Anh từng hỏi tôi tại sao không viết một vở kịch về Don Juan. Sự nhẹ dạ khi anh gánh vác một trách nhiệm đáng sợ ấy có lẽ cho đến nay đã giúp anh quên sạch; nhưng ngày phán xét cuối cùng đã điểm: vở kịch của anh đây rồi! Tôi gọi đây là vở kịch của anh, bởi vì qui facit per alium facit per se (kẻ làm thông qua người khác cũng chính là tự mình làm). Lợi nhuận từ nó, cũng như công sức bỏ ra, đều thuộc về tôi; còn luân phong, lễ giáo, triết lý và sức ảnh hưởng của nó đối với thế hệ trẻ – tất cả là phần việc để anh biện minh. Khi đưa ra gợi ý đó, anh đã ở độ tuổi trưởng thành và anh thừa biết mình đang giao việc cho ai. Mới chừng mười lăm năm trước, với tư cách là những kẻ tiên phong kép của nền Báo chí Mới thời ấy, hai chúng ta – cùng được nuôi dưỡng trong những tờ báo mới mẻ hệt như nhau – đã tạo ra một dấu mốc trong nghệ thuật phê bình sân khấu và nhà hát opera bằng cách biến nó thành cái cớ để tuyên truyền cho chính những quan điểm sống của mình. Thế nên, anh không thể chối tội rằng mình không hề hay biết về thứ sức mạnh mà anh đã khơi nguồn. Anh muốn tôi phải khiến tầng lớp tư sản phải sử dụng đến những mánh lới ê chề; và nếu họ phản đối, tôi xin chính thức giới thiệu anh với họ chính là bên chịu trách nhiệm.
Tôi xin cảnh báo trước rằng nếu anh mưu toan chối bỏ trách nhiệm của mình, tôi sẽ nghi ngờ rằng anh thấy vở kịch này quá mực thước so với khẩu vị của anh. Mười lăm năm trôi qua đã làm tôi già dặn và trầm tính hơn. Còn ở anh, tôi chẳng thấy có nổi một sự chuyển biến đáng khen ngợi nào như thế. Những trò bông đùa và sự táo bạo của anh giống hệt như tình yêu và niềm an ủi mà Desdemona từng cầu xin: chúng cứ lớn dần lên theo năm tháng. Giờ đây, chẳng có tờ báo tiên phong nào dám bén mảng đến chúng nữa: ngay cả tờ Times uy nghiêm cũng là kẻ duy nhất đủ sức đứng ngoài mọi nghi ngờ để đóng vai người giám hộ cho anh; và thậm chí tờ Times đôi khi cũng phải cảm tạ các vì sao may mắn vì những vở kịch mới không ra mắt đều đặn mỗi ngày, bởi sau mỗi sự kiện như thế, sự nghiêm cẩn của nó lại bị tổn hại, những lời sáo rỗng của nó bị biến thành châm ngôn sắc sảo, sự phô trương biến thành óc hóm hỉnh, sự đứng đắn biến thành nét tao nhã, và thậm chí cả mực thước của nó cũng bị biến thành sự tinh nghịch bởi những bài phê bình mà truyền thống tờ báo không cho phép anh ký tên ở cuối bài, nhưng anh lại cẩn thận ký tên bằng những nét uốn lượn phô trương nhất ngay giữa các dòng. Tôi không chắc đây có phải là điềm báo của một cuộc Cách mạng hay không. Tại nước Pháp thế kỷ mười tám, hồi kết đã cận kề khi người ta mua bộ Bách khoa toàn thư và tìm thấy Diderot ở trong đó. Khi tôi mua tờ Times và tìm thấy anh ở đó, đôi tai tiên tri của tôi chợt bắt được tiếng lạch cạch của những chiếc xe chở tử tù ở thế kỷ hai mươi.
Tuy nhiên, đó chưa phải là điều tôi đang lo lắng lúc này. Vấn đề là, liệu anh có cảm thấy thất vọng với một vở kịch Don Juan mà trong đó không một cuộc phiêu lưu nào trong số một nghìn lẻ ba cuộc phiêu lưu của người anh hùng ấy được đưa lên sân khấu hay không? Để làm hài lòng anh, xin cho phép tôi tự giải thích. Anh sẽ lại vặn vẹo rằng tôi chẳng bao giờ làm việc gì khác ngoài việc giải thích: đó là lời châm chọc ưa thích của anh dành cho tôi khi cho rằng những gì tôi gọi là kịch chẳng qua chỉ là sự giải thích. Nhưng anh đừng mong tôi phải học theo những thói quen không thể giải thích nổi, kỳ quái, hay cáu kỉnh và khó tính của anh: anh phải chấp nhận tôi như con người vốn có của tôi – một kẻ hợp lý, kiên nhẫn, nhất quán, luôn biết thanh minh, chăm chỉ, mang khí chất của một ông giáo làng và theo đuổi công việc của một ủy viên hội đồng giáo xứ. Không còn nghi ngờ gì nữa, cái tài vặt văn chương vô tình làm công chúng Anh vui thích ấy đã làm phân tán sự chú ý khỏi tính cách của tôi; nhưng tính cách ấy vẫn cứ ở đó, vững chãi như những viên gạch. Tôi có lương tâm; và lương tâm thì luôn luôn lo lắng giải thích ngọn nguồn. Ngược lại, anh cảm thấy rằng một kẻ đem lương tâm ra bàn tán thì cũng giống hệt như một người phụ nữ đem sự kín đáo của mình ra mổ xẻ. Thứ sức mạnh đạo đức duy nhất mà anh hạ mình đem ra khoe mẽ chính là sức mạnh của sự hóm hỉnh: đòi hỏi duy nhất mà anh đưa ra trước công chúng chính là đòi hỏi của khí chất nghệ sĩ về sự cân xứng, nét tao nhã, phong cách, vẻ duyên dáng, sự tinh tế và thứ sự sạch sẽ – thứ đứng ngay sau lòng kính sợ Chúa, nếu như không muốn nói là đứng trước nó. Nhưng lương tâm của tôi là loại hàng chuẩn mực từ bục giảng đạo: tôi cảm thấy khó chịu khi thấy mọi người được sung sướng trong khi đáng lẽ họ phải thấy bất an; và tôi khăng khăng bắt họ phải suy nghĩ để đưa họ đến sự nhận thức về tội lỗi. Nếu anh không thích bài giảng của tôi thì anh buộc phải ngậm đắng nuốt cay chịu đựng nó mà thôi. Thực sự tôi chẳng thể làm gì khác được.
Trong lời tựa của tập Vở kịch dành cho những kẻ theo chủ nghĩa thanh giáo, tôi đã giải thích tình cảnh khốn đốn của nền kịch nghệ đương đại Anh quốc – một nền kịch nghệ buộc phải xoay quanh hầu như độc quyền các vấn đề thu hút giới tính, thế nhưng lại bị cấm trưng bày những sự kiện của sự thu hút ấy hoặc thậm chí bàn về bản chất của nó. Gợi ý của anh rằng tôi nên viết một vở kịch về Don Juan thực chất là một lời thách thức để tôi tự mình xử lý đề tài này dưới góc độ kịch nghệ. Thử thách đó đủ khó để đáng nhận lời, bởi lẽ, nếu suy ngẫm kỹ, dẫu chúng ta có thừa thãi những vở kịch có các nam thanh nữ tú đang yêu nhau và theo đó buộc phải kết hôn hoặc bỏ mạng vào cuối vở kịch, hay những vở kịch viết về những con người có mối quan hệ bị phức tạp hóa bởi luật hôn nhân – chưa kể đến những loại kịch rẻ tiền hơn chuyên khai thác truyền thống cho rằng những mối tình vụng trộm vừa đồi bại vừa thú vị – thì chúng ta lại chẳng có lấy một vở kịch hiện đại nào của Anh mà trong đó sự hấp dẫn tự nhiên giữa hai giới được dùng làm dây cót chính cho mọi hành động. Đó là lý do tại sao chúng ta cứ khăng khăng đòi hỏi vẻ đẹp ngoại hình ở các diễn viên, khác biệt hoàn toàn với những quốc gia mà người bạn William Archer của chúng ta vẫn ca tụng làm gương sáng cho những nhà hát non nớt của chúng ta noi theo. Ở những nơi đó, các nàng Juliet và Isolde, các chàng Romeo và Tristan hoàn toàn có thể là cha mẹ của chúng ta. Nữ diễn viên Anh thì không như vậy. Nữ anh hùng mà cô ấy hóa thân không được phép bàn luận về những mối quan hệ nguyên thủy giữa đàn ông và phụ nữ: tất cả những lời nhảm nhí lãng mạn của cô ấy về thứ tình yêu được nhào nặn từ tiểu thuyết diễm tình, tất cả những tình thế tiến thoái lưỡng nan mang tính pháp lý thuần túy của cô ấy về việc liệu mình đã kết hôn hay đã bị "phản bội", đều hoàn toàn trượt khỏi trái tim chúng ta và chỉ làm rối trí chúng ta thêm. Để tự an ủi, chúng ta đành phải ngắm nhìn cô ấy. Và chúng ta làm thế; vẻ đẹp của cô ấy nuôi sống những cảm xúc đang chết đói của chúng ta. Đôi khi chúng ta phàn nàn một cách kém lịch thiệp với nữ diễn viên vì cô ấy diễn không hay bằng vẻ bề ngoài của mình. Thế nhưng trong một vở kịch mà dù có bận tâm đến đâu tới vấn đề giới tính đi nữa, thực chất vẫn trống rỗng về mặt cảm hứng tính dục, thì ngoại hình ưa nhìn lại được khao khát hơn nhiều so với kỹ nghệ diễn xuất.
Tôi muốn nhấn mạnh điểm này với anh, bởi anh quá thông minh để không thốt lên cái tiếng kêu ngớ ngẩn về nghịch lý mỗi khi tôi tóm lấy một chiếc gậy từ đầu đúng thay vì đầu sai. Tại sao những nỗ lực thỉnh thoảng của chúng ta trong việc giải quyết vấn đề giới tính trên sân khấu lại trở nên ghê tởm và ảm đạm đến mức ngay cả những kẻ kiên quyết nhất đòi hỏi các vấn đề giới tính phải được đặt ra công khai và việc thảo luận chúng phải được tự do cũng không thể giả vờ thưởng thức nổi những nỗ lực vô vị nhằm làm trong sạch xã hội ấy? Phải chăng vì ở sâu thẳm bên trong, chúng hoàn toàn vô tính? Công thức thông thường cho những vở kịch đó là gì? Một người phụ nữ, vào một thời điểm nào đó trong quá khứ, đã vướng vào xung đột với bộ luật điều tiết các mối quan hệ giữa các giới. Một người đàn ông, vì đem lòng yêu cô ta hoặc kết hôn với cô ta, lại bị lôi vào cuộc xung đột với định kiến xã hội vốn đang ghẻ lạnh người phụ nữ ấy. Giờ đây, những xung đột của cá nhân với luật pháp và định kiến cũng có thể được kịch hóa như mọi xung đột nhân sinh khác; nhưng chúng hoàn toàn mang tính phán xét; và việc chúng ta tò mò về những mối quan hệ bị kìm nén giữa người đàn ông và người phụ nữ nhiều hơn là về mối quan hệ giữa cả hai với các tòa án luật pháp hay những bồi thẩm đoàn tư gia gồm các mệnh phụ phu nhân, đã tạo ra cái cảm giác né tránh, bất mãn, hoàn toàn lạc đề, nông cạn, khó chịu một cách vô ích, hoàn toàn thất bại trong việc giáo huấn và phần nào thất bại trong việc gây hứng thú – thứ cảm giác quen thuộc với anh trong các nhà hát hệt như khi xưa tôi cũng từng lui tới những tòa nhà bất tiện ấy, và nhận ra các nhà viết kịch nổi tiếng của chúng ta đang có tâm lý muốn (theo ý nghĩ của họ) noi gương Ibsen.
Tôi cho rằng khi anh đòi hỏi tôi viết một vở kịch Don Juan, anh không hề muốn thứ tha thiết ấy. Chẳng ai muốn cả: những thành công mà những vở kịch kiểu đó thỉnh thoảng đạt được đều là nhờ vào thứ kịch rợn gân cốt mang tính quy ước phụ trợ mà nhờ bản năng, một tác giả nổi tiếng từng trải đã dùng để tự cứu mình khỏi thất bại. Nhưng rốt cuộc anh muốn gì? Do cái thói quen bất hạnh của anh – giờ đây, tôi hy vọng anh đang cảm thấy sự bất tiện của nó – là không chịu tự giải thích rõ ràng, tôi đã phải tự mình khám phá ra điều này. Vậy trước tiên, tôi đã phải tự hỏi bản thân: Don Juan là ai? Theo nghĩa thông tục, đó là một kẻ ăn chơi trác táng. Nhưng sự chán ghét của anh đối với sự thô tục đã bị đẩy đến mức thành một nhược điểm (sự phổ quát về tính cách là điều bất khả nếu thiếu đi một chút tính phơ-lô-cua thô tục); và ngay cả khi anh có thể ngấm được gu ấy, anh cũng sẽ thấy mình bị nhồi nhét quá mức từ những nguồn thông thường mà chẳng cần phải làm phiền đến tôi. Thế nên tôi mặc định rằng anh đang đòi hỏi một Don Juan theo nghĩa triết học.
Về mặt triết học, Don Juan là một kẻ dẫu có đủ năng khiếu để xuất sắc phân biệt giữa thiện và ác, vẫn cứ đi theo bản năng của chính mình mà bất chấp luật pháp thông thường hay giáo luật; và do đó, trong lúc giành được sự đồng cảm nồng nhiệt từ những bản năng nổi loạn của chúng ta (vốn bị nịnh hót bởi những vẻ hào nhoáng mà Don Juan gắn liền với chúng), hắn ta lại thấy mình rơi vào cuộc chiến sinh tử với các thể chế hiện hành, và tự vệ bằng sự lừa lọc và trò hề một cách bất chấp thủ đoạn chẳng kém gì một người nông dân dùng những cách đó để bảo vệ mùa màng khỏi lũ sâu bọ. Nguyên mẫu của Don Juan, do một tu sĩ người Tây Ban Nha sáng tạo ra vào đầu thế kỷ XVI, được khắc họa theo quan niệm thời bấy giờ như kẻ thù của Chúa – kẻ mà sự báo thù đang đến gần được cảm nhận xuyên suốt vở kịch, ngày một trở nên đe dọa hơn qua từng phút. Chẳng có chút lo lắng nào sinh ra vì lợi ích của Don Juan từ bất kỳ đối thủ phụ nào: hắn dễ dàng lẩn trốn cảnh sát, cả thế quyền lẫn thần quyền; và khi một người cha căm phẫn tìm cách tựòi công lý bằng gươm giáo, Don Juan giết ổng không tốn chút sức lực. Phải đợi đến khi người người cha bị sát hại từ thiên đàng trở xuống làm sứ giả của Chúa dưới hình hài bức tượng của chính ổng, hắn mới bị khuất phục trước kẻ đã tước đoạt mạng sống mình và bị đày xuống địa ngục. Bài học đạo đức mang màu sắc tu viện: hãy ăn năn và cải thiện bản thân ngay đi; bởi ngày mai có thể đã quá trễ. Đây thực sự là điểm duy nhất mà Don Juan còn hoài nghi; bởi hắn là một tín đồ sùng đạo tin sái cổ vào một địa ngục tận thế, và chấp nhận rủi ro bị đày xuống hỏa ngục chỉ vì, khi hắn còn trẻ, nó có vẻ quá xa vời để mà việc ăn năn có thể hoãn lại cho đến khi hắn đã vui chơi thỏa thích đến tận đáy lòng.
Nhưng bài học mà một tác giả định hướng tới hầu như chưa bao giờ là bài học mà thế giới chọn học từ cuốn sách của ông. Điều thu hút và gây ấn tượng với chúng ta trong El Burlador de Sevilla không phải là sự cấp bách nhãn tiền của việc ăn năn, mà là sự anh dũng dám làm kẻ thù của Chúa. Từ Prometheus cho đến Kẻ nổi loạn của quỷ của chính tôi, những kẻ thù như thế vẫn luôn được mến mộ. Don Juan đã trở thành một nhân vật cưng đến mức thế giới không chịu nổi cảnh hắn bị đày xuống địa ngục. Nó hòa giải hắn một cách đầy tình cảm với Chúa trong một phiên bản thứ hai, và gào thét đòi phong thánh cho hắn suốt cả một thế kỷ, qua đó đối xử với hắn hệt như cách báo chí Anh từng đối xử với kẻ thù hài hước của các vị thần là Punch. Don Juan của Moliere quay trở lại với bản gốc về mặt không chịu ăn năn; nhưng về lòng sùng đạo thì hắn thụt lùi đáng kể. Quả thật, hắn cũng định ăn năn; nhưng bằng những lời lẽ nào? "Oui, ma foi! il faut s'amender. Encore vingt ou trente ans de cette vie-ci, et puis nous songerons a nous." (Ừ, thề có Chúa! Ta phải cải tạo lại mình. Thêm chừng hai mươi hoặc ba mươi năm sống thế này nữa rồi hãy hay!). Sau Moliere xuất hiện bậc thầy phù thủy nghệ thuật, bậc thầy của những bậc thầy, Mozart, người đã bày tỏ tinh thần của người anh hùng qua những giai điệu ma thuật, những âm hưởng yêu tinh và những nhịp điệu dồn dập vút cao tựa như thứ ánh chớp mùa hè có thể nghe được. Ở đây, các anh có được sự tự do trong tình yêu và trong đạo đức đang nhạo báng một cách tinh tế sự nô dịch đối với chúng, đồng thời khiến các anh hứng thú, thu hút các anh, cám dỗ các anh, buộc các anh một cách không thể giải thích nổi phải xếp người anh hùng đứng chung với kẻ thù của hắn là bức tượng lên một bình diện siêu việt, để lại người con gái ra vẻ đoan trang cùng gã người yêu tự đắc của cô ta trên một chiếc kệ đựng đồ sành sứ phía dưới để sống một đời ngoan đạo mãi mãi về sau.
Sau những tác phẩm hoàn chỉnh này, đoạn thơ dang dở của Byron không còn trọng lượng mấy về mặt triết học. Những gã lang thang trác táng của chúng ta chẳng còn gì thú vị từ góc độ đó hơn là gã thủy thủ có vợ ở mọi cảng biển, và người anh hùng của Byron rốt cuộc cũng chỉ là một gã lang thang trác táng mà thôi. Hắn lại còn câm lặng: hắn không bàn về bản thân mình với một Sganarelle-Leporello hay với cha hoặc anh em của những tình nhân hắn; hắn thậm chí còn chẳng thèm kể câu chuyện của chính mình như Casanova. Thực ra hắn hoàn toàn chẳng phải là một Don Juan đích thực; bởi hắn chẳng phải là kẻ thù của Chúa hơn bất kỳ gã trai trẻ lãng mạn ưa phiêu lưu nào thích chơi trò trác táng nông nổi. Giả sử anh và tôi ở vào vị trí của hắn ở độ tuổi ấy, ai mà biết được liệu chúng ta có hành động như hắn hay không, ngoại trừ việc sự khó tính của anh có thể đã cứu anh khỏi Nữ hoàng Catherine. Byron vốn ít mang chất triết học chẳng kém gì Peter Đại đế: cả hai đều là những ví dụ về một biến thể hiếm hoi và hữu ích nhưng chẳng mấy cao đẹp, đó là một thiên tài đầy nhiệt huyết sinh ra mà không hề mang theo những định kiến hay mê tín của những người cùng thời. Sự tự do tư duy bất chấp thủ đoạn hệ quả đã biến Byron thành một nhà thơ vĩ đại hơn Wordsworth y như cách nó biến Peter thành một vị vua vĩ đại hơn George III; nhưng vì rốt cuộc đó chỉ là một phẩm chất mang tính phủ định, nó không ngăn được Peter trở thành một gã lưu manh đáng sợ và một kẻ hèn nhát tột cùng, cũng chẳng giúp Byron trở thành một thế lực tôn giáo như Shelley. Thế nên, chúng ta hãy gác Don Juan của Byron sang một bên. Don Juan của Mozart là kẻ cuối cùng trong số những Don Juan đích thực; bởi đến khi hắn đến tuổi trưởng thành, người anh họ của hắn là Faust đã – dưới ngòi bút của Goethe – truất ngôi hắn và đưa cả cuộc chiến lẫn sự hòa giải của hắn với các vị thần đi xa hơn rất nhiều so với những chuyện yêu đương đơn thuần, vươn tới chính trị, nghệ thuật cao cấp, những kế hoạch khai khẩn lục địa mới từ lòng đại dương, và sự công nhận một nguyên lý vĩnh hằng nữ tính trong vũ trụ. Faust của Goethe và Don Juan của Mozart chính là những lời cuối cùng của thế kỷ XVIII về chủ đề này; và khi các nhà phê bình lịch thiệp của thế kỷ XIX – phớt lờ William Blake một cách hời hợt y như cách thế kỷ XVIII đã phớt lờ Hogarth hay thế kỷ XVII phớt lờ Bunyan – đã vượt qua giai đoạn Dickens-Macaulay-Dumas-Guizot và giai đoạn Stendhal-Meredith-Turgenev, để rồi phải đối mặt với dòng tiểu thuyết triết học qua những ngòi bút như của Ibsen và Tolstoy, thì Don Juan đã đổi giới tính và trở thành Dona Juana, tự phá vỡ Nhà búp bê để khẳng định bản thân như một cá thể độc lập thay vì chỉ là một chi tiết nhỏ nhặt trong một màn biểu diễn đạo đức.
Thế mà anh ở thời điểm đầu thế kỷ XX lại đòi tôi viết một vở kịch Don Juan thì thật là nực cười; nhưng anh sẽ thấy từ khảo sát trên đây rằng Don Juan đã lỗi thời tròn một thế kỷ đối với cả anh lẫn tôi; và nếu ngoài kia có hàng triệu người kém chữ nghĩa hơn vẫn đang sống ở thế kỷ XVIII, thì chẳng phải họ đã có Moliere và Mozart – những tác giả mà không bàn tay phàm trần nào có thể cải thiện được nghệ thuật của họ – đó sao? Anh sẽ cười vào mặt tôi nếu vào thời buổi này mà tôi còn đưa vào những màn đấu kiếm, những hồn ma và những người phụ nữ "đậm chất nữ tính". Còn về sự trác táng đơn thuần, chính anh sẽ là người đầu tiên nhắc nhở tôi rằng vở Festin de Pierre của Moliere không phải là vở kịch dành cho những kẻ mê đắm ái tình, và rằng chỉ một ô nhịp của thứ tình cảm lãng mạn nhục dục từ Gounod hay Bizet cũng đủ hiện lên như một vết nhơ phóng đãng trên bản tổng phổ của vở Don Giovanni. Ngay cả những phần trừu tượng hơn của vở kịch Don Juan cũng đã mục nát đến mức không thể dùng được nữa: ví dụ như, đối thủ siêu nhiên của Don Juan từng ném những kẻ từ chối ăn năn xuống những hồ lưu huỳnh cháy bỏng, để mặc chúng bị lũ quỷ có sừng và đuôi tra tấn ở đó. Về vị đối thủ ấy, và về quan niệm ăn năn đó, còn lại bao nhiêu phần có thể được sử dụng trong một vở kịch do tôi cống hiến cho anh? Mặt khác, những thế lực của dư luận quần chúng thuộc tầng lớp trung lưu – những thứ hầu như không tồn tại đối với một nhà quý tộc Tây Ban Nha vào thời của Don Juan đời đầu – nay đã chiến thắng ở khắp mọi nơi. Xã hội văn minh là một khối tư sản khổng lồ: chẳng nhà quý tộc nào dám làm phật ý người bán rau quả của mình nữa. Phụ nữ, từ "marchesane, principesse, cameriere, cittadine" (nữ hầu tước, công nương, nữ gia nhân, nữ thị dân) cho đến tất cả những người khác, đều trở nên nguy hiểm không kém: giới tính ấy mang tính công kích, đầy quyền lực; khi phụ nữ bị đối xử bất công, họ không còn đứng túm tụm lại một cách đáng thương để cất tiếng hát "Protegga il giusto cielo" (Xin thiên đàng công chính phù hộ) nữa: họ chộp lấy những thứ vũ khí pháp lý và xã hội đáng sợ để trả đũa. Các đảng phái chính trị bị phá sản và những sự nghiệp công cộng tiêu tùng chỉ vì một phút sơ suất duy nhất. Một người đàn ông thà mời tất cả các bức tượng ở London đến ăn tối cùng mình – dù chúng có xấu xí đến đâu – còn hơn là bị lôi ra trước vành móng ngựa của Lương tâm Kháng cách bởi Donna Elvira. Việc bị khai trừ khỏi giáo hội nay đã trở thành một vấn đề nghiêm trọng chẳng kém gì thế kỷ X.
Kết quả là, Đàn ông không còn là kẻ chiến thắng trong cuộc đấu tay đôi giữa các giới giống như Don Juan nữa. Người ta có thể nghi ngờ liệu anh ta có thực sự từng là kẻ chiến thắng hay không; dù sao đi nữa, sự ưu việt to lớn từ vị thế tự nhiên của Phụ nữ trong vấn đề này đang phát huy sức mạnh ngày càng mãnh liệt hơn. Còn về việc dám túm râu Lương tâm Kháng cách giống như Don Juan từng túm râu bức tượng vị Chỉ huy trong tu viện San Francisco, thì thời nay chuyện đó là bất khả: sự thận trọng lẫn phép lịch sự đều cấm kỵ một anh hùng có chút trí tuệ làm điều đó. Hơn nữa, chính bộ râu của Don Juan mới là thứ đang lâm vào cảnh nguy hiểm bị túm lấy. Trái với nỗi sợ tụt lùi vào thói đạo đức giả của Sganarelle, hắn bất ngờ khám phá ra một bài học đạo đức nằm ngay trong sự vô đạo đức của mình. Sự công nhận ngày càng lớn đối với góc nhìn mới của hắn đang chất chồng trách nhiệm lên vai hắn. Những trò bông đùa trước kia giờ đây buộc hắn phải đón nhận một cách nghiêm túc hệt như cách tôi phải đón nhận một số trò bông đùa của ông W. S. Gilbert. Chủ nghĩa hoài nghi của hắn – thứ từng là phẩm chất bị dung thứ ít nhất – giờ đây đã chiến thắng triệt để đến mức hắn không thể tự khẳng định bản thân bằng những lời phủ định hóm hỉnh nữa, mà buộc phải tìm ra một lập trường khẳng định để tự cứu mình khỏi việc biến thành một con số không tròn trĩnh. Một nghìn lẻ ba cuộc tình ái của hắn, sau khi trở thành, tối đa là hai mối quan hệ mập mờ non nớt dẫn đến những rắc rối và nhục nhã ê chề kéo dài, đã bị vứt bỏ hoàn toàn vì không xứng đáng với phẩm giá triết học của hắn và làm tổn hại đến vị thế mới được công nhận của hắn với tư cách là người sáng lập ra một trường phái. Thay vì giả vờ đọc Ovid, hắn thực sự đọc Schopenhauer và Nietzsche, nghiên cứu Westermarck, và bận tâm đến tương lai của nhân loại thay vì sự tự do của những bản năng chính mình. Do đó, thói trác táng và vẻ nghênh ngang liều lĩnh của hắn đã theo chân gươm giáo và đàn mandolin bước vào cửa hàng đồng nát của những thứ lỗi thời và mê tín dị đoan. Trên thực tế, giờ đây hắn giống Hamlet hơn là Don Juan; bởi dẫu những câu thoại được đặt vào miệng diễn viên để ra hiệu cho tầng ghế khán giả bình dân biết rằng Hamlet là một triết thì phần lớn chỉ là những lời sáo rỗng hài hòa – nếu pha trò thêm chút ngôn từ sến súa – sẽ hợp với Pecksniff hơn, thế nhưng nếu anh tách biệt người anh hùng thực sự – kẻ không thể thốt nên lời và không thể hiểu nổi chính mình ngoại trừ những tia chói lọi của cảm hứng – ra khỏi người diễn viên cứ phải độc thoại bằng mọi giá suốt năm hồi; và nếu anh cũng làm cái việc mà anh luôn phải làm trong các vở bi kịch của Shakespeare: đó là mổ xẻ những tình tiết giật gân vô lý và bạo lực thể xác của câu chuyện vay mượn ra khỏi lớp mô Shakespeare đích thực, anh sẽ có được một kẻ thù Prometheus đích thực của các vị thần, kẻ có thái độ bản năng đối với phụ nữ rất giống với thái độ mà Don Juan giờ đây bị dồn phải có. Từ góc độ này, Hamlet chính là một Don Juan đã phát triển được Shakespeare ngụy trang thành một người đàn ông đàng hoàng y như cách ông ngụy trang tội nghiệp Macbeth thành một kẻ sát nhân. Ngày nay, sự ngụy trang đó không còn cần thiết nữa (ít nhất là trên bình diện của anh và tôi) bởi chủ nghĩa Don Juan không còn bị hiểu lầm là thói Casanova đơn thuần. Bản thân Don Juan gần như mang tính khắc kỷ trong khao khát tránh né sự hiểu lầm đó; và vì vậy, nỗ lực của tôi nhằm đưa hắn cập nhật thời đại bằng cách thả hắn như một người Anh hiện đại vào một môi trường Anh hiện đại đã tạo ra một nhân vật thoạt nhìn hoàn toàn không giống với người anh hùng của Mozart.
Và thế mà tôi vẫn không nỡ làm anh thất vọng hoàn toàn về một thoáng nhìn khác đối với gã trác táng bị trừng phạt dissoluto punito của Mozart và đối thủ của hắn là bức tượng. Tôi chắc chắn anh rất muốn biết thêm về bức tượng ấy – muốn khơi gợi hắn khi hắn đang "ngoài giờ làm việc", có thể nói là vậy. Để làm hài lòng anh, tôi đã dùng đến ngón nghề của một nhà quản lý rạp hát lưu động vốn quảng cáo vở kịch câm Sinbad the Sailor bằng một kho áp phích tranh cũ kỹ được thiết kế cho vở Ali Baba. Ông ta chỉ đơn giản nhét vài cái chum dầu vào thung lũng kim cương, và thế là thực hiện đúng lời hứa được giăng trên các tấm biển quảng cáo trước mắt công chúng. Tôi đã phỏng theo mẹo mực đơn giản này cho dịp của chúng ta bằng cách nhét vào vở kịch ba hồi hoàn toàn hiện đại của mình một màn kịch hoàn toàn ngoại lai, trong đó người anh hùng của tôi, vì say đắm bầu không khí của vùng Sierra, đã có một giấc mơ trong đó tổ tiên theo lối Mozart của hắn xuất hiện và bàn luận triết lý dài dòng trong một cuộc đối thoại theo kiểu Shavio-Socratic với người phụ nữ, bức tượng và con quỷ.
Nhưng trò bông đùa này không phải là cốt lõi của vở kịch. Đối với cốt lõi này, tôi hoàn toàn không thể kiểm soát nổi. Anh đề xuất một chất liệu xã hội nhất định, cụ thể là sự thu hút giới tính, để chưng cất thành kịch; và tôi chưng cất nó cho anh. Tôi không pha loãng sản phẩm bằng các chất kích thích tình dục cũng không làm loãng nó bằng sự lãng mạn và nước lã; bởi tôi đơn thuần đang thực hiện đơn đặt hàng của anh, chứ không phải sản xuất một vở kịch phổ thông cho thị trường. Do đó, anh phải (trừ phi giống như hầu hết những người khôn ngoan, anh đọc vở kịch trước rồi mới đọc lời tựa sau) chuẩn bị tinh thần đối mặt với một câu chuyện vớ vẩn về đời sống London hiện đại – một cuộc sống mà như anh biết đấy, công việc chính của một người đàn ông bình thường là kiếm phương tiện duy trì địa vị và thói quen của một quý ông, còn công việc của người phụ nữ bình thường là lấy chồng. Trong 9.999 trường hợp trên 10.000, anh có thể tin chắc rằng họ sẽ chẳng làm gì – dù cao thượng hay đê hèn – đi ngược lại những mục đích đó; và sự đảm bảo đó chính là điều anh dựa vào để coi là tôn giáo, đạo đức, nguyên tắc, lòng yêu nước, danh tiếng, danh dự của họ, v.v.
Nhìn chung, đây là một nền tảng hợp lý và thỏa đáng cho xã hội. Tiền bạc có nghĩa là lương thực và hôn nhân có nghĩa là con cái; và việc đàn ông đặt lương thực lên trên hết còn phụ nữ đặt con cái lên trên hết, nói một cách đại khái, chính là quy luật của Tự nhiên chứ không phải là mệnh lệnh của tham vọng cá nhân. Bí quyết thành công của con người tầm thường – dù nó là gì đi nữa – nằm ở sự đơn giản mà theo đuổi những mục đích đó: bí quyết thất bại của con người nghệ sĩ – dù nó là gì đi nữa – nằm ở sự đa tài mà cứ lan man đi tứ phía theo đuổi những lý tưởng thứ yếu. Người nghệ sĩ hoặc là một nhà thơ hoặc là một gã lưu manh: với tư cách là nhà thơ, anh ta không thể nhìn thấy, như con người tầm thường vẫn thấy, rằng hiệp sĩ tính suy cho cùng chỉ là một vụ tự sát lãng mạn; với tư cách là gã lưu manh, anh ta không thể thấy rằng việc ăn bám, van xin, nói dối, khoác lác và bê trễ bản thân là một việc chẳng đem lại lợi lộc gì. Do đó, xin đừng hiểu lầm tuyên bố thẳng thừng của tôi về cấu trúc nền tảng của xã hội London như một lời trách móc của một kẻ Ireland dành cho quốc gia của anh. Kể từ ngày đầu tiên đặt chân lên mảnh đất xa lạ này, tôi đã biết giá trị của những phẩm chất tầm thường mà người Ireland dạy người Anh phải hổ thẹn, cũng như tôi biết sự sáo rỗng của những phẩm chất thơ ca mà người Anh dạy người Ireland phải tự hào. Bởi người Ireland theo bản năng coi thường phẩm chất khiến người Anh trở nên nguy hiểm đối với mình; và người Anh theo bản năng nịnh hót cái thói hư tật xấu khiến người Ireland trở nên vô hại và thú vị đối với mình. Điều sai trái ở người đàn ông Anh tầm thường cũng chính là điều sai trái ở những người đàn ông tầm thường của mọi quốc gia: sự ngu ngốc. Nguồn sinh lực đặt lương thực và con cái lên trên hết, thiên đường và địa ngục xếp thứ hai một cách hơi xa vời, còn sức khỏe của xã hội như một thể thống nhất hữu cơ thì chẳng xếp vào đâu cả, có lẽ vẫn có thể mò mẫm vượt qua các giai đoạn sống bầy đàn mang tính chất bộ lạc; nhưng ở các quốc gia thế kỷ mười chín và các đế chế thế kỷ hai mươi, sự quyết tâm của mỗi người đàn ông phải giàu bằng mọi giá, và của mỗi người phụ nữ phải lấy được chồng bằng mọi giá, nếu thiếu một tổ chức xã hội mang tính khoa học cao độ, chắc chắn sẽ tạo ra một sự phát triển tàn lụi về nghèo đói, tình trạng độc thân, nạn mại dâm, tỷ lệ tử vong ở trẻ sơ sinh, sự suy đồi ở người lớn, và mọi thứ mà những người khôn ngoan khiếp sợ nhất. Tóm lại, chẳng có tương lai nào cho con người – dù có tràn trề sinh lực thô sơ đến đâu – nếu họ không đủ thông minh hoặc không được giáo dục chính trị đầy đủ để trở thành những người theo chủ nghĩa Xã hội. Thế nên xin đừng hiểu lầm tôi theo chiều hướng ngược lại: nếu tôi trân trọng những phẩm chất sinh tồn của người Anh như tôi trân trọng phẩm chất sinh tồn của loài ong, tôi không hề đảm bảo rằng người Anh sẽ không bị – giống như loài ong (hoặc người Ca-na-an) – xông khói đuổi đi và cướp mất mật bởi những sinh thể kém hơn họ về khả năng tích lũy đơn thuần, tính hiếu chiến và khả năng sinh sản, nhưng lại vượt trội hơn họ về trí tưởng tượng và sự gian xảo.
Tuy nhiên, vở kịch Don Juan là để bàn về sự thu hút giới tính, chứ không phải về chuyện dinh dưỡng, và bàn về nó trong một xã hội mà công việc nghiêm túc của giới tính thì bị đàn ông phó mặc cho phụ nữ, y như công việc nghiêm túc của dinh dưỡng bị phụ nữ phó mặc cho đàn ông. Việc đàn ông, nhằm tự bảo vệ mình trước một cuộc tấn công quá mức hung hăng đối với công việc của phụ nữ, đã dựng lên một quy ước lãng mạn yếu ớt rằng sự chủ động trong chuyện giới tính phải luôn xuất phát từ đàn ông là có thật; nhưng sự ngụy tạo đó quá nông cạn đến mức ngay cả trên sân khấu – thánh địa cuối cùng của sự phi thực tế – nó chỉ đánh lừa được những kẻ thiếu kinh nghiệm. Trong các vở kịch của Shakespeare, phụ nữ luôn là người chủ động. Cả trong các vở kịch vấn đề lẫn vở kịch phổ thông của ông, hứng thú ái tình chính là hứng thú được chứng kiến người phụ nữ săn lùng người đàn ông đến cùng. Cô ta có thể làm điều đó bằng những lời tán tỉnh ngọt ngào, như Rosalind, hoặc bằng mưu kế, như Mariana; nhưng trong mọi trường hợp, mối quan hệ giữa người phụ nữ và người đàn ông vẫn luôn như nhau: cô ta là kẻ săn đuổi và kẻ sắp đặt, còn anh ta là kẻ bị săn và bị định đoạt. Khi cô ta bị cản trở, như Ophelia, cô ta phát điên và tự sát; và người đàn ông đi thẳng từ đám tang của cô ta đến một trận đấu kiếm. Chắc chắn Tự nhiên, với những sinh vật còn rất trẻ, có thể giúp người phụ nữ đỡ phải tốn công mưu tính: Prospero thừa biết rằng ông chỉ cần ném Ferdinand và Miranda lại với nhau là họ sẽ giao phối như một đôi chim bồ câu; và Perdita chẳng cần phải bắt giữ Florizel theo kiểu nữ bác sĩ trong vở All's Well That Ends Well (một nữ anh hùng mang hơi hướng Ibsen thuở đầu) bắt giữ Bertram. Nhưng tất cả những trường hợp trưởng thành đều minh họa cho quy luật của Shakespeare. Ngoại trừ một trường hợp rõ ràng là Petruchio, nhưng đó không phải là ngoại lệ thực sự: anh ta được khắc họa rất kỹ lưỡng như một kẻ phiêu lưu hôn nhân thuần túy vì vụ lợi. Một khi được đảm bảo rằng Katharine có tiền, anh ta nhận lời cưới cô ta trước cả khi nhìn thấy mặt cô ta. Trong đời thực, chúng ta không chỉ bắt gặp những Petruchio, mà còn cả những Mantalini và Dobbin – những kẻ theo đuổi phụ nữ bằng những lời cầu xin lòng thương hại, sự ghen tuông hay thói hư vinh, hoặc bám lấy họ theo một cách si tình lãng mạn. Những kẻẻ yếu đuối đó không tính tiền trong sơ đồ thế giới: ngay cả Bunsby khi rơi như một con chim bị thôi miên vào hàm của bà MacStinger, nếu so sánh ra, cũng là một đối tượng bi kịch thực sự đáng thương hại và kinh hãi. Tôi nhận thấy trong chính các vở kịch của mình rằng Phụ nữ, khi tự phóng chiếu mình lên sân khấu qua đôi tay tôi (một quá trình mà tôi cam đoan với anh là tôi không thể kiểm soát thực sự nhiều hơn việc tôi kiểm soát vợ mình), cũng hành xử y hệt như Phụ nữ trong các vở kịch của Shakespeare.
Và thế là Don Juan của anh đã ra đời như một sự phóng chiếu trên sân khấu về cuộc rượt đuổi tình yêu bi-hài của người đàn ông bởi người phụ nữ; và Don Juan của tôi đóng vai con mồi thay vì kẻ đi săn. Dẫu vậy, hắn vẫn là một Don Juan đích thực, với ý thức về thực tại giúp vô hiệu hóa các quy ước, bất chấp cho đến phút cuối cùng số phận cuối cùng cũng bắt kịp hắn. Nỗi khát khao của người phụ nữ đối với hắn nhằm giúp cô ta thực hiện công việc cấp bách nhất của Tự nhiên không thể khuất phục được hắn cho đến khi sự kháng cự của hắn dồn năng lượng của cô ta đến một cao trào – nơi cô ta dám vứt bỏ những thủ đoạn khai thác quen thuộc gồm các tư thế trìu mến và làm tròn bổn phận theo quy ước, để đòi lấy hắn bằng quyền lực tự nhiên cho một mục đích vượt xa những mục đích cá nhân trần thế của họ.
Trong số những người bạn đã được tôi đọc cho nghe vở kịch này dưới dạng bản thảo có một số người cùng giới tính với chúng ta cảm thấy bị sốc trước sự "bất chấp thủ đoạn" – ý chỉ việc hoàn toàn phớt lờ sự khó tính mang tính nam giới – mà người phụ nữ dùng để theo đuổi mục đích của mình. Họ không hề nghĩ rằng nếu phụ nữ cũng khó tính như đàn ông, về mặt đạo đức hay thể xác, thì loài người đã tuyệt chủng từ lâu rồi. Chẳng có gì đê hèn hơn việc trút bỏ công việc cần thiết lên đầu người khác rồi lại chê bai nó là không xứng đáng và bất lịch sự. Chúng ta cười nhạo quốc gia Mỹ kiêu ngạo bởi nó bắt người da đen đánh giày cho mình rồi sau đó chứng minh sự kém cỏi về mặt đạo đức và thể xác của người da đen bằng thực tế rằng anh ta là một thợ đánh giày; thế nhưng chính chúng ta lại trút toàn bộ gánh nặng nhọc nhằn của sự tạo hóa lên một giới, để rồi ngầm ám chỉ rằng không một người phụ nữ nào có chút nữ tính hay sự tế nhị lại khởi xướng bất kỳ nỗ lực nào theo hướng đó. Sự đạo đức giả của nam giới trong vấn đề này là vô biên. Chắc chắn có những khoảnh khắc mà sự miễn dịch về giới tính của đàn ông khiến anh ta bị hạ nhục một cách cay đắng. Khi khoảnh khắc sinh nở khủng khiếp đến, với tầm quan trọng tối cao cùng nỗ lực và hiểm nguy siêu phàm mà người cha không hề góp phần vào đó, đã thu nhỏ anh ta lại thành một sự tầm thường hèn mọn nhất: anh ta lẻn đi trốn tránh mọi bóng váy tầm thường nhất, lấy làm may mắn nếu mình đủ nghèo để bị đẩy ra khỏi nhà nhằm che giấu nỗi nhục nhã bằng những trận say xỉn ăn mừng. Nhưng khi cơn khủng hoảng qua đi, anh ta liền trả thù, nghênh ngang tự phụ như kẻ kiếm tiền nuôi gia đình, và bàn về "lĩnh vực" của Phụ nữ với vẻ trịch thượng, thậm chí bằng sự hiệp sĩ, cứ như thể nhà bếp và nhà trẻ kém quan trọng hơn văn phòng trong thành phố vậy. Khi sự nghênh ngang đã cạn kiệt, anh ta bắt đầu lảm nhảm những vần thơ ái tình hay thói cưng chiều vợ con một cách sướt mướt; và Vua Arthur theo lối Tennyson khi hóa trang thành Guinevere cũng chẳng khác nào Don Quixote đang quỳ lạy dưới chân Dulcinea. Anh phải thừa nhận rằng ở đây Tự nhiên đánh bại Hài kịch một cách tâm phục khẩu phục: vở kịch hề nhảm nhí nhất của nam quyền hay nữ quyền cũng trở nên nhạt nhẽo sau "lát cắt cuộc đời" bình thường nhất. Lời giả vờ rằng phụ nữ không chủ động chính là một phần của vở kịch hề ấy. Ồ, toàn bộ thế giới này giăng đầy những cạm bẫy, lưới rọ và hố sâu để bắt đàn ông bởi phụ nữ. Cứ cho phụ nữ quyền bầu cử xem, chỉ trong vòng năm năm sẽ có một thứ thuế đè bẹp ngạt thở giáng xuống đầu những kẻ độc thân. Ngược lại, đàn ông áp đặt những hình phạt lên hôn nhân, tước đoạt tài sản, quyền bầu cử, quyền tự do sử dụng chân tay của phụ nữ, tước đi biểu tượng cổ xưa của sự bất tử – đó là quyền được tự nhiên như ở nhà trong đền thờ của Chúa bằng cách bỏ nón ra – cùng mọi thứ mà anh ta có thể ép Phụ nữ phải thiếu thốn mà không bắt buộc bản thân mình phải thiếu thốn cô ta. Tất cả đều vô ích. Phụ nữ bắt buộc phải kết hôn bởi loài người sẽ diệt vong nếu thiếu đi những cơn đau chuyển dạ của cô ta; nếu nguy cơ tử vong và sự chắc chắn về đau đớn, hiểm nguy cùng sự khó chịu khôn tả không thể ngăn cản cô ta, thì xiềng xích nô lệ và đôi chân quấn tã cũng chẳng làm được. Thế mà chúng ta vẫn mặc nhiên cho rằng thứ sức mạnh đưa phụ nữ vượt qua mọi hiểm nguy và gian khổ ấy lại phải dừng bước hổ thẹn trước những lề thói đoan trang dành cho các tiểu thư khuê nữ. Người ta mặc định rằng người phụ nữ phải đứng yên một chỗ, bất động, cho đến khi được tán tỉnh. Không, cô ta thường vẫn đứng yên một chỗ, bất động thật. Đó là cách con nhện chờ đợi con ruồi. Nhưng con nhện giăng ra cái lưới của nó. Và nếu con ruồi, giống như người anh hùng của tôi, thể hiện một sức mạnh hứa hẹn giúp nó thoát thân, thì cô ta sẽ nhanh chóng vứt bỏ lớp vỏ bọc thụ động thế nào, và cởi mở tung hết vòng này đến vòng khác quấn quanh nó cho đến khi nó bị tóm chặt vĩnh viễn!
Nếu những cuốn sách thực sự ấn tượng và các tác phẩm nghệ thuật khác trên thế giới được tạo ra bởi những người đàn ông bình thường, chúng sẽ bày tỏ sự sợ hãi trước sự săn đuổi của phụ nữ nhiều hơn là tình yêu đối với vẻ đẹp ảo ảnh của họ. Nhưng những người đàn ông bình thường không thể tạo ra những tác phẩm nghệ thuật thực sự ấn tượng. Những người làm được là những thiên tài: tức là những con người được Tự nhiên chọn lựa để tiếp nối công việc xây dựng ý thức trí tuệ về chính mục đích bản năng của ngài. Theo đó, chúng ta quan sát thấy ở người thiên tài toàn bộ sự bất chấp thủ đoạn và toàn bộ sự "hy sinh bản thân" (hai điều này là một) của Phụ nữ. Anh ta sẽ chấp nhận rủi ro lên giàn thiêu và cây thánh giá; chết đói, khi cần thiết, trên căn gác mái suốt cả cuộc đời; nghiên cứu phụ nữ và sống dựa vào công sức cũng như sự chăm sóc của họ hệt như Darwin nghiên cứu loài giun và sống nhờ vào cừu; vắt kiệt hệ thần kinh của mình đến mức tả tơi mà không cần thù lao – một kẻ vị tha siêu việt trong việc bất chấp bản thân, một kẻ ích kỷ tột cùng trong việc bất chấp người khác. Tại đây, Phụ nữ gặp gỡ một mục đích mang tính phi cá nhân, không thể cưỡng lại hệt như mục đích của chính cô ta; và sự va chạm đôi khi mang tính bi kịch. Khi nó trở nên phức tạp hơn bởi việc thiên tài lại là một phụ nữ, thì trò chơi đó xứng tầm cho một vị vua của các nhà phê bình: nàng George Sand của anh sẵn sàng làm mẹ để tích lũy kinh nghiệm cho nhà văn và phát triển bản thân, rồi ngấu nghiến những thiên tài như Chopin, Musset và những người tương tự chẳng khác nào những món khai vị.
Tất nhiên tôi đang nêu ra trường hợp cực đoan; nhưng điều đúng với người vĩ đại hiện thân cho ý thức triết học của Sự sống và người phụ nữ hiện thân cho sự sinh sôi nảy nở của nó, thì cũng đúng ở một mức độ nào đó với tất cả các thiên tài và tất cả phụ nữ. Do đó mà những cuốn sách trên thế giới được viết ra, những bức tranh được vẽ, những bức tượng được tạc, những bản giao hưởng được biên soạn, bởi những con người thoát khỏi ách thống trị vốn dĩ bao trùm của bạo quyền giới tính. Điều đó dẫn chúng ta đến kết luận – gây sửng sốt cho kẻ phàm phu – rằng nghệ thuật, thay vì đứng trước vạn vật là sự biểu hiện của tình huống giới tính thông thường, thực chất lại là lĩnh vực duy nhất mà giới tính là một quyền lực đã lỗi thời và thứ yếu, với ý thức hỗn độn đến mức và mục đích bị bóp méo đến mức các ý tưởng của nó chỉ là ảo tưởng thuần túy đối với những người bình thường. Dù người nghệ sĩ trở thành nhà thơ hay nhà triết học, nhà đạo đức học hay người sáng lập tôn giáo, học thuyết giới tính của anh ta chẳng qua chỉ là một sự biện hộ hão huyền và phiến diện cho sự khoái lạc, sự kích thích và tri thức khi anh ta còn trẻ, và cho sự tĩnh lặng chiêm nghiệm khi anh ta về già và đã chán chê. Sự Lãng mạn và Chủ nghĩa Khắc kỷ, Chủ nghĩa Ái tình và Chủ nghĩa Thanh giáo hoàn toàn phi thực tế trong thế giới Phistine vĩ đại. Thế giới hiện lên trước mắt chúng ta qua những cuốn sách – dù đó là những bản anh hùng ca được thừa nhận hay những cuốn phúc âm được tuyên bố, hay trong các bộ luật, hay trong các bài diễn văn chính trị, hay trong các hệ thống triết học – hoàn toàn không phải là thế giới chính thống: nó chỉ là ý thức của một số người bất bình thường sở hữu tài năng và khí chất nghệ sĩ đặc thù. Quả là một vấn đề nghiêm trọng cho anh và tôi, bởi kẻ có ý thức không tương ứng với số đông chính là một kẻ điên; và thói quen cũ là tôn thờ những kẻ điên đang dần nhường chỗ cho thói quen mới là tống giam họ. Và vì cái mà chúng ta gọi là giáo dục và văn hóa phần lớn chẳng qua chỉ là việc thay thế trải nghiệm bằng sách vở, thay thế cuộc sống bằng văn chương, thay thế cái hư cấu lỗi thời bằng cái đương thực tế, nên giáo dục – như anh chắc chắn đã quan sát thấy ở Oxford – tiêu diệt bằng cách thay thế, bất kỳ tâm trí nào không đủ mạnh mẽ để nhìn thấu trò bịp bợm và sử dụng các bậc Thầy Nghệ thuật đúng với bản chất thực sự của họ chứ không hơn không kém: đó là những nhà cấp bằng sáng chế cho các phương pháp tư duy rất đáng ngờ, và là nhà sản xuất những sự đại diện cho cuộc sống rất đáng ngờ, và đối với đa số chỉ có giá trị một nửa. Cậu học sinh dùng cuốn Homer của mình để ném vào đầu bạn học có lẽ đang sử dụng nhà thơ đó một cách an toàn và hợp lý nhất; và tôi quan sát thấy với sự yên tâm rằng đôi khi anh cũng làm điều tương tự, ở tuổi sung sức của mình, với cuốn Aristotle của anh.
May mắn thay cho chúng ta – những người có tâm trí đã bị đầu độc đến mức ngập tràn bởi văn chương, thứ sản xuất ra tất cả những chuyên luận, thơ ca và kinh sách loại này hay loại khác chính là cuộc đấu tranh của Sự sống để trở nên có ý thức một cách thần thánh về chính mình thay vì cứ mò mẫm mù quáng ngược xuôi theo con đường ít sự kháng cự nhất. Do đó có một sự thúc đẩy hướng tới chân lý trong tất cả các sách vở về những vấn đề mà tác giả, dẫu có tài năng xuất chúng nhưng có cấu trúc bình thường, không có mục đích cá nhân vụ lợi nào. Copernicus chẳng có động cơ gì để đánh lừa đồng loại về vị trí của mặt trời trong hệ mặt trời: ông tìm kiếm nó một cách trung thực hệt như một người chăn cừu tìm đường trong sương mù. Nhưng Copernicus sẽ không viết những câu chuyện tình yêu một cách khoa học. Khi bàn đến các mối quan hệ giới tính, người thiên tài không phải chịu chung mối nguy bị tóm gọn như người bình thường, và nữ thiên tài cũng không phải chịu sự chuyên môn hóa áp đảo mang tính đặc thù của người phụ nữ bình thường. Và đó là lý do tại sao kinh sách và các tác phẩm nghệ thuật khác của chúng ta, khi đề cập đến tình yêu, lại quay lưng lại với những nỗ lực trung thực nhằm mang tính khoa học vật lý để lao vào những điều nhảm nhí lãng mạn, sự ngây ngất ái tình, hoặc chủ nghĩa khắc kỷ nghiêm khắc của sự chán chê ("con đường của sự thái quá dẫn đến lâu đài của sự khôn ngoan" – William Blake từng nói; bởi "bạn không bao giờ biết thế nào là đủ trừ khi bạn biết thế nào là quá mức").
Có một khía cạnh chính trị của vấn đề giới tính này quá lớn đối với vở kịch hài của tôi, và quá trọng đại để có thể bỏ qua mà không mang tội phù phiếm đáng trách. Thật bất khả thi để chứng minh rằng quyền chủ động trong các giao dịch giới tính vẫn thuộc về Phụ nữ, và cho đến nay đã được củng cố cho cô ta ngày càng nhiều hơn nhờ việc trấn áp bạo tàn và làm nhụt chí những kẻ nài nỉ quấy rầy, mà lại không bị cuốn vào những suy ngẫm rất nghiêm túc về thực tế rằng quyền chủ động này về mặt chính trị là quyền chủ động quan trọng nhất trong tất cả, bởi vì thí nghiệm chính trị về dân chủ của chúng ta – nơi ẩn náu cuối cùng của thói quản lý tồi rẻ tiền – sẽ hủy hoại chúng ta nếu các công dân của chúng ta được giáo dưỡng tồi.
Khi hai chúng ta ra đời, đất nước này vẫn bị thống trị bởi một tầng lớp được tuyển chọn qua những cuộc hôn nhân chính trị. Tầng lớp thương gia lúc bấy giờ vẫn chưa hoàn thành nổi hai mươi lăm năm đầu tiên nắm giữ quyền lực chính trị mới của mình; và bản thân nó cũng được tuyển chọn dựa trên tiêu chuẩn tài sản, và được duy trì nòi giống, nếu không bằng hôn nhân chính trị thì ít nhất cũng bằng một cuộc hôn nhân giai cấp khá ngặt nghèo. Tầng lớp quý tộc và tài phiệt vẫn cung cấp những nhân vật bù nhìn cho chính trị; nhưng giờ đây họ lại phụ thuộc vào lá phiếu của quần chúng được lai giống bừa bãi. Và điều này, thưa anh, lại diễn ra đúng vào lúc vấn đề chính trị – sau khi đột ngột ngừng việc chỉ mang ý nghĩa là một sự can thiệp rất hạn chế và thỉnh thoảng, chủ yếu qua con đường chạy chọt bổ nhiệm công chức, vào công tác quản lý tồi một hòn đảo nhỏ bé chật hẹp mang tính xứ sở, kèm theo những cuộc chiến tranh triều đại vô nghĩa thỉnh thoảng xảy ra – đã trở thành công cuộc tái tổ chức công nghiệp của Anh quốc, việc xây dựng một Thịnh vượng chung mang tính quốc tế trên thực tế, và việc phân chia toàn bộ Châu Phi và có lẽ cả Châu Á bởi các Cường quốc văn minh. Anh có tin nổi rằng những con người có quan niệm về xã hội và hạnh kiểm, có khả năng tập trung và tầm vóc quan tâm chỉ được đo lường bằng nhà hát Anh như anh biết ngày nay, có thể tự mình gánh vác nhiệm vụ khổng lồ này, hay có thể thấu hiểu và ủng hộ loại tâm trí và nhân cách (ít nhất là tương đối) có đủ khả năng gánh vác nó hay không? Bởi hãy nhớ lấy: cử tri của chúng ta ở tầng ghế ngồi bình dân và tầng ban công thế nào thì họ cũng ở trong phòng phiếu y như vậy. Tất cả chúng ta giờ đây đều đang nằm dưới cái mà Burke gọi là "móng guốc của lũ súc sinh lợn lòi". Ngôn từ của Burke đã gây ra sự phẫn nộ lớn bởi những ngoại lệ ngầm hiểu đối với tính ứng dụng phổ quát của nó đã biến nó thành một lời lăng mạ giai cấp; và chắc chắn cái nồi không đời nào được phép gọi cái chảo nhọ hoét. Tầng lớp quý tộc mà ông bảo vệ, bất chấp những cuộc hôn nhân chính trị mà nó dùng để đảm bảo nòi giống cho chính mình, vẫn có một tâm trí được giáo dục dưới mức tiêu chuẩn bởi những ông thầy và cô gia sư ngốc nghếch, nhân cách bị hủy hoại bởi sự xa hoa vô lối, lòng tự trọng bị pha loãng đến mức giả trói hoàn toàn bởi thói nịnh hót và bợ đỡ. Ngày nay nó chẳng khá khẩm hơn và sẽ chẳng bao giờ khá khẩm hơn: những người nông dân của chúng ta chí ít vẫn có thứ gì đó cứng cỏi hơn về mặt đạo đức – thứ thỉnh thoảng đơm hoa kết trái thành một Bunyan, một Burns, hay một Carlyle. Nhưng hãy quan sát xem, tầng lớp quý tộc này – vốn từng bị áp đảo từ năm 1832 đến 1885 bởi tầng lớp trung lưu – nay đã quay trở lại nắm quyền lực bằng lá phiếu của "lũ súc sinh lợn lòi". Tom Paine đã chiến thắng Edmund Burke; và lũ lợn giờ đây trở thành những cử tri được sủng ái. Đã có bao nhiêu kẻ thuộc tầng lớp của chính mình được những cử tri này cử vào quốc hội? Hầu như chẳng được một chục trong số 670 người, và những kẻ đó cũng chỉ lọt vào nhờ sự thuyết phục của những phẩm chất cá nhân nổi bật cùng tài ăn nói trước đám đông. Quần chúng qua đó đã tự đưa ra phán quyết về chính các thành viên của mình: nó tự thừa nhận bản thân không đủ năng lực trị quốc, và sẽ chỉ bầu cho một kẻ đã được biến hóa hình thái học và chủng loại học thông qua dinh thự và xe cộ xa hoa, qua những bộ âu phục tuyệt mỹ, qua ánh hào quang của họ hàng quý tộc. Chà, hai chúng ta đều biết những kẻ được biến hóa ấy, những gã sinh viên trượt tốt nghiệp đại học này, những gã Algy và Bobby một mắt ăn mặc chải chuốt này, những vận động viên cricket mà tuổi tác chỉ mang lại môn golf thay cho sự khôn ngoan này, những sản phẩm tài phiệt sinh ra từ "nghề bán đinh và xoong chảo mà hắn vơ vét được tiền bạc". Anh có biết nên cười hay nên khóc trước ý nghĩ rằng bọn họ – những gã khốn khổ tội nghiệp ấy! – sẽ điều khiển một cỗ xe gồm toàn các châu lục hệt như cách chúng điều khiển một cỗ xe tứ mã; biến một mớ hỗn độn xô bồ gồm buôn bán chớp nhoáng và đầu cơ thành một nền sản xuất có trật tự; và liên bang hóa các thuộc địa của chúng ta thành một Cường quốc thế giới hạng nhất? Cứ trao cho những con người này một hiến pháp chính trị hoàn hảo nhất và một chương trình chính trị vững chắc nhất mà sự toàn trí đầy lòng nhân ái có thể vạch ra cho họ đi, rồi họ sẽ diễn giải nó thành những trò hề thời trang hoặc thứ từ thiện đạo đức giả một cách chắc chắn hệt như một kẻ hoang dã biến thần học triết học của một nhà truyền giáo Scotland thành thứ tôn giáo thờ cúng ngẫu tượng thô thiển của Châu Phi.
Tôi không rõ liệu anh còn chút ảo tưởng nào sót lại về chủ đề giáo dục, tiến bộ, v.v. hay không. Tôi thì chẳng còn tí nào. Bất kỳ nhà viết luận chiến nào cũng có thể chỉ ra con đường dẫn đến những điều tốt đẹp hơn; nhưng khi đã không có ý chí thì cũng chẳng có con đường nào cả. Bà vú của tôi rất thích nhắc nhở rằng anh không thể gọt một chiếc ví lụa từ cái tai của một con lợn nái, và càng chứng kiến những nỗ lực của các nhà thờ, trường học và các bậc hiền triết văn chương nhằm nâng tầm quần chúng vượt lên trên mức của chính họ, tôi càng bị thuyết phục rằng bà vú của tôi đã nói đúng. Tiến bộ chẳng thể làm gì khác ngoài việc tận dụng tối đa tất cả chúng ta ở trạng thái hiện tại, và cái phần tối đa đó rõ ràng vẫn chưa đủ ngay cả khi những kẻ đã được kéo ra khỏi những vực sâu tối tăm nhất chịu nhường cho những kẻ khác một cơ hội. Bong bóng Thuyết Di truyền đã bị chọc thủng: sự chắc chắn rằng những kỹ năng học được là không đáng kể như những yếu tố trong di truyền thực tế đã đập tan hy vọng của những nhà giáo dục cũng như nỗi sợ hãi của những kẻ buôn bán nỗi sợ suy thoái; và giờ đây chúng ta biết rằng chẳng có cái gọi là "tầng lớp cai trị" do di truyền cũng giống như chẳng có thói lưu manh do di truyền. Chúng ta buộc phải hoặc là nhân giống năng lực chính trị, hoặc là bị hủy hoại bởi Chủ nghĩa Dân chủ – thứ đã bị ép buộc lên chúng ta bởi sự thất bại của các lựa chọn thay thế cũ. Thế nhưng nếu Chủ nghĩa Chuyên chế thất bại chỉ vì thiếu một vị bạo chúa có năng lực và nhân từ, thì Chủ nghĩa Dân chủ – vốn đòi hỏi cả một dân số gồm toàn những cử tri có năng lực: tức là những nhà phê bình chính trị, dẫu họ không thể tự mình trị quốc do thiếu năng lượng rảnh rỗi hoặc tài năng hành chính đặc thù, ít nhất cũng có thể nhận ra và đánh giá cao năng lực cùng lòng nhân từ ở người khác, và qua đó cai trị thông qua những đại diện nhân từ có năng lực – lấy đâu ra cơ hội? Những cử tri như thế tìm đâu ra ngày nay? Hoàn toàn không có nơi nào. Việc lai giống bừa bãi đã tạo ra một sự yếu đuối về nhân cách quá nhút nhát để đối mặt với toàn bộ sự khốc liệt của cuộc đấu tranh sinh tồn mang tính cạnh tranh triệt để, đồng thời quá lười biếng và nhỏ nhen để tổ chức thịnh vượng chung theo lối hợp tác. Vì là những kẻ hèn nhát, chúng ta đánh bại sự tiến hóa tự nhiên dưới lớp vỏ từ thiện; vì là những kẻ lười nhác, chúng ta phớt lờ sự tiến hóa nhân tạo dưới lớp vỏ của sự tế nhị và đạo đức.
Thế nhưng chúng ta buộc phải có được một tầng lớp cử tri gồm những nhà phê bình có năng lực, nếu không muốn sụp đổ hệt như cách Rome và Egypt đã sụp đổ. Vào thời điểm này, giai đoạn suy đồi mang phong cách La Mã với panem et circenses (bánh mì và rạp xiếc) đang được khai mạc ngay trước mắt chúng ta. Các tờ báo và vở kịch giật gân của chúng ta đang la lối om sòm về sứ mệnh đế quốc của mình; thế nhưng ánh mắt và trái tim chúng ta lại hướng về nhà tài phiệt Mỹ với đầy vẻ thèm thuồng. Khi bàn tay hắn thọc vào túi quần, những ngón tay chúng ta lại vô thức đưa lên vành mũ. Sự thịnh vượng lý tưởng của chúng ta không phải là sự thịnh vượng của miền bắc công nghiệp, mà là sự thịnh vượng của Đảo Wight, của Folkestone và Ramsgate, của Nice và Monte Carlo. Đó là sự thịnh vượng duy nhất mà anh nhìn thấy trên sân khấu, nơi các công nhân toàn là đầy tớ nam, hầu gái, những kẻ cho thuê phòng trọ buồn cười và những chuyên gia thời thượng, trong khi các anh hùng và nữ anh hùng lại được chu cấp một cách kỳ diệu những khoản cổ tức vô tận, và ăn uống miễn phí chẳng khác nào các hiệp sĩ trong những cuốn sách hiệp sĩ của Don Quixote.
Các tờ báo thành phố bàn ra tán vào về cuộc cạnh tranh giữa Bombay với Manchester và những thứ tương tự. Cuộc cạnh tranh thực sự chính là cuộc cạnh tranh giữa Regent Street với Rue de Rivoli, giữa Brighton và bờ biển phía nam với vùng Riviera, để giành lấy tiền tiêu vặt của các Quỹ tín thác Mỹ. Tất cả những niềm say mê ngày càng lớn đối với các cuộc diễu hành hoành tráng, lòng trung thành nồng nhiệt, thói đứng dậy và cất nón xun xoe trước một lá cờ hay một tiếng kèn đồng rền vang ấy là gì? Chủ nghĩa đế quốc ư? Chẳng phải đâu. Đó là sự luồn cúi, tính nô lệ, thói tham lam bị kích thích bởi mùi tiền đang lan tỏa khắp nơi. Khi ông Carnegie lắc những đồng tiền triệu trong túi, toàn nước Anh bỗng biến thành một cú khom lưng tham lam. Chỉ có điều, khi Rhodes (người có lẽ đã đọc cuốn Chủ nghĩa xã hội dành cho triệu phú của tôi) để lại di chúc rằng không một kẻ ăn bám nào được thừa kế điền trang của ông, những chiếc lưng còng ấy mới bất giác thẳng lên trong giây lát. Lẽ nào Vua Kim cương rốt cuộc không phải là một quý ông sao? Tuy nhiên, thật dễ dàng để phớt lờ một lỗi phép tắc của người nhà giàu. Điều khoản kém sang trọng ấy không bao giờ được nhắc lại nữa; và những chiếc lưng chẳng mấy chốc lại cong gập trở về hình dáng tự nhiên của chúng.
Nhưng tôi nghe thấy anh đang hoảng hốt hỏi tôi rằng liệu tôi có thực sự nhét toàn bộ những tràng diễn thuyết đanh thép này vào một vở kịch hài Don Juan hay không. Tôi không làm thế. Tôi chỉ biến Don Juan của mình thành một nhà viết luận chiến chính trị, và dâng tặng anh toàn bộ bài luận chiến của hắn dưới dạng phần phụ lục. Anh sẽ tìm thấy nó ở cuối cuốn sách. Tôi rất tiếc phải nói rằng việc các tiểu thuyết gia thông báo nhân vật chính của họ là một người có thiên tài phi thường, nhưng lại bỏ mặc hoàn toàn các tác phẩm của nhân vật đó cho trí tưởng tượng của độc giả là một thông lệ phổ biến; để rồi đến cuối sách, anh tự thì thầm với bản thân đầy ngao ngán rằng nếu không có lời bảo đảm sơ bộ đầy trang trọng của tác giả, anh sẽ khó lòng đánh giá cao người đàn ông đó về mặt thiện chí thông thường. Anh không thể buộc tội tôi về sự cằn cỗi đáng thương này, về sự né tránh yếu ớt này. Tôi không chỉ nói với anh rằng người anh hùng của tôi đã viết một cuốn cẩm nang cho những kẻ cách mạng: tôi còn trao tận tay anh cuốn cẩm nang đó với đầy đủ độ dài để anh tu dưỡng nếu anh muốn đọc nó. Và trong cuốn cẩm nang đó, anh sẽ tìm thấy nền chính trị của vấn đề giới tính theo cách mà tôi hình dung hậu duệ của Don Juan hiểu về chúng. Không phải là tôi chối bỏ trách nhiệm hoàn toàn đối với các quan điểm của hắn và của tất cả các nhân vật của tôi – cả những kẻ dễ mến lẫn kẻ khó ưa. Tất cả bọn họ đều đúng từ góc nhìn riêng của mình; và trong khoảnh khắc kịch tính, góc nhìn của họ cũng chính là góc nhìn của tôi. Điều này có thể làm lu mờ những kẻ tin rằng có một thứ gọi là góc nhìn đúng đắn tuyệt đối, mà thường là góc nhìn của chính họ. Đối với họ, có vẻ như không ai nghi ngờ điều này mà lại có thể ở trong trạng thái ơn huệ. Dù thế nào đi nữa, điều chắc chắn là không một kẻ nào đồng tình với họ lại có thể trở thành một nhà viết kịch, hay thực ra là bất cứ thứ gì xoay quanh sự thấu hiểu về con người. Do đó, người ta đã chỉ ra rằng Shakespeare không hề có lương tâm. Tôi cũng vậy, theo nghĩa đó.
Tuy nhiên, anh có thể nhắc nhở tôi rằng màn đào tẩu sang chính trị này của tôi đã được đi kèm bởi một màn chứng minh rất thuyết phục rằng người nghệ sĩ không bao giờ nắm bắt được góc nhìn của người bình thường về vấn đề giới tính, bởi anh ta không ở trong cùng một hoàn cảnh. Đầu tiên tôi chứng minh rằng bất cứ thứ gì tôi viết về mối quan hệ giữa các giới chắc chắn cũng sẽ gây hiểu lầm; và rồi tôi tiến hành viết một vở kịch Don Juan. Chà, nếu anh cứ khăng khăng hỏi tôi tại sao tôi lại hành xử theo cái cách ngớ ngẩn này, tôi chỉ có thể trả lời rằng anh đã yêu cầu tôi làm thế, và dù sao đi nữa, cách tôi xử lý đề tài này có thể có giá trị đối với nghệ sĩ, thú vị đối với kẻ ngoại đạo, và ít nhất là dễ hiểu và do đó có thể gợi mở cho tầng lớp Philistine. Mọi con người ghi chép lại những ảo tưởng của mình đều đang cung cấp dữ liệu cho nền tâm lý học mang tính khoa học thực sự mà thế giới vẫn đang mỏi mòn chờ đợi. Tôi đặt phắt góc nhìn của mình về các mối quan hệ hiện tại giữa đàn ông và phụ nữ trong một xã hội văn minh bậc nhất lên bàn cân với giá trị thực của nó. Đó là một góc nhìn giống như mọi góc nhìn khác và chẳng hơn không kém, không đúng cũng chẳng sai, nhưng tôi hy vọng, đó là một cách nhìn nhận vấn đề đem lại một lượng sự kiện và trải nghiệm đủ lớn để lồng vào chuỗi nguyên nhân và kết quả quen thuộc ngõ hầu gây hứng thú cho anh, nếu không muốn nói là cho công chúng đi xem kịch ở London. Tôi chắc chắn đã thể hiện rất ít sự quan tâm đến công chúng đó trong dự án này; nhưng tôi biết rằng họ có thiện chí lớn nhất đối với anh và tôi trong mức độ họ có ý thức về sự tồn tại của chúng ta, và hoàn toàn hiểu rằng những gì tôi viết cho anh phải bay lượn ở một độ cao đáng kể so với cái đầu lãng mạn đơn sơ của họ. Họ sẽ coi như đã đọc sách của tôi và mặc nhiên công nhận thiên tài của tôi, tin tưởng rằng tôi sẽ cho ra mắt những tác phẩm có chất lượng xứng đáng với phán quyết của họ. Thế nên chúng ta có thể thỏa sức nô đùa trên tầng trời của riêng mình đến tận bến bờ ham muốn; và nếu có vị quý nhân nào chỉ ra rằng cả bức thư đề tặng này lẫn giấc mơ của Don Juan ở hồi thứ ba của vở kịch kế tiếp đều không phù hợp để công diễn ngay lập tức tại một nhà hát phổ thông thì chúng ta cũng chẳng cần phải đôi co với y. Napoleon từng cung cấp cho Talma một tầng ghế khán giả gồm toàn các vị vua, với hiệu ứng thế nào đối với diễn xuất của Talma thì sử sách không ghi lại. Còn về phần tôi, thứ tôi luôn khao khát là một tầng ghế khán giả gồm toàn những triết gia; và đây là một vở kịch dành cho một tầng ghế như thế.
Tôi nên gửi lời tri ân trang trọng đến những tác giả mà tôi đã "mượn tạm" trong những trang sách sau đây nếu tôi có thể nhớ lại hết bọn họ. Vụ đạo văn gã thi sĩ kiêm cướp đường từ Sir Arthur Conan Doyle là hoàn toàn có chủ ý; và sự biến hóa Leporello thành Enry Straker – kỹ sư mô tô và Người đàn ông Mới – là một phác thảo kịch tính có chủ ý dành cho nguyên mẫu đương đại của viễn cảnh mà ông H. G. Wells hướng tới về tầng lớp kỹ sư hiệu quả – những kẻ mà ông hy vọng sẽ cuối cùng quét sạch lũ hoa hòe hoa sói ra khỏi con đường của văn minh. Trong lúc tôi đang sửa bản thảo in thử, ông Barrio cũng đã làm công chúng London mê mẩn với một người hầu biết nhiều hơn cả chủ nhân của hắn. Khái niệm Mendoza Limited được tôi lần ngược về một viên thư ký thuộc địa vùng Tây Indies nào đó – người mà vào thời điểm mà hắn, tôi và ông Sidney Webb đang cùng nhau gieo rắc những thói trác táng chính trị dưới tư cách là một dạng Ba chàng lính ngự lâm phái Fabian, mà chẳng hề tiên đoán được sự đáng kính ngạc nhiên của thành quả sau đó – đã khuyên Webb, một kẻ uyên bác bách khoa toàn thư và không bao giờ cạn kiệt kiến thức, hãy tự biến mình thành một công ty vì lợi ích của các cổ đông. Octavius được tôi lấy nguyên vẹn từ Mozart; và tôi xin chính thức ủy quyền cho bất kỳ diễn viên nào hóa thân thành anh ta được phép hát bài "Dalla sua pace" (nếu anh ta có thể) vào bất kỳ thời điểm thuận tiện nào trong buổi biểu diễn. Ann được gợi ý cho tôi bởi vở kịch đạo đức thế kỷ XV của Hà Lan mang tên Everyman mà ông William Poel gần đây đã hồi sinh một cách vô cùng vang dội. Tôi tin rằng ông ấy sẽ khai thác sâu hơn mạch nguồn đó, và nhận ra rằng thứ văn vần thô kệch thời Phục hưng Elizabeth chẳng thể nào chịu đựng nổi sau thơ ca trung cổ cũng giống như Scribe sau Ibsen. Khi tôi ngồi xem vở Everyman tại Charterhouse, tôi đã tự nhủ: Tại sao lại không phải là Everywoman (Mọi phụ nữ)? Kết quả là Ann ra đời: không phải mọi phụ nữ đều là Ann; nhưng Ann chính là Mọi phụ nữ.
Việc tác giả vở Everyman không đơn thuần là một nghệ sĩ, mà là một nghệ sĩ-triết gia, và rằng các nghệ sĩ-triết gia là loại nghệ sĩ duy nhất tôi hoàn toàn coi trọng, sẽ chẳng phải là tin mới mẻ gì với anh. Thậm chí Plato và Boswell, với tư cách là những nhà viết kịch đã sáng tạo ra Socrates và Tiến sĩ Johnson, còn gây ấn tượng với tôi sâu sắc hơn cả các nhà viết kịch lãng mạn. Kể từ khi còn là một cậu bé, lần đầu tiên được hít thở bầu không khí của các vùng trời siêu việt tại một buổi biểu diễn vở Zauberflote của Mozart, tôi đã miễn nhiễm trước những vẻ hào nhoáng lòe loẹt và sự phấn khích say xỉn của những sự kết hợp thông thường trên sân khấu giữa sự lãng mạn kiểu Tappertit với bản tin cảnh sát. Bunyan, Blake, Hogarth và Turner (bốn người này đứng tách biệt và vượt lên trên tất cả các Kinh điển Anh), Goethe, Shelley, Schopenhauer, Wagner, Ibsen, Morris, Tolstoy và Nietzsche nằm trong số những tác giả có cảm nhận kỳ lạ về thế giới mà tôi công nhận là ít nhiều có nét tương đồng với chính mình. Hãy chú ý kỹ từ "kỳ lạ". Tôi đọc Dickens và Shakespeare không chút hổ thẹn hay tiếc rẻ; nhưng những quan sát và chứng minh đầy hàm súc của họ về cuộc sống lại không được điều phối vào bất kỳ triết lý hay tôn giáo nào: ngược lại, những giả định sướt mướt của Dickens lại bị mâu thuẫn một cách bạo lực chính bởi những quan sát của ông; và chủ nghĩa bi quan của Shakespeare chẳng qua chỉ là sự nhân tính bị thương tổn của cả hai. Cả hai đều sở hữu thiên tài đặc thù của người viết tiểu thuyết và những sự đồng cảm chung của cảm xúc và tư duy con người ở mức độ ưu việt. Họ thường có lý trí lành mạnh và sự sắc sảo hơn các triết gia y như cách Sancho Panza thường có lý trí lành mạnh và sự sắc sảo hơn Don Quixote. Họ quét sạch những khối lượng lớn sự trang nghiêm áp đảo bằng khiếu hài hước của mình – thứ suy cho cùng là sự kết hợp giữa phán quyết đạo đức vững vàng cùng sự vui vẻ hồn nhiên. Nhưng họ lại bận tâm đến những sự đa dạng của thế giới thay vì sự thống nhất của nó: họ vô đạo đức đến mức khai thác tôn giáo bình dân cho các mục đích nghề nghiệp mà không có chút tế nhị hay ngần ngại nào (ví dụ như Sydney Carton và con ma trong Hamlet!): họ mang tính vô chính phủ, và không thể cân bằng những màn phơi bày về Angelo và Dogberry, Sir Leicester Dedlock và ông Tite Barnacle với bất kỳ bức chân dung nào về một nhà tiên phong hay một nhà lãnh đạo đáng kính: họ không có bất kỳ ý tưởng mang tính xây dựng nào; họ coi những ai có ý tưởng đó là những kẻ cuồng tín nguy hiểm; trong tất cả các tác phẩm hư cấu của họ, không có lấy một tư tưởng chủ đạo hay cảm hứng nào mà có thể khiến bất kỳ người đàn ông nào mạo hiểm làm hỏng chiếc mũ của mình trong một cơn mưa, chứ đừng nói đến mạng sống của anh ta. Cả hai đều bị ép buộc phải vay mượn động cơ cho những hành động quyết liệt hơn của các nhân vật của họ từ cái nồi lẩu nhũng nhảm của các cốt truyện giật gân; để rồi Hamlet phải được kích thích bởi những định kiến của một tên cảnh sát còn Macbeth bởi lòng tham của một gã cướp đường. Dickens, mà không có lời bào chữa nào về việc phải chế tạo động cơ cho những Hamlet và Macbeth, lại thừa thãi đẩy các nhân vật của mình trôi dạt xuống dòng chảy của các số báo hàng tháng bằng những thủ thuật cơ học mà tôi xin nhường lại cho anh mô tả, trong khi trí nhớ của tôi hoàn toàn bối rối trước câu hỏi đơn giản nhất về Monks trong Oliver Twist, hay thân thế thất lạc lâu năm của Smike, hay mối quan hệ giữa gia đình Dorrit và Clennam bị phát hiện một cách vô duyên làm sao bởi Monsieur Rigaud Blandois. Sự thật là, thế giới đối với Shakespeare chỉ là một "sân khấu của những kẻ ngốc" lớn, nơi ông hoàn toàn bị lạc lối. Ông không thể nhìn thấy bất kỳ thứ ý nghĩa nào trong việc sống cả; và Dickens tự cứu mình khỏi nỗi tuyệt vọng của giấc mơ trong cuốn The Chimes bằng cách coi thế giới là hiển nhiên và bận rộn với những chi tiết vụn vặt của nó. Cả hai người họ chẳng thể làm gì nổi với một nhân vật mang tính tích cực nghiêm túc: họ có thể đặt một hình nhân trước mặt anh với độ chân thực hoàn hảo; nhưng khi khoảnh khắc đến để khiến nó sống và chuyển động, họ nhận ra, trừ khi nó làm họ cười, rằng họ đang cầm trên tay một con rối, và phải phát minh ra một thứ kích thích nhân tạo từ bên ngoài để làm cho nó cử động. Đó chính là vấn đề với Hamlet xuyên suốt: anh ta không có ý chí ngoại trừ những lúc nổi cơn thịnh nộ. Những kẻ cuồng Bard (Shakespeare) ngu ngốc biến điều này thành một đức tính theo cách của họ: họ tuyên bố rằng vở kịch chính là vở bi kịch của sự do dự; nhưng tất cả các hình tượng nhân vật thể hiện nhân tính sâu sắc nhất mà Shakespeare từng biết đều mắc cùng một khiếm khuyết: tính cách và tác phong của họ giống đời thực; nhưng hành động của họ lại bị ép buộc lên họ từ bên ngoài, và lực lượng bên ngoài đó mang tính chất kệch cỡm một cách kỳ quặc ngoại trừ khi nó hoàn toàn theo quy ước, như trong trường hợp của Henry V. Falstaff sống động hơn bất kỳ nhân vật trầm ngâm nghiêm túc nào trong số này, bởi hắn tự hành động: động cơ của hắn chính là sự thèm ăn, bản năng và tính khí của riêng hắn. Richard III cũng rất thú vị với tư cách là gã hề bất chợt dừng một đám tang để tán tỉnh góa phụ của người quá cố; nhưng khi sang hồi tiếp theo, hắn bị thay thế bởi một gã phản diện sân khấu chuyên bóp cổ trẻ sơ sinh và chặt đầu người ta, chúng ta cảm thấy phẫn nộ trước trò bịp bợm đó và chối từ kẻ đánh tráo lốt này. Faulconbridge, Coriolanus, Leontes là những mô tả đáng ngưỡng mộ về các tính khí bản năng: quả thực vở kịch Coriolanus chính là vở kịch hài vĩ đại nhất của Shakespeare; nhưng mô tả không phải là triết học; và hài kịch không làm tổn hại tác giả cũng chẳng hé lộ về ông. Ông phải được phán xét qua những nhân vật mà ông đặt vào đó những gì ông biết về chính mình, những Hamlet, Macbeth, Lear và Prospero của ông. Nếu những nhân vật này đang oằn mình trong hư vô về những vụ giết người và trả thù mang tính giật gân giả tạo và những thứ tương tự, trong khi các nhân vật hài kịch bước đi với đôi bàn chân đặt trên mặt đất vững chắc, sống động và thú vị, anh sẽ biết rằng tác giả có rất nhiều thứ để trưng bày nhưng chẳng có gì để dạy dỗ. Sự so sánh giữa Falstaff và Prospero cũng giống như sự so sánh giữa Micawber và David Copperfield. Đến cuối cuốn sách, anh biết rõ Micawber, trong khi anh chỉ biết những gì đã xảy ra với David, và chẳng đủ hứng thú với cậu ta để tự hỏi chính trị hay tôn giáo của cậu ta có thể là gì – nếu có một điều gì đó vĩ đại như một ý tưởng tôn giáo hay chính trị, hoặc một ý tưởng tổng quát dưới bất kỳ hình thức nào, xuất hiện trong đầu cậu ta. Cậu ta có thể chấp nhận được khi còn là một đứa trẻ; nhưng cậu ta không bao giờ trưởng thành thành một người đàn ông, và hoàn toàn có thể bị lược bỏ khỏi cuốn tự truyện của chính mình nếu không vì sự hữu ích của cậu ta với tư cách là một kẻ tâm sự trên sân khấu – một Horatio hoặc "Charles người bạn của hắn ta" – thứ mà sân khấu gọi là kẻ mớm thoại.
Giờ đây anh không thể nói điều đó về các tác phẩm của các nghệ sĩ-triết gia. Anh không thể nói điều đó, ví dụ như với tác phẩm The Pilgrim's Progress (Hành trình của người hành hương). Hãy đặt người anh hùng và kẻ hèn nhát theo kiểu Shakespeare của anh – Henry V và Pistol hay Parolles – cạnh Mr. Valiant và Mr. Fearing, và anh sẽ có được một sự bừng ngộ đột ngột về vực thẳm nằm giữa nhà văn thời trang – kẻ chẳng thể nhìn thấy gì trên thế giới này ngoài những mục đích cá nhân và bi kịch của sự thất vọng hoặc hài kịch của sự bất hợp lý – và nhà thuyết giáo đồng quê – kẻ đã đạt được đức hạnh và lòng dũng cảm bằng cách đồng nhất mình với mục đích của thế giới theo cách anh ta hiểu. Sự tương phản là vô cùng lớn: kẻ hèn nhát của Bunyan làm râm ran dòng máu của anh nhiều hơn là người anh hùng của Shakespeare – kẻ thực ra để lại cho anh sự lạnh lẽo và lòng thù địch ngầm. Anh chợt nhận ra rằng Shakespeare, với tất cả những tia chớp và linh cảm của mình, chưa bao giờ hiểu được đức hạnh và lòng dũng cảm, chưa bao giờ hình dung được làm thế nào mà một kẻ không phải là đồ ngốc lại có thể – giống như người anh hùng của Bunyan – nhìn lại từ bờ vực của dòng sông tử thần về cuộc chiến đấu và nhọc nhằn trong cuộc hành hương của mình, và thốt lên rằng "thế mà ta vẫn không hề hối hận"; hoặc với phong thái ngạo nghễ của một triệu phú, để lại di chúc "thanh gươm của ta cho kẻ sẽ kế vị ta trong cuộc hành hương này, và lòng dũng cảm cùng kỹ năng của ta cho kẻ nào có thể giành lấy nó." Đó mới là niềm vui thực sự trong cuộc sống: được sử dụng cho một mục đích được chính anh công nhận là một mục đích vĩ đại; được vắt kiệt sức hoàn toàn trước khi bị ném lên đống phế liệu; trở thành một sức mạnh của Tự nhiên thay vì một cục đất nhỏ ích kỷ, sốt sá, đầy những căn bệnh và bất mãn cứ phàn nàn rằng thế giới không chịu tận tụy làm cho anh hạnh phúc. Và đồng thời, bi kịch thực sự duy nhất trong đời chính là việc bị lợi dụng bởi những kẻ mang tâm lý cá nhân cho những mục đích mà anh thừa nhận là đê hèn. Tất cả những thứ còn lại tồi tệ lắm cũng chỉ là bất hạnh hay quy luật tử vong: chỉ có điều này mới là khốn khổ, là nô lệ, là địa ngục trên trần gian; và cuộc nổi dậy chống lại nó chính là lực lượng duy nhất mang đến công việc của một người đàn ông cho người nghệ sĩ nghèo – kẻ mà những người giàu có mang tâm lý cá nhân của chúng ta sẵn lòng thuê múa mép làm kẻ dắt mối, gã hề, kẻ buôn bán sắc đẹp, kẻ sướt mướt và những thứ tương tự.
Có vẻ là một bước đi dài từ Bunyan đến Nietzsche; nhưng sự khác biệt giữa các kết luận của họ hoàn toàn mang tính hình thức. Nhận thức của Bunyan rằng sự công bình chỉ là những chiếc giẻ rách ô uế, sự khinh miệt của ông dành cho Mr. Legality tại ngôi làng Morality, sự thách thức của ông đối với Giáo hội với tư cách là kẻ truất ngôi tôn giáo, sự nhấn mạnh của ông về lòng dũng cảm như là đức hạnh của mọi đức hạnh, đánh giá của ông về sự nghiệp của Mr. Worldly Wiseman – kẻ vốn được tôn trọng và khôn ngoan theo quy ước – xét đến cùng cũng chẳng khá hơn cuộc đời và cái chết của Mr. Badman là bao: tất cả những điều này, được Bunyan diễn đạt bằng ngôn ngữ thần học của một thợ hàn, chính là những gì Nietzsche đã diễn đạt bằng ngôn ngữ của triết học hậu-Darwin, hậu-Schopenhauer; Wagner diễn đạt bằng ngôn ngữ thần thoại đa thần giáo; và Ibsen diễn đạt bằng ngôn ngữ kịch nghệ Paris giữa thế kỷ XIX. Chẳng có gì là mới mẻ trong những vấn đề này ngoại trừ những sự mới mẻ về hình thức của chúng: ví dụ như, gọi Sự xưng nghĩa bằng đức tin là "Wille" (Ý chí) và Sự xưng nghĩa bằng việc làm là "Vorstellung" (Biểu tượng) là một sự mới mẻ. Công dụng duy nhất của sự mới mẻ đó là anh và tôi mua rồi đọc chuyên luận về Ý chí và Biểu tượng của Schopenhauer trong khi chúng ta sẽ chẳng thèm mơ đến việc mua một tập bài giảng về Đức tin versus Việc làm. Xét cho cùng thì cuộc tranh cãi vẫn là một, và các kết quả kịch tính cũng là một. Bunyan chẳng hề cố gắng trình bày các khách hành hương của mình là những kẻ khôn ngoan hay có hạnh kiểm tốt hơn Mr. Worldly Wiseman. Kẻ thù tồi tệ nhất của Mr. W.W., chẳng hạn như Mr. Embezzler (Kẻ biển thủ), Mr. Never-go-to-Church-on-Sunday (Kẻ không bao giờ đi lễ nhà thờ ngày Chủ nhật), Mr. Bad Form (Kẻ kém phong cách), Mr. Murderer (Kẻ sát nhân), Mr. Burglar (Kẻ trộm đêm), Mr. Co-respondent (Kẻ bị kiện ngoại tình), Mr. Blackmailer (Kẻ tống tiền), Mr. Cad (Gã đồi bại), Mr. Drunkard (Gã bợm nhậu), Mr. Labor Agitator (Kẻ kích động lao động), v.v., đều có thể đọc cuốn Hành trình của người hành hương mà chẳng tìm thấy một lời nào đả kích họ; trong khi những kẻ đáng kính xem thường họ và tống giam họ, như chính Mr. W.W. và người bạn trẻ Civility của hắn; Formalist và Hypocrisy; Wildhead, Inconsiderate và Pragmatick (rõ ràng là những nam sinh đại học gia thế tốt và ăn uống đầy đủ); gã ranh mãnh hoạt bát Ignorance, Talkative, By-Ends of Fair-speech cùng người mẹ vợ Lady Feigning, cùng những quý ông và công dân đáng kính khác, lại bị chỉ trích vô cùng nghiêm khắc. Ngay cả Little Faith, dẫu cuối cùng cũng đến được thiên đường, vẫn được cho hiểu rằng việc bị lũ anh em Faint Heart, Mistrust và Guilt – cả ba đều là thành viên được công nhận của xã hội đáng kính và là những trụ cột thực sự của luật pháp – hành hung là hoàn toàn đáng đời cho hắn. Toàn bộ ngụ ngôn là một cuộc tấn công nhất quán vào đạo đức và sự đáng kính, mà không có lấy một từ nào người ta có thể nhớ được để chống lại thói hư tật xấu và tội ác. Chính xác là những gì bị phàn nàn ở Nietzsche và Ibsen, phải không nào? Và cũng chính xác là những gì sẽ bị phàn nàn ở tất cả các tác phẩm văn học đủ vĩ đại và đủ lâu đời để đạt đến bậc kinh điển, chính thức hay không chính thức, nếu không vì thực tế là các sách vở được dung nạp vào hàng kinh điển bởi một thỏa thuận thừa nhận sự vĩ đại của chúng để đổi lấy việc xóa bỏ ý nghĩa của chúng; nhờ đó vị chánh xứ đáng kính có thể đồng ý với nhà tiên phong Micah về phong cách đầy cảm hứng của ông mà không bị ràng buộc phải đồng lõa với bất kỳ quan điểm Cực đoan cuồng nộ nào của Micah. Chà, ngay cả bản thân tôi, khi tôi tự ép mình; tay cầm bút, dấn thân để được công nhận và đón nhận một cách lịch sự, cũng thấy toàn bộ sức mạnh của các cuộc tấn công của tôi bị phá hủy bởi một chiến lược đơn giản là không chống cự. Thật vô ích khi tôi nhân đôi bạo lực của ngôn ngữ mà tôi dùng để tuyên bố những tư tưởng dị giáo của mình. Tôi mắng chửi sự cả tin mang tính thần học của Voltaire, sự mê tín ái tình của Shelley, sự hồi sinh của thói bói toán bộ lạc và các nghi lễ thờ cúng ngẫu tượng mà Huxley gọi là Khoa học và lầm tưởng là một bước tiến so với Sách Sáng Thế, chẳng kém gì mống hỗn độn gồm những thứ bịp bợm giáo hội và nghề nghiệp – thứ cứu vãn thể diện cho cái hệ thống ngu ngốc gồm bạo lực và cướp bóc mà chúng ta gọi là Luật pháp và Công nghiệp. Ngay cả những kẻ vô thần cũng trách móc tôi vì tội bất trung và những kẻ vô chính phủ trách móc tôi vì tội hư vô chủ nghĩa bởi tôi không thể chịu đựng nổi những bài diễn văn đạo đức của họ. Thế mà, thay vì thét lên "Hãy đưa tên Satan giáo không thể tưởng tượng nổi này lên giàn thiêu đi", các tờ báo đáng kính lại ru ngủ tôi bằng cách thông báo "một cuốn sách nữa của nhà văn xuất sắc và tư duy sâu sắc này". Và người công dân bình thường, biết rằng một tác giả được ca tụng bởi một tờ báo đáng kính chắc chắn phải là một kẻ đứng đắn, đọc tôi, y như cách anh ta đọc Micah, với sự tu dưỡng không bị quấy rầy từ góc nhìn của chính mình. Người ta kể lại rằng vào những năm 1870, một bà cụ, một tín đồ Methodist vô cùng sùng đạo, đã chuyển từ Colchester đến một ngôi nhà vùng lân cận City Road ở London, nơi đây, do nhầm lẫn Hội Khoa học (Hall of Science) thành nhà nguyện, bà đã ngồi dưới chân Charles Bradlaugh suốt nhiều năm trời, say sưa trước sự hùng biện của ông, mà không hề hoài nghi về tính chính thống của ông hay rụng nổi một chiếc lông vũ trong đức tin của mình. Tôi e rằng mình sẽ bị tước đoạt mất sự tử đạo chính đáng theo cùng một cách như thế. Tuy nhiên, tôi lại đang lan man, hệt như một kẻ mang tâm sự bất mãn vẫn hay làm. Và rốt cuộc, điều quan trọng nhất trong việc xác định chất lượng nghệ thuật của một cuốn sách không phải là những quan điểm mà nó truyền bá, mà là thực tế rằng nhà văn đó có quan điểm. Bà cụ đến từ Colchester đã đúng khi tắm táp tâm hồn đơn sơ của mình trong ánh hào quang năng động của những niềm tin và sự hoài nghi đích thực từ Bradlaugh hơn là trong cái lạnh giá của thứ ánh sáng và nhiệt lượng mô phỏng tầm thường mà tài hùng biện và quy ước có thể đạt tới. Sự khinh miệt của tôi đối với văn chương phù phiếm (belles-lettres), và đối với những kẻ nghiệp dư trở thành anh hùng trong mắt những người hâm mộ sự điêu luyện văn chương, không xuất hiện từ bất kỳ ảo tưởng tâm trí nào về tính vĩnh cửu của những hình thức tư duy (hãy gọi chúng là quan điểm) mà qua đó tôi phấn đấu để truyền đạt xu hướng của mình cho đồng loại. Đối với những người trẻ tuổi hơn, chúng đã lỗi thời rồi; bởi dẫu chúng không đánh mất tính logic của mình nhiều hơn một bức tranh phấn màu thế kỷ XVIII đánh mất nét vẽ hay màu sắc của nó, thế nhưng, hệt như bức tranh phấn màu đó, chúng ngày càng trở nên cũ kỹ một cách khó tả, và sẽ càng cũ kỹ hơn nữa cho đến khi chúng ngừng tính tiền hoàn toàn, lúc đó các cuốn sách của tôi sẽ hoặc là diệt vong, hoặc là – nếu thế giới vẫn còn nghèo nàn đến mức khao khát chúng – sẽ phải đứng chung với tác phẩm của Bunyan dựa trên những phẩm chất hoàn toàn vô hình thù của tính khí và năng lượng. Với niềm tin này, tôi không thể trở thành một nhà văn phù phiếm. Chắc chắn tôi phải nhận ra, y như cách Người thủy thủ già từng nhận ra, rằng tôi phải kể câu chuyện của mình một cách hấp dẫn nếu tôi muốn giữ chân người khách dự tiệc cưới bị thôi miên bất chấp âm thanh siren của chiếc kèn bass lớn. Nhưng chỉ vì "nghệ thuật vị nghệ thuật", tôi sẽ không đời nào đối mặt với nỗi nhọc nhằn khi viết dù chỉ một câu văn. Tôi biết rằng có những con người, chẳng có gì để nói và chẳng có gì để viết, tuy nhiên lại quá si mê hùng biện và văn chương đến mức họ cứ tuyệt vọng lặp lại phần lớn nhất có thể hiểu được từ những gì người khác đã nói hoặc viết từ thuở trước. Tôi biết rằng những ngón nghề thong thả mà sự thiếu vắng niềm tin cho phép họ chơi đùa với thông điệp bị pha loãng và hiểu lầm đã cung cấp cho họ một trò chơi phòng khách dễ chịu mà họ gọi là phong cách. Tôi có thể thương hại cho sự lú lẫn của họ và thậm chí cảm thông với sở thích của họ. Nhưng một phong cách nguyên bản đích thực chưa bao giờ đạt được chỉ vì bản thân nó: một người có thể trả từ một shilling đến một guinea, tùy theo khả năng của mình, để xem, nghe hoặc đọc hành động thiên tài của người khác; nhưng anh ta sẽ không đổi cả cuộc đời và linh hồn mình để trở thành một gã thợ bậc thầy thuần túy trong văn chương, trưng bày một thành tựu thậm chí không thể kiếm ra tiền cho anh ta, như việc chơi đàn vĩ cầm. Hiệu quả của sự khẳng định chính là Alpha và Omega của phong cách. Kẻ nào chẳng có gì để khẳng định thì không có phong cách và cũng chẳng thể có phong cách nào cả: kẻ nào có điều gì đó để khẳng định sẽ tiến xa trong sức mạnh của phong cách ngang bằng mức độ trọng đại và niềm tin của anh ta mang lại. Hãy bác bỏ khẳng định của anh ta sau khi nó đã được đưa ra, thế nhưng phong cách của nó vẫn còn đó. Darwin không hề phá hủy phong cách của sách Gióp hay của Handel nhiều hơn việc Martin Luther phá hủy phong cách của Giotto. Tất cả các khẳng định sớm muộn gì cũng bị bác bỏ; và vì thế chúng ta thấy thế giới ngập tràn trong một đống đổ nát tráng lệ của những hóa thạch nghệ thuật, với độ tin cậy thực tế đã bay biến sạch sành sanh, nhưng hình thức vẫn vô cùng lộng lẫy. Và đó là lý do tại sao các bậc thầy đời cũ lại chơi trò phá hoại với những kẻ cả tin thuần túy của chúng ta. Hàn lâm viện Hoàng gia của anh nghĩ rằng anh ta có thể đạt được phong cách của Giotto mà không cần niềm tin của Giotto, lại còn tiện thể chỉnh sửa lại luôn cả phép phối cảnh. Nhà văn của anh nghĩ rằng mình có thể đạt được phong cách của Bunyan hay Shakespeare mà không cần niềm tin của Bunyan hay sự thấu hiểu của Shakespeare, đặc biệt là nếu anh ta cẩn thận không tách đôi các động từ nguyên mẫu của mình. Và tương tự với các Tiến sĩ Âm nhạc của anh – những kẻ, với những bộ sưu tập hợp âm sai được chuẩn bị và giải quyết hợp lý hoặc bị trì hoãn hay dự đoán theo phong cách của các nhà soạn nhạc lớn, nghĩ rằng họ có thể học được nghệ thuật của Palestrina từ chuyên luận của Cherubim. Toàn bộ thứ nghệ thuật hàn lâm này còn tồi tệ hơn nhiều so với nạn buôn bán đồ cổ giả; bởi kẻ bán cho tôi một chiếc rương sồi mà hắn thề là được làm từ thế kỷ XIII, dù thực tế hắn chỉ tự tay làm nó ngày hôm qua, ít nhất cũng không giả vờ rằng có bất kỳ tư tưởng hiện đại nào ở trong đó, trong khi kẻ sao chép hóa thạch mang tính hàn lâm của anh lại đem dâng chúng cho anh như thể đó là dòng suối trào dâng mới nhất của tinh thần nhân loại, và tồi tệ nhất là, hắn bắt cóc những người trẻ tuổi làm học trò và thuyết phục họ rằng những hạn chế của hắn là quy tắc, sự tuân thủ của hắn là sự khéo léo, sự nhút nhát của hắn là gu thẩm mỹ tốt, và sự rỗng tuếch của hắn là sự thanh tao. Và khi hắn tuyên bố rằng nghệ thuật không nên mang tính giáo huấn, tất cả những kẻ chẳng có gì để dạy và tất cả những kẻ chẳng muốn học đều đồng tình với hắn một cách đanh thép.
Tôi tự hào vì bản thân không phải là một trong số những kẻ cả tin ấy: Nếu anh nghiên cứu bóng đèn điện mà tôi cung cấp cho anh trong năng lực công cộng mang tính Bumbledo mà anh thỉnh thoảng đem ra chế nhạo, anh sẽ nhận thấy ngôi nhà của mình chứa đựng một lượng lớn dây đồng vô cùng dễ bị kích động – thứ tự ngấu nghiến điện năng mà chẳng phát ra chút ánh sáng nào cho anh cả. Nhưng thỉnh thoảng lại xuất hiện một mảnh vật liệu cực kỳ khó bị kích động, cực kỳ kháng cự; và mảnh vật liệu cứng đầu đó vật lộn với dòng điện và không chịu để nó đi qua cho đến khi nó tự biến mình thành hữu ích cho anh dưới dạng hai phẩm chất sống còn của văn chương: ánh sáng và nhiệt lượng. Giờ đây, nếu tôi không chỉ là một gã nghiệp dư dây đồng đơn thuần mà là một tác giả tỏa sáng, tôi cũng phải là một con người cực kỳ cứng đầu khó bảo, dễ bị tắt ngúm và đi sai đường vào những thời điểm bất tiện, và mang những khả năng gây hỏa hoạn. Đó chính là những khiếm khuyết đi liền với phẩm chất của tôi; và tôi cam đoan với anh rằng đôi khi tôi ghét bản thân mình đến mức khi có một nhà phê bình dễ cáu kỉnh nào đó tình cờ vào thời điểm đó lao vào chỉ trích tôi một cách hăng hái, tôi lại cảm thấy vô cùng nhẹ nhõm và biết ơn. Nhưng tôi chẳng bao giờ mơ đến việc cải tạo bản thân, bởi tôi biết rằng mình phải chấp nhận con người vốn có và vắt kiệt chút công sức nào có thể từ chính mình. Tất cả những điều này anh sẽ hiểu; bởi giữa chúng ta có sự tương đồng về chất liệu: cả hai chúng ta đều là những nhà phê bình cuộc sống cũng như nghệ thuật; và có lẽ anh đã từng tự nhủ khi tôi đi ngang qua cửa sổ nhà anh rằng: "Chính nhờ ơn Chúa mà ta mới không trở thành như hắn." Một sự chiêm nghiệm đầy sợ hãi và uốn nắn, sẽ được dùng làm nhịp điệu kết thúc cho bức thư dài dậm dọa này từ người bạn trung thành của anh,
G. BERNARD SHAW. WOKING, 1903