israel và Connecticut, ảnh hưởng của quy mô lớp học di chuyển dọc theo đường cong hình chuông tiến về phía điểm giữa – nơi việc bổ sung các nguồn lực vào phòng học sẽ ngừng mang lại trải nghiệm tốt hơn cho trẻ.

Tại sao không có khác biệt lớn giữa lớp có 25 học sinh và lớp gồm 18 học sinh? Rõ ràng, kiểu lớp sau giúp giáo viên dễ kiểm soát hơn: phải chấm ít bài hơn, ít trẻ phải quan sát và hướng dẫn hơn. Nhưng một lớp ít học sinh sẽ chỉ mang lại hiệu quả tích cực hơn nếu các giáo viên thay đổi phong cách giảng dạy phù hợp với lượng công việc đã được giảm tải. Và bằng chứng cho thấy rằng ở khoảng giữa này, giáo viên không nhất thiết phải làm điều đó. Họ chỉ làm việc ít hơn mà thôi. Đó là bản chất con người. Giả sử bạn là một bác sĩ và đột nhiên biết rằng bạn sẽ chỉ phải gặp 20 bệnh nhân vào chiều thứ Sáu thay vì 25 người với mức lương không đổi. Bạn sẽ dành nhiều thời gian với mỗi bệnh nhân hơn chứ? Hay bạn sẽ ra về sớm hơn để ăn tối với các con?

Giờ là câu hỏi rất quan trọng. Một lớp quá ít học sinh có giống việc cha mẹ kiếm được quá nhiều tiền? Tôi đã khảo sát một số lượng lớn các giáo viên ở Hoa Kỳ và Canada và đặt ra câu hỏi này với họ. Các giáo viên đều đưa ra câu trả lời khẳng định.

Đây là một phản ứng điển hình: 

Theo tôi, con số hoàn hảo là 18: như thế là đủ để các con không ai cảm thấy bị thiếu quan tâm. 18 có thể chia thành các nhóm 2, 3 hoặc 6 người – tùy theo mức độ thân mật. Với 18 học sinh, tôi có thể tiếp cận mỗi học sinh khi cần. Tiếp đến là con số 24 – thêm 6 học sinh sẽ tạo thêm chất xúc tác tranh luận trong nhóm, thêm một hoặc hai kẻ nổi loạn để thách thức hiện trạng. Nhưng để quản lý được 24 học sinh, giáo viên cần phải nỗ lực hơn. Thêm 6 học sinh nữa để có lớp 30 em, chúng ta sẽ làm suy yếu các kết nối năng động từ trước đến nay mà ngay cả những những giáo viên uy tín nhất cũng khó có thể lúc nào cũng kiên trì được.

Còn hướng ngược lại? Giảm xuống 6 học sinh so với mức chuẩn 18 học sinh. Con số 12 người sẽ quá thân mật đối với nhiều học sinh trung học để họ được bảo vệ quyền tự chủ của bản thân khi cần, và quá dễ bị chi phối bởi những kẻ khoa trương, hay bắt nạt, hoặc giáo viên của mình. Khi lớp học thu nhỏ chỉ còn 6 em, không gian quá rộng, không đủ sự đa dạng về ý kiến, trải nghiệm để mang lại sự phong phú. 

Nói cách khác, các lớp ít học sinh có thể khiến giáo viên khó quản lý như các lớp đông. Có lúc, vấn đề nằm ở số lượng các tương tác. Có lúc, nó nằm ở cường độ các tương tác tiềm năng. Như một giáo viên khác nhớ lại, “khi một lớp quá ít học sinh, không có cách nào để khiến chúng khỏi chành chọe nhau.” 

Một giáo viên trung học khác cũng đưa ra nhận xét. Gần đây, anh phụ trách một lớp 32 học sinh và không tỏ vẻ thích thú với điều này. “Khi đối mặt với một lớp đông, suy nghĩ đầu tiên của tôi là ‘Chết tiệt, mỗi lần chấm bài, tôi phải ở trường lâu hơn thay vì được về nhà sớm với các con’.” Nhưng anh cũng không muốn dạy lớp nào có sỹ số dưới 20:

Điểm mấu chốt của bất cứ lớp học nào là sự trao đổi và thảo luận, do vậy chúng ta cần đủ người để thực thi điều đó. Tôi đang dạy những lớp mà học sinh chẳng thảo luận gì, những lúc như thế, tôi có cảm giác rất nặng nề. Nếu số lượng học sinh quá ít thì việc thảo luận sẽ bị ảnh hưởng. Điều đó có vẻ lạ bởi tôi nghĩ rằng những đứa trẻ kiệm lời ngại trao đổi ở lớp 32 học sinh sẽ thoải mái hơn ở lớp chỉ có 16 học sinh. Nhưng tôi chưa xác minh được điều đó. Những trẻ nhút nhát sẽ vẫn nhút nhát cho dù ở đâu đi chăng nữa. Và nếu lớp quá ít học sinh, sẽ không có đủ tiếng nói để tranh cãi hoặc thảo luận về bất cứ vấn đề nào. Cũng khó có thể ép buộc chúng phải sôi nổi hơn nữa. Một nhóm quá nhỏ sẽ thiếu đi nguồn năng lượng có được từ sự cọ xát giữa các học sinh với nhau. 

Vậy có nên có những lớp học thực sự ít học sinh hay không? 

Tôi dạy tiếng Pháp tại một lớp gồm 9 học sinh lớp 12. Đây có vẻ là một lớp học lý tưởng phải không? Nhưng không, đó là một cơn ác mộng! Bạn không thể trò chuyện hay trao đổi bằng tiếng Pháp. Thật khó để chơi những trò chơi củng cố vốn từ vựng, kỹ năng ngữ pháp, vv… Chúng chẳng hề có động lực. 

Nhà kinh tế học, Jesse Levin, đã tiến hành một số nghiên cứu hấp dẫn về chủ đề này bằng cách quan sát các học sinh tại Hà Lan. Ông đếm số bạn mà bọn trẻ có trong lớp – hay các học sinh có lực học tương đương – và nhận thấy số lượng bạn có mối tương quan đáng ngạc nhiên với thành tích học tập, đặc biệt là đối với các học sinh khó khăn. Nói theo cách khác, nếu bạn là một học sinh – đặc biệt là học sinh nghèo – bạn cần có bạn để hỏi bài, tranh luận các vấn đề hay những lo lắng chung, để bạn cảm thấy bớt bị cô lập và được bình thường như những bạn khác. 

Levin cho rằng đây là vấn đề của những lớp có sỹ số ít. Khi có quá ít học sinh trong lớp, cơ hội để trẻ được tiếp xúc với nhiều bạn bè sẽ rất thấp. Hơn nữa, theo Levin, việc giảm bớt quy mô lớp học sẽ “cướp mất những người bạn mà những học sinh gặp khó khăn có thể học hỏi.”

Giờ thì bạn hiểu tại sao Teresa DeBrito lại lo lắng về tình hình của trường trung học Shepaug Valley rồi chứ? Cô ấy là hiệu trưởng của một trường trung học, dạy bọn trẻ ở độ tuổi đang gặp phải những khó khăn trong quá trình trưởng thành. Chúng lúng túng và lo lắng về sự thông minh của bản thân. Theo cô, để khiến chúng tham gia, khiến chúng vượt ra khỏi phần hỏi đáp đơn giản với giáo viên là việc làm “vô cùng khó khăn”. Cô muốn có sự sôi nổi và đa dạng trong các lớp học, sự sôi nổi đến từ nhiều học sinh đang phải vật lộn với cùng một vấn đề. Điều đó sao có thể xảy ra nếu nửa lớp trống không? “Bạn càng có nhiều học sinh, sự đa dạng trong các cuộc thảo luận càng lớn. Nếu các lớp ở độ tuổi này quá ít học sinh, chúng chẳng khác nào bị ‘khóa miệng’.” 

“Tôi bắt đầu dạy toán trung học ở Meriden,” DeBrito tiếp tục. Meriden là một thành phố dành cho dân lao động thu nhập thấp và trung bình ở một khu khác của bang. “Lớp học đông nhất của tôi có 29 trẻ.” Cô nói về khó khăn, vất vả, về lượng việc cần làm để nắm rõ và giao tiếp với bọn trẻ. “Bạn phải có mắt đằng sau gáy để quan sát được mọi việc diễn ra với từng nhóm trong lớp. Đầu óc bạn luôn phải ‘căng như dây đàn’ để biết ở góc lớp, lũ trẻ đang nói chuyện riêng thay vì làm những gì được hướng dẫn khi có quá nhiều học sinh trong lớp.”

Nhưng sau đó, cô đã thú nhận: Cô thích dạy lớp đó. Nó là một trong những năm thành công nhất trong sự nghiệp của cô. Khó khăn lớn của giáo viên dạy toán lứa tuổi 12-13 là phải khiến môn học thật hấp dẫn và 29 đứa trẻ hứng khởi. “Có rất nhiều bạn để chơi,” cô nói. “Chúng không chỉ chơi độc nhất với một nhóm. Chúng có nhiều cơ hội để làm mới trải nghiệm của bản thân. Và đó là vấn đề thực sự – là những gì cần thiết để làm sinh động, làm phong phú và lôi kéo lũ trẻ giúp chúng không quá thụ động.”

Quan điểm của cô đơn giản chỉ là vấn đề về quy mô lớp học, chúng tôi bị ám ảnh bởi lợi thế của những lớp học có sỹ số ít và mà không hề biết những lớp đông có điểm mạnh gì. Thật kỳ lạ khi có triết lý giáo dục cho rằng các học sinh khác trong lớp sẽ là đối thủ cạnh tranh thu hút hết sự chú ý của giáo viên, thay vì là bạn bè, cùng giúp đỡ nhau trong học tập? Khi nghĩ lại những năm tháng ở Meriden, DeBrito nói, “Tôi thích sự ồn ã. Tôi thích nghe tiếng chúng trao đổi với nhau. Âm thanh ấy thật tuyệt vời.” 

Mất một nửa giờ lái xe từ Shepaug Valley ngược lên thị trấn Lakeville, Connecticut, chúng ta đến được trường Hotchkiss. Đó được coi là một trong những trường nội trú tư nhân hàng đầu tại Hoa Kỳ. Học phí vào khoảng 50.000 đô-la một năm. Trường có hai hồ, hai sân khúc côn cầu, bốn kính thiên văn, một sân golf, và 12 cây đàn piano hiệu Steinway, loại piano có tiếng nhất. Hotchkiss là nơi đầu tư mọi chi phí vào việc giáo dục học sinh. Trung bình mỗi lớp ở trường có 12 học sinh. Điều kiện mà Teresa DeBrito lo sợ, thì Hotchkiss lại coi đó là tài sản quý giá nhất. “Môi trường học tập của chúng tôi rất thân thiện, tương tác và toàn diện,” nhà trường tự hào tuyên bố.

Tại sao một trường như Hotchkiss lại làm một điều mà rõ ràng khiến các học sinh của mình tồi tệ hơn? Câu trả lời là nhà trường không nghĩ cho học sinh của mình. Họ nghĩ về cha mẹ của học sinh, những người coi các khóa học golf, những cây đàn piano Steinway, các lớp chỉ có vài học sinh là bằng chứng cho thấy 50.000 đô-la của họ đã được đầu tư thỏa đáng. Nhưng câu trả lời tốt hơn là Hotchkiss đã rơi vào cái bẫy mà những người giàu có và các tổ chức giàu có cũng như các nước giàu có – những Goliath – thường xuyên rơi vào: trường cho rằng những thứ có thể dùng tiền để mua được luôn mang lại lợi thế thực. Đương nhiên không phải vậy. Đó là bài học về đường cong hình chuông. Lớn hơn và mạnh hơn đối thủ là điều tốt. Nhưng quá lớn và quá mạnh đến mức trở thành mục tiêu dễ dàng của một quả tên lửa có vận tốc 150 dặmgiờ thì không. Goliath đã không có được thứ hắn muốn, bởi hắn quá lớn. Người đàn ông đến từ Hollywood không thể trở thành người cha như mong muốn bởi ông quá giàu. Hotchkiss không phải là trường “tiêu chuẩn” bởi lớp học ở đây có sỹ số quá ít. Tất cả chúng ta đều cho rằng lớn hơn, mạnh hơn và giàu hơn luôn là lợi thế. Vivek Ranadivé, chàng trai chăn cừu David, và hiệu trưởng trường trung học cơ sở Shepaug Valley sẽ cho ta biết không phải vậy. 

Dịch giả Nguyễn Văn Tân, Nguyễn Trang
Nguồn: TVE-4U
Được bạn: Mọt Sách đưa lên
vào ngày: 18 tháng 10 năm 2026

« Lùi Tiến »

💬 Thảo luận

Chưa có bình luận nào — hãy là người đầu tiên chia sẻ cảm nhận của bạn!

Đăng nhập để tham gia bình luận.