Tất cả thủy thủ đều nói sóng dữ ở vịnh Hồi Kình phía đông Ninh Châu là đáng sợ nhất, nhưng đến ngày hôm đó tôi mới nhận ra, cỗ sóng dữ Hồi Kình kia so với triều trắng ở phía tây Mẫn Trung Sơn thì chẳng khác nào gợn sóng lăn tăn trong bát cháo. Đầu ngọn triều trắng mang một màu trắng muốt, cao không thấy đỉnh, che trời rợp đất dựng đứng lên như bức tường khổng lồ trước mũi thuyền, khiến người ta tuyệt nhiên chẳng nhìn thấy chút hy vọng nào.
Con thuyền tôi đi là một chiếc thuyền mộc lan đã qua cải tạo, kiên cố vững chãi hơn bất kỳ con thuyền nào tôi từng thấy. Hàng hóa chất bên trên cũng rất kỳ quái, dưới khoang thuyền tôi nhìn thấy rất nhiều mảnh khiên tròn đúc bằng đồng thau, mỗi mảnh to cỡ miệng đĩa, bên trên đục những lỗ xỏ dây to bằng quản bút đối xứng nhau, phía dưới vài mảnh đồng còn có lỗ rỗng hình vầng trăng khuyết. Ở một khoang thuyền khác lại chất đầy những thanh đao dài đến phát khiếp, chất sắt tuyệt hảo, hỏa hầu tôi luyện vô cùng thấu đáo, chuôi đao vừa dài vừa dẹt lại mang độ cong kỳ lạ, bên trên chạm trổ hoa văn hình thoi đan chéo và một hàng lỗ đối xứng. Cầm nó trên tay thấy gượng gạo vô cùng, tựa hồ gã khổng lồ sử dụng nó là để tự chặt đầu mình vậy. Ngoài ra còn có những vòng đeo tay to như chiếc chậu rửa mặt, những mũi thương sắt nặng như bàn thạch mà hai ba chàng trai Vũ tộc cũng không nhấc nổi. Tóm lại toàn là những món hàng tôi chưa từng thấy bao giờ, nhưng đám thương nhân Man tộc bên kia lại chỉ thu mua thứ này, nghe nói bọn họ còn phải cưỡi lạc đà đi tiếp về phía tây ròng rã nửa năm nữa, tới khu chợ khổng lồ trong truyền thuyết mà quỷ mới biết nằm ở nơi nao. Đám thủy thủ trên thuyền mỗi khi bàn luận về chuyện này đều tỏ ra vô cùng tường tận và đầy vẻ lão luyện. Họ đích thực là những thủy thủ cừ khôi nhất, thích khoác lác nhưng khinh thường những lời đồn nhảm nhí, siêng năng tháo vát mà tuyệt đối không thừa thãi một động tác vô ích nào. Họ đi lại thoăn thoắt trên con thuyền chao đảo, trong đêm tối có thể dễ dàng từ ngọn cột buồm lắc lư này nhảy sang ngọn cột buồm khác. Ngay cả một kẻ lăn lộn nửa đời người trên tàu bè và bến cảng như tôi cũng chẳng biết tìm đâu ra một thuyền thủy thủ dày dạn kinh nghiệm đến nhường này nữa.
Thuyền trưởng dẫn theo đám thủy thủ ấy đã qua lại tuyến hải trình này nhiều lần, ông vô cùng tự tin, nhưng con thuyền của chúng tôi rốt cuộc vẫn sa vào chiếc bẫy gầm thét do biển cả giăng ra. Triều trắng ập đến bất thình lình, hoàn toàn không có điềm báo trước, con thuyền lớn của chúng tôi bị sóng biển tóm lấy, xô đẩy về phương tây mịt mùng khôn xiết, hệt như sợi lông hồng bị cuồng phong cuốn phăng đi.
Có người nói triều trắng là do đôi cánh của chim Đại Phong quạt sóng biển cuộn lên mà thành, đó là lý do vì sao nó luôn xuất hiện bất thường và không báo trước. Dù sao tôi cũng chẳng mấy tin, bởi lẽ trước khi luồng gió lạnh thấu xương nổi lên, tôi đang chịu trách nhiệm trông chừng trên đỉnh cột buồm, thành thực mà nói tôi không hề nhìn thấy một bóng chim khổng lồ nào trên bầu trời cả.
Bất luận có thật hay không, một khi đã bị triều trắng tóm lấy thì thuyền trưởng và thủy thủ xuất sắc đến đâu cũng bất lực tự cứu mình. Chúng tôi chặt đổ cột buồm, trốn vào khoang thuyền, phó mặc số mệnh cho các vì tinh tú. Gió quất như roi vào mạn thuyền dày cộp, đẩy con thuyền lao vút về phía trước với tốc độ kinh hoàng ròng rã mười lăm ngày mười lăm đêm. Chúng tôi nấp dưới khoang, đột nhiên nghe thấy tiếng vang ầm ầm như sấm sét, thậm chí át cả tiếng gió gào. Vừa nghe thấy âm thanh ấy, những người co ro trong khoang mặt mày lập tức trắng bệch, ai nấy đều hiểu đại hạn đã tới.
Có vài thủy thủ không cam lòng chen chúc lên boong thuyền ráng sức nhìn ra ngoài, quả nhiên trên tầng mây đen kịt mù trời, họ lờ mờ trông thấy một góc vách đá lởm chởm nhô ra. Những tiếng nổ rền vang như sấm sét kia chính là tiếng sóng dữ vỗ ầm ầm vào vách đá. Con thuyền bị gió đẩy đâm sầm về phía vách đá, không còn chút đường chống cự nào, cuối cùng nó hệt như một nhân quả óc chó bị nhấc bổng lên cao rồi đập nát vụn vào vách đá bazan đen kịt dựng đứng. Tôi bị hất văng ra khỏi khoang thuyền, chỉ cảm thấy bản thân không ngừng rơi xuống, ký ức cuối cùng trước khi mất đi tri giác là tiếng sóng gầm rền vang bất tận bên tai.
Chẳng biết đã trôi qua bao lâu, trong cơn mê man tôi lại nghe thấy tiếng sấm rền mơ hồ, tôi lờ mờ nghĩ, nói vậy là mình vẫn đang nằm dưới đáy nước sao.
Có một thứ tựa như chiếc chày gỗ lớn thọc thọc vào ngực tôi: "Này." Một giọng nói trầm đục ầm ầm truyền đến từ trên cao.
Tôi mở mắt ra, giật bắn mình. Dưới ánh nắng chói chang, một chiến binh to lớn sừng sững như núi đang cúi đầu dùng ngón trỏ chọc vào người tôi: "Này." Hắn nói, giọng phát ra mang theo tiếng vang vọng ầm ầm từ trong lồng ngực.
Hắn cúi thấp người xuống, tôi thấy mình đang đối diện với một đôi mắt to như chiếc mâm đồng đỏ như máu, bất giác co rúm người lại về phía sau. Về sau tôi mới nhận ra cả tầm nhìn của mình đều đỏ quạch, hóa ra là máu chảy từ trán xuống làm nhòe nhoẹt khắp mặt tôi. Thủy triều đã rút, mặt trời chói chang, trên bầu trời chẳng có lấy một gợn gió. Tôi thấy mình đang nằm trên một bãi đá ngầm lởm chởm như răng chó, khắp người chằng chịt vết thương do san hô sắc nhọn cứa rách, nắng rọi khiến đầu óc váng vất, mấy lần gắng gượng giãy giụa mà không sao đứng dậy nổi.
Hắn ngồi xổm dưới đất nghiêng đầu ngắm nhìn tôi như một con thú nhỏ tò mò, hơi thở phì phò như cơn gió thổi bay vạt áo và mái tóc tôi. Tôi đoán gã này nếu đứng thẳng dậy chắc phải cao đến mười tám thước, tựa như một tòa lầu nhỏ. Hắn có cái đầu trọc lốc, ngũ quan thô kệch như thể được đẽo gọt từ đá tảng, tấm da thú khoác chéo qua vai để lộ một cánh tay cơ bắp cuồn cuộn cùng làn da màu nâu sẫm, trên lớp da trần trụi ấy xăm đầy những hình thù mãnh thú cùng hoa cỏ mà tôi không hề nhận biết.
"Hầy." Hắn lại chọc tôi một cái.
Dáng vẻ hốt hoảng thụt lùi của tôi có lẽ đã đem lại niềm thích thú vô cùng cho gã khổng lồ, hắn ôm lấy đầu gối ngửa người ra sau bật cười ha hả. Tôi nhìn thấy trong khóe miệng cong lên của hắn để lộ hàm răng sáng loáng, hệt như một hàng đá trắng. Hắn nghiêng đầu, nói về một phía: "Dã hốt tư dã cai, hốt tư hãi." Tôi nhìn theo ánh mắt hắn, phát hiện trên những tảng đá cao xung quanh còn đứng mấy gã khổng lồ vóc dáng chẳng kém gì gã này, bọn họ ngửa nghiêng trên những tảng đá trơn nhẵn, phát ra những tràng cười ầm ầm như sấm. Tôi đoán họ đang chế nhạo mình.
Họ cười rất lâu, làm mặt quỷ, ôm bụng, đấm thùm thụp xuống mặt đất, như thể trên thế gian này chẳng còn việc gì khác để làm nữa. Lát sau lại có một chiến binh cao lớn vạm vỡ trèo xuống, mái tóc màu rơm xõa rượi như rong biển trên đôi vai trần, hắn hiểu được đôi chút tiếng của người thảo nguyên.
"Nếu kẻ tí hon này còn sống," hắn dùng giọng điệu khinh khỉnh nói với tôi, "Đừng sợ. Lôi Viêm Phá đã phát hiện ra ngươi, ngươi liền trở thành khách của hắn, hắn phải dốc hết sức mình để thết đãi ngươi."
Tôi nhanh chóng hiểu ra kiểu thết đãi này nghĩa là thế nào.
Lôi Viêm Phá tháo một túi da khổng lồ bên thắt lưng ra, tôi ngửi thấy mùi hương nồng đượm cay nồng của rượu mạnh. Hắn đưa miệng túi tới bên môi tôi, ra hiệu muốn rót rượu, tôi vừa định mở miệng từ chối thì gã khổng lồ lỗ mãng kia đã cởi miệng túi, nhắm thẳng đầu tôi dội tuột xuống. Dòng suối rượu tạt thẳng vào mặt, vào mắt và lỗ mũi tôi, suýt nữa đánh gục tôi ngã nhào xuống đất, những vết thương trên đầu và trên người xót ran bỏng rát. Dưới dòng rượu xối xả tôi sặc sụa thở hổn hển, kinh hãi thầm nghĩ, mình vừa mới thoát chết dưới biển sâu, chẳng lẽ giờ lại chết chìm trong vò rượu này sao.
Lôi Viêm Phá cuối cùng cũng thấy mình có thể ngừng thết đãi tôi được rồi. Tôi vừa thở dài vừa lắc đầu hất sạch nước rượu trên tóc, còn hắn thì nhăn răng cười toe toét, hiển nhiên vô cùng hài lòng với mọi chuyện. Hắn lắc lắc túi rượu, thấy chẳng vơi đi là bao, bèn hớn hở móc nó trở lại thắt lưng. Tôi như một con chó vừa vớt từ vò rượu lên, ướt sũng run lẩy bẩy dưới ánh mặt trời, có điều rượu mạnh cũng tiếp thêm cho tôi sức lực, tôi lồm cồm bò dậy, nhìn rõ nơi chúng tôi đang đứng là dưới chân một vách đá đen kịt âm u. Tôi chỉ cho họ thấy xác con thuyền gỗ lớn dưới chân vách đá, nó chỉ còn trơ lại mấy nan sườn cong queo cùng ít mảnh vải buồm rách nát, ngoài ra còn có rất nhiều hòm gỗ mắc kẹt trong khe đá.
Trong lúc chúng tôi đang nhìn thì một con sóng ập tới, cuốn phăng nốt những mảnh tàn tích cuối cùng của con thuyền lớn đi mất. Bọn họ lại ngồi xổm trên tảng đá ngầm cười rộ lên. Họ luôn cười điên cuồng như thế trước những chuyện mà tôi thấy chẳng buồn cười chút nào.
Mấy chiếc hòm gỗ vỡ toang, lộ ra những chiếc đĩa đồng bên trong. Giờ thì tôi đã biết những chiếc đĩa đồng này chỉ là đồ trang trí, bởi vì trên bắp tay của họ tôi cũng thấy đeo vật tương tự được buộc bằng sợi dây da thô to, dây da được đan chéo thành hình thù đẹp mắt, nơi lỗ rỗng hình vầng trăng khuyết còn treo mấy túm tua rua bằng da.
Tôi đề nghị họ kéo những chiếc đĩa đồng đó lên bờ, nhưng lần đầu tiên họ lộ vẻ mặt nghiêm túc, từ chối ý tốt của tôi. Không còn nghi ngờ gì nữa, những người Khoa Phụ này từ chối nhận ân huệ của kẻ khác, bởi điều đó đồng nghĩa với việc họ phải tìm cách báo đáp. Nếu ân huệ ấy đến từ người chết thì hiển nhiên lại càng rắc rối hơn.
Trước kia tôi đã biết ranh giới phía tây Hãn Châu gọi là Thương Châu, nơi đó có những người khổng lồ thân hình hộ pháp sinh sống, bọn họ được gọi là Khoa Phụ. Đôi khi, ở những thành thị phồn hoa tại Đông Lục cũng có thể bắt gặp vài người Khoa Phụ, bến cảng Tuyền Minh có mấy gã to lớn như thế, tuấn mã dõng dạc cũng chỉ cao tới rốn họ, họ làm hộ viện bảo tiêu trong những tửu lầu của đám nhà giàu. Những tửu lầu như vậy thường đứng hàng đầu hàng nhì trên khắp Uyển Châu, và tuyệt đối không có tên lưu manh vô lại nào dám bén mảng thử sức với uy lực của đám bảo tiêu ấy.
Thế nhưng đám bảo tiêu dũng mãnh kia tuyệt đối không thể đem ra so sánh với những người khổng lồ trước mặt tôi đây. Lôi Viêm Phá cùng các đồng bạn của hắn trông cao lớn và tráng kiện hơn nhiều, tựa như những ngọn núi nhỏ biết di động, voi lớn đâm sầm vào lồng ngực họ e rằng cũng bị đánh văng nát bấy. Tôi đoán những chiến binh khổng lồ sống ở nơi cực tây này mang dòng máu Khoa Phụ thuần khiết chưa từng bị vấy tạp, thế nên thân hình họ mới khổng lồ đến nhường ấy.
Tôi bắt chuyện với gã Khoa Phụ biết tiếng Man tộc, được biết bọn họ là những chiến binh lang bạt khắp nơi trên hoang nguyên để tìm kiếm vinh dự. Tôi hỏi hắn làm sao mới có thể quay về nơi có con người sinh sống.
"Hỏa Lôi Nguyên ư? Quê hương của đám người lùn tịt cưỡi ngựa đó sao? Ngươi phải đi về hướng mặt trời mọc, vượt qua sông Đại Cát, rồi đi tiếp ba ngày nữa, vượt sông Vô Định, tiếp theo là sông Thổ Hỏa La, sông Cáp Lạp Đồ, sông Thạch Lặc Kha, sông Bạch Điểu Khố Cát. Bạch Điểu Khố Cát là một con sông lớn, vào mùa khô trong phạm vi một trăm dặm dòng chảy đều là đầm lầy, ngươi phải đợi đến mùa đông khi đầm lầy đóng băng mới có thể vượt qua; sau đó là sông Thất Nhi, sông Thủy Tất, sông Vạn Tuyền, sông Xích, sông Khổng Tước. Vượt qua sông Khổng Tước là ngươi đã tới địa giới của người Khoa Phụ Hàn Phong, ngươi có thể rẽ về hướng đông nam, đi qua sông A Sạ, sông Ba Chiêm Hãn, sông Thiết Tuyến, sông Hổ Đạp, rồi mới tới được quốc gia của đám người tí hon kia."
Tôi bị tên của những con sông đó làm cho mê muội đầu óc, có lẽ đám người khổng lồ này đều tính hành trình bằng các con sông: "Nói vậy là rất xa sao?"
"Xa vô cùng." Hồn Man Lực, gã Khoa Phụ biết tiếng Man lớn tiếng reo lên đầy khoái chí, ngửa cổ dốc một ngụm rượu lớn vào họng: "Trên thực tế, ta chẳng biết có ai từng đi hết con đường đó chưa. Bọn họ đều chết dọc đường cả rồi." Túi da bò đựng rượu của hắn cũng tương tự như của Lôi Viêm Phá, to đến phát khiếp. Sau này tôi mới biết mỗi người họ đều mang theo một túi da bò lớn đựng rượu bên mình, không có rượu bọn họ sẽ ủ rũ rầu rĩ, làm việc gì cũng chẳng nhấc nổi hứng thú.
Một gã khổng lồ khác bắt đầu nói chuyện với tôi, trông hắn có vẻ trầm tĩnh hơn những người khác, quan sát cũng tỉ mỉ hơn. Râu tóc hắn đen tuyền, nhưng con ngươi trong mắt lại trắng bệch. Hắn hỏi: "Ngươi đến đó làm gì? Dù ngươi cũng là một kẻ tí hon, nhưng trông không giống đám người lùn tịt cưỡi ngựa kia."
"Tôi đang tìm một người," tôi nói, khoa tay miêu tả dáng dấp của nàng: "... Một cô nương cao chừng này. Nàng rất hoạt bát đáng yêu, tiếng cười như tiếng chim diệc, nàng dùng dao găm và nỏ ngắn, nàng vụng về lắm, đi đường cũng tự vấp ngã..."
Bọn họ lại bắt đầu cười ầm ầm như sấm: "Bọn ta không bao giờ vì một người đàn bà mà rầu rĩ mặt mày đâu," Hồn Man Lực bảo tôi: "Ngươi nhất định là bị bệnh rồi. Nhưng không sao, bệnh này rồi sẽ qua thôi."
Bọn họ quả thực rất sợ vì đàn bà mà sinh bệnh, bởi vì sinh bệnh sẽ khiến họ trở nên nhu nhược yếu đuối, nhưng nhìn chung bọn họ đối với người mang bệnh vẫn rất bao dung rộng lượng. Khi tôi khăng khăng đòi tìm cho bằng được cô gái ấy, bọn họ nhìn nhau gật đầu, lộ vẻ thấu hiểu. Hồn Man Lực không chế nhạo tôi nữa, bảo: "Phải rồi, ngươi nên đi cùng bọn ta, chuyện này chỉ có Độ Mẫu mới giải quyết được, bà ấy không gì không biết, không gì không thấu. Bọn ta cũng phải đi gặp bà ấy, nhưng trước đó bọn ta phải tới chợ khổng lồ dạo một chuyến đã."
Tôi mất một hồi lâu mới vỡ lẽ ra, Độ Mẫu chính là một chức vụ tương tự như tế ty của Vũ tộc hay Hợp Tát của người Man trong tộc Khoa Phụ, bọn họ quan sát tinh tú, bói toán tương lai, nhưng đều sống lánh đời cách biệt. Lục Sư Độ Mẫu mà họ định bái phỏng là một trong những vị quan trọng nhất, tế đàn của bà nằm ở một nơi cực kỳ bí mật, thông thường chỉ có những người Khoa Phụ trải qua muôn vàn thử thách mới tìm được nơi ở của bà.
Tôi thầm toan tính, tôi vốn chẳng tin tôn giáo và tế ty của họ, nhưng việc tìm kiếm người yêu đã tiêu tốn của tôi mười năm ròng rã, bất kỳ một khả năng nào tôi cũng không nỡ bỏ qua, dẫu cho vị nữ tế ty mà họ tín phụng chỉ có thể cho tôi vài lời đồn đại hư ảo cùng những lời mê sảng lảm nhảm, thì cùng lắm cũng chỉ tốn thêm vài tháng nữa mà thôi.
"Tôi đi," tôi nói: "Tôi có thể đi cùng các anh chứ?"
"Chuyện đó không thành vấn đề," Hồn Man Lực nói, quyết định dứt khoát nhanh chóng của tôi dường như hơi nằm ngoài dự liệu của hắn: "Nếu theo kịp bước chân của bọn ta thì cứ việc tới." Bọn họ đồng loạt quay người, trèo lên vách đá dựng đứng mà trong mắt tôi là không thể vượt qua nổi kia, nhưng thực ra bọn họ chỉ đùa một chút thôi, nhìn thấy dáng vẻ chán nản của tôi dường như khiến họ đặc biệt vui sướng.
Lôi Viêm Phá nhảy ngược trở lại, túm lấy tôi đặt lên bờ vai hắn: "Nha tư hốt khái lực dã bạt la cáp." Hắn lầu bầu một câu, rồi thoăn thoắt trèo lên vách đá cao ngất như một con sơn dương. Hồn Man Lực bảo câu hắn vừa nói là "ngươi chẳng nặng hơn một cọng lông vũ là bao", còn tôi thì nhìn thấy trước mắt mình mở ra một vùng hoang nguyên man dã.
Dẫu đang độ giữa hè, ánh nắng chói chang gay gắt, nhưng tiết trời thực tế lại vô cùng lạnh lẽo, trên mặt đất chỗ này một đống tuyết, chỗ kia một vũng tuyết đọng, những bụi liễu lùn màu xanh sẫm mọc xen lẫn với thạch nam cao thấp trồi sụt, rêu phong cùng địa y xanh biếc. Giá rét bao trùm lấy bãi hoang vu này, phóng tầm mắt nhìn ra, khắp bãi cằn cỗi rải đầy sỏi đá đen ngòm như đống gạch ngói vụn sau cơn hỏa hoạn, đến gần mới phát hiện những hòn cuội nhỏ kia hóa ra đều to lớn như nhà cửa, voi dữ. Trong khe hở giữa các khối cự thạch, từng luồng hơi nước phun xì xì ra khỏi mặt đất, tụ lại thành những làn mây mù hồi lâu không tan, lượn lờ sát mặt đất. Đám Khoa Phụ sải bước dài vượt qua, cơ vai của Lôi Viêm Phá dưới thân tôi nhịp nhàng căng ra rồi thả lỏng, trong miệng hắn phả ra từng luồng khí trắng xóa rồi nhanh chóng bị gió thổi tan biến.
Bên lề con đường chúng tôi đi thỉnh thoảng lại đột ngột phun lên một cột nước suối nóng sôi sùng sục, rồi lại rít lên xì xì rớt rụng xuống. Bọn họ đối với những kỳ cảnh này sớm đã quen mắt chẳng lấy làm kinh ngạc. Hồn Man Lực nói cho tôi biết có cả một vùng hồ mà nước bên trong đều sôi sùng sục cả. Tôi bỗng nhiên vỡ lẽ, nơi đây chính là Băng Viêm Địa Hải trong truyền thuyết. Nói như vậy, tôi chán nản nghĩ, con thuyền của chúng tôi đã bị cuồng phong thổi dạt tới tận rìa cực tây của Thương Châu rồi.
Chợ khổng lồ nằm sâu trong nội lục rất xa, vả lại suốt dọc đường đều vô cùng khó đi, đó là lý do vì sao đám thương nhân Man tộc lại chọn đi đường biển. Nhưng hành quân gian khổ trên vùng hoang dã tiêu điều đối với những người Khoa Phụ cao lớn dường như chẳng phải là vấn đề to tát gì. Họ thích thú bươn bả, suốt dọc đường lại lớn tiếng trò chuyện bằng thứ ngôn ngữ khó hiểu, trêu đùa nhau, rồi theo lệ thường lại là một tràng cười ầm ĩ như sấm động. Điệu cười của họ vô cùng khoa trương, có lúc thậm chí cười đến mức không kiềm chế nổi, sướng quá trượt chân từ trên đường lăn cù cù xuống rãnh, gây nên một phen nhốn nháo xôn xao.
Ngay cả Lôi Viêm Phá đang cõng tôi cũng chẳng mảy may để tâm tới việc mình đang có một hành khách trên lưng, không hề biết tiết chế, có nhiều lần hắn cười đến nỗi hoa cả mắt chẳng nhìn rõ đường, vấp phải đá ngã nhào ra đất, lăn lông lốc ra xa mấy bước. Tôi đành phải chốc chốc lại nhắm chuẩn thời cơ nhảy phắt từ trên lưng hắn xuống, để khỏi bị gã điên này đè bẹp dí.
Ngoại trừ điểm đó ra, những người Khoa Phụ cao lớn này thực sự vô cùng thích hợp cho việc hành quân. Chẳng cần chạy, một bước sải chân của họ bằng bốn năm bước của chúng tôi, vả lại thể lực của họ vô cùng dồi dào, khắp người treo lủng lẳng khiên, đao, kiếm, chiến phủ cùng đủ thứ đồ tương tự. Về sau tôi mới biết trong số họ không ai là không đeo vũ khí bên mình, ngay cả đàn bà và người già cũng chẳng ngoại lệ. Ban đêm họ cũng không cởi giáp trụ và binh khí, họ ngủ trong tình trạng vũ trang đầy đủ.
"Trừ phi một kẻ đột nhiên béo ú lên đến mức không ních vừa giáp của mình nữa, hắn mới cởi giáp hộ tâm hoặc hộ kiên ra, đi tìm thợ rèn đổi bộ khác." Hồn Man Lực nói với tôi như thế. Tôi chẳng rõ hắn có đang nói đùa hay không, bởi vì bản mặt hắn lúc nào cũng nhơn nhơn cợt nhả. Thế nhưng theo tôi thấy, bọn họ dường như cực kỳ xem nhẹ mũ giáp, dẫu cho nó cứ treo lủng lẳng bên thắt lưng, lúc chạy va đập vào búa rìu kêu leng keng loảng xoảng, song tôi chưa từng thấy ai trong số họ đội thứ đồ trang trí sừng cong nặng trịch cùng miếng sắt hộ ngạch dài ngoằng ấy lên đầu cả.
Tôi không quen với việc lắc lư trên vai họ, dẫu cho cột buồm giữa đầu sóng ngọn gió còn chao đảo dữ dội hơn nhiều. Rời xa biển cả, tôi dường như có chút hụt hẫng bơ vơ. Giờ phút này càng lúc càng xa cách nó, khiến tôi không kìm nén nổi một nỗi bi thương dâng trào. Đối với điều này, đám Khoa Phụ vui vẻ kia tuyệt nhiên chẳng thể nào hiểu thấu.
Bọn họ tổng cộng có sáu người Khoa Phụ, thảy đều là những chiến binh trẻ tuổi thuộc cùng một bộ tộc.
Hồn Man Lực là một thanh niên tinh lực dồi dào vô biên, hắn có thể tìm thấy niềm vui trong bất cứ chuyện gì. Khi một con lợn bướu từ bụi rậm phóng vọt ra, hắn la hét ầm ĩ đuổi theo sau, đuôi con lợn bướu vểnh thẳng đơ, kêu thấu tận trời xanh, chạy lạng lách ngoằn ngoèo. Những người khác dừng bước lại, cũng chẳng xông lên giúp đỡ, chỉ đứng một bên cười như phát dại. Con lợn bướu béo mầm sùi bọt mép, đột ngột rẽ ngoặt một góc gấp khúc, mắt thấy sắp sửa trốn thoát thì Hồn Man Lực rút từ sau lưng ra một chiếc rìu hai lưỡi nặng trịch, xoay tít ném phăng đi.
Cáp Lang Tê, gã khổng lồ có mái râu tóc đen tuyền — tôi nhận ra hắn là thủ lĩnh của họ qua một vài cử chỉ và động tác tinh tế — mỉm cười nói: "Tối nay có đồ ăn rồi." Hắn có một đôi mắt nhân từ và khoan hậu, nhưng chẳng hiểu sao mỗi lần đối mắt với hắn, bắp chân tôi lại bất giác run rẩy nhè nhẹ.
Lôi Viêm Phá giống như phó thủ lĩnh của họ, thế nhưng vị trí này đôi khi lại như thuộc về một người Khoa Phụ tên là Hồn Hồ Nha, Hồn Hồ Nha trông trẻ trung và nhanh nhẹn hơn, thường nói những câu dí dỏm khiến mọi người xung quanh cười nghiêng ngả. Hồn Phá Nộ thì hầu như vẫn còn là một đứa trẻ, còn Lôi Bạt Đinh lại là kẻ cao lớn vạm vỡ nhất trong số bọn họ.
Cáp Lang Tê đích thực là thủ lĩnh của họ, bởi vì tối hôm đó hạ trại, khi chúng tôi ngồi dưới một tảng đá lớn nướng thịt, bọn họ đã đưa miếng thịt đùi sau ngon nhất cho hắn. Ngoài điều đó ra, đồ ăn thức mặc của họ trông chẳng có gì khác biệt cả, điểm này khiến tôi đặc biệt kinh ngạc. Ban ngày, tôi thấy một món đồ trang trí bằng kim loại đeo trên vai phải của họ vô cùng bắt mắt, đó là hình đầu báo nhe răng hổ ngoạm mồi được bao quanh bởi họa tiết lá non uốn lượn của cây hồng thảo, vòng ngoài viền bằng sừng bò hoặc ngà voi thô to, có lẽ là huy hiệu của bộ lạc họ. Lúc này dưới ánh lửa bập bùng, tôi nhận ra hoa văn đầu báo của họ được đúc bằng những kim loại khác nhau, chẳng hạn như của Cáp Lang Tê là hồng kim, Lôi Viêm Phá dùng bạch ngân sáng loáng, còn đồ trang trí của Hồn Man Lực cùng những gã khổng lồ khác lại là một loại kim loại màu xanh chẳng rõ chất liệu gì. Đó là điểm khác biệt duy nhất mà tôi phát hiện ra.
Giả sử từ đó có thể phân định họ là những chiến binh thuộc địa vị và đẳng cấp khác nhau, thì giờ phút này họ lại ngồi bình đẳng quây quần quanh đống lửa, thoải mái chuyện trò, ném xương qua lại trêu đùa nhau. Ở bộ tộc Vũ nhân chúng tôi, kẻ nào không phân biệt trên dưới mà cợt nhả thì sẽ bị lôi ra ngoài chịu hình khắc chữ lên mặt, nhưng giữa đám người khổng lồ dã man này dường như chẳng hề có cấm kỵ gì, Hồn Man Lực cũng có thể đem Cáp Lang Tê ra làm trò cười.
Tôi kể với họ rằng ở chỗ chúng tôi mọi thứ phức tạp hơn nhiều. Vũ nhân phân chia giai tầng rắc rối, thân phận địa vị được cố định bằng phương thức thế tập. Y phục, thức ăn, đồ dùng, nhà ở, hành vi cử chỉ của mỗi người đều có quy định và hạn chế nghiêm ngặt.
"Đúng là kẻ tí hon kỳ quặc," bọn họ bảo, "Bày vẽ phức tạp như thế, bản thân các ngươi không bị lẫn lộn sao?"
Dù suốt cả ngày tôi chẳng phải chạy bước nào, nhưng mức độ mệt mỏi cũng chẳng kém gì việc ngồi trên lưng ngựa xóc nảy. Sự mệt mỏi dần dà ùa lên trán, hơi ấm của ngọn lửa khiến tôi ngật ngưỡng buồn ngủ. Ngay khi đầu tôi từ từ gục xuống ngực thì bên tai đột nhiên vang lên tiếng rít xé gió dữ dội, tôi lăn vội sang bên cạnh, suýt nữa lăn tọt vào đống lửa. Đầu lâu con lợn rừng gặm sạch thịt đập trúng chỗ tôi vừa ngồi phát ra tiếng nổ ầm kinh hoàng, vỡ toang làm bốn mảnh.
Nhìn dáng vẻ chưa hoàn hồn của tôi, bọn họ phát ra một tràng cười ngắn ngủi, dường như chẳng hề bận tâm nếu tôi không né kịp đòn đó thì đã bị đập chết tươi rồi: "Phải luôn giữ cảnh giác," Hồn Man Lực nói với tôi: "Ngươi phải biết lúc nào có thể thả lỏng hoàn toàn, lúc nào thì không." Hắn vỗ vỗ vào chuôi kiếm, ra hiệu cho tôi thấy vùng hoang nguyên xung quanh này tràn ngập mối đe dọa.
Trò quậy phá trong bữa tiệc tối cuối cùng cũng kết thúc, đám Khoa Phụ trải mấy tấm da lông hôi rình ra, ngả lưng xuống là tiếng ngáy rền vang như sấm bắt đầu nổi lên. Tôi nằm trên tấm da do Lôi Viêm Phá đưa cho, nhưng lại trằn trọc trở mình không sao chợp mắt nổi. Tôi cứ mải tưởng tượng nỗi sợ hãi trên hoang dã mà Hồn Man Lực vừa chỉ cho tôi xem là thứ gì. Lũ chiến binh điên khùng chết tiệt này, vừa rồi chúng còn không cho phép tôi chợp mắt, giờ khắc này lại vô tâm vô phế ngáy o o ngủ say như chết, chẳng thèm chừa lại người nào gác đêm cả.
Đêm khuya thanh vắng, giữa chốn hoang vu bỗng truyền đến một hai tiếng gầm rú rợn người, vài âm thanh sột soạt kỳ quái vụt nhanh qua tảng đá nơi chúng tôi nương náu, tôi nằm trên tấm da bồn chồn đứng ngồi không yên. Một tiếng gầm dường như ngay sát sườn, rồi sau đó là một tràng âm thanh hỗn loạn quẫy đạp đánh đấm, xen lẫn tiếng kêu thảm thiết của thú nhỏ.
Tôi rón rén bò dậy khỏi tấm da, nhưng phát hiện một gã khổng lồ dựa nghiêng vào tảng đá lớn lập tức nín bặt tiếng ngáy, mở một con mắt ra nhìn tôi. Hắn giơ một ngón tay lên điểm điểm mang tính cảnh cáo, sau đó lại lăn ra ngủ tiếp.
Được thôi, tôi ôm bụng đầy ngờ vực nằm trở lại đất, lấy tấm da bọc kín đầu, cố gắng ngủ thiếp đi giữa tiếng gầm gừ thỏa mãn trong bóng tối của con thú lớn nào đó chẳng rõ. Thính lực của lũ khổng lồ này nhạy bén tới mức nghe thấy cả tiếng tôi bò dậy, chẳng lẽ lại không nghe thấy tiếng mãnh thú ăn thịt gầm rống hay sao? Tôi đồ rằng mãi tới tận hừng đông mình mới lơ mơ chợp mắt được một lát, Lôi Viêm Phá đã tóm lấy vai tôi lắc mạnh lay tỉnh. Bọn họ quẳng tôi lên vai rồi lại bắt đầu bươn bả về phương bắc, không đả động nửa lời tới những âm thanh đêm qua, như thể hoàn toàn chẳng biết một trận tàn sát vừa diễn ra ngay sát bên cạnh chúng tôi vậy.
Ngày này qua ngày khác, chúng tôi băng qua hoang dã tiến về phương bắc, hễ bắt được ít cáo hay lợn rừng thì chúng tôi ăn thịt, lúc không săn được con mồi thì thỉnh thoảng cũng ăn ít quả mọng cùng rễ cỏ, nếu cả hai đều không có thì ôm bụng đói qua đêm. Tôi thì có ngón nghề bắt cá cừ khôi, tiếc thay trên bãi hoang nguyên này lại chẳng có đất dụng võ. Bất kể bữa tối là gì, lũ khổng lồ này đều hớn hở đùa nghịch ầm ĩ bên đống lửa, bụng đói cồn cào cũng chẳng làm giảm đi nhã hứng của họ. Chỉ có điều tần suất uống rượu của họ ngày một thưa thớt dần, theo độ xẹp xuống của chiếc túi da bò lớn kia, khuôn mặt họ cũng dần dà dài thượt ra từng chút một.
Cuối cùng chúng tôi cũng vượt qua vùng địa hải rải đầy cự thạch trôi nổi, đồng cỏ dần trở nên tươi tốt phì nhiêu, tuyết đọng trên mặt đất cũng ngày một nhiều hơn, cuối cùng biến thành một lớp mỏng manh. Tôi bọc mình trong tấm da thú ngồi trên vai người Khoa Phụ, rét run cầm cập bần bật, ban đêm lại càng khó chịu đựng hơn, gió tựa như móng vuốt sắt không ngừng xé rách da thịt tôi, thế mà đám người khổng lồ ngốc nghếch kia lại như chẳng hề hay biết, họ cởi trần nằm ngủ thẳng cẳng trên mặt tuyết, quả thực chẳng khác nào loài dã thú.
Chúng tôi bắt đầu leo núi, rồi tiến vào rừng rậm. Khu rừng âm u và rậm rạp, những thân cây đều đã vô cùng cổ xưa, từng thân cây màu đồng cổ vươn thẳng đâm lên bầu trời u tối, ánh mặt trời chỉ thỉnh thoảng mới xé toạc được tầng tán rậm rạp sà xuống mặt đất, để lại từng đốm sáng nhỏ li ti trên lớp lá rụng dày cộp. Khi luồn lách dưới những thân cây cao lớn, bọn họ đột nhiên trở nên trầm mặc, không phải vì sợ bị thứ gì tập kích, họ chỉ cúi đầu rảo bước nhanh, cố gắng không phát ra bất kỳ tiếng động nào.
Thỉnh thoảng vì lạnh không chịu nổi, tôi lại xin xuống tự đi một lát. Ai cũng biết, luồn rừng lội suối vốn là sở trường bẩm sinh của người Vũ tộc chúng tôi, chúng tôi không bị cây cối quá rậm rạp cản bước, gặp phải chỗ khó đi thì dứt khoát chuyền cành nhảy qua. Nhờ vậy tôi nhanh chóng đi vượt lên trước đám người khổng lồ, nhưng cũng không cách họ quá xa.
Trước một vùng rừng cây cực kỳ xanh tốt rậm rạp, tôi đột nhiên nhìn thấy một bóng đen khổng lồ đang chậm rãi di chuyển phía sau lùm cây rậm rạp. Độ cao lớn của bóng đen ấy đã vượt quá phạm vi hiểu biết của tôi, mà cách thức nó di chuyển trông cũng chẳng giống sinh vật sống cho lắm.
Tôi dừng lại trên một chạc cây, đợi đến khi Hồn Man Lực bước tới liền chỉ thứ đó cho hắn xem.
"Suỵt——" Hồn Man Lực ra hiệu. Tôi chưa từng nghĩ bọn họ lại có thể phát ra âm thanh trầm thấp đến thế. Họ bàn bạc nhỏ giọng một hồi, thực ra chỉ thông qua ánh mắt và cử chỉ để đưa ra quyết định, rồi bắt đầu lùi lại phía sau. Lúc lùi lại, Hồn Man Lực không quên kẹp nách tha tôi theo.
Chúng tôi lùi lại một quãng đường rất dài, sau đó đi đường vòng tiến lên phía trước. Tôi liên tục gặng hỏi Hồn Man Lực xem đó là thứ gì, hắn trước sau đều ấp úng không rõ ràng, qua những lời miêu tả mơ hồ của hắn, tôi suy đoán bọn họ coi bóng đen đó là Sơn Thần, hoặc một thứ gì đó tựa như thần linh.
"Đừng quấy rầy giấc mộng đẹp của chúng, trong mộng chúng sẽ di chuyển chậm rãi theo một tư thế nào đó, nơi bước chân chúng giẫm qua sẽ mọc lên từng cái cây, khu rừng mới sẽ từ đó mà sinh sôi." Hồn Man Lực nói.
"Nếu đánh thức nó thì sẽ ra sao?" Người Vũ tộc luôn tò mò như loài chim, còn bọn họ thì không, cho nên phần lớn thời gian đều là tôi đặt câu hỏi còn họ thì lúng túng chống đỡ.
"Không biết," Hồn Man Lực đảo tròn mắt nói: "Chẳng có ai đi đánh thức nó cả."
"Thế tại sao các anh lại làm như vậy? Có ai bảo các anh phải làm thế sao? Người đó làm sao biết được là không thể đánh thức nó? Phải có một lý do chứ?"
"Tại sao phải có lý do?" Hồn Man Lực đáp lia lịa: "Bọn ta chẳng nghĩ ngợi gì hết. Đám người tí hon các ngươi chính vì nghĩ ngợi quá nhiều nên mới u sầu ủ rũ đấy."
Tôi trước sau vẫn không nhìn rõ Sơn Thần mà họ gọi kia có hình dáng ra sao, những chiến binh cao lớn này, đến thần linh của họ cũng phải tương xứng với tỷ lệ vóc dáng của họ, thế nên mới có chiều cao phi thường đến thế chăng.
Chúng tôi đi ròng rã suốt bảy ngày trong khu rừng không nhìn thấy tinh tú, một đường thẳng tiến về phương bắc. Tôi luôn cảm thấy chúng tôi đã lạc đường, sẽ cứ thế đi mãi không có điểm dừng. Thế nhưng đám Khoa Phụ này lại tràn đầy tự tin, vả lại khi trèo lên một sống núi mà theo tôi thấy chẳng có gì khác biệt, họ đều đồng loạt lộ vẻ hân hoan không chờ đợi nổi.
Chúng tôi vượt qua đỉnh núi, cây cối trong khoảnh khắc bỗng thưa thớt hẳn đi. Phía xa xa là một rặng núi màu hồng nhạt, lấp lánh rực rỡ dưới ánh tà dương rọi chiếu.
Dưới chân rặng núi màu hồng nhạt ấy có một mảng nhỏ những mái nhà màu trắng. Một làn khói đơn độc bay lên, cuộn tròn hòa vào làn mây khói mỏng manh.
"Nhìn kìa. Chỗ đó chính là chợ khổng lồ." Hồn Man Lực ngoác cái miệng rộng hoác bảo.
Chợ khổng lồ có những con phố chật hẹp khiến người khổng lồ xoay xở khó khăn, hành lang ngoài bằng sa thạch thô ráp, cùng những gian phòng tối tăm sâu thẳm không thấy ánh mặt trời. Lối vào của mỗi ngôi nhà đều có một bậc thềm rộng phẳng phiu, mái hiên cửa vào được chống đỡ bằng những cây cột, cột được đẽo gọt vô cùng vụng về, mang hình đa giác gần như hình tròn.
Ở đây một năm có ba trăm năm mươi ngày không mưa, ánh sao vĩnh viễn chiếu rọi trên những mái nhà màu trắng kia. Thị trấn nhỏ bé này lại chen chúc những vị khách không hề tương xứng với sức chứa của nó.
Trải qua một thời gian dài đằng đẵng giữa chốn hoang vu không bóng người, đột nhiên nhìn thấy nhiều người như thế này, tôi quả thực có chút chưa quen. Ngoại trừ đám Khoa Phụ đến từ các bộ lạc ở Thương Châu, nhân vật chính ở đây là những thương nhân Man tộc mặc áo da, đội mũ da, hai bên quai hàm cạo nhẵn thín xanh lét. Đám thương nhân căn bản chẳng màng tới kích thước cơ thể của người Khoa Phụ, trên những con phố chật hẹp bốn bề chăng bạt màu và bạt chắn tuyết, dùng hàng hóa chất đống chặn cứng ngắc các ngả đường. Tôi thấy trên sạp hàng của họ bày la liệt những ấm rượu bằng đồng, chăn lông, trà gói, vải gai và vũ khí, kích thước đều lớn đến kỳ lạ.
Tại một sạp hàng, tôi lại nhìn thấy thanh đao cán cong khổng lồ từng phát hiện dưới khoang thuyền.
"Thứ này dùng để làm gì?" Tôi hỏi Hồn Man Lực.
"Ngươi sẽ sớm biết thôi."
"Tại sao?"
"Ngươi lại hỏi tại sao," Hồn Man Lực đau khổ ngửa nhìn bầu trời, những câu hỏi của tôi chắc chắn đã nhét chật ních đầu óc hắn: "Bọn ta tới chợ là vì đoạn đường tiếp theo càng khó đi hơn, bọn ta phải tìm cho mình vài con thú cưỡi."
Tôi không hiểu câu trả lời này có liên quan gì tới thanh đao cong kia, nhưng Hồn Man Lực hiển nhiên cảm thấy chẳng còn gì để nói về vấn đề này nữa. Bọn họ đều cho rằng nhiều chuyện nên theo trật tự thời gian quy định mà tìm hiểu, vượt qua trật tự để biết trước điều gì không phải là việc người thông minh nên làm.
"Như người đàn bà kia vậy, ngươi không tìm thấy nàng là vì chưa tới lúc thôi." Bọn họ chế nhạo.
"Chúng ta còn phải đi bao lâu nữa?"
"Thời gian dành cho chúng ta không còn nhiều đâu." Hồn Man Lực đáp.
Nói thì nói vậy, nhưng bọn họ lại chẳng hề vội vã chút nào, cứ thế nhàn tản dạo quanh trấn. Quan niệm về thời gian của những gã khổng lồ này hoàn toàn khác biệt với chúng tôi. Họ chia một ngày bình quân làm mười hai phần, ban ngày sáu phần, ban đêm sáu phần. Mà hiện tại đang là lúc ban ngày ngắn ngủi, họ sắp sửa phải đối mặt với một đêm dài đằng đẵng, thế nên họ thậm chí còn thấy thời gian dài đến mức không tiêu xài hết nổi.
Những tấm bạt rực rỡ sắc màu cùng các sạp hàng quán trên đường phố mang lại cho tôi đôi chút ký ức mơ hồ. Tôi đề nghị: "Lúc các anh làm việc, tôi có thể đi dạo quanh đây một chút được không?"
"Không thành vấn đề," Lôi Viêm Phá vui vẻ nhấc tôi từ trên vai hắn xuống: "Ngươi có thể tới đầu phía đông thị trấn tìm bọn ta."
Bọn họ sải bước dài qua đầu đám thương nhân, nhảy tót qua những sạp hàng, trong nháy mắt đã biến mất tăm vào một quán rượu. Đối với họ, việc quan trọng nhất lúc này là đổ đầy chiếc túi da bò của mình, còn tôi thì bị cuốn vào giữa sắc màu lộng lẫy cùng tiếng rao hàng huyên náo ập tới tứ phía. Tôi thong thả dạo bước giữa các sạp hàng, mỗi khi nghe thấy thanh âm nào tựa như khẩu âm phương nam là cả người lại run rẩy. Bao nhiêu năm trước chúng tôi cũng từng quen nhau ở một nơi như thế này. Nàng thích những khu chợ như vậy. Nghĩ đến đây, lòng tôi dâng lên một nỗi ảm đạm xót xa.
Người Khoa Phụ dùng da thú và vàng để đổi lấy hàng hóa do người Man mang tới, họ cũng sử dụng tiền tệ lưu hành chung của người thảo nguyên. May thay trên người tôi vẫn còn giữ lại chút tiền công, tôi nhanh chóng sắm cho mình hai chiếc chăn lông nhỏ, cùng một tấm da báo mềm mại ấm áp, hai ngày nay quả thực đã làm tôi chết cóng rồi. Đoán chừng còn phải lang bạt trên hoang dã một thời gian dài nữa, tôi quyết định kiếm cho mình chút vũ khí, nhưng trên chợ vũ khí thích hợp cho người Vũ tộc sử dụng rất hiếm hoi, tôi đâu muốn vác một chiếc rìu nặng hơn cả bản thân đi săn lợn rừng, về sau tôi mua lại một cây đoản cung với giá cao từ một hộ vệ thương nhân đến từ Sa Luân Bảo. Hồi trẻ tôi từng dùng cung tên, có lẽ vẫn có thể nhặt lại ngón nghề này.
Thủy thủ Vũ tộc có lẽ là lần đầu tiên xuất hiện ở thị trấn này. Có rất nhiều người Khoa Phụ dán mắt nhìn tôi, nhưng họ là chủng tộc không có tính tò mò, cùng lắm cũng chỉ liếc nhìn vậy thôi. Đây cũng là lần đầu tiên tôi nhìn thấy phụ nữ của họ. Những nữ Khoa Phụ này chẳng hề thô kệch vụng về như đám đàn ông, họ cao lớn xinh đẹp, thân thể tràn đầy sức đàn hồi, xét trên tỷ lệ của họ thì thậm chí còn có thể coi là mảnh mai thon thả; ngoại trừ giáp trụ ra họ mặc rất ít, trên người phần lớn khoác tấm da báo hoa mai hoặc da bạch hổ hoa văn diễm lệ, dùng một loại dây bện bằng da tê giác buộc chặt vào cánh tay và cẳng chân thon dài khỏe khoắn theo phương thức phức tạp. Thắt lưng của họ làm bằng da tê giác đặc biệt dày, bên trên luôn giắt ba bốn thanh đoản kiếm hoặc dao găm sắc bén. Rất hiếm khi thấy họ sử dụng những vũ khí thô kệch như rìu hay chùy gai — dẫu cho nam Khoa Phụ dường như đặc biệt ưa chuộng loại vũ khí chém đập này — đao kiếm đeo trên người cùng phong thái tự tin khi tay vuốt ve vũ khí đủ để chứng minh họ là những chiến binh chẳng hề kém cạnh chút nào.
Khi tôi tìm thấy các đồng bạn ở đầu phía đông thị trấn, bọn họ đã tự chuốc cho mình say mèm túy lúy rồi. Quán rượu là một hang đá khổng lồ khoét vào lòng núi, cao tới bốn mươi thước, đứng đối diện nóc nhà nói to có thể nghe thấy tiếng vọng lại. Đây chỉ là một quán rượu nhỏ mà thôi — cái gì họ cũng thích to lớn. Hành lang ngoài trông ra đường phố được chống đỡ bằng những cột tròn bằng sa thạch đỏ đỡ lấy xà đá dài, bên trong quán cũng dùng loại đá tương tự ghép thành mấy chiếc bàn vuông lớn thích hợp cho người khổng lồ sử dụng, cùng những chiếc ghế dài rộng rãi làm bằng rễ cây cổ thụ uốn lượn và tay vịn bằng đá. Một chiếc lư hương bằng đồng thô kệch tỷ lệ mất cân đối đang nghi ngút tỏa ra làn khói trầm hương nồng đậm. Nơi này chen chúc những người khổng lồ đến từ khắp nơi, tiếng ngáy ngủ cùng tiếng hò hét đòi rượu của họ gần như át cả tiếng sóng gầm hung dữ nhất.
Các đồng bạn của tôi chiếm một chiếc bàn, có người ngồi thả lỏng cưỡi trên ghế đá, có kẻ lại nằm sõng soài dạng chân dạng tay dưới gầm bàn. Cáp Lang Tê thấy tôi tự sắm cho mình một cây cung, tôi cứ ngỡ hắn sẽ chế giễu tôi, nhưng Cáp Lang Tê lại gật đầu nói: "Rất tốt."
Thời gian ở chung càng lâu, tôi phát hiện sự khác biệt giữa họ lại càng nhiều. So với những gã khổng lồ khác, trên người Cáp Lang Tê có rất nhiều thứ khiến người ta e sợ. Hắn nghiêm túc hơn, trầm tĩnh bất biến hơn những kẻ khác. Trên người hắn toát ra một thứ gì đó tiệm cận với uy nghiêm.
"Có thời gian ngươi nên luyện tập nhiều hơn." Hắn nói.
Tôi thấy Hồn Hồ Nha cũng tự sắm cho mình một cây cung, cây cung đó cao bằng hai người tôi, kèm theo hai ống tên thô kệch, bên trong đựng ba bốn mươi mũi tên dùng lông đuôi của Kim Quán Bằng làm cánh tên, thân tên to như ngón tay, đầu tên hình thoi vừa dày vừa nặng, bắn ra đủ sức xé toạc một con ngựa.
Mấy người bọn Hồn Man Lực còn mới mua vài thanh đoản kiếm — tôi không quen gọi chúng là đoản kiếm cho lắm — bởi vì mỗi thanh kiếm nếu cắm mũi xuống đất thì chuôi kiếm đã chạm tới tận lông mày tôi rồi. Lưỡi của những thanh kiếm này rất rộng, bên trên có những đường vân xoáy trôn ốc, chuôi kiếm bịt một quả cầu đồng đặc ruột.
"Lại đây nhấc thử xem nào." Hồn Man Lực trêu chọc tôi, bên cạnh hắn xuất hiện thêm một cô nương xinh đẹp, mái tóc vàng óng, ánh mắt sáng ngời, bên đầu gối mịn màng tựa vào một tấm khiên đen rất lớn, trông có vẻ rất thân mật với hắn.
Tôi đã quen với cách nói đùa của họ, bèn nhảy lên bàn giả vờ dốc hết sức bình sinh ra nhấc nó lên, quả nhiên tôi chỉ có thể nhấc một đầu chuôi kiếm cách mặt đất nửa thước, khi nó rơi loảng xoảng trở lại mặt bàn suýt nữa đập nát ngón chân tôi. Tất cả mọi người đều cười ồ lên, bao gồm cả nữ chiến binh bên cạnh hắn. Tôi cảm thấy trong ánh mắt nàng vẻ tò mò lấn át cả sự chế giễu, nàng nói với Hồn Man Lực: "Đây là người bạn dũng cảm của các anh đó sao? Trông hắn chẳng khỏe mạnh gì cho lắm." Tôi cảm thấy ánh mắt nàng nhìn tôi dường như còn hàm chứa ý vị khác. Xì, chuyện này thì tính là vấn đề gì chứ, người Vũ tộc chúng tôi vốn dĩ đâu có nổi danh nhờ sức mạnh cơ bắp đâu.
"Nặng quá." Tôi rên rỉ than vãn.
"Không, nó không nặng." Hồn Man Lực sửa lại lời tôi: "Ngươi cảm thấy nó không phải thứ ngươi có thể cầm nổi, cho nên ngươi mới thấy nó nặng."
"Anh nói đùa." Tôi nói.
Sau đó chúng tôi cùng nhau uống rượu thỏa thê. Mấy ngày nay, để chống chọi với cái lạnh, ngày nào tôi cũng phải uống một chút rượu trong túi da của họ, đâm ra đã thích mê cái thứ này rồi. Bọn họ ủ rượu bằng nho và mật ong rừng, qua chưng cất khử nước nên nồng độ cực kỳ, cực kỳ mạnh, uống vào họng tựa như một khối lửa men theo cuống họng thiêu đốt thẳng xuống. Trong quán họ uống rượu bằng một loại cô bằng đồng, một chiếc cô có thể chứa được hai thăng rượu. Tôi có thể vùi cả đầu mình vào trong đó mà uống.
Chẳng mấy chốc tôi cảm thấy bản thân trở nên cao lớn sừng sững, ngay cả đám Khoa Phụ kia cũng chẳng thèm để vào mắt nữa, gian phòng ngay sau đó bắt đầu quay cuồng, lại còn trở nên chật chội nhỏ bé lạ thường. Tôi nhìn quanh quất bốn bề, sực nhớ ra điều gì, bèn bắt đầu đếm: "Một, hai, ba, bốn, năm."
"Làm sao thế? Ngươi lẩm bẩm cái gì đấy?" Hồn Man Lực vui vẻ ôm lấy cô nương của mình hỏi: "Có phải lại muốn hỏi mấy câu ngớ ngẩn của ngươi không?"
"Phải đấy, ừm," tôi nói: "Lôi Viêm Phá đâu rồi?"
"Không biết, chắc đang đánh nhau ở xó nào rồi." Hồn Man Lực mắt lờ đờ vì say rượu đáp. Lời hắn vừa dứt, một tiếng rầm vang dội, phía bên quầy thu ngân có một gã khổng lồ bị quẳng văng ra, đập trúng một hàng thùng gỗ lớn đựng rượu cao quá đầu người. Bạn có thể tưởng tượng được âm thanh đó chấn động đến mức nào rồi đấy.
Những người xung quanh tự động lùi ra xa vài bước.
"Quyết đấu! Quyết đấu!" Đám người say khướt này gào rống lên, lập tức mọi chuyện khác đều bị vứt ra sau đầu, những kẻ say rượu chống khuỷu tay, dùng ngón tay banh mí mắt ra để xem. Máu nóng chiến đấu tựa hồ lập tức xông thẳng lên óc những gã khổng lồ này.
"Quyết đấu!" Bọn họ thét gào.
Gã Khoa Phụ bị ngã lồm cồm bò dậy một cách chậm rãi, quệt máu mũi, rút thanh đoản kiếm bên thắt lưng ra. Tôi nhìn thấy một cái đầu trọc lốc tròn vo, hóa ra gã đó chính là Lôi Viêm Phá. Đối thủ của hắn là một gã khổng lồ da đen vạm vỡ, cao hơn Lôi Viêm Phá hẳn một cái đầu, trông có vẻ trẻ trung và tráng kiện hơn. Hắn ngạo nghễ bước vào vòng vây của đám người khổng lồ, vứt bỏ đống đồ đạc lỉnh kỉnh sau lưng, cũng rút ra một thanh đoản kiếm.
Cuộc quyết đấu của họ không được phép dùng rìu, thông thường đều kết thúc bằng đoản kiếm, trong bất kỳ tình huống nào cũng là một chọi một. Trước khi chính thức giao đấu, có người nhét hai chiếc khiên nhỏ bằng gỗ sồi bọc sắt đen vào tay trái của họ, sau đó hai gã khổng lồ liền lao vào đánh nhau binh binh bốp bốp trong quán rượu. Cả hai người đều say túy lúy, bước chân lảo đảo, tôi cảm thấy bọn họ đánh một hồi khéo lại lăn đùng ra đất ngáy khò khò mất thôi.
Đường kiếm của họ vung ra vừa ngắn vừa hẹp, biên độ động tác không lớn nhưng lực đạo lại vô cùng mạnh mẽ, nếu khiên chắn mất đường tấn công của kiếm, họ dứt khoát tăng thêm lực dập thật mạnh vào chiếc khiên nhỏ kia. Cứ tưởng tượng cảnh tượng hai ngọn núi nhỏ đâm sầm vào nhau mà xem, cả quán rượu dường như đều đang rung chuyển bần bật. Mỗi khi có ai bị ép đâm sầm vào cây cột trong quán, từng mảng cát bụi lớn lại từ trên trần nhà rơi lả tả xuống, tôi thực sự sợ hãi hang đá này sẽ sụp đổ tan tành.
Những người bạn của tôi bình thản điềm nhiên đứng nhìn đồng bạn mình liều mạng nơi đó, chẳng có lấy một ai có ý định tiến lên giúp đỡ. Máu tươi từng chút một bắn tung tóe ra khỏi võ đài, máu văng vào mặt những người đứng xem mà họ cũng chẳng thèm lau đi.
Sức lực của Lôi Viêm Phá không bằng đối thủ, chiếc khiên của hắn dưới những đòn va đập dữ dội của gã khổng lồ đen đã xuất hiện vết nứt. Gã khổng lồ đen gầm lên một tiếng dữ dội, vung kiếm giáng tiếp một đòn sấm sét, nện thẳng vào chiếc khiên khiến nó vỡ tan tành. Lôi Viêm Phá lại nhanh như cắt cúi đầu, luồn qua nách gã khổng lồ đen, đột ngột xoay người phát lực, giáng một nhát kiếm bổ thẳng vào bắp đùi gã khổng lồ đen. Gã kia rú lên một tiếng điên cuồng, ngã quỵ đè nát bấy một đống bàn ghế chai lọ ngổn ngang.
Lôi Viêm Phá thở hổn hển đứng sừng sững ở đó, rồi ngồi xổm xuống xem xét vết thương của gã xui xẻo kia.
"Chưa, ngươi vẫn chưa chết được đâu." Hắn nói, rồi đứng dậy lùi ra.
Từ phía sau quán rượu tối tăm lập tức xuất hiện mấy gã phục vụ mặc áo đen quần đen, bịt kín mặt mũi, kéo lê gã khổng lồ xui xẻo kia xuống.
Về sau Hồn Man Lực mới bảo tôi, nếu bọn họ phát hiện vết thương của gã đó quá nặng, Lôi Viêm Phá sẽ nhét thanh đoản kiếm lại vào tay gã, rồi một kiếm cứa đứt yết hầu của đối phương.
"Nếu như người bị trọng thương là Lôi Viêm Phá thì sao?"
"Sẽ do đối thủ hoặc đồng bạn của hắn ra tay." Hồn Man Lực bình thản nói.
"Đồng bạn ư?" Môi tôi chắc chắn đã tái mét đi: "Chuyện này tôi tuyệt đối không xuống tay nổi đâu."
"Các ngươi đúng là những kẻ tí hon kỳ quặc đáng thương," hắn nhìn tôi đầy thương hại nói: "Chết trong chiến đấu bao giờ cũng tốt hơn chết rũ trên giường bệnh, đó là nơi vinh dự của chúng ta quy về."
Lôi Viêm Phá mũi vẫn đang chảy máu, bước đi xiêu vẹo loạng choạng tới bên quầy, ngã ầm một tiếng vào lòng một mỹ nhân tóc đen rạng rỡ kiều diễm, đó là phần thưởng dành cho hắn.
Về sau tôi mới phát hiện những cuộc quyết đấu thế này đối với người Khoa Phụ chẳng khác nào cơm bữa thường ngày. Chỉ riêng tối hôm đó tôi đã tận mắt chứng kiến bốn trận quyết đấu, hai kẻ mất mạng, hai kẻ trọng thương. Ở những góc khuất mà tôi không nhìn thấy, quỷ mới biết còn bao nhiêu trận ẩu đả đổ máu nữa. Tôi nhớ tới nghĩa địa khổng lồ bên ngoài chợ khổng lồ, hèn chi người khổng lồ ở Thương Châu lại thưa thớt ít ỏi đến thế.
Sau này Hồn Man Lực nói cho tôi biết, Thương Châu từng có một thời kỳ chỉ có người Khoa Phụ Băng Xuyên sinh sống, bọn họ đều thuộc cùng một chủng tộc, vóc dáng to lớn và tráng kiện hơn bất kỳ thị tộc Khoa Phụ nào ngày nay. Về sau bọn họ phân tán lưu lạc khắp các nơi ở Thương Châu, mới hình thành nên chín tộc Khoa Phụ như bây giờ.
Nghe nói Khoa Phụ Băng Xuyên trực tiếp đón nhận sức mạnh của thiên thần Bàn Cổ, thế nên họ cao lớn anh tuấn, vẻ ngoài rực rỡ lấp lánh như mặt trời, diện mạo sáng trong ôn nhuận như vầng trăng; còn hậu duệ của họ dẫu khai khẩn được cương thổ rộng lớn, nhưng do ngày càng xa rời sự chúc phúc của thần linh nên bắt đầu dần dần biến dị, trở nên thấp hơn, nhỏ hơn, đổi màu da, biến thành các chủng tộc Hắc Diệu, Song Phủ, Bạch Lang, Hàn Phong, Thanh Hãn như hiện tại.
Bọn người Cáp Lang Tê thuộc về bộ lạc Song Phủ, thường ngày lang bạt ở rìa Băng Viêm Địa Hải, còn gã khổng lồ đen đánh nhau với Lôi Viêm Phá là người tộc Hắc Diệu, ở tận dưới dãy núi Man Cổ nơi góc đông bắc của Thương Châu.
Chỉ vài trận ẩu đả đổ máu hiển nhiên không đủ để khiến những gã khổng lồ này biết thu mình lại. Ngay khi tôi ngỡ rằng bữa tiệc ồn ào hỗn loạn này sẽ kéo dài từ đầu chí cuối, thì đột nhiên, mọi tiếng ầm ĩ và đánh đấm đều nín bặt. Tất cả mọi người đồng loạt quay đầu chăm chú nhìn về phía cửa, tôi thấy nơi cửa ra vào có một bóng đen đang chậm rãi bước vào. Nhìn quen những chiến binh cao lớn này, tôi suýt chút nữa đã tưởng đó là một kẻ lùn tịt. Trên thực tế, kẻ mới đến kia cũng cao tới mười bốn thước, ông ta đứng quay lưng về phía ánh mặt trời, mái tóc hoa râm rung rinh trong gió. Trong quán rượu hoàn toàn lặng ngắt như tờ.
Hắn đã là một Khoa Phụ rất già, mặt đầy nếp nhăn, vóc người thô tráng, sắc mặt âm trầm, lại còn cụt mất cánh tay trái. Nhưng khi lão già còm cõi này kéo theo bộ khôi giáp rách nát tả tơi, bước loảng xoảng qua tửu quán tiến về phía quầy thu ngân, dường như lại mang theo một luồng khí tức âm lãnh đáng sợ. Những gã võ sĩ cường tráng đang bốc men rượu nồng kia lại lần lượt cung kính cụp mày xuống, họ gần như đang cúi mình hành lễ với lão. Tôi nấp trong bóng tối của chiếc bàn, phát hiện ánh mắt Cáp Lang Tê nhìn về phía lão giả rõ ràng mang một hàm ý khác, ánh mắt gã sáng rực trong bóng tối, tay phải đã đặt lên chuôi kiếm. Nhưng gã khống chế bản thân rất tốt, chớp mắt một cái, luồng sáng kia liền biến mất.
Lão giả bước tới trước quầy, quẳng túi da bò rỗng từ trên lưng xuống, nói: "Rót đầy."
Mấy gã say rượu bên cạnh quầy lấm la lấm lét bò dậy khỏi mặt đất, lặng lẽ lủi mất. Tôi chưa từng thấy người Khoa Phụ biểu lộ sự sợ hãi rõ ràng đến nhường này bao giờ.
Lão Khoa Phụ lấy túi tiền ra, nhón lấy một đồng tiền, bỏ vào chiếc giỏ cỏ trên quầy. Những động tác giản đơn ấy không hiểu sao lại khiến tôi rợn tóc gáy. Tôi nhận thấy kể từ lúc lão bước vào, từng bước chân, từng cử động đều vô cùng nhẹ nhàng tự tại, không phí thêm nửa phần khí lực, cũng chẳng có lấy một động tác thừa thãi, sự chuẩn xác thể hiện trong từng cử chỉ thường nhật này khiến người ta phải khiếp sợ. Tất cả những kẻ đứng ngoài quan sát đều không kìm được mà nghĩ rằng nếu trong tay lão cầm một con dao hay một thanh kiếm, chắc chắn lão cũng sẽ nhẹ nhàng chặt phăng đầu kẻ địch mà chẳng tốn chút sức thừa nào như thế.
Khi lão quay đầu bước ra ngoài, một hình xăm ngọn lửa bốc lên hừng hực vô cùng chói mắt nơi bả vai phải của lão lóe lên trước mắt tôi. Trước khi ra khỏi cửa, ánh mắt lão quét qua tửu quán, trong đó không hề lộ vẻ sắc bén, nhưng cả quán chẳng một ai dám lên tiếng. Tôi tin rằng tất cả những người khổng lồ đều cảm nhận được áp lực này, bởi vì khi lão Khoa Phụ biến mất, tôi nghe thấy một tiếng gió rít dữ dội, đó là tiếng những người khổng lồ đang thở phào nhẹ nhõm.
Hồn Man Lực gác chân lại lên bàn, thoải mái nốc thêm một ngụm rượu, gã nói lúng bắp: "Thú Hồn chiến sĩ, võ sĩ mạnh nhất trần đời. Nghe nói cả đại lục Thương Châu chỉ có không quá mười hai người như vậy. Rất đáng kính trọng."
"Người thế nào mới có thể trở thành Thú Hồn chiến sĩ?" Tôi hỏi.
"Cần có tư chất bẩm sinh và sự tu luyện dài đằng đẵng," Hồn Man Lực liếc nhìn tôi đầy ẩn ý, "Đó không phải là xem kỹ năng chiến đấu hay sức mạnh của võ sĩ, mà phải xem hắn có thể bước vào một cảnh giới hay không, phần lớn Khoa Phụ dù có nỗ lực thế nào cũng không thể đạt tới cảnh giới này."
"Cảnh giới gì?" Tôi buột miệng hỏi theo thói quen — tôi phải thừa nhận, đôi khi đặt câu hỏi đã biến thành một thói quen, tôi sẽ chộp lấy bất kỳ chủ đề nào có thể hỏi để gặng hỏi, hỏi đến khi Hồn Man Lực không trả lời được mới thôi.
Phản ứng của Hồn Man Lực trước chuyện này khá dữ dội. Gã đột nhiên rút thanh đoản kiếm của mình ra, vung mạnh xuống nhanh như chớp giật, tôi cảm thấy mũi kiếm mang theo tiếng gió xẹt qua chóp mũi mình. Chiếc chén đồng trước mắt tôi bị chém đôi một cách ngọt xớt, thanh kiếm ấy cắm phập sâu vào mặt bàn, chấn động khiến bát đĩa chén chén trên bàn kêu loảng xoảng.
Hồn Man Lực buông chuôi kiếm, chớp chớp mắt với tôi một cách chậm chạp. Tôi thấy gã đã say túy lúy rồi. Tôi gạt giọt rượu văng trên mí mắt đi, thầm nghĩ nên nẫng chén rượu trước mặt Hồn Man Lực hay lại đi gọi thêm một phần nữa.
Gã nói: "Ngươi thấy đấy, ngươi sẽ nhận ra trước khi ta tuốt kiếm có một ý định rõ ràng. Đó là vì ta nghĩ đến việc tuốt kiếm rồi mới làm như vậy. Cho nên nếu ngươi đề phòng cẩn thận, ngươi sẽ né được nhát kiếm này của ta..."
Theo tôi thấy, gã thuần túy là đang nói nhảm. Nhát kiếm điên cuồng xuất kỳ bất ý của gã này, tôi cảm thấy mình có cẩn thận thế nào cũng vô dụng.
"Chính vì một thoáng ngập ngừng nhỏ nhoi này, nếu là Cáp Lang Tê, hắn không những có thể gạt phăng nhát kiếm này của ta, mà còn có thể thuận thế phản công lại," Hồn Man Lực tiếp tục nói, "Còn nếu là lão già kia, lão sẽ không cho ta cơ hội tuốt kiếm — các Thú Hồn đã đạt tới mức bất kỳ hành động nào cũng không cần suy nghĩ. Giữa ý thức và hành động của họ, ngay cả một mảnh giấy mỏng cũng khó mà chen vào lọt, cảnh giới này gọi là Thú Hồn, các ngươi cũng dịch là 'Vô Ngã'."
"Nghe như thật ấy — ý ngươi là lúc họ tuốt kiếm chém người, thậm chí còn không ý thức được mình đang làm gì sao? Có ngày nào ngươi cũng sẽ như vậy không?" Tôi vừa hỏi thế vừa lẳng lặng lùi lại một bước.
"Ta không phải là cái thứ chất liệu đó," Hồn Man Lực ngáp dài một cái thật mạnh, suýt chút nữa thổi bay tôi xuống gầm bàn, "Ngươi cũng thế thôi. Này, ngươi nghĩ nhiều thế làm gì, có muốn ta tìm cho một cô nương không?"
Tôi nhìn cô gái xinh đẹp đang nép vào người gã, cặp đùi thon dài của nàng còn to hơn cả thắt lưng tôi.
"Đa tạ," tôi nói, "Thêm một ly nữa nhé?"
Khi tỉnh dậy vào ngày hôm sau, một đêm quậy phá cuồng loạn khiến tôi vô cùng khó chịu. Đầu tôi đau như dao cắt, bụng như bị ai đấm cho mấy quả, họng cũng đau rát, toàn thân rã rời uể oải. Bọn họ cũng chẳng khá hơn, Hồn Hồ Nha mắt đỏ ngầu, đầu nặng chân nhẹ; Hồn Man Lực bò ra từ căn phòng phía sau, lắc lắc cái đầu to tướng một cách dữ dội, ngơ ngác nhìn quanh quất, dường như chẳng biết mình đang ở chốn nào; Lôi Viêm Phá thì chẳng biết đã để người bạn gái xinh đẹp đi đâu mất, chổng mông nằm ngủ say như sấm giữa một đống mảnh vỡ thùng rượu nát vụn.
Cáp Lang Tê vừa đá vừa đấm, lùa từng đồng đội dưới gầm bàn dậy: "Được rồi được rồi, chúng ta phải xuất phát thôi." Gã hét lên.
Tôi có cảm giác bọn họ thực ra chẳng muốn rời khỏi quán rượu này, rời khỏi thị trấn này chút nào, không muốn đi ra nơi hoang dã bên ngoài kia. Lúc Cáp Lang Tê giục họ lên đường, họ dường như có chút miễn cưỡng, nhưng cuối cùng vẫn kiên quyết xuất phát.
Trên con phố chan hòa ánh nắng sớm mai, Hồn Man Lực khoe những vết bầm tím trên người cho tôi xem: "Thấy không, ta với con ả kia đã choảng nhau một trận ra trò đấy."
"Ai thắng?"
"Ha ha." Hồn Man Lực cười phá lên, túm phắt lấy tôi đặt lên vai gã, "Ta dẫn ngươi đi xem mã tấu."
Chợ gia súc nằm ở phía tây khu chợ phiên. Còn chưa tới gần, tôi đã ngửi thấy một mùi phân bò nồng nặc. Thú cưỡi mà họ muốn mua là bò Tây Tạng sáu sừng.
Lần đầu tiên nhìn thấy lũ súc sinh này, tôi sợ đến mức run rẩy cả người. Thoạt nhìn chúng không giống bò mà giống gấu hơn, vóc dáng to lớn như cự tượng, những thớ cơ bắp cuồn cuộn dưới lớp lông đen kịt dập dềnh như ngọn núi lửa chực chờ phun trào. Lũ bò ấy mắt đỏ như máu, nhìn chằm chằm vào người ta như thú dữ, sáu chiếc sừng trên đỉnh đầu vểnh cao theo một độ cong khiến người ta kinh hồn bạt vía. Mùi hôi hám trên người chúng quả thực khiến người ta không thể nào chịu nổi. Chúng khịt mũi ầm ĩ, lắc lắc cổ, dùng sừng lớn húc vào hàng rào gỗ tuyết tùng to bằng một vòng tay ôm kêu rôm rốp, chúng há to miệng, chiếc lưỡi dài ngoằng như một dải gấm đỏ dày cộp liếm láp hàm răng cửa ố vàng bẩn thỉu.
Nhìn thấy loài thú cưỡi hung dữ đến bực này, tôi hoàn toàn mất hết hồn vía, cảm thấy nếu không có những thanh gỗ rào này chắn lại, chúng nhất định sẽ xông ra giẫm nát rồi nuốt chửng tôi mất. Tôi hỏi Hồn Man Lực: "Ta cũng phải cưỡi thứ này sao? Ta sẽ bị chúng ăn thịt mất."
Hồn Man Lực dịch lại lời tôi cho những gã Khoa Phụ khác nghe, bọn họ coi đó là trò cười thú vị nhất trần đời mà phá lên cười như nắc nẻ. Tôi hoàn toàn tuyệt vọng trước điệu cười như lũ ngốc của bọn họ.
Gã mục phu Khoa Phụ trông coi đàn bò nhảy vào chuồng, nắm lấy sừng bò, lôi từng con một ra khỏi chuồng, cạy miệng cho chúng tôi xem răng: "Xem này, bò tốt biết bao, răng còn non, gốc sừng trắng phau. Riêng một bộ sừng thế này đã đáng giá bằng cả một con bò rồi đấy."
Nhìn thấy sừng của chúng, tôi mới bỗng nhiên vỡ lẽ, những thanh đại đao cán cong dài ngoằng kia không phải dùng cho người, mà là vũ khí của lũ bò này. Bọn họ sẽ gắn chặt đại đao lên sừng bò. Tôi hoảng hốt nghĩ thầm, bị sừng húc một cái là trên người toác ra sáu vết chém, thế này thì thiệt mạng chứ chẳng chơi.
Tôi nói với Hồn Man Lực: "Hay là ta đi kiếm một con ngựa, bằng không cứ để ta tiếp tục cưỡi trên vai ai đó trong số các ngươi..."
Hồn Man Lực chạy sang một bên nói mấy câu với Cáp Lang Tê, rồi quay lại bảo tôi: "Cáp Lang Tê nói ngươi bắt buộc phải cưỡi bò đi cùng chúng ta." Giọng gã không hề có chút thương lượng nào.
"Ngựa không theo kịp chúng ta đâu. Lũ bò này không chỉ chạy nhanh, mà lúc cần thiết còn là trợ thủ đắc lực của ngươi. Tính khí chúng hung bạo, chẳng sợ bất cứ thứ gì, khó lòng giết chết, không sợ nước, không sợ rét buốt, là thú cưỡi tốt nhất trần đời. Nó càng hung dữ thì càng giúp được ngươi nhiều hơn — khi giao chiến, chẳng ai rảnh rỗi chăm sóc cho ngươi đâu. Cứ quyết định thế đi."
Tôi vô cùng chán nản, mặt mày tái mét nhìn những gã mục phu kéo bò ra, đóng dấu sắt nung hình răng hổ đầu báo lên mình chúng, rồi buộc chặt những thanh mã tấu cong vút kia lên sừng chúng. Khi lũ bò hung dữ kia lắc đầu quầy quậy, tôi nghe rõ mồn một tiếng gió rít vù vù, sáu thanh trường đao tựa hồ như đội lên chiếc đầu bò thô kệch hung tợn kia một chiếc vương miện đao sáng loáng.
Tôi hy vọng bọn họ có thể nhượng bộ, nhưng họ lại đáp lời theo đúng phong cách của người Khoa Phụ. Lôi Viêm Phá tóm lấy cổ tôi, quẳng tôi lên chiếc giá gỗ gắn trên lưng một con bò.
"Không ai giúp được ngươi đâu," bọn họ gầm lên, "Kéo chặt dây cương, bám chắc vào."
Trong lòng tôi chửi rủa thậm tệ, cơn phẫn nộ đối với người Khoa Phụ trong khoảnh khắc ấy đã lấn át cả nỗi sợ hãi loài bò Tây Tạng, nhưng tôi chẳng còn cơ hội trút giận lên Lôi Viêm Phá nữa. Con bò dưới thân tôi lồng lộn tung móng, sùi bọt mép, phóng vút đi một cách cuồng bạo.
Tôi quên bẵng mọi ý niệm khác, chỉ biết liều mạng ghì chặt dây cương bằng da, nhìn con đường gập ghềnh phía trước qua lớp lông đen bù xù đang bay phần phật trước giá gỗ. Lưng bò xóc nảy dữ dội, mông tôi chẳng bao giờ chạm nổi vào khung giá, nếu không bám chặt vào thanh chắn phía trước, chắc chắn tôi đã bay vút lên không trung như một cánh diều rồi.
Tôi nghe thấy tiếng cười ầm ĩ của đám Khoa Phụ vọng lại từ phía sau.
"Đi thôi." Cáp Lang Tê gầm lên.
Bọn họ đồng loạt nhảy lên lưng bò, đuổi gấp theo phía sau, kẹp con bò của tôi vào giữa rồi sóng vai phi nước đại. Những kẻ khổng lồ hò reo inh ỏi, bảy con bò Tây Tạng sáu sừng cùng nhau phi nhanh về hướng tây trên con đường phủ tuyết mỏng, những móng guốc đan xen cuốn tung từng cụm sương tuyết mịt mù, nhấn chìm khu chợ khổng lồ lại phía sau.
Chúng tôi phi nhanh về hướng tây, đồng hành cùng những dũng sĩ không biết sợ hãi này, cõi lòng tôi dần buông lỏng, bắt đầu ngẫm nghĩ kỹ thuật điều khiển bò sáu sừng. Loài bò này tuy lao điên cuồng, nhưng lại chẳng hề có ác ý với người cưỡi trên lưng, chúng không giống lũ ngựa chứng cứ luôn tìm cách hất người xuống.
Sau khi chạy suốt hai canh giờ, đám Khoa Phụ kẹp chặt lấy bò của tôi, cùng nhau lượn một vòng lớn, chuyển hướng về phía bắc, phi nhanh về phía chân ngọn núi cao màu hồng nhạt đằng xa.
"Lúc rảnh thì xoa cằm nó, nó sẽ thích đấy." Hồn Man Lực cưỡi bên cạnh tôi, lớn tiếng gào lên.
"Ta không với tới." Tôi ảo não gào trả lại, gió lạnh ùa vào ngập cả mồm. Bọn họ thừa biết tay tôi ngắn mà.
Hồn Man Lực cười như điên một hồi, hả hê nói: "Vậy thì vỗ đỉnh đầu nó, ngươi phải nói chuyện với nó, để nó hiểu ngươi. Bằng không lúc ngươi nhảy xuống, nó sẽ cho ngươi biết tay đấy."
Bắt tôi nói chuyện với một con bò ư? Tôi thầm nghĩ, thà rằng nói chuyện với một cái cây, một khúc gỗ hay một con thuyền, trông còn chẳng ngớ ngẩn đến mức này. Cuối cùng, tôi vẫn nơm nớp lo sợ đưa tay ra xoa nắn chùm lông dài màu trắng hình ngôi sao trên đỉnh đầu con bò: "Bò ngoan," tôi nói, "Bò ngoan." Ngoài từ này ra, tôi chẳng thể nghĩ ra được từ nào khác.
Hồn Man Lực cười suýt ngã lộn cổ khỏi lưng bò: "Nó không nghe thấy đâu," gã bày mưu cho tôi, "Ngươi phải bò lên cổ nó, nói vào tai nó ấy."
Tôi nhìn chiếc cổ ngắn củn thô kệch của con bò, cùng những đồi tuyết đang vút qua nhanh như chớp dưới móng guốc nó.
"Phải nhanh lên, đến chính ngọ chúng ta phải dừng lại nghỉ ngơi, sau đó vượt qua rặng Cổ Nhan Khách Lạp. Nếu ngươi không muốn bị băm thành từng mảnh ở đó thì phải nhanh lên." Hồn Man Lực nói, vỗ vỗ vào con bò của gã, con bò kia ngẩng đầu lên, liếc xéo tôi một cái như chờ xem trò cười, rồi tung móng phóng vọt lên phía trước.
Lúc này tôi đã dần mày mò ra một vài mánh khóe xua bò, phát hiện chuyện này so với việc kéo chặt dây buồm trong gió lốc cũng chẳng khác là bao, hơn nữa tôi cảm thấy vô cùng tức giận trước những việc hết lần này đến lần khác ép tôi phải làm.
"Mẹ kiếp, đừng có coi thường người lùn này." Tôi mang theo chút điên cuồng đứng thẳng dậy trên lưng bò, lấy hết can đảm trèo qua thanh chắn trước, nhảy tót lên cổ bò, hai chân kẹp chặt lấy cổ nó, một tay túm lấy vành tai đầy lông dài của nó, rống thẳng vào trong: "Mẹ kiếp, mày là một con bò tốt. Mày có nghe thấy không hả? Đồ khốn kiếp, chạy cho tử tế vào, đừng để ta vì mày mà mất mặt."
Con bò đáp lại bằng một tiếng rống giận dữ, nó tung vó phi vọt lên phía trước. Miền tuyết trắng nhấp nhô lướt qua dưới chân tôi, tôi tựa như đang lướt nhanh trên một con thuyền cao tốc tròng trành.
Về phương bắc. Về phương bắc. Về phương bắc.
Chúng tôi phi nhanh như điên, những thân cây trơ trụi lướt vút qua hai bên sườn.
Càng đi về phương bắc, độ cao càng lớn. Không khí lạnh ngắt như sắt vụn, tuyết sâu ngập cả móng bò, tốc độ của đàn bò Tây Tạng chậm dần lại. Tôi phát hiện cưỡi trên cổ bò cũng rất dễ chịu, thế là dập tắt luôn ý định bò trở lại lưng bò. Việc điều khiển thú cưỡi không còn là vấn đề nữa, nhưng một mối nghi hoặc khác lại âm thầm nảy sinh trong lòng: Tại sao người Khoa Phụ lại cần loài thú cưỡi hung dữ đến mức này để hỗ trợ mình chứ?
Cáp Lang Tê cưỡi bên cạnh tôi, gã im lặng nhìn tôi một hồi, đột nhiên đưa tay gõ gõ vào cây cung trên lưng tôi: "Ngươi tốt nhất nên tranh thủ luyện tập thêm đi, nhìn con thỏ kia kìa."
Tôi cũng nhìn thấy con thỏ xám đang đi dạo trên đống đá lổn nhổn phía trước, khi chúng tôi phi ngựa tới gần, nó liền nhảy nhót lóc cóc men theo vệ đường.
Tôi giương cung, nhớ lại những bí quyết bắn tên mà thầy đã dạy nhiều năm trước, giữ vững cánh tay trái, tay phải kéo nhanh dây cung tới sát mang tai, ngắm chuẩn rồi buông một phát tên. Nhưng phát tên ấy lại lệch đi tới ba bốn thước, con thỏ vẫn thản nhiên nhảy nhót, chạy dọc theo bước chân chúng tôi, mãi cho đến mũi tên thứ ba của tôi quẹt trúng chân sau của nó, nó mới giật nảy mình, khập khiễng tha theo mũi tên chạy trốn.
"Kém cỏi quá." Hồn Hồ Nha nhe răng nói, gã cưỡi bò chạy bên mạn phải của tôi, đột nhiên xoay người một cái, đã tháo cây đại cung trên lưng xuống, "phựt" một tiếng bắn vụt ra, tôi nghe thấy tiếng không khí bị xé toạc dữ dội, mũi tên ấy rít gào bay sát qua tai tôi, lại có thể bắn đứt đôi một cái cây giữa không trung, tán cây đổ ầm ầm xuống đống tuyết.
Hồn Hồ Nha nhún vai với tôi, rồi thúc bò chạy lên phía trước.
Họ chằng hai túi da rượu lớn trên lưng mỗi con bò, không chỉ để mình uống mà còn dùng để cho lũ bò uống nữa. Lúc chúng tôi dừng chân nghỉ ngơi, Hồn Man Lực ép tôi xách một túi rượu nhỏ đi cho con bò của mình uống.
Sáu lưỡi dao sắc bén trên đầu bò sáng loáng như gương, tôi sợ hãi nhìn bóng mình phản chiếu bên trong, ngập ngừng định vòng ra sau lưng nó, Hồn Man Lực quát lên: "Đi thẳng đối diện với nó."
Con bò đã ngửi thấy mùi rượu, mất kiên nhẫn thở phì phò, dậm dậm móng, nhưng trông vẻ ngoài cũng còn coi là thuần thục, khi kề đôi môi đầy lông xồm xoàm vào túi da, mắt nó đảo lên nhìn tôi, vẫn đỏ ngầu như than hồng cháy rực, nhưng nhìn không còn đáng sợ đến thế nữa. Hồn Man Lực nói cho tôi biết thị lực của chúng rất kém, hoàn toàn dựa vào thính giác và khứu giác để phân biệt địch ta. Nếu tiếp cận nó từ phía sau, nó chỉ cần hơi ngoẹo đầu một cái là có thể cắt tôi thành bốn khúc vuông vức đẹp đẽ.
Chúng tôi vượt qua rặng Cổ Nhan Khách Lạp màu hồng nhạt, trước mắt là một vùng hoang nguyên thoai thoải mênh mông, trên các đỉnh núi xung quanh rải rác những dòng sông băng vạn năm không tan, đàn bò chạy thoăn thoắt thoải mái, nhưng tôi nhận thấy đám Khoa Phụ càng đi về phương bắc thì lại càng căng thẳng.
Điều này thể hiện ở việc họ bắt đầu kể nhiều chuyện cười hơn, tiếng cười của họ ngày càng lớn hơn, và có nhiều động tác cường điệu không cần thiết hơn. Dựa vào vũ lực cường đại và tính tình tàn nhẫn, một võ sĩ trong số họ có thể đối phó với cả một đạo quân trên các đại lục khác. Tôi không hiểu những dũng sĩ cao lớn tựa non cao này đang lo lắng điều gì. Nếu bạn hỏi họ, họ tuyệt đối sẽ không thừa nhận đâu.
Có một lần nghỉ ngơi, Lôi Viêm Phá tản bộ tới bên cạnh tôi, dùng thứ tiếng Man tộc ngọng nghịu nói với tôi: "Có chuyện gì nực cười hơn thế này không? Họ đã đổi vòng tay cho nhau rồi, nàng ta sẽ trở thành vợ của hắn."
"Ai cơ?"
"Hồn Man Lực chứ ai." Lôi Viêm Phá tu một ngụm rượu, cười ha hả nói, "Ngươi không nhận ra hắn bị bệnh rồi sao?"
Tôi chỉ nhận ra Lôi Viêm Phá đang ghen tị muốn chết. Bản thân gã ngu ngốc đến mức vì một ả đàn bà mà đánh nhau một trận rồi lại say khướt nằm bẹp dí ra đất, tôi chẳng thấy gã có lý do gì để trách cứ người khác cả.
Tuy nhiên, chiếc mâm đồng buộc trên cánh tay Hồn Man Lực quả thực đã biến mất, thay vào đó là một vòng hoa tử ngọ tinh xảo quấn quanh bằng vòng vàng. Nếu có ai nhìn chằm chằm vào nó, gã khổng lồ kia sẽ lộ ra chút vẻ ngượng ngùng, nhưng gã không hề cố tình che giấu nó.
Vượt qua dãy Cổ Nhan Khách Lạp màu hồng nhạt, chúng tôi đi về hướng bắc hai ngày, sau đó lại là một dãy núi dài hẹp dốc đứng, từ đó chúng tôi cưỡi trên lưng bò vượt qua ba đến bốn con sông băng, khi trời tối, chúng tôi tìm một tảng đá khổng lồ chắn gió để dừng lại nghỉ ngơi, như thường lệ vẫn là bữa tiệc tối ồn ào và việc ngủ ngoài trời không hề có người canh gác. Điểm khác biệt là giờ đây chúng tôi có thể rúc vào lớp lông dày của bò để chống rét.
Không hiểu vì sao, ban ngày càng lúc càng ngắn, ban đêm càng lúc càng dài. Về sau, mặt trời chỉ ló đầu ngắn ngủi nơi đường chân trời, rồi lập tức chìm nghỉm sau miền băng nguyên trắng xóa mịt mù. Đám Khoa Phụ tuyệt đối không muốn đi thêm nửa bước trong đêm tối.
Chúng tôi lại một lần nữa vượt qua một ngọn núi cao đầy những khe nứt và băng dày, rồi đối mặt với một vùng tuyết nguyên thực sự, tuyết dày đến mức có thể ngập tới trước ngực những con bò sáu sừng to lớn. Chúng tôi buộc phải thay phiên nhau cưỡi phía trước, giẫm mở một con đường tuyết cho đoàn người phía sau. Trên vùng tuyết nguyên gian nan trắc trở này, chúng tôi đi ròng rã suốt ba ngày, cho đến khi nhìn thấy rặng Thiên Trì ngự ở nơi cực bắc.
Dãy núi này trước kia chỉ tồn tại trong những truyền thuyết và lời đồn hư ảo của những thương nhân viễn xứ và khách đi biển, có rất nhiều lời đồn thổi không thực tế về dãy núi này. Chẳng hạn như có người nói nó cao chọc trời mây, các tế ty Khoa Phụ đã trồng cây phù tang khổng lồ trên đó để leo lên bầu trời giao tiếp với các vì tinh tú; lại có người nói khí hậu nơi này rét buốt khôn cùng, ngũ quan hoặc ngón tay chỉ cần để lộ ra ngoài trong một khắc là sẽ bị đông cứng đến rụng rời.
Còn có những truyền thuyết nhắc tới việc núi Thiên Trì không hề có chân móng, dưới chân chúng là một vùng biển khổng lồ vĩnh viễn không đóng băng, dãy núi cứ thế trôi dạt trên mặt biển. Về lời đồn cuối cùng này, tôi đã thực sự nhìn thấy vài dấu tích dưới chân núi Thiên Trì.
Núi Thiên Trì mà tôi nhìn thấy nếu không phải bị băng dày bao phủ thì bản thân nó chính là một ngọn núi băng. Kỳ lạ nhất là ở cái nơi hắt nước thành băng này, dưới chân núi lại có một mặt hồ xanh biếc phẳng lặng không hề đóng băng. Hồ băng tĩnh lặng không một gợn sóng, tựa như một tấm gương phẳng hẹp dài quanh co khảm dọc theo chân núi. Trên mặt hồ có vài cây cầu băng do băng dày kết lại, tạo thành lối đi thông tới chân núi. Băng rất dày, ngay cả những con bò sáu sừng nặng nề bước lên đó cũng chẳng hề hấn gì. Tôi thấy nước hồ hai bên sâu không thấy đáy, nếu cúi người vốc một ngụm nước, nó sẽ lập tức đóng thành lớp băng dày ngay trong lòng bàn tay bạn.
"Trèo lên ngọn núi này là tới Nguyên Băng Xuyên rồi." Hồn Man Lực nói với tôi. Tôi há miệng, nhưng không thốt nên lời để hỏi "thế nào là Nguyên Băng Xuyên", lúc này môi tôi đã bị cóng đến tím tái, chỉ thấy thở thôi cũng khó khăn, bước đi gian nan trắc trở, còn đám hộ pháp to lớn kia thì vẫn cứ dửng dưng như không.
Sau khi vượt qua hồ băng, trước khi chính thức leo núi, đám Khoa Phụ đốt lên một đống lửa. Họ cung kính lần lượt rạch ngón tay trước đống lửa, nhỏ máu của mình xuống. Tôi vừa định chê cười phương thức tế lễ đơn sơ này của họ, thì Lôi Viêm Phá đã túm chặt lấy tôi như bắt gà con, rồi lôi xộc tới trước đống lửa, kéo tay tôi giơ lên trên ngọn lửa, rạch một nhát dao vào ngón tay, để máu nhỏ vào ngọn lửa đang bùng cháy dữ dội.
Được thôi. Tôi rầu rĩ bịt chặt vết thương trên ngón tay, tự nhủ rằng trước mặt lũ khổng lồ dã man này thì chẳng có đạo lý nào để nói cả.
Cáp Lang Tê vẻ mặt trang nghiêm, gã móc từ trong ngực ra một người đồng nhỏ ném vào đống lửa, rồi dẫn đám khổng lồ quỳ mọp xuống nền tuyết — đương nhiên rồi, tôi cũng bị Lôi Viêm Phá đè quỳ xuống, vì chuyện này mà chúng tôi còn tranh cãi một hồi nhỏ.
"Cho ngươi tham gia nghi thức của chúng ta, tức là chúng ta đã coi ngươi như một phần tử của mình rồi."
"Theo ta thấy, đây chẳng phải chuyện tốt lành gì," tôi lầm bầm nói, "Này, này, đừng dùng sức quá được không, tuyết ở đây sâu lắm... này..."
Lớp tuyết đối với họ chẳng tính là sâu nhưng đối với tôi lại là cả một vấn đề lớn. Sau khi Lôi Viêm Phá ấn tôi xuống một cái, cả người tôi coi như chẳng còn gì thò lên trên mặt tuyết nữa.
Bọn họ ở đó bắt đầu đồng thanh tụng niệm:
"Vô khả tư ma diệt duy mật chủ hỏa
Vô khả trí ma diệt lợi vi diệu sơn
Vô khả dũng ma diệt quan thị Độ Mẫu
Tuyết Lĩnh Thắng Hiền Đỉnh Bàn Cổ đại băng xuyên
Ngã thất nhân thiện tuệ xưng dương đảo vu sơn cước
Lệnh ngã chí nhĩ túc hạ"
Tôi chưa từng học bất kỳ loại pháp thuật nào, đối với việc cảm nhận sức mạnh của các vì tinh tú, tôi là một kẻ vô cùng chậm chạp, nhưng khoảnh khắc này, những lời cầu nguyện dồn dập lặp đi lặp lại của họ như từng đợt thông reo đè nặng lên màng nhĩ tôi, tôi bỗng thấy tim mình rung lên, chỉ cảm thấy vài đốm đom đóm vút qua đỉnh đầu. Tôi lén ngước mắt nhìn, thấy bọn họ đều đứng ngây ra như tượng gỗ đất nặn tại chỗ, chỉ có đôi môi là hơi mấp máy. Ngọn lửa trở nên trắng bệch, càng lúc càng chói mắt, nhưng ngọn lửa chao đảo bất định, dường như có thể tắt ngấm bất cứ lúc nào, ngay sau đó "bùm" một tiếng nổ tung ra một quầng hoa lửa.
Người đồng kia xoay tít mù, như được một bàn tay vô hình nhấc bổng lên, lơ lửng trên ngọn lửa. Trên thắt lưng của nó hiện ra một hàng văn tự Khoa Phụ kỳ lạ.
Bọn họ đồng loạt thở phào nhẹ nhõm, cười nói thoải mái, dừng lại bắt đầu uống rượu. Tôi thấy ai nấy mặt mày đều trắng bệch, tựa hồ như đã tiêu hao rất nhiều khí lực.
Con đường lên núi ẩn giấu trong những khe hở của các tảng băng khổng lồ, vô cùng dốc đứng, lại còn trơn tuột. Chúng tôi xếp thành một hàng dọc leo lên. Cáp Lang Tê đi đầu tiên.
Gã cắn chặt môi, lưng thẳng tắp, trên mặt mang vẻ trang nghiêm và thần thái bất khả xâm phạm, nhìn bàn tay gã nắm chặt dây cương đang khẽ run rẩy, tôi nhận ra thực chất gã đang vô cùng kích động.
Những gã Khoa Phụ khác vẫn cười đùa cợt nhả, nhưng dường như đều cẩn thận né tránh ánh mắt của Cáp Lang Tê.
Trong truyền thuyết của Khoa Phụ, núi Thiên Trì vô cùng cổ xưa, gần như cổ xưa ngang với đất trời. Thân núi Thiên Trì nứt vỡ cực độ, trên lớp băng dày đặc toàn là những khe nứt sâu không thấy đáy, những lối mòn lộ ra cũng chằng chịt muôn ngả, khó phân biệt như một mớ bòng bong.
Tôi thấy trong bàn tay trái rộng dày của Cáp Lang Tê nâng người đồng nhỏ sáng lấp lánh có đế kia, mỗi khi đến một ngã rẽ, người đồng lại kẽo kẹt xoay cánh tay mảnh khảnh của nó, chỉ về một hướng nào đó. Nó tựa như thông thạo từng con đường trong núi. Đám Khoa Phụ thúc giục bò, nối đuôi nhau tiến lên. Con đường thoắt ẩn thoắt hiện, lúc thì rẽ vào hẻm băng hiểm trở, lúc thì xuyên vào hang băng khổng lồ ẩn sâu trong lòng núi, lúc lại bị băng tuyết vùi lấp đến mức hoàn toàn không nhìn thấy, nhưng bức tượng đồng nhỏ luôn luôn chỉ ra được lối đi.
Người đồng nhỏ nhắn vô cùng tinh xảo, nằm trong tay kẻ khổng lồ như Khoa Phụ trông hết sức kỳ quặc. Thứ ma pháp hệ Cổn Bạch tinh tế mà nó sở hữu ắt hẳn cũng không phải do người Khoa Phụ bình thường có thể thi triển ra được, hống chi người phàm làm sao tìm ra được tung tích của Độ Mẫu chứ. Tôi nghĩ thầm.
Ban đêm chúng tôi vẫn ngủ ngoài trời, nghỉ ngơi ngay trên một mỏm đất nhỏ bị gió thổi bay lớp tuyết xốp. Lũ Khoa Phụ lần đầu tiên phá lệ không lăn ra ngủ ngay, kể từ khi đặt chân lên ngọn núi băng này, họ ngày càng lộ rõ vẻ cẩn trọng, hoàn toàn khác biệt với những Khoa Phụ vượt qua Băng Viêm Địa Hải mà tôi từng biết. Cáp Lang Tê sắp xếp người trực ban. Hồn Phá Nộ và Lôi Bạt Đinh mở to mắt, tay vịn cán chiến rìu, thức trắng suốt đêm.
"Đi gặp Độ Mẫu nguy hiểm lắm sao?" Tôi hỏi Hồn Man Lực.
"Ngươi nghĩ cái quái gì thế?" Hồn Man Lực bực bội nói, "Đương nhiên là không. Trừ phi ngươi bị lạc đường."
Gã chẳng buồn để ý đến tôi nữa, nhanh chóng chìm vào giấc ngủ. Nếu gã trả lời như vậy, tôi thực sự không hiểu bọn họ đang đề phòng mối nguy hiểm nào nữa.
Người gác đêm luân phiên mỗi ngày, nhưng ban ngày hôm sau họ không hề nghỉ ngơi mà tiếp tục cưỡi trên lưng bò tiến lên đầy tinh lực, mãi cho đến doanh trại đêm hôm đó mới đi ngủ.
Bầu trời gần như luôn tối tăm, ngay cả ban ngày cũng có thể nhìn thấy muôn vì tinh tú. Mặt trời tựa như một quả bạch quả, lề mề vạch một đường cong nơi chân trời rồi rớt xuống vực sâu.
Cáp Lang Tê cùng các võ sĩ cuối cùng dừng bước trước một ải gió trũng nằm giữa hai ngọn đỉnh băng. Hai ngọn núi dốc đứng ở đây cao muôn trượng, treo đầy những dòng thác băng rủ xuống. Một bức tường băng nhẵn thín màu xanh thẫm dựng đứng rủ thẳng xuống, bịt kín họng ải. Bức tường băng vừa cao vừa dốc, ngay cả loài vượn lá mào cao thiện nghệ leo trèo nhất nhìn thấy bức tường băng này cũng phải kêu ríu rít ai oán.
Tôi nhìn thẳng vào bức tường băng màu xanh lam kia, cảm thấy trong bức tường băng trong suốt dường như có thứ gì đó lờ mờ, định thần nhìn kỹ, không kìm được hét to một tiếng, nhảy giật lùi về phía sau. Ngay cả những gã Khoa Phụ khi chạy tới xem cũng đều kinh ngạc sững sờ.
Trong khối băng màu xanh thẫm đóng băng hai võ sĩ cao lớn vạm vỡ tựa thiên thần. Họ khoác thiết giáp, vung cự rìu, tư thế ưỡn ngực phình bụng ấy hung hãn tựa hổ báo.
Bức tường băng trong suốt phản chiếu dung mạo giận dữ bị ngưng đọng của hai võ sĩ tả hữu khiến nó méo mó vặn vẹo, nhưng vẫn có thể nhận ra bộ dạng mắt trợn trừng, râu dựng ngược như kích giáo của họ.
Tầm vóc to lớn của họ khiến người ta vô cùng chấn động, ngay cả bọn Cáp Lang Tê cũng không thể sánh bằng. Tôi thậm chí còn đang tự hỏi hai võ sĩ mặc thiết giáp đông cứng trong băng này rốt cuộc là người Khoa Phụ thượng cổ, hay đã vượt ra khỏi phạm trù Khoa Phụ để bước vào hàng ngũ thần linh rồi.
Một tay họ vung rìu lớn, tay kia lật bàn tay về phía trước. Thế tay của hai người khác nhau, một người khép ngón cái và ngón giữa thành hình khóa, người kia gập ngón áp út và ngón út lại, dường như đang biểu đạt điều gì đó. Trong lòng bàn tay của họ đều dùng bút đỏ vẽ những văn tự kỳ lạ, rất giống với chữ viết trên người đồng nhỏ của Cáp Lang Tê mà tôi từng thấy.
"Chính là nơi này." Cáp Lang Tê nói, mang theo một ngữ điệu kỳ lạ, đó là sự tôn sùng và ai điếu đối với năm tháng vô tận đã trôi qua. Các Khoa Phụ lặng lẽ đứng sững, nhìn các võ sĩ bị đông cứng trong tường băng, môi họ mấp máy, dường như có một sự thôi thúc muốn quỳ xuống đảnh lễ bái phục.
Cáp Lang Tê đưa một bàn tay áp lên mặt băng. Sắc mặt gã hơi tái nhợt, nhưng lại kiên định và trầm tĩnh đọc từng chữ một được khắc trên lòng bàn tay người khổng lồ:
"Cổ Lý Na, Kiên Lai Tất, Uông Ba, Tương Bi Dạng."
Theo lời của gã, lớp băng vạn năm dưới chân chúng tôi dường như rung chuyển. Khắp nơi vang lên tiếng băng vụn rơi lả tả. Một đàn chim tuyết quỳnh mù mắt bay ra khỏi ổ tuyết ẩn náu, rơi cắm xuống vực sâu dưới chân như những hòn đá. Tôi kinh hoàng nhìn quanh, biết rằng sắp có điều gì đó bất thường xảy ra.
Sau đó, Cáp Lang Tê móc người đồng ra, chậm rãi niệm một hàng chữ khác trên thắt lưng người đồng:
"Trúc Giản, Tông Khả Mã, Quýnh Tăng, Tang Vi Đạt, Tác Mã Đế."
Tôi tựa hồ như bị ai đẩy mạnh một cái, ngã nhào ra đất. Lũ bò Tây Tạng sáu sừng gầm rú điên cuồng. Lớp băng dưới chân răng rắc nứt toác ra mấy khe nứt sâu hoắm. Những khối nham thạch băng khổng lồ trên đỉnh băng rung chuyển rồi lăn ầm ầm xuống. Đột nhiên một luồng bạch quang chẳng biết từ đâu tới, chói lòa rực rỡ, đâm vào mắt khiến chúng tôi không sao mở ra được. Bức tường băng màu lam chắn ngang trước mắt như tan chảy trong luồng bạch quang này, nó miễn cưỡng co rút lùi lại, rồi đột ngột lùi nhanh về phía sau mở ra một đường hầm sáng rực dài dằng dặc. Trong luồng bạch quang, hai võ sĩ chắn đường đã biến mất không thấy tăm hơi.
Cáp Lang Tê cất người đồng đi, khóe môi trắng bệch, đi đầu dắt thú cưỡi của mình bước về phía trước trong luồng bạch quang. Hồn Man Lực ra hiệu cho tôi theo sau, "Cúi đầu đi thẳng về phía trước, đừng nhìn sang hai bên." Gã hung dữ bảo tôi, giọng điệu chẳng mấy hòa nhã. Tôi biết gã này tâm trạng cũng đang bất an. Bọn họ đều biết một điều gì đó, duy chỉ có mình tôi là chẳng hiểu ất giáp gì.
Chúng tôi lần lượt dắt bò — chúng ngập ngừng nhích từng bước chân, chẳng mấy bằng lòng tiến lên — đi theo Cáp Lang Tê bước vào luồng bạch quang ấy. Tôi đoán câu thần chú mà các võ sĩ khổng lồ và người đồng truyền cho Cáp Lang Tê thuộc về một nhánh ma pháp hệ Hoàn Hóa quỷ quyệt nhất. Hoàn Hóa là một vì sao quỷ bí, nó đại diện cho sự lang bạt, chệch hướng và bàng quan, đại diện cho chuyến du ngoạn tinh thần được dẫn dắt bởi con mắt của thần linh, nó luôn lệch ra ngoài dòng chảy chính, giữ một khoảng cách nhất định, lặng lẽ quan sát vạn vật thế gian.
Một vị Độ Mẫu của tộc Khoa Phụ lại cần thứ ma pháp nghiêm mật đến nhường này để bảo hộ sao?
Xung quanh dường như có vô số thanh âm phát ra, lượn lờ bay lượn quanh người chúng tôi, lại có những cơn gió âm u ảm đạm vù vù lao qua bên cạnh.
Đợi khi cái đuôi con bò do Lôi Bạt Đinh đi bọc hậu vừa vượt qua cửa núi, luồng bạch quang rung mạnh một cái, lóe lên hai lần rồi thu lại tứ phía. Lối đi khi nãy lại biến thành một bức tường băng cao sừng sững không thể vượt qua. Lòng tôi thấp thỏm không yên, cảm thấy như mình vừa chui đầu vào một cái bẫy không nên tự tiện bước vào.
Vượt qua ải gió kia, phía trước bỗng mở ra thênh thang. Chúng tôi phát hiện mình đang nhìn xuống những dòng sông băng nhấp nhô cao thấp, trải dài ra tận dưới bầu trời phương bắc mờ mịt, nhưng cảnh tượng này hoàn toàn khác biệt với những dòng sông băng mà chúng tôi từng thấy suốt dọc đường.
Tôi ngẩng đầu nhắm mắt, ngửi thấy mùi muối mặn mòi trong không khí.
Đây không phải là sông băng, đây là biển cả!
Đây là một vùng biển băng pha lê trong suốt, sóng cuộn trào dâng, ngọn sóng nhô cao, dường như vẫn giữ nguyên tiếng thét gào kinh thiên động địa thuở nào, nhưng tất cả đều bị đóng băng trong một khoảnh khắc. Thời gian theo đó ngưng đọng, mặc cho bên ngoài biển dâu biến đổi mây trôi nước chảy, nơi đây vẫn mãi mãi lưu giữ khoảnh khắc bị đóng băng của ngàn vạn năm trước.
Cáp Lang Tê thúc giục chúng tôi tiến lên. Gã và các võ sĩ rõ ràng mang sự cảnh giác cực độ đối với vùng đất dị thường này, tôi thấy họ ngồi trên lưng bò, mấy gã võ sĩ đều đã tuốt đoản kiếm ra khỏi vỏ. Khác với người Vũ tộc thường đeo bao tên sau lưng, Hồn Hồ Nha treo chéo hai ống tên ở hai bên cổ bò, trông có vẻ vô cùng thuận tiện cho việc gã giương cung bắn cả hai tay.
Chúng tôi đi xuống biển băng, tìm đường tiến lên giữa những tảng băng khổng lồ nhấp nhô. Lớp băng dày trên mặt đất đều trong suốt, nương theo ánh tà dương ngày càng yếu ớt có thể lờ mờ nhìn thấy nơi sâu thẳm của biển, phía dưới dường như có vô số khe nứt và hang hốc, đan dệt thành những hoa văn vụn vặt phức tạp. Chúng tôi tốn rất nhiều công sức mới trèo lên được một con dốc băng, dốc cao chừng ba mươi thước, trơn tuột, dày đặc những bọt sóng băng tinh lởm chởm như răng sói.
Trên đỉnh dốc, chúng tôi nhìn thấy phía trước lại là một đợt sóng băng cao ba mươi thước, chúng mang hình cánh cung rất rõ rệt, phần bụng lồi ra hướng về phía chúng tôi, hai bên trải dài ra tít tắp. Tôi dần nhận ra hình dáng của các đợt sóng là những vòng tròn đồng tâm, vòng sóng lớn nhất tính từ họng ải chúng tôi đi xuống có đường kính rộng chừng ba trăm dặm.
Những bọt sóng này bị đóng băng khi đang khuếch tán ra ngoài, và chúng tôi đang tiến về phía tâm vòng tròn. Gió cạo sạch những mảnh băng do mồ hôi ngưng kết lại khỏi da thịt. Tôi gần như không dám tưởng tượng nổi phải là một cú va chạm khủng khiếp đến mức nào mới có thể dấy lên những đợt sóng lớn nhường này, và cái lạnh thấu xương đến mức nào mới có thể khiến cả một vùng biển rộng lớn dường này đột ngột đóng băng?
Lũ bò bước đi rất chậm trên con dốc băng vừa trơn vừa đứng, băng kêu cọt kẹt dưới móng guốc của chúng, khi chúng tôi trèo lên một vòng đỉnh băng sừng sững khác, nhìn thấy ở vị trí trung tâm vòng tròn đằng xa có một bức tường thành cao lớn lờ mờ, những khối đá màu xám cao vút nhô lên khỏi mặt băng, bốn phía vây quanh một vòng sóng cực kỳ cao lớn rực rỡ. Ánh tà dương bị khúc xạ qua vòng sóng băng trong suốt kia tỏa ra ánh sáng rực rỡ sắc màu, tựa như một đóa hoa băng yêu dị đang nở rộ.
Chúng tôi càng tiến lại gần, càng tới gần tòa thành trì kia thì trời càng lạnh, tựa như tòa thành trì ấy chính là ngọn nguồn của giá rét. Tôi khoác lên mình tất cả chăn lông cùng tấm da báo kia mà răng vẫn va vào nhau cầm cập.
Không hiểu vì sao, tòa thành trì đen ngòm kia lại đem đến cho tôi một dự cảm chẳng lành. Nó nằm chết lặng ở đó, tựa như một tảng đá đen bị vứt bỏ, chẳng có lấy một chút dấu vết của sự sống.
Chúng tôi vượt qua vùng biển băng nhấp nhô này tốn nhiều thời gian hơn tưởng tượng. Đám Khoa Phụ chẳng còn cười đùa chút nào nữa, họ cưỡi trên lưng bò, ngước nhìn bầu trời không thốt lên một lời.
Mặt trời đang lặn dần. Bóng tối như một con sói hoang, nhanh chóng nuốt chửng bầu trời.
Cáp Lang Tê ghì chặt dây cương bò, lạnh lùng hỏi: "Còn bao nhiêu rượu?"
Lôi Viêm Phá trả lời: "Chừng mười hai túi."
"Đêm nay không nghỉ ngơi nữa, bó đuốc lại rồi tiếp tục tiến lên, lúc trời sáng vừa vặn đến được nơi đó." Cáp Lang Tê nói.
Họ bắt đầu dùng củi khô và vải vụn mang theo bó chặt thành từng bó đuốc, sau đó tưới rượu lên mặt vải, trước khi bận rộn, họ cũng không quên tự nốc cho mình một ngụm lớn trước đã.
Trong lúc họ đang bận rộn, tôi mang theo chút kính sợ nhìn tòa thành đã chết kia, hỏi Hồn Man Lực: "Độ Mẫu của các ngươi sống ở đây sao?"
"Chuyện này chẳng liên quan gì đến Độ Mẫu cả." Hồn Man Lực sốt ruột nói, tiếp tục chằng bó đuốc của mình, đuốc của gã dùng hẳn ba thân cây thông nhỏ xoắn lại với nhau, trông có vẻ đủ sức cháy suốt cả một đêm.
"Chúng ta không phải tới đây để tìm Độ Mẫu sao? Người không sống ở đây ư?"
Hồn Man Lực quẳng cây thông xuống, quay đầu nhìn chằm chằm vào tôi, ánh mắt gã nhìn khiến tôi nổi hết da gà.
"Ai nói với ngươi chúng ta đến đây là để tìm Độ Mẫu?"
Tựa như một chậu nước lạnh ngắt dội thẳng từ đỉnh đầu xuống, tôi chớp chớp mắt, cảm thấy lạnh buốt thấu tận tâm can.
"Chờ một chút, ngươi đợi một chút." Tôi dùng một tay ôm đầu, tay kia chống vào chiếc cổ dày cộp của con bò, lắc đầu chớp mắt, cảm thấy mình không hề say. Tôi hỏi lại lần nữa: "Bên bờ Băng Viêm Địa Hải, ngươi có nói các ngươi sẽ dẫn ta đi gặp Độ Mẫu hay không?"
"Không sai, nhưng chỉ có những kẻ vượt qua khảo nghiệm mới có được vinh dự dũng sĩ từ chỗ Độ Mẫu." Hồn Man Lực đảo mắt nhìn tôi nói, tựa như mấu chốt bên trong này sinh ra tôi đã phải hiểu rõ rồi vậy, "Ngươi đang tiếp nhận cuộc khảo nghiệm đáng sợ nhất để giành lấy vinh dự đấy."
"Khảo... nghiệm... đáng sợ?" Mặt tôi hẳn là đã xanh mét, tôi lặp lại từng chữ một, "Quỷ tha ma bắt nhà ngươi đi, ta chưa bao giờ nghĩ tới việc trở thành một dũng sĩ cả."
"Ngươi không muốn làm dũng sĩ?" Hồn Man Lực dịch lời tôi cho họ nghe, bọn họ đều cười ồ lên. Hồn Man Lực cười lớn quay đầu lại bảo tôi: "Đó là cái logic kỳ quặc của giống người lùn các ngươi, ở Thương Châu chúng ta thì không thông đâu."
Một quả bưởi phơi khô suốt nửa năm cũng chẳng thể co quắp hơn trái tim tôi lúc này được nữa, "Các ngươi đến đây để làm cái gì?"
Hồn Man Lực nhìn về phía Cáp Lang Tê, ánh mắt của vị thủ lĩnh kia đã càng lúc càng nặng nề, nặng đến mức biến thành hai hố đen sâu hoắm trong ánh nắng xám xịt đang dần lặn về tây.
"Chỉ có Cáp Lang Tê mới có tiềm chất trở thành Thú Hồn võ sĩ, chúng ta là những người bạn đồng hành tu hành cùng hắn." Hồn Man Lực nói.
Tôi nhớ lại vị Thú Hồn chiến sĩ tướng mạo tầm thường nhưng lại tràn đầy sức mạnh đáng sợ mà mình đã gặp trong tửu quán ở chợ người khổng lồ. Cả đại lục Thương Châu chỉ bồi dưỡng ra không quá mười hai người như vậy — thế thì Cáp Lang Tê phải trải qua cuộc rèn luyện đáng sợ đến mức nào mới có thể trở thành người như thế chứ? Tôi không kìm được run rẩy hỏi: "Nói cho ta biết, đây là nơi nào? Hồn Man Lực."
"Cổ Lư Hải. Đây là nơi an nghỉ linh hồn của các đời dũng sĩ tộc Khoa Phụ, cũng là chiến trường vĩnh hằng của Khoa Phụ," Hồn Man Lực nói bằng một giọng điệu tràn đầy tôn sùng, "Ngươi thấy tòa thành trì kia rồi chứ? Nơi đó vốn là nơi ở của Băng Xuyên Khoa Phụ."
"Băng Xuyên Khoa Phụ? Ta từng nghe ngươi nhắc tới họ." Tôi nói năng lắp bắp, cái lạnh nơi này khiến tôi trở nên vô cùng chậm chạp, "Họ là bộ tộc cổ xưa nhất trong tất cả các bộ tộc Khoa Phụ, nghe nói là từ vùng đất tối tăm quanh năm ở cực bắc di cư tới từ mấy ngàn năm trước phải không?"
"Những gì ngươi nghe được không sai đâu. Băng Xuyên Khoa Phụ chính là từ nơi này xuất phát rồi lưu lạc tới khắp các nơi trên Thương Châu. Một phần thân xác khổng lồ của Bàn Cổ còn lưu lại trong miệng núi lửa bên dưới vùng thánh địa này, nó có thể giúp bộ tộc chúng ta mãi mãi duy trì sự to lớn và cường tráng, nhưng không phải ai cũng có tư cách tới đây tiếp nhận khảo nghiệm đâu, người lùn à, đến được đây là một vinh dự tột bậc đấy—"
Gã khổng lồ đáng chết này cúi đầu trừng mắt nhìn tôi, mang vẻ mặt như thể tôi nên biết trân trọng cơ hội này, nhưng ánh mắt gã lại trôi dạt bất định, cứ đang nói chuyện lại đột ngột ngẩng đầu nhìn quanh, dường như nghe thấy điều gì đó.
Tôi biết thính lực của họ vượt xa người Vũ tộc, nhưng cũng bắt chước bộ dạng của gã vểnh tai lắng nghe, ngoài tiếng gió gầm rít thổi qua ra, tôi chẳng nghe thấy bất cứ thứ gì khác.
Tôi đưa mắt nhìn quanh, trên vùng hoang nguyên đóng băng ngàn vạn năm này, ngoài bảy chấm đen nhỏ bé đang chậm chạp di chuyển là chúng tôi ra, chẳng còn bất kỳ sinh vật nào khác. Gió lướt qua những đợt sóng băng cô quạnh, mặt trời kéo dài những chiếc bóng trên các ngọn sóng nhô cao, càng tăng thêm vẻ hoang tàn ghê rợn cho mảnh đất này.
Tôi chậm rãi, cẩn thận hỏi ra câu này: "Vậy những Băng Xuyên Khoa Phụ sống ở đây đâu rồi? Họ đã đi đâu?"
"Họ đều chết cả rồi, không còn những chiến sĩ vĩ đại cận kề thiên thần ấy nữa. Kẻ khiến Băng Xuyên Khoa Phụ diệt tộc chính là lũ băng quỷ di chuyển nhanh như gió kia. Chúng đang ở ngay đây. Chúng ta bắt buộc phải băng qua sào huyệt của chúng để tìm kiếm sự chúc phúc của Bàn Cổ."
Tôi run rẩy cả người không sao kiềm chế nổi, tôi từng nghe nói về loài quái thú này, những người Man sống trên Âm Vũ Nguyên ở cực bắc Hãn Châu thi thoảng lại nhắc tới cái tên đáng sợ này, trong phần lớn trường hợp, họ thậm chí còn chẳng muốn nhắc tới cái tên ấy.
Họ không miêu tả rõ được hình dáng của loài động vật hung hãn tham lam này, chỉ biết chúng sống trong những sào huyệt âm u tăm tối nhất, họ cũng không biết chúng đã tàn phá và xé xác những kẻ xấu số như thế nào. Nơi bến tàu cổ xưa, bộ dạng run rẩy, trợn trừng mắt trắng dã khi kể về băng quỷ trong cơn kinh hãi của họ vẫn luôn in sâu trong tâm trí tôi, "Chúng thù hận sự sống, thù hận tất cả những thứ cử động được," họ say mèm nốc rượu, lắc đầu quầy quậy nói, "Nếu đụng phải một con băng quỷ, thì cả một đạo quân cũng chẳng cứu nổi ngươi đâu."
"Vinh dự của các ngươi," tôi ôm đầy hy vọng hỏi gã, "— Ta đâu có tư cách giành lấy loại vinh dự này chứ?"
"Đương nhiên là có." Hồn Man Lực trả lời đầy bất ngờ, "Chúng ta không phải vô duyên vô cớ đi dạo mát ra bờ biển đâu, chính Độ Mẫu đã bảo chúng ta đi tìm ngươi ở đâu đấy — ngươi sinh ra đã định sẵn phải đồng hành cùng chúng ta thực hiện chuyến rèn luyện này."
Hồn Man Lực lạnh lùng nói: "Trên vách đá Băng Viêm Địa Hải, ngươi đã hứa hẹn rồi. Cho nên lúc này, ngươi không thể rút lui được nữa."
Cơn gió thổi ra từ những ngục băng vạn năm không thấy ánh mặt trời kia cũng chẳng khiến tôi cảm thấy lạnh lẽo đến nhường này, tôi thấy các khớp xương của mình dường như đều bị những tinh thể băng bện chặt làm cho đông cứng lại. Tôi nhớ lại những lời họ nói trên vách đá, cùng ánh mắt kỳ lạ khi họ nhìn tôi.
"Ta đi," tôi nói, "Ta có thể đi cùng các ngươi chứ?"
Tôi còn tưởng những gã to xác này đưa ra đề nghị cho tôi đi gặp Đại Độ Mẫu là chứng tỏ những kẻ khổng lồ bề ngoài thô lỗ này thực chất lại có lòng trắc ẩn lớn lao đối với kẻ yếu kia chứ. Tôi đúng là quá ngây thơ rồi, tôi oán hận nghĩ thầm. "Vậy Độ Mẫu của các ngươi có từng nói với các ngươi rằng chúng ta có thể sống sót trở về gặp người không?"
"Không biết. Chúng ta không bao giờ hỏi những câu ngớ ngẩn như thế." Hồn Man Lực bực bội giật giật dây cương, điều này chứng tỏ gã đã mất hết kiên nhẫn với cuộc trò chuyện này rồi. Tiên tri tương lai, đối với Khoa Phụ mà nói chẳng phải việc kẻ thông minh nên làm, họ thích hớn hở, ngơ ngác lao mình vào tương lai hơn.
"Hai tên kia theo sát vào, đừng để rớt lại phía sau." Cáp Lang Tê gầm lên ở phía trước, trong giọng nói của gã có một tia hỏa khí không cho phép cãi lại, điều này trái lại còn khiến người ta dễ chấp nhận hơn đôi chút.
"Này, này, câu hỏi cuối cùng," tôi tuyệt vọng hỏi gã, "Nếu Cáp Lang Tê thất bại thì sao?"
"Vậy thì nắm chặt vũ khí của ngươi đi." Hồn Man Lực nói, xoay người leo lên thú cưỡi của mình. Lời này từ miệng người Khoa Phụ thốt ra chẳng phải chuyện đùa, thực chất chính là bảo ngươi hãy chuẩn bị sẵn sàng để chết đi.
Những con bò Tây Tạng không biết sợ hãi trông có vẻ rất do dự. Các võ sĩ tay nắm chặt chuôi kiếm, chen chúc đi sát vào nhau. Tôi lặng lẽ bước đi giữa họ, nhớ lại việc họ không chịu nhận những món quà vớt được từ con tàu đắm. Trong bộ tộc của họ, không ai có thể tùy tiện nhận lấy mà không phải trả giá. Tôi chấp nhận lời mời của họ thì bắt buộc phải cùng họ gánh vác trách nhiệm, điều này trong mắt họ là lẽ đương nhiên. Thật đúng là mẹ kiếp.
Tôi biết chẳng còn cách nào khác, bèn tháo cây cung trên lưng xuống, rút một mũi tên đặt lên dây cung. Tôi thấy tay mình run rẩy dữ dội, mặt trời giãy giụa lần cuối cùng rồi rốt cuộc cũng tắt thở nơi chân trời xám xịt. Bóng tối không thể tránh khỏi đã bao trùm lên toàn bộ Cổ Lư Hải.
Bóng tối khiến tất cả mọi người và đàn bò đều cảm nhận được mối đe dọa. Đám Khoa Phụ châm đuốc lên, nhưng ánh lửa hừng hực bốc lên từ những thân cây thông kia ở cái chốn quỷ quái lạnh lẽo như địa ngục này cũng chẳng soi sáng được bao xa. Chúng tôi chỉ có thể nhìn thấy những tảng băng cách mười bước chân trước mắt sáng rực lên dưới ánh lửa, còn tất cả những gì xa hơn đều bị bóng tối nuốt chửng.
Chúng tôi mới chỉ tiến lên phía trước chừng một khắc, liền nghe thấy tất cả bò sáu sừng đột nhiên đồng loạt gầm rống lên, tiếng tru của chúng vang rền như những hồi tù và liên tiếp nổi lên. Chúng lần lượt lắc qua lắc lại những cái đầu khổng lồ, khiến sáu lưỡi đao buộc trên sừng dao động với biên độ lớn, phản chiếu ánh lửa bắn tung tóe khắp nơi, tựa như những nhánh cây khổng lồ bốc cháy.
Gió tựa như nữ yêu ca hát lả lướt, bay lượn luồn lách khắp bốn phương tám hướng quanh chúng tôi. Đám Khoa Phụ cưỡi trên lưng lũ bò đang bồn chồn lo lắng, đều cảnh giác quay đầu nhìn quanh quất. Ngay cả tôi cũng nhận ra được, trong gió có lẫn những thứ khác. Chúng không phát ra một tiếng động nào, âm lãnh, giảo hoạt, tràn đầy dục vọng khát máu, chỉ khi lướt nhanh như gió qua những mặt băng nhẵn bóng phản quang, chúng mới để lại đôi chút bóng hình.
"Cầm chắc vũ khí của các ngươi," Cáp Lang Tê hét lên, "Cầm chắc vào." Gã ghì cương cho bò xoay nửa vòng, các võ sĩ của gã đồng loạt quay người, vây thành một vòng tròn khít khao. Tất cả đuôi bò đều quay vào trong, những chiếc đầu đáng sợ đầy mũi đao nhọn hoắt hướng ra phía ngoài.
Họ nhìn quanh bốn phía, vẻ căng thẳng trên mặt đã biến mất không còn tăm hơi, thay vào đó là sự cuồng hỉ khi sắp sửa lao vào trận chiến. Cáp Lang Tê chuyển bó đuốc sang tay trái, tay phải trở tay tháo chiếc chiến rìu sau lưng xuống.
Nếu bạn từng chứng kiến uy lực khi người Khoa Phụ vung rìu, bạn sẽ hiểu vì sao đoản kiếm lại không thể trở thành thứ vũ khí được họ yêu thích nhất. Chiếc rìu cán dài của họ dài tới gần hai trượng, khi múa may lên tựa như một cơn lốc xoáy đáng sợ, tất cả mọi thứ trong phạm vi bốn trượng xung quanh đều sẽ bị đập nát thành tro bụi.
Hồn Phá Nộ hình như đã nhìn thấy thứ gì đó. Hắn gầm lên một tiếng thật to, vứt bỏ đuốc, vung mạnh chiến rìu. Lôi Bạt Đinh và Hồn Man Lực tiếp đó cũng gia nhập trận chiến. Tiếng gió sấm động, xung quanh họ cuộn lên một quầng bóng đen dầy đặc. Tôi cảm giác họ đang cố chặt chém những cái bóng của gió.
"Áp sát vào." Cáp Lang Tê hét lớn. Hắn phát ra một tiếng gầm phẫn nộ như sấm giật, chấn cho hai tai tôi tê dại. Người chiến sĩ Khương Phụ dũng vũ đáng sợ này dùng hai tay nhấc bổng cây rìu khổng lồ, xé gió chém mạnh vào hư không.
Nếu tôi có thể nhìn thấy, nhất định sẽ thấy vô số luồng gió xanh lam đang cuồng vũ quanh chúng tôi. Ánh mắt nhạy bén mà tộc Vũ Nhân luôn tự hào thành ra một trò đùa trong màn đêm này. Các Khương Phụ ghé tai lắng nghe. Trong gió bắt đầu tràn ngập tiếng cười khúc khích. Một vài cái bóng vụt qua ánh lửa bập bùng của ngọn đuốc, không đếm nổi có bao nhiêu bóng đen, chỉ biết từ những cái bóng đó tỏa ra cái lạnh cực độ. Đàn bò yắc giận dữ rống lên. Tôi thấy Hồn Phá Nộ đột nhiên nhảy xuống khỏi linh thú của mình, con bò yắc của hắn vặn kẹo thân thể một cách kỳ quái, vẫn ngẩng đầu giận dữ gầm rống, dưới ánh lửa tôi nhìn thấy nửa thân trái của nó đã đóng thành một lớp vỏ băng.
Tôi kinh hãi nghĩ ra, cuối cùng tôi đã hiểu những con băng quỷ này tàn hại những nạn nhân đáng thương kia như thế nào rồi.
Trong luồng hàn khí phun ra cuồn cuộn của băng quỷ, Lôi Bạt Đinh bị đóng băng hoàn toàn thành một bức tượng băng kiên cố, một bàn tay của hắn vẫn giơ cao cây rìu sắc bén. Cái lạnh đã cố định lại thần thái trợn mắt giận dữ, gầm gào phẫn nộ của hắn.
Hồn Hồ Nha bắn ra mũi tên của mình, lông đuôi mũi tên rung lên vè vè trong làn gió lạnh giá, nó rít lên lao vút vào trong gió. Tôi nghe thấy rõ ràng một tiếng gào nhọn hoắt, trong âm thanh đó pha lẫn sự phẫn nộ và đau đớn. Nhiều trận lốc xoáy hơn cuộn bốc lên, tiếng gió trở nên cao vút chói tai, chúng quét qua mặt đất, lao vào trong trận. Đàn bò yắc giống như bị khối sắt nung đỏ dí vào mông, hoảng loạn chạy tán loạn.
Những gia súc chịu rét giỏi nhất này, giờ đây trên tròng mắt phủ một lớp vỏ băng, lưỡi dao trên cặp sừng cong bị đông lạnh đến vừa giòn vừa cứng, khi va chạm với dao sừng bên cạnh thì nổ tung thành hàng ngàn mảnh vụn văng ra bốn phía.
Chưa kịp cho tôi khống chế con bò dưới háng, con vật bạo nộ này đã nhảy dựng lên, tôi giống như cọng rơm bị cào hất lên không trung, nhào lộn dữ dội, đâm vào một bức tường sóng băng cao lớn, rồi lại trượt xuống một khe nứt băng bên dưới. Tôi bị kẹt ở đó, không thể cựa quậy, ngay sau đó liền ngất đi.
Tôi mơ thấy mình đang giãy giụa trong một đầm lầy, rồi một chiếc lưỡi dày ấm áp vươn tới liếm mặt tôi, ánh sáng giống như một chiếc dũa đang dũa vào nhãn cầu của tôi. Thì ra trời đã sáng, tôi nằm úp mặt trong một rãnh băng hẹp sâu chừng hai thước, được một con bò yắc còn sống sót tìm thấy.
Tôi xua tay xua đuổi con bò yắc đó, ráng sức bóc khuôn mặt và cánh tay bị đóng đông của mình ra khỏi mặt băng, bò dậy kiểm tra khắp người, không phát hiện thiếu mất thứ gì.
"Còn bao nhiêu rượu?" Một giọng nói đáng sợ mà quen thuộc gầm lên ở một nơi nào đó phía trên. Lòng tôi nhẹ nhõm hẳn, ít nhất người của chúng tôi vẫn chưa chết hết. Cáp Lang Tê vẫn còn sống.
Tôi chật vật bò lên rãnh băng, giật mình bởi trận gió lạnh quét qua, theo bản năng giơ tay che chắn, nhưng đó là luồng gió thực sự. Mặt trời chiếu xuống mặt băng sáng lóa, những con băng quỷ đã biến mất không dấu vết, để lại tàn phá và cái chết khắp nơi. Nhìn thấy cảnh tượng sau một đêm khổ chiến, tôi không khỏi kinh hãi. Ba người trong số những chiến sĩ dũng cảm cao lớn như sơn nhạc này đã chết, Hồn Hồ Nha và Hồn Phá Nộ đều bị đóng thành cột băng giống như Lôi Bạt Đinh, họ nằm phẳng trên mặt đất, trong tay vẫn nắm chặt chiếc cung đứt dây và đoản kiếm, thi thể Lôi Bạt Đinh thậm chí đã nứt toác ra. Đùi của Lôi Viêm Phá bị cắn cắn hoại tử, nhìn rõ ràng đã phát đen, hắn nằm nửa người trên mặt đất, dội ít rượu lên chỗ vết thương đóng băng, đang ra sức ma sát nó.
Bò yắc sáu sừng chỉ còn lại năm con, lớp lông lưng dày quả thực giúp chúng dễ dàng chịu đựng hàn khí hơn, nhưng đầu và mặt của chúng đều bị thương nặng, nhiều dao trên sừng đã sứt mẻ không còn nguyên vẹn. Trên mặt đất có hai xác bò yắc, giống như hai ngọn núi xoạc bốn chân nằm ngang trên băng nguyên, hốc mắt đã đông thành vỏ băng, lưỡi thè ra chếch bên khóe miệng.
Họ nhìn thấy tôi, lộ ra vẻ vui mừng. Hồn Man Lực nói: "Chúng ta cứ tưởng ngươi đã chết rồi." Hắn đi tới định vỗ vai tôi, tôi vội vàng né ra. Mặc dù đây là hành động thể hiện tình hữu nghị giữa các Khương Phụ, nhưng tôi không muốn vì thế mà bị vỗ đến gãy xương.
Tôi nhìn vũ khí của họ, trên đó không dính một giọt máu nào, nhưng điều này không có nghĩa là các Khương Phụ không thu hoạch được gì. Tôi chú ý thấy trên mặt đất tích tụ một số mảnh băng vỡ màu xanh lam, đó chính là thi thể của băng quỷ.
"Chúng ta thắng rồi sao?" Tôi nôn nóng hỏi họ, "Các anh đã giết sạch chúng rồi à?"
"Đây chỉ là mấy con nhóc con thôi, Băng Quỷ Vương còn chưa xuất hiện đâu," Hồn Man Lực dùng chân đá đá đống băng vụn đó, "Với lại băng quỷ là không thể giết chết. Ở nơi lạnh lẽo thế này, nếu hai ngày không có mặt trời, chỉ cần đóng băng hai đêm, chúng sẽ lại ngưng tụ thành hình."
Tôi đau đớn than van: "Các anh còn muốn tiếp tục đi tiếp sao?"
Bất kỳ quân đội nào trong tình trạng thương vong thảm trọng như vậy, chỉ có nước hàng hoặc rút lui, nhưng tôi không dám trông chờ mấy gã to xác đần độn này chịu quay đầu trở về.
Hồn Man Lực nhún vai, câu trả lời đã quá rõ ràng. Hắn bắt đầu xử lý thi thể ba người đồng đội, tháo mũ cSnapshot trên thắt lưng của họ, đặt mũ cSnapshot lên trước ngực họ — đây là công dụng duy nhất của mũ cSnapshot Khương Phụ mà tôi thấy được — sau đó hắn lại tháo vòng tay của họ ra, treo lên thắt lưng mình.
"Thật mừng cho mấy gã này quá," Hồn Man Lực sụt sịt mũi nói, "Họ có thể ở đây ngủ yên cùng vong linh của những vĩ đại chiến sĩ rồi." Tôi nhìn thấy biểu cảm của hắn là thực sự vui mừng cho những người chết này.
Cáp Lang Tê dùng rìu lớn đục mở một huyệt băng, đặt ba người đồng đội đã chết cùng vũ khí của họ vào trong, sau đó dùng những khối băng vụn lớn lấp đầy huyệt băng, chỉ cần một đêm gió lạnh, nơi này sẽ biến thành một mộ băng kỷ niệm vĩnh hằng.
Cáp Lang Tê đứng trước mộ băng một lúc, ba khuôn mặt lạnh giá mờ ảo dưới lớp băng. Hắn xách lại chiến rìu, rõ ràng đã chuẩn bị sẵn sàng cho cuộc chiến mới.
Thời tiết quang đãng, ánh mặt trời chiếu chếch xuống mặt băng, phản chiếu vô số đốm sáng chói mắt. Chúng tôi đành phải nheo mắt tiến về phía trước, suốt chặng đường tôi thót tim nhìn quanh bốn phía, sợ hãi những con băng quỷ trốn đi kia lại đột nhiên xuất hiện.
"Đừng lo," Lôi Viêm Phá ngồi ngất ngưởng trên lưng bò, dùng thứ tiếng Man bập bẹ nói với tôi, "Mấy gã đó sợ mặt trời. Chúng sẽ không xuất hiện vào ban ngày đâu." Thương thế của hắn khá nặng, gần như không thể đi lại được nữa, nhưng tôi không hề thấy một tia đau đớn nào trên mặt hắn.
Mặc dù suốt chặng đường, các Khương Phụ đều dốc sức giục bò yắc chạy nhanh, nhưng khi gần đến giữa trưa, chúng tôi mới tiếp cận khối đá khổng lồ chống đỡ tòa thành trì ở trung tâm Băng Hải. Khối đá khổng lồ đó rộng chừng ngàn thước, được những làn sóng băng dưới đáy đá nâng cao lên, các ngọn sóng băng sừng sững xung quanh cao trăm thước, bao bọc quanh thành trì thành một vòng hoa rực rỡ chói mắt nhất. Giữa các làn sóng băng có những khe nứt dốc đứng.
"Bắt buộc phải để linh thú lại đây rồi." Cáp Lang Tê nói. Họ không nói một lời nhảy xuống lưng bò, tháo tất cả những thứ hữu dụng trên lưng bò xuống đeo lên lưng mình, vũ khí, khiên chắn, chăn lông, cùng toàn bộ rượu. Hồn Man Lực xách tợn tôi lên vai hắn. Mấy gã khổng lồ nương theo những bậc thang do băng đông lại mà trèo lên, họ thở hồng hộc, ngay cả Lôi Viêm Phá bị thọt chân cũng dốc sức bò lên, nơi này quá đỗi lạnh lẽo, tay của họ thường xuyên bị dính chặt vào bậc thang. Tôi nhìn thấy họ liên tục ngẩng đầu quan sát vị trí của mặt trời.
Khi chúng tôi cuối cùng bước vào thành trì, mặt trời đã ngả về tây. Đứng trên khối đá khổng lồ cao vút, cúi nhìn Băng Hải bên dưới, có thể thấy nó có ranh giới đại thể hình tròn, được các dải băng nhấp nhô như mũi dao bao bọc kín kẽ. Mà chúng tôi lúc này đang ở đúng trung tâm của Băng Hải cuộn sóng. Cảnh tượng này thực sự khiến người ta không thể hiểu nổi nó đã hình thành như thế nào. Giống như khối đá khổng lồ nâng đỡ thành phố là từ trên trời rơi xuống, mang theo tường thành và cung điện phủ lên nó, cắm sâu vào lõi của Băng Hải.
Ai cũng biết ở Thương Châu, các Khương Phụ không có thành phố của riêng mình, họ thường ngày chỉ sống trong các nơi ở dựng bằng đá tạm thời hoặc trong hang núi, thế nhưng sự đơn giản và khí phách hào hùng, cùng thể tích và số lượng khổng lồ của các kiến trúc tàn tích ở thành phố này đã khiến tôi không khỏi kinh ngạc. Tường thành chỉ còn lại những bức tường đổ nát, nhưng vẫn có thể nhìn ra năm xưa nó vừa cao vừa dày, có chức năng phòng thủ cực mạnh. Bốn bề tường thành vuông vức, hình dáng cổng thành vẫn có thể nhận ra, hai bên cổng thành có những khối tàn tích điêu khắc khổng lồ.
Trước cổng thành, họ dừng bước một chút. Trên tường thành hai bên đều có loại chữ viết màu đỏ thẫm nào đó, vì niên đại xa xưa nên đã ngả sang màu đen. Gió từ trong cổng thành rít gào lao ra, gầm thét như dòng sông lớn.
Toàn bộ thành phố tuy nhỏ, nhưng việc phân chia phố xá rất có quy tắc. Kiến trúc đều sở hữu hình khối hình học đơn giản, các khối đá cấu thành nên chúng mỗi khối đều to bằng cả một con thuyền Mộc Lan, tuy nhìn có vẻ thô kỉnh, chưa qua gọt giũa, nhưng đủ để giải thích kĩ nghệ và văn minh cao siêu mà tộc Khương Phụ từng sở hữu trong quá khứ. Tôi nhìn những Khương Phụ đi phía trước, họ cũng đầy vẻ mờ mịt và chấn động.
Chúng tôi đi về phía tây trong phế tích này, mặt trời ở phía sau kéo dài những cái bóng của chúng tôi trên những con đường lát bằng tấm đá lớn. Nhiệt độ ở đây hình như còn thấp hơn bên dưới, trên các kiến trúc bốn bề rủ xuống những cột băng lớn, mồ hôi nhanh chóng đông thành đóng băng bám trên làn da đã tím tái của chúng tôi.
Tôi nhanh chóng phát hiện trong quần thể kiến trúc xập xệ có một trục chính rõ rệt, hai bên là những hành lang cột đá chỉnh tề trải dài theo chiều sâu về phía trung tâm thành phố. Nhóm Cáp Lang Tê nhìn qua rõ ràng chưa từng đến đây, nhưng họ lại kiên định bước tiếp về phía trước.
Tôi thấy mục tiêu của họ nằm ở điểm cuối của trục chính, là một điện đường hùng vĩ rộng lớn nhất mà tôi từng thấy. Nó có nền sân cao rộng và bức tường dày dặn, bức tường đó chắc chắn cao bằng tường thành Thiên Khải. Cửa đã mất từ lâu, chỉ còn lại một cái miệng đen ngòm, cho chúng tôi thấy bên trong có hai hàng tượng chiến sĩ còn sót lại tay cầm vũ khí, trên bệ đài cao xếp dài vào sâu trong điện đường.
Trên khối đá khổng lồ ở bức tường khắc đầy những vết đâm chém nặng nề của binh khí kim loại, tôi lại nhìn thấy những chữ viết màu đỏ thẫm kia, những chữ này giống hệt chữ trên người đồng và chữ viết trên lòng bàn tay hai chiến sĩ Khương Phụ thượng cổ canh giữ đèo, đều là nét thẳng, không có nét cong, có lẽ để tiện cho việc dùng dao rìu đục khắc trên đá hoặc gỗ. Tôi đoán đây chính là pháo đài chiến đấu cuối cùng của những gã khổng lồ đã kinh qua tủi nhục và gian khổ.
"Không sai." Cáp Lang Tê nói, làn hơi trắng phun ra từ miệng hắn, lượn lờ bên tai. Hắn dừng bước, chống rìu, ngẩng đầu nhìn những cột đá cao lớn kia, đầy kính úy nói: "Mọi thứ đúng như nàng ấy đã nói, đây chính là Bàn Cổ Thần Điện."
Chúng tôi lần lượt bò lên những bậc thang cao lớn, bước vào đại điện, các cột đá bên trong to lớn dầy đặc ngoài dự đoán của tôi, các Khương Phụ hình như muốn dùng chúng để chống đỡ bầu trời. Chúng vươn cao lên tận không trung, mái nhà đã sụp đổ, ánh mặt trời chiếu vào bị các cột đá chia cắt thành từng vệt, trên mặt đất phủ đầy băng lạnh.
Các chiến sĩ điêu khắc bằng đá cao lớn như người Khương Phụ thật, phần lớn họ đã mất đầu, thậm chí còn có một số sụp đổ hoàn toàn trên mặt đất, nhưng cho dù là bức tượng nào, trong tay họ vẫn nắm chặt khiên chắn và cự kiếm, như thể vẫn đang canh giữ thứ gì đó.
Chúng tôi đi vào sâu hơn theo lối đi chiến sĩ trong đại điện u tối trang nghiêm này, càng đi càng sâu, cuối cùng ở điểm cuối của lối đi, chúng tôi nhìn thấy một tế đài làm bằng đá đen khổng lồ nhẵn bóng. Tôi ngạc nhiên phát hiện xung quanh tế đài có một khoảng đất lớn do dung nham ngưng tụ thành, hiểm trở gập gềnh, cao thấp bất định. Tôi đột nhiên nhận ra, đây chính là miệng núi lửa, nó đã bị lấp bằng rồi xây dựng nên thành phố này, chúng tôi lúc này đang đứng ngay trên nó.
Trên tế đài có một chiếc lồng đá trạm trổ hình Ly Long màu đen hủ mủ, nhìn đen ngòm không có gì nổi bật, thế nhưng nó giống như tâm bão, hút chặt mọi tầm mắt và tiêu điểm của thành phố này.
Cáp Lang Tê sải bước tiến về phía tế đàn đá, tấm lưng của hắn như một bức tường đá lạnh lẽo che khuất tầm mắt tôi. Tôi thấy hắn quỳ xuống trên mặt băng, ngồi sụp trên gót chân mình, sau đó chú tâm nhắm mắt lại, cúi đầu trầm tư.
Lôi Viêm Phá và Hồn Man Lực cũng không thèm để ý đến tôi, họ kính úy đi theo thủ lĩnh của mình bước lên phía trước, ở hai bên hắn, họ hạ chiến rìu xuống, đặt đầu rìu trên mặt đất, chống tay lên cán rìu, đông cứng ở đó như hai bức tượng điêu khắc.
So với nghi thức tế lễ dài dòng phức tạp của Vũ Nhân, phương thức cầu nguyện của họ cực kỳ đơn giản, thế nhưng lúc này tôi lại cảm thấy nó dài dòng không thể chịu nổi.
Thời gian trôi qua từng giây từng phút, mặt trời chầm chậm lặn về tây, xuyên qua những cột đá, tôi có thể thấy ánh sáng bên ngoài nhanh chóng tối đi. Băng Hải thăm thẳm bên dưới u uất hơn nhiều so với trong thành trì, một hai luồng lốc xoáy màu trắng cuốn lên vô số mảnh băng vụn, rít gào như băng long, tụ rồi lại tán trên mặt băng.
Ba người họ vẫn ngưng đọng không nhúc nhích, chỉ có tôi như con khỉ bị lửa đốt mông, chạy xuôi chạy ngược trong điện đường, điều này khiến tôi rất lâu sau mới phát hiện ra mặt đất dưới chân đang rung giật với một tần suất chậm rãi nào đó. Khi tôi đứng khựng lại nhìn, phát hiện bốn phía tường phát ra luồng ánh sáng nào đó, trên lớp vỏ băng liên tục chảy nước xuống, làm cho mặt đất ở đây trơn trượt. Những cột đá cao thẳng kia dường như đều bị vặn quẹo biến dạng, nhưng nếu bạn nhìn chằm chằm vào chúng, lại phát hiện nó vẫn thẳng. Trong điện đường này quả thực tràn ngập sức mạnh không thể nắm bắt.
Họ cuối cùng cũng hoàn thành nghi thức nào đó, Cáp Lang Tê nửa quỳ đứng dậy, hắn hạ vai xuống, trầm tư trước tế đài đó, dường như không quá muốn rời khỏi đây. Khuôn mặt trầm nghị của hắn dường như tràn ngập nhiều uy nghiêm và dũng lực hơn, nhưng tôi không quá chắc chắn.
"Chúng ta có thể đi được chưa?" Tôi ướm hỏi họ.
Nhưng Cáp Lang Tê không thèm gạt tôi, hắn đột nhiên gầm lên một tiếng cuồng nộ, sải bước tiến lên, hất tung chiếc lồng đá đó ra — trên tế đài trống rỗng!
Sắc mặt của Hồn Man Lực và Lôi Viêm Phá đều có vài phần hoảng loạn, họ hình như chưa từng nghĩ đến kết cục như vậy.
"Có lẽ bên trong vốn dĩ đã trống rỗng," Tôi an ủi họ, "Cuộc chiến giữa Hoang và Hư đã trải qua mười vạn năm, ai từng thấy Bàn Cổ Thần Linh thực sự chứ?"
Cáp Lang Tê quay đầu lại, giận dữ hét vào mặt tôi: "Chẳng lẽ không có thần sao? Bàn Cổ không tồn tại sao?" Giấc mộng vĩnh viễn cao lớn đó dường như lập tức xa tầm tay, đôi mắt hắn bùng cháy như than hồng, khiến tôi run rẩy.
Nhưng đôi mắt như vậy tôi vẫn có thể nhẫn nại sợ hãi mà nhìn thẳng vào hắn, tôi không phát hiện 특 chất của thú hồn chiến sĩ trên người hắn, "Có lẽ là không có thật." Tôi nói.
Cáp Lang Tê trợn mắt nhìn tôi, đột nhiên, ánh sáng trong mắt hắn đột ngột ảm đạm xuống, hắn hắc hắc cười lên: "Thú vị đấy, ngươi bắt đầu không giống một tiểu nhân rồi."
Hắn quay đầu đi qua đi lại trong điện, tiếng bước chân như sấm rền làm chấn động cả điện đường.
Tôi quả thực cảm thấy nơi này hình như còn âm lạnh hơn tất cả những nơi bên ngoài, trong một điện đường tế lễ Bàn Cổ, không nên lạnh đến mức này. Bạn xem, băng kiên cố đóng trên tường và dưới đất của chúng đặc biệt dày, nhất là ở — "Lại đây xem cái này." Cáp Lang Tê quay đầu nói với mọi người.
Ngay mặt đất phía sau tế đài đá đen, có một cái hố đen khổng lồ bị khoét rỗng, hàn khí âm u cuồn cuộn từ bên trong đùn ra. Nếu nhìn kỹ, có thể thấy một số ánh sáng ẩm ướt lấp lánh bên dưới. Miệng hố rộng chừng hai mươi bước, bậc thang dùng những khối đá xanh vuông vức đắp thành, từng bậc từng bậc dốc xuống phía dưới.
Bên trong liên tục truyền ra vô số tiếng ồn ào nhỏ vụn, giống như hàng trăm con chim non chờ mớm mồi trong tổ, đang chiêm chiếp tranh cãi không ngừng. Nó liên tục tỏa ra khí tức hắc ám và âm lạnh, cái lạnh thấu xương buốt giá, bao hàm mọi nỗi sợ hãi.
Không còn nghi ngờ gì nữa, miệng hố đi xuống này dẫn đến miệng núi lửa bên dưới thành phố, nhưng lại không chỉ đơn giản như vậy.
Các Khương Phụ nhanh chóng quan sát trên mặt băng xung quanh, phát hiện hàng trăm hàng ngàn vết móng vuốt nhỏ xíu để lại, chúng không ngoại lệ đều biến mất ở cái miệng hố đen ngòm đó. Xem ra băng quỷ đã chiếm cứ hoàn toàn nhạc thổ năm xưa này của Khương Phụ, biến nó thành tổ xào của mình.
Họ bắt đầu nói vừa gấp vừa nhanh. Hồn Man Lực và Lôi Viêm Phá hình như đang tranh cãi, Hồn Man Lực liên tục chỉ tay ra bên ngoài và mặt trời. Trong những ngày tiếp xúc với họ, tôi đã học được một ít tiếng Khương Phụ, nhưng vẫn không nghe hiểu họ cãi nhau cái gì, cuối cùng, Cáp Lang Tê xua tay ngắt lời tranh luận của họ, mấy câu hắn nói này, tôi lại nghe hiểu.
Hắn nói: "Đi xuống dưới, chúng ta phải đi đuổi theo chúng."
Đây là lời nói điên rồ hoang đường nhất mà tôi từng nghe. Tôi nhảy dựng lên thật cao, để họ đều có thể nghe thấy lời tôi: "Các người nghe đây, bất luận di hài của Bàn Cổ có ở bên dưới hay không, cũng đừng mong tôi đi theo mấy gã to xác đần độn các người xuống dưới dù chỉ một bước."
Cáp Lang Tê nghe hiểu lời tôi, hắn quay mặt lại, đồng tử màu trắng lộ ra trong hốc mắt sâu thẳm giống như băng sơn uy nghiêm tinh khiết. Hắn bình tĩnh nói với tôi: "Chúng ta không phải không trân trọng tính mạng, nhưng chỉ có đi sâu vào tổ băng quỷ, mới là cơ hội sống duy nhất của chúng ta."
Hắn giơ tay chỉ xuống băng nguyên bên dưới, chúng tôi có thể thấy mấy con bò yắc kia vẫn dừng lại ở chỗ cũ, nhỏ bé như hạt cải không đáng kể, hắn nói rất chậm từng chữ một, để tôi có thể nghe hiểu: "Nếu bây giờ bắt đầu chạy trốn, còn chưa đi tới chỗ hôm qua chúng tấn công chúng ta thì mặt trời đã lặn. Hiện tại chúng ta so với hôm qua ít đi ba chiến sĩ, đã suy yếu đến mức không thể chống đỡ cuộc tấn công thứ hai của chúng. Chúng ta không đi ra ngoài được thì sẽ toàn quân bị diệt."
"Điều này vẫn quá điên rồ," Tôi nhỏ giọng nói, "Chúng ta không biết chúng có bao nhiêu... chúng ta sẽ chết mất."
Tôi biết tại sao khi nhìn vào đồng tử màu trắng của Cáp Lang Tê lại run rẩy rồi: Trong mắt hắn không thấy sự sợ hãi. Đây chính là điểm khác biệt giữa hắn và Hồn Man Lực cùng Lôi Viêm Phá. Hồn Man Lực và Lôi Viêm Phá họ vẫn sẽ có biểu hiện sợ hãi, môi họ phát trắng, tay nắm chặt cán rìu, tôi biết một khi họ nhìn thấy kẻ thù, bắt đầu tấn công, sẽ quăng cảm xúc này ra sau đầu, nhưng ít nhất họ vẫn biết sợ.
Mắt Cáp Lang Tê tuy vẫn biết cười, vẫn có ưu lữ, vẫn có bi ai, vẫn có phẫn nộ, nhưng chúng không chấp nhận sợ hãi, chúng đã rất rất gần với đôi mắt trống rỗng của lão già kia rồi. Hắn vòng mắt nhìn các chiến sĩ còn sống sót của mình một lượt, rồi nói: "Chỉ cần mặt trời còn trên không trung, chúng sẽ suy yếu vô lực, tranh thủ thời gian là cơ hội duy nhất của chúng ta — hơn nữa, chúng ta còn có rượu. Đi thôi." Hắn nhấc chiếc rìu lớn, dẫn đầu đi vào trong cái hố âm u sâu thẳm đó.
Tôi đi cuối cùng, khi đi xuống dưới cùng, tôi nhìn quanh bốn phía một lượt, hình như nghe thấy có người trốn sau cột đá cười thầm. Tôi như chạy trốn đi xuống hố, bên trong bốn bức tường cũng đều là băng dày, chân giẫm lên bậc thang trơn trượt, như bước vào một ao nước băng. Những tiếng ồn ào chiêm chiếp nhỏ vụn kia truyền đến từ phía trước, giống như móng tay sắc nhọn rạch lên đá, càng lúc càng thê lương.
Chúng tôi cố gắng không phát ra tiếng động dò dẫm đi xuống một hai trăm bước, hố quặt về bên trái, phía trước hình như ánh sáng chói mắt. Chúng tôi nắm chặt vũ khí, ùa ra ngoài, đột nhiên phát hiện mình đang đứng trên một đại đài bằng băng kiên cố lơ lửng giữa không trung. Đây là một cái hố giếng lớn thẳng đứng từ trên xuống dưới, đi xuống chừng mấy chục trượng, ánh nắng xuyên qua nắp băng phía trên chiếu xuống, tan vỡ thành vô số luồng sáng nhỏ vụn, rồi lại phản xạ bốn phía trên những khối băng màu xanh lam tinh khiết, khiến trong hố tràn ngập ánh sáng tán xạ không có hướng. Trên tường hố đâu đâu cũng là các huyệt băng lồi lõm bất định, thông nhau thành những băng động uốn lượn sâu thẳm. Luồng gió lạnh dữ dội từ dưới hố giếng lớn ùa mạnh lên.
Những tiếng ồn ào thê lương kia chính là truyền ra từ các băng động dầy đặc trên tường băng, vào khoảnh khắc chúng tôi bước vào cái hố khổng lồ này, tiếng chiêm chiếp đột ngột bốc cao giọng, sau đó đột nhiên im bạt. Tôi không khỏi nổi hết gai ốc, tay nắm cung tên, đảo mắt nhìn quanh, đột nhiên phát hiện trên tường hố nhuốc nhúc chuyển động, những khối băng trong suốt đó đều đang chậm rãi biến đổi hình dạng.
Máu xông mạnh lên đỉnh đầu tôi, tôi phát điên lên nghĩ, những thứ đó chính là băng quỷ đấy. Chúng sở hữu thân thể bán trong suốt màu xanh lam, nhìn qua không khác gì băng, trách không được người thường luôn không nhìn rõ hình dáng của chúng. Chúng thò đầu thò cổ từ trong tổ huyệt ra những cái mõm dài sắc nhọn, hai chấm đen to bằng hạt vừng từ hốc mắt màu trắng đăm đăm nhìn bốn người chúng tôi, giống như những con kền kền tà ác thò cái đầu hói ra khỏi tổ. Chỉ trên bề mặt của cái hố khổng lồ này, tổng số băng quỷ có thể nhìn thấy đã trên một trăm con.
Ở trong hố, động tác của chúng vẫn nhanh nhẹn và nhanh nhẹn, kéo theo những cái bóng biến ảo bất định trên tường băng, nhưng đã xa xa không bằng sự nhanh như gió của đêm hôm đó.
Cáp Lang Tê hô lên một tiếng, hắn gầm lên là: "Rượu!" Tôi còn chưa hiểu rõ lời hắn có ý gì, các Khương Phụ đã giơ những túi rượu tràn đầy nồng rượu lên, vung rải ra bốn phía, dội xối xả lên đầu những kẻ thủ ác đó, rót đầy những cái hố sâu thẳm kia. Mùi rượu nồng nàn nương theo gió tràn ngập cả cái hố lớn, khiến người ta say khướt. Tiếp đó Hồn Man Lực dùng một miếng ngải cứu nhỏ đang cháy âm ỉ châm lửa. Ngọn lửa màu đỏ bắt đầu chảy tràn bốn phía trong hố băng xanh lam, đuổi theo bước chân của liệt rượu mà lan rộng. Bốn phía truyền đến những tiếng gào khóc đáng sợ, đó là âm thanh thê lương cao vút nhất mà tôi từng nghe, giống như gió xuyên qua hang đá trên vách đá bờ biển phát ra tiếng than van. Băng tuyết vạn năm rụt lại tan hóa dưới ngọn lửa. Trong lửa có vô số cái bóng uốn eo.
Cáp Lang Tê hú dài một tiếng, hai tay cầm rìu, sải bước tiến lên tìm kiếm những góc khuất và hố sâu mà ánh lửa không thể lan tới, băm vằn những cái bóng biến ảo bất định kia thành từng mảnh vụn, băng vụn màu trắng văng tung tóe khắp nơi. Những con băng quỷ túm tụm lại với nhau mất đi khả năng hành động như gió, chúng rít lên lùi ra xung quanh lẩn trốn, chờ thời cơ phản công hoặc tháo chạy. Chiến rìu của gã khổng lồ múa may, đập mạnh vào giữa những khối băng kiên cố trong suốt, băng vỡ tan tành như tuyết rơi tán bay, tôi cảm giác hắn đơn giản là uy phong giống như vị cự thần chặt đứt thiên địa từ mười mấy ức năm trước vậy.
"Muốn đi ra ngoài thì giết đi." Hồn Man Lực gầm lên một tiếng thật to, cơ bắp trên lưng hắn căng chặt, lấp lánh ánh sáng dưới ánh lửa.
Tôi nghiến chặt răng, trèo lên một bệ cao nhô ra trên tường băng, giương tên bắn về phía chúng. Cung săn của người Man không cứng và bắn xa như chiến cung của họ, họ gọi nó là Đường Cung, tôi hoàn toàn có thể kéo nó đến cực hạn sát tai rồi mới bắn mũi tên của mình đi. Ở khoảng cách gần như thế này, tôi nghĩ sức mạnh của nó đủ để xuyên thấu lớp da bò dày hai ngón tay.
Tôi trố mắt nhìn mũi tên của mình bắn trúng một thân thể trơn bóng tà ác, từ miệng vết thương do mũi tên bắn trúng phun ra những đường vân màu trắng, rồi kịch một tiếng toàn bộ nổ tung ra.
Khương Phụ múa mẩy đại rìu từng rìu từng rìu một chặt đứt những đống thứ cản trở trước mặt, cũng không phân biệt cái nào là băng cứng cái nào là kẻ thù, thân thể mỏng manh của băng quỷ một khi bị đánh trúng sẽ nổ tung ra. Nhưng động tác của chúng ngày càng nhẹ nhàng, ngày càng khó bắt giữ.
Một cái bóng màu xanh lam giống như con dơi giang rộng hai cánh, đột nhiên từ giữa không trung nhảy ra, phun một luồng sương mù màu trắng xốc vào mặt. Hồn Man Lực cúi đầu một cái, dựng đứng mặt rìu che chắn khuôn mặt, trên mặt rìu lập tức phủ một lớp băng kiên cố dày cộp. Hắn móc tay phải một cái, đảo ngược cán rìu, quật mạnh lên như roi, quật tan nát cái bóng xanh đó.
"Là mặt trời, mặt trời đang lặn xuống. Chúng đang tỉnh lại đấy," Hắn hét lớn, "Tập trung vào, tiêu diệt sạch chúng nó."
Nắp băng trên đỉnh hố ngày càng tối sầm lại. Ánh nắng giống như ngọn nến sắp tắt thoi hóp thở dốc. Ngọn lửa vẫn cháy dữ dội như cũ, nướng cái hố băng khổng lồ từ trên xuống dưới thành một hang lửa, nhưng hàn khí trong hố ngày càng dâng cao, tôi cảm thấy các khớp xương của mình kêu răng rắc, gần như sắp bị đóng băng tại chỗ.
Lôi Viêm Phá vốn dĩ đã bị thương, lúc này hắn đứng trước một cửa hố nhánh ngã ba, trên hai chân đều đã đóng lớp vỏ băng dày, đông cứng tại chỗ khó di chuyển. Những cái bóng xanh lam ùa lên cuộn thành một trận gió, bao bọc hắn vào bên trong.
"Để ta giúp ngươi." Hồn Man Lực gầm lên, hắn chém hai rìu trái phải đánh văng những cái bóng xanh quấn quýt hai bên, ngay khi hắn sải bước tiến về phía Lôi Viêm Phá, cả bệ băng kiên cố đã bị ngọn lửa đang cháy nung chảy phần nền, đột nhiên sụp đổ.
Lôi Viêm Phá đã bị đông cứng ở cửa hố nhánh, không bị rơi xuống, mà tôi vốn đứng ở vị trí gần mép tường băng, vào khoảnh khắc bệ băng sụp đổ, tôi nhảy dựng lên đạp vào một xà băng lồi treo ngang trên tường băng. Tôi treo lơ lửng ở đó, trố mắt nhìn Cáp Lang Tê và Hồn Man Lực, cùng với những khối băng vụn lớn đang bốc cháy, cùng với hàng chục dải bóng xanh đang vũ động, rơi rụng xuống dưới.
Sau khi bệ băng sụp đổ, ánh nắng mỏng manh rơi xuống đáy hố giếng khổng lồ, cho chúng tôi thấy cái hố tròn khổng lồ này cũng do đá lớn đắp lên, các khe tường được xếp vô cùng khít khao, trên tường có sáu bệ thờ lõm vào trong. Tôi thấy trong lớp băng dày ở bệ thờ mỗi bên có một chiến sĩ điêu khắc bằng đá, họ cầm đại rìu, thần thái uy vũ, khí thế tuyệt đối không kém hai chiến sĩ canh giữ đèo kia.
Dưới đáy hố băng đâu đâu cũng là những khe nứt sâu hơn. Tôi nhìn họ ngã xuống đáy hố, Hồn Man Lực lăn một vòng, chật vật bò dậy, còn Cáp Lang Tê thì rơi vào một khe nứt rộng sâu, ngập đến tận thắt lưng, làm sao cũng không thoát ra được. Những con băng quỷ rơi xuống chiêm chiếp tụ tập lại, xoay quanh hắn cuộn lên một trận lốc xoáy. Bốn phía đều là những ngọn lửa vụn văng tung tóe. Cáp Lang Tê rơi mất chiếc rìu lớn cán dài xuống khe băng, biến mất không thấy đâu, mà đoản kiếm trên thắt lưng hắn lại bị kẹt dưới băng, không thể rút ra. Hồn Man Lực rút kiếm của mình ra, quăng cho Cáp Lang Tê, nhưng hắn từ đầu đến cuối không hề quay đầu lại, mà dùng hai tay nắm chặt đại rìu, hướng mặt về phía bên kia của băng động.
Tôi và Lôi Viêm Phá đồng thời phát hiện, hướng Hồn Man Lực đối mặt, mới ẩn chứa hiểm cảnh đáng sợ nhất — lửa vẫn đang cháy, khiến đáy hố lắc lư dưới ánh lửa. Chúng tôi sửng sốt phát hiện, ở đó sừng sững một ngai vàng bằng băng. Trong góc tối của ngai vàng, có một quầng bóng đen cực kỳ to lớn, thậm chí cao hơn cả đầu của Khương Phụ. Nó giống như một đốm mực loang ra, trượt vào trường đấu võ tự nhiên này, ngẩng cao cái đầu nhỏ xíu,phủ khám hai con mồi trước mặt.
Đây chính là Băng Quỷ Vương sao. Lôi Viêm Phá than van lên. Cái lạnh giống như lưỡi dao mỏng, đang từng chút một cắt da thịt tôi, luồng không khí hít vào phổi thì như kim châm vào nội tạng tôi.
Giống như không hề gấp gáp, nó chầm chậm giang cánh ra từ trong bóng tối, trên người lấp lánh ánh xanh lam cực nhạt, gần như hoàn toàn trong suốt, tôi vừa mới nhìn rõ hình dáng của nó thì — mặt trời tắt phụt.
Ánh nắng hoàn toàn biến mất khỏi cái hố băng khổng lồ bị phong tỏa này, tiêu hao hết rượu, ánh lửa chảy tràn cũng ảm đạm xuống. Hàn khí dâng cao như thủy triều, tôi cảm giác máu toàn thân sắp đông cứng lại, trên lông mày và làn da bám đầy những dải băng, ngón tay cứng đờ không kéo nổi dây cung.
Hồn Man Lực bùng nổ toàn bộ thần lực toàn thân, hai tay giơ đại rìu quá đỉnh đầu, chém mạnh xuống, tiếng xé gió xè xè, ngay cả Hổ Giao cũng sẽ né tránh trận chém hùng liệt này của hắn.
Nhưng đối thủ của hắn là Băng Quỷ Vương đấy, rìu dù uy mãnh đến đâu, làm sao chém trúng ngọn gió không đao không vết chứ. Chúng tôi trợn tròn mắt, cũng không nhìn thấy nó ở đâu, chỉ cảm thấy trên mặt đất bằng phẳng dấy lên một trận lốc xoáy như làn khói nhẹ, Hồn Man Lực phát ra một tiếng gầm cuồng đau đớn, ngã chổng gọng sang một bên. Nửa thân dưới của hắn đã phủ một lớp sương trắng dày cộp. Tôi nghe thấy một tiếng cười nhẹ thèm máu. Mấy cái bóng nhạt màu xanh xám cùng ngã xuống đáy hố với họ vừa rồi, không hẹn mà cùng nhảy chồm về phía thân thể khổng lồ đang ngã xuống của hắn.
Cái bóng màu xanh lam nhạt của Băng Quỷ Vương từ bỏ Hồn Man Lực đã ngã xuống, ngẩng đầu nhìn Cáp Lang Tê vẫn bị kẹt trên mặt đất. Nó cuộn lên một đạo lốc xoáy màu trắng thuần, xoay càng lúc càng nhanh, gần như sắp đóng băng cả không khí. Cáp Lang Tê chống tay trái xuống mặt đất, tay phải nhấc kiếm chém vào trong gió. Lưỡi kiếm đồng đó đột nhiên trở nên sáng quắc, Cáp Lang Tê gầm lên một tiếng, vung tay ném kiếm đi. Kiếm đồng rơi xuống mặt đất phát ra một tiếng bịch trầm đục, nó lại trong một khoảnh khắc đã đóng một lớp băng dày. Cáp Lang Tê nếu không buông tay nhanh, ngón tay cũng sẽ bị đông rụng.
Hắn thở hồng hộc, vì dùng sức quá đà, ngay cả gã người đồng nhỏ trong ngực cũng rơi ra ngoài. Ánh lửa phản chiếu, tôi thấy băng do mồ hôi đọng lại lấp lánh trên sống lưng hắn, mà ngọn lốc xoáy chết chóc không ngừng áp sát.
Đúng lúc này, Cáp Lang Tê lại như kẻ ngốc nghếch nhìn gã người đồng rơi trước mặt. Người đồng nằm ngửa trên mặt băng, giơ cao tay phải, lại vẫn đang chậm rãi xoay tròn, cuối cùng chỉ về phía một bức tường đá.
"Cáp Lang Tê, mau tỉnh lại đi." Hồn Man Lực điên cuồng gạt phắt những con băng quỷ con quấy rầy không ngớt kia, mà Lôi Viêm Phá cũng bị một đám băng quỷ bao vây làm cho chật vật không kềm, hắn quay đầu quét nhìn chúng, giống như một con sư tử giận dữ bị mắc kẹt. Mà tôi treo lơ lửng trên tường hố cao cao, ngược lại tạm thời né được sự chú ý của chúng.
Tôi hình như nghe thấy hai tiếng thở dài như lá rơi. Cáp Lang Tê không còn thèm để ý đến ngọn lốc xoáy chết chóc màu trắng đang ngày càng áp sát, đột nhiên giơ tay lên, dốc sức nện mạnh vào tường băng bên cạnh. Nắm đấm của hắn giống như chiếc búa sắt khổng lồ, nện cho toàn bộ hang động đều rung giật lên. Hắn nện hết đấm này đến đấm khác, nện cho mặt băng nứt toác, nện cho băng khổng lồ rơi rụng ào ào xuống, nện cho đá lớn lăn từ trên bệ xuống cũng không dừng lại, như thể muốn nện mãi cho đến khoảnh khắc cái chết.
Băng Quỷ Vương cũng cảm nhận được quyết tâm đáng sợ này, nó rít lên, dốc sức cuộn lấy toàn bộ hàn khí trong hang băng, nhanh đến mức không nhìn rõ bóng dáng của nó, nhanh đến mức giống như ánh sáng vụt qua trong chớp mắt, nhanh đến mức hoàn toàn không thể phát giác ra sự tồn tại của nó — lao về phía gã khổng lồ đang lún sâu dưới đất.
Vào chớp mắt cuối cùng, Hồn Man Lực nhảy chồm sang, chắn ở trước mặt hắn.
Tượng chiến sĩ sụp đổ rồi, bệ thờ sụp đổ rồi, bức tường đá đắp hang động vỡ tung ra, những khối băng khổng lồ lộn xộn gầm thét từ phía trên đổ xuống. Tôi đành phải liên tục nhảy vọt, nhảy mãi đến một khối đá nhô ra cao hơn; Lôi Viêm Phá gần như bị băng vụn sụp xuống vùi lấp hoàn toàn, nhưng hắn cậy mình người cao to, nửa thân người vẫn lộ ra bên ngoài, chỉ là trong lúc cấp bách không bò ra được.
Tôi nhìn xuống dưới, thấy Hồn Man Lực trồi ra từ đống băng vụn lớn, hắn khó khăn bò lên khối băng, làm mất vũ khí, nửa thân dưới hình như di chuyển khó khăn, "Mau bò lên đây." Tôi hét lên với hắn, Hồn Man Lực móc vào một khe nứt trên tường băng thẳng đứng, bò ngược lên, nhưng trong đống băng vụn có hai cái bóng đuổi theo hắn, đóng đông gót chân hắn.
"Đón lấy kiếm của ta." Lôi Viêm Phá hú lên một tiếng, quăng đoản kiếm trong tay trái qua.
Khi Hồn Man Lực giơ tay đón kiếm, một luồng hàn khí đóng đông tay hắn. Hắn không bắt được nó, kiếm rơi xuống, rơi thẳng xuống đống băng vụn lớn trên mặt đất.
Tôi ngắm chuẩn, một mũi tên bắn ra, trúng ngay một cái bóng xanh. Đầu của nó giống như một bóng đái lợn chứa đầy băng vụn nổ tung ra. Nhưng một con băng quỷ khác nhanh như làn khói nhẹ lượn nửa vòng, quay sang bên phải đầu Hồn Man Lực, đột nhiên ngẩng cao đầu, lao về phía yết hầu hắn. Hồn Man Lực hô lớn một tiếng, tay trái móc tường băng, bóp mạnh tay phải kẹp chặt cổ nó. Cơ bắp cánh tay phải của hắn cuồn cuộn nổi lên, muốn dùng sức mạnh của một Khương Phụ, vặn gãy cổ nó. Nhưng tôi trố mắt nhìn tay phải hắn đột nhiên cứng đờ như sắt, biến thành khối băng màu xanh lam đậm, màu xanh lam đó càng với tốc độ đáng sợ, dọc theo cánh tay hắn xông lên vai.
Hồn Man Lực cúi đầu nhìn một cái, đột nhiên buông tay trái ra, mang theo con băng quỷ đó rơi rụng xuống. Hắn ngã trọng thương xuống đất đồng thời, đã nhặt lấy kiếm của Lôi Viêm Phá trên mặt đất. Băng quỷ giãy giụa dữ dội, phát ra tiếng khóc thê lương như trẻ con, theo sự giãy giụa của nó, tay phải Hồn Man Lực luôn nắm chặt nó đột nhiên nứt vỡ thành vô số mảnh vụn, mắt thấy con băng quỷ này sắp thoát khỏi khống chế, Hồn Man Lực đã đâm sâu kiếm vào thắt lưng con băng quỷ đó. Khi kiếm đâm vào cơ thể băng quỷ, phát ra tiếng xèo xèo như kiếm sắt nung đỏ đâm vào băng. Con băng quỷ đó co rúm thành một đống, chầm chậm tan chảy thành nước băng. Hồn Man Lực giết gã này, buông tay thả kiếm, ngửa người ngã ra sau, không bao giờ bò dậy được nữa.
Đúng lúc này tôi mới phát hiện, lửa đã dập tắt hoàn toàn, nhưng trong hang động lại rất sáng. Tôi và Lôi Viêm Phá kinh ngạc nhìn quanh bốn phía, thấy sau bức tường băng bị vỡ có ánh sáng lấp lánh, hình như chính là ngọn lửa phun trào trong núi lửa. Có luồng gió nóng rát lướt qua dưới sườn tôi.
Cáp Lang Tê ở phía sau tường băng đã đục mở một hang sâu lớn hơn sâu hơn, bên trong ẩn chứa một khối đá đen cao tới hai mươi trượng, nó hỗn độn chưa khai phá, chưa qua gọt giũa, ngoài một số khe nứt lớn bao quanh thân, bề mặt của đá huyền vũ màu đen cực kỳ nhẵn bóng. Nó im lặng đứng sừng sững ở đó, nặng tới hai vạn năm ngàn quân.
Tôi ngước mắt nhìn lại, đột nhiên thấy ở chỗ khe nứt của đá đen khổng lồ, lộ ra một số thứ màu trắng. Vào khoảnh khắc nhìn thấy những thứ màu trắng chói mắt đó, đầu tôi bùng một tiếng như bị đốt cháy, dốc sức dời mắt khỏi khối đá khổng lồ đó, một trái tim đập như muốn nổ tung khỏi lồng ngực, máu điên cuồng sục sôi trong tai tôi — đó là những đoạn xương màu trắng khảm trong đá khổng lồ đấy. Từ phần lộ ra, có thể nhìn mờ mờ đó là một đốt xương sống hình con bướm, kích thước chừng hai mươi vòng, cứ thế suy ra, gã khổng lồ này chẳng phải cao tới hơn ngàn trượng sao.
Tôi thấy thân thể Lôi Viêm Phá hơi lắc lư, biết hắn cũng cảm nhận được sự va đập nóng rát đó.
Tôi quay đầu lại tìm kiếm Cáp Lang Tê, phát hiện hắn đã thoát khỏi khe băng. Cáp Lang Tê vẫn không nhúc nhích, hắn hướng mặt về phía đá huyền vũ màu đen, quỳ trong đống tàn tích chiến sĩ đá đã sụp đổ, sắc mặt trắng như ngọc đá. Lốc xoáy lẫn các hạt băng rơi bốp bốp vào tường hố, Hồn Man Lực nằm như chết trên mặt đất, không dửng dưng. Hắn chỉ cúi đầu quỳ ngồi ở đó, hơi thở như thủy triều dâng lên hạ xuống trong hang.
Đáy hố băng bị lấp đầy băng vụn đột nhiên phồng lên một mảng lớn, Băng Quỷ Vương nhạt màu xanh không nhìn rõ giống như một cơn ác mộng không thể xua tan, từ trong khe nứt chui ra, nó ào ào lắc rụng băng vụn trên đầu, lại một lần nữa hung tợn quét nhìn kẻ thù trước mắt.
Tôi một lần nữa bắt đầu cảm nhận được khí tức sợ hãi tràn ngập cả hang động, nhưng sự sợ hãi này, không phải đến từ đống lốc xoáy không nhìn thấy kia, mà là gã khổng lồ rủ mày rũ mắt ngồi khô không nhúc nhích kia. Làn da của hắn tỏa ra khí tức nóng rát. Nơi lạnh lẽo như thế này, xung quanh hắn lại là một vòng nước tan chảy, nước từ dưới thân hắn chảy ra, chảy ra bốn phía.
Gió lớn lên rồi, bóng tối giống như cánh buồm phồng lên, ngọn lốc xoáy âm lạnh đó xoay gấp, lại ngập ngừng không dám lao lên phía trước, chỉ va đập qua lại trong hang động, đột nhiên ngoặt một cái, lao về phía chúng tôi ở phía trên.
Cáp Lang Tê nhẹ nhàng cử động một cái, tay hắn nắm lấy chiếc rìu đá bị vỡ trong tay chiến sĩ đá trên mặt đất, vung ngược lại, giống như người hầu gái hái một quả táo trên cây, giống như người nông dân băm một cọng cỏ trên đồng, giống như giọt mưa rơi xuống mặt đất nóng rát, giống như hơi nước được gió đưa lên không trung, một cái đầu to lớn màu xanh lam nẩy rớt xuống đất, thân thể trong suốt của Băng Quỷ Vương, giống như tấm lưới khổng lồ giăng trên không trung, đột nhiên vỡ tan thành muôn vàn mảnh vụn.
Tôi dán vào mép tường băng lồi lõm bất định trượt xuống. Thấy mũi tên tôi vừa bắn ra vẫn cắm sâu trên mặt đất, đóng chặt một con băng quỷ nhỏ ở đó, phần thân sau của nó vẫn xoắn vặn không ngừng. Tôi khá tự hào về mũi tên này, nhưng rốt cuộc không thể cứu được bạn tôi Hồn Man Lực.
"Là ngươi sao, tiểu nhân."
Hồn Man Lực nói, nửa thân dưới của hắn đã đông thành băng kiên cố, hơn nữa đã nứt vỡ, tôi có thể thấy những đường gân xanh và mạch máu đỏ lộ ra trên mặt cắt.
"Xem ra phải nhờ ngươi giúp ta đi hội ngộ với vong linh tổ tiên rồi." Hồn Man Lực nói.
"Tại sao không phải là Cáp Lang Tê?" Tôi hỏi.
Cáp Lang Tê cúi đầu đứng bên cạnh thi thể Băng Quỷ Vương khổng lồ đó, hắn hạ vai xuống, không nhìn về bên này, một vẻ cô đơn.
Màn đêm sắp tới sẽ rất dài, đêm lạnh giọt nước thành băng. Tôi và Lôi Viêm Phá chắc chắn đều muốn quay lại bên cạnh mấy con bò yắc bên dưới, chen chúc vào nhau để sưởi ấm, nhưng hắn đã không cần thiết nữa rồi.
Trong mắt hắn không có ánh sáng, hình xăm lửa bùng cháy trên vai lại lấp lánh phát sáng, đến khoảnh khắc này, hắn đã thực sự trở thành thú hồn chiến sĩ khiến người ta rét lòng.
"Hắn không phải là Cáp Lang Tê nữa rồi." Hồn Man Lực nhẹ nhàng nói, nhìn vị thủ lĩnh và đồng đội trước đây của hắn, trong mắt hắn lưu lộ vẻ tôn kính và sợ hãi, "Hắn đã chết rồi, đồng thời hắn cũng trở thành chiến sĩ vĩ đại nhất — chiến sĩ vĩ đại là không có bạn bè."
Đây là những lời thật lòng điên rồ, tôi vì những lời này mà rơi nước mắt. Nhưng Hồn Man Lực lại vì nước mắt của tôi mà cười lớn thành tiếng.
"Ngươi vẫn là một tiểu nhân nha." Hắn cười lớn nói.
Tôi tìm thấy kiếm của Hồn Man Lực, thanh kiếm đó ở cuối chuôi kiếm nặng nề có một quả cầu đồng tròn xoe. Tôi không cảm nhận được trọng lượng của nó, nó nhẹ như lông vũ. Tôi kéo nó vào lòng bàn tay trái của Hồn Man Lực.
"Nắm chặt kiếm của ngươi." Tôi nói. Sau đó bò lên cằm hắn, kéo Đường Cung của tôi ra, áp sát mắt hắn, bắn ổn định một mũi tên sắc bén vào trong.
Lôi Viêm Phá mất rất nhiều thời gian, mới đục mở được lớp băng dày bao bọc chân hắn, sau đó lảo đảo vừa lăn vừa rơi từ trên xuống đáy. Xem ra hắn cũng rất mừng cho Hồn Man Lực, "Gã may mắn này, hắn không cần phải phiền não vì trên đường về không có rượu uống nữa rồi." Hắn thở dài nói.
Hắn cúi đầu nhìn chiếc vòng tay hoa cỏ quấn quýt trên cánh tay người đồng đội đã chết, nói: "Ta phải đi trả chiếc vòng tay này lại cho nàng."
“Nàng sẽ ra sao?” Tôi hỏi.
“Hoặc tiếp tục lưu lạc, hoặc tìm một mảnh thánh địa,tu hành, trở thành độ mẫu cô đơn.”
Tôi đột nhiên cảm thấy khao khát của mình không thể ngăn lại, tôi yêu cô gái của tôi, tôi muốn gặp nàng.
Chúng tôi bôn ba ngày đêm. Băng qua cao nguyên tuyết lĩnh ngoằn ngoèo hiểm trở, băng qua quần sơn màu đỏ nhạt cây cối rậm rạp, băng qua Băng Viêm Địa Hải dầy đặc núi lửa và suối nước nóng. Ở một góc ẩn mật đến mức không thể tin nổi — tha lỗi cho tôi không thể nói chi tiết hơn — đã tìm thấy độ mẫu trao cho họ người đồng.
Độ mẫu thực ra là một người phụ nữ vô cùng gầy yếu bình thường, chúng tôi chỉ nhìn thấy bóng lưng của nàng. Nếu không phải Lôi Viêm Phá nói cho tôi biết, tôi không thể tưởng tượng được người phụ nữ có bóng lưng thướt tha này, đã cô độc canh giữ ở đây suốt một trăm năm.
Nàng nhẹ nhàng thở dài một tiếng, ngọn lửa nhảy múa trong đèn thanh đồng như hạt đỗ, như thể có thể rửa sạch mọi thời gian và nỗi đau buồn.
Dưới ánh đèn, nàng giống như Cáp Lang Tê đã làm ở Bàn Cổ điện đường và tổ xào băng quỷ kia, quỳ sụp trên gót chân mình, thân thể lắc đung đưa hơi về phía trước phía sau, dùng giọng nói già nua nói: "Thủy thủ, vậy thì, ngươi muốn nhận được thứ gì sao?"
Tôi không thể ngăn mình nghĩ đến sự cô đơn của nàng. Nàng ở đây sống suốt một trăm năm tròn.
"Đúng vậy. Tôi muốn." Tôi nói.
Căn cứ vào tuổi thọ của họ, nàng còn phải ở lại nơi cô quạnh không người này năm mươi năm hoặc lâu hơn nữa.
Độ mẫu đã cho tôi câu trả lời, nàng đung đưa nói: "Đến Tứ Vật Cốc đi, ở đó có câu trả lời cuối cùng của ngươi —"
"Đây chính là trải nghiệm tôi đến đây."
Thủy thủ cuối cùng nói, hắn vòng mắt nhìn phía bên kia đống lửa, nhưng màn sương mù dày đặc che phủ tất cả khiến hắn không nhìn rõ thứ gì.
Lúc này, người lữ khách khoác áo bào đen bên đống lửa không cho hắn cơ hội thở dốc, đã tranh trước kể lại câu chuyện tiếp theo này. Đêm kỳ diệu này làm sao, họ dường như đều không thể chờ đợi được nữa mà muốn thổ lộ những bí mật sâu nhất, nhiều nhất trong lòng mình.
"Đúng vậy, đó là một người giống như tôi, ẩn mình trong chiếc áo bào đen." Giọng nói của hắn tràn ngập sức hút, thuần hậu trầm thấp, vô cùng êm tai. Những người bên đống lửa đều không khỏi bị khí chất như quý tộc của hắn làm cho cảm động, lặng lẽ cúi đầu lắng nghe.