Bên Kia Thiên Đường

Lượt đọc: 47 | 0 Đánh giá: 0/10 Sao
★★★★★★★★★★
★★★★★★★★★★
« Lùi Tiến »
Chương 4
Narcissus Khi Rảnh Rỗi

❊ ❊ ❊

Trong giai đoạn chuyển mình của Princeton, tức là hai năm cuối của Amory tại đó, khi cậu chứng kiến trường thay đổi, mở rộng và vươn tới vẻ đẹp kiến trúc Gothic bằng những phương thức tốt hơn là những cuộc diễu hành ban đêm, một số cá nhân đã xuất hiện và khuấy động ngôi trường đến tận những tầng sâu phong phú nhất của nó. Vài người trong số họ từng là tân sinh viên, và là những tân sinh viên nổi loạn, cùng với Amory; vài người khác thuộc khóa dưới; và chính vào đầu năm cuối của cậu, quanh những chiếc bàn nhỏ ở quán Nassau Inn, họ bắt đầu công khai đặt câu hỏi về những thể chế mà Amory cùng vô số người đi trước đã hoài nghi trong bí mật suốt bao lâu nay. Trước hết, và một phần cũng do ngẫu nhiên, họ vấp phải một số cuốn sách nhất định, một thể loại tiểu thuyết tiểu sử rõ nét mà Amory đặt tên là tiểu thuyết "tầm đạo". Trong tiểu thuyết "tầm đạo", người anh hùng bước vào đời với những vũ khí tối tân nhất trong tay và tuyên bố rõ ràng sẽ sử dụng chúng theo cách mà những thứ vũ khí ấy thường được dùng, để đẩy bản thân tiến lên một cách ích kỷ và mù quáng nhất có thể, nhưng những người anh hùng trong tiểu thuyết "tầm đạo" lại phát hiện ra rằng có thể có một mục đích cao cả hơn nhiều dành cho chúng. "Không Có Thần Nào Khác", "Phố Tội Lỗi" và "Cuộc Nghiên Cứu Cao Cả" là những ví dụ cho dòng sách ấy; chính cuốn cuối cùng trong ba cuốn sách này đã thu hút Burne Holiday và khiến cậu tự hỏi vào đầu năm tư rằng liệu việc làm một nhà ngoại giao chuyên quyền quanh câu lạc bộ của mình trên Đại lộ Prospect và tắm mình trong ánh hào quang của chức vụ lớp học có thực sự đáng giá hay không. Rõ ràng chính qua các kênh tầng lớp quý tộc mà Burne đã tìm ra con đường cho mình. Amory, nhờ Kerry, từng có một mối quen biết lất phất mơ hồ với cậu ta, nhưng phải đến tháng Giêng của năm cuối thì tình bạn của họ mới thực sự bắt đầu.

Tom vừa bước vào một buổi tối lất phất mưa muộn với cái vẻ đắc thắng thường thấy sau một cuộc tranh biện thành công, liền cất giọng:

– Cậu đã nghe tin mới nhất chưa?

– Chưa. Có ai rớt môn à? Hay lại có con tàu nào chìm?

– Còn tệ hơn thế. Khoảng một phần ba sinh viên năm ba sắp xin rút khỏi các câu lạc bộ của họ đấy.

– Cái gì!

– Sự thật trăm phần trăm!

– Tại sao cơ chứ!

– Tinh thần cải cách các thứ ấy mà. Burne Holiday đang đứng đằng sau chuyện này. Các chủ tịch câu lạc bộ đang tổ chức họp tối nay để xem họ có thể tìm ra một giải pháp chung nào để đối phó hay không.

– Ồ, thế ý tưởng của vụ này là gì?

– Ơ thì, các câu lạc bộ gây tổn hại cho tinh thần dân chủ của Princeton; tốn kém nhiều; vạch ra ranh giới xã hội, tốn thời gian; mấy cái lý lẽ quen thuộc mà đôi khi cậu vẫn nghe từ đám sinh viên năm hai vỡ mộng đấy. Woodrow từng nghĩ rằng chúng nên bị dẹp bỏ và đại loại thế.

– Nhưng lần này là thật hả?

– Hoàn toàn là thật. Tớ nghĩ chuyện này sẽ thành công thôi.

– Vì Chúa, kể thêm cho tớ nghe đi.

– Thì thế này, – Tom bắt đầu, – có vẻ như ý tưởng đó nảy sinh đồng thời ở nhiều cái đầu. Tớ vừa nói chuyện với Burne cách đây không lâu, và cậu ta khẳng định rằng đó là kết quả tất yếu nếu một người thông minh suy nghĩ đủ lâu về hệ thống xã hội. Họ có một "nhóm thảo luận" và vấn đề dẹp bỏ các câu lạc bộ đã được ai đó nêu lên – mọi người có mặt ở đó đều chộp lấy nó – ý nghĩ đó ít nhiều đã có sẵn trong tâm trí của mỗi người, và nó chỉ cần một tia lửa để bùng lên mà thôi.

– Tuyệt vời! Tớ thề là tớ thấy việc này sẽ cực kỳ thú vị đấy. Đám trên Cap and Gown phản ứng thế nào?

– Phát cuồng lên chứ sao. Mọi người đều ngồi tranh cãi, chửi thề, nổi giận, trở nên ủy mị rồi lại cộc cằn. Ở các câu lạc bộ khác cũng thế cả thôi; tớ đã đi một vòng rồi. Họ tóm cổ một kẻ cấp tiến vào góc và nã hàng đống câu hỏi vào cậu ta.

– Mấy kẻ cấp tiến đối phó ra sao?

– Ồ, cũng khá ổn. Burne là một tay ăn nói cừ khôi, lại tỏ ra chân thành đến mức cậu chẳng thể vặn vẹo gì được. Rõ ràng là việc từ bỏ câu lạc bộ có ý nghĩa với cậu ta hơn nhiều so với việc ngăn cản nó đối với chúng ta, khiến tớ cảm thấy mình thật vô tích sự khi tranh luận; cuối cùng tớ đành chọn một lập trường trung lập một cách xuất sắc. Thậm chí, tớ tin là có lúc Burne đã nghĩ rằng cậu ta đã cảm hóa được tớ rồi cơ.

– Và cậu nói là gần một phần ba sinh viên năm ba sẽ xin rút sao?

– Cứ gọi là một phần tư cho chắc ăn đi.

– Chúa ơi – ai mà nghĩ lại có thể như thế chứ!

Có tiếng gõ cửa dồn dập, và chính Burne bước vào. – Chào Amory – chào Tom.

Amory đứng dậy.

– Chào buổi tối, Burne. Đừng bận tâm nếu tớ có vẻ vội vàng nhé; tớ đang định sang chỗ Renwick.

Burne quay phắt lại nhìn cậu.

– Chắc cậu cũng biết tớ muốn nói chuyện gì với Tom rồi đấy, và nó chẳng có gì là riêng tư cả. Tớ rất mong cậu ở lại.

– Tớ rất sẵn lòng. – Amory ngồi xuống lại, và khi Burne ngồi vắt vẻo lên bàn rồi bắt đầu tranh luận với Tom, cậu quan sát nhà cách mạng này kỹ hơn bao giờ hết. Với chiếc trán rộng, cằm bộc lộ sự kiên định, cùng ánh mắt xám chân thành mang nét thanh tú giống như của Kerry, Burne là một người tạo ngay cho người đối diện ấn tượng về sự bề thế và vững chãi – bướng bỉnh, điều đó là hiển nhiên, nhưng sự bướng bỉnh của cậu ta không hề mang vẻ đờ đẫn, và khi cậu ta nói chuyện được năm phút, Amory biết rằng niềm nhiệt huyết sắc bén này không hề vương chút phẩm chất tài tử nửa vời nào.

Sức mạnh mãnh liệt mà Amory cảm nhận được ở Burne Holiday sau đó hoàn toàn khác với sự ngưỡng mộ mà cậu từng dành cho Humbird. Lần này, nó bắt đầu như một hứng thú thuần túy về mặt trí tuệ. Với những người khác mà cậu từng đánh giá là bậc thượng thặng, cậu bị thu hút trước hết bởi tính cách của họ, còn ở Burne, cậu lại không tìm thấy thứ từ tính bộc phát ngay lập tức mà cậu vẫn thường kính phục. Nhưng tối hôm đó, Amory đã bị ấn tượng bởi sự nghiêm túc đến tột cùng của Burne – một phẩm chất mà cậu vốn chỉ gắn liền với sự đần độn đáng sợ – và bởi nguồn nhiệt huyết lớn lao đã gảy trúng những cung đàn trong tâm hồn cậu. Burne đại diện một cách mơ hồ cho một miền đất mà Amory hằng hy vọng mình đang trôi dạt tới – và đã đến lúc miền đất ấy xuất hiện trong tầm mắt. Tom, Amory và Alec đã rơi vào cảnh bế tắc; họ dường như chẳng bao giờ có những trải nghiệm mới chung với nhau nữa, bởi vì Tom và Alec cũng đã bận rộn một cách mù quáng với các ủy ban và ban biên tập của mình chẳng kém gì sự nhàn rỗi mù quáng của Amory, và những đề tài họ đem ra mổ xẻ – đại học, nhân vật đương thời và những thứ tương tự – đã bị họ nhai đi nhai lại qua biết bao bữa ăn đạm bạc toàn những chuyện trò.

Đêm đó, họ bàn luận về các câu lạc bộ cho đến tận mười hai giờ, và nhìn chung, họ đồng tình với Burne. Đối với hai anh chàng cùng phòng, đó không phải là một chủ đề trọng đại như trong hai năm trước, nhưng tính logic trong những lời phản đối của Burne đối với hệ thống xã hội lại khớp hoàn toàn với mọi suy nghĩ của họ, đến mức họ chỉ đặt câu hỏi thay vì tranh cãi, đồng thời ngưỡng mộ sự tỉnh táo đã giúp con người này dám đứng lên chống lại mọi truyền thống.

Sau đó, Amory lái câu chuyện sang hướng khác và phát hiện ra rằng Burne cũng đang nghiên cứu sâu về nhiều lĩnh vực khác. Kinh tế học đã thu hút cậu ta và cậu ta đang chuyển hướng sang chủ nghĩa xã hội. Chủ nghĩa hòa bình ẩn hiện trong tâm trí cậu ta, và cậu ta đọc The Masses cùng các tác phẩm của Lev Tolstoy một cách say sưa.

– Còn tôn giáo thì sao? – Amory hỏi cậu ta.

– Không biết nữa. Tớ đang mông lung về rất nhiều thứ – tớ vừa phát hiện ra mình có một bộ óc, và tớ đang bắt đầu đọc sách.

– Đọc cái gì?

– Mọi thứ. Tất nhiên là tớ phải chọn lọc, nhưng phần lớn là những thứ khiến tớ phải tư duy. Bây giờ tớ đang đọc bốn sách phúc âm, và cuốn "Các Dạng Thức Của Trải Nghiệm Tôn Giáo".

– Điều gì đã khởi xướng cậu là chính?

– Chắc là Wells, Tolstoy, và một ông tên là Edward Carpenter. Tớ đã đọc sách được hơn một năm nay rồi – theo một số định hướng, theo những gì tớ cho là cốt lõi.

– Thơ ca ư?

– À, nói thật nhé, không phải thứ thơ mà các cậu gọi là thơ, hay vì những lý do của các cậu – hai cậu đương nhiên là viết văn, và nhìn nhận mọi thứ theo cách khác. Whitman mới là người thu hút tớ.

– Whitman?

– Đúng vậy; ông ấy là một lực lượng đạo đức rõ rệt.

– Chà, tớ lấy làm hổ thẹn khi thừa nhận rằng tớ hoàn toàn mù tịt về chủ đề Whitman đấy. Còn cậu thì sao, Tom?

Tom gật đầu đầy vẻ ngượng ngùng.

– Thì đấy, – Burne tiếp tục, – các cậu có thể vấp phải một vài bài thơ gây mệt mỏi, nhưng ý tớ là toàn bộ khối lượng tác phẩm của ông ấy. Ông ấy thật vĩ đại – giống như Tolstoy. Cả hai đều nhìn thẳng vào bản chất sự việc, và bằng cách nào đó, dẫu khác nhau, họ đều đại diện cho những giá trị tương tự.

– Cậu làm tớ cứng họng rồi đấy, Burne, – Amory thừa nhận. – Tớ đã đọc "Anna Karenina" và "Bản Xô-nát Kreutzer" rồi đương nhiên, nhưng Tolstoy đối với tớ chủ yếu là bản tiếng Nga nguyên gốc.

– Ông ấy là con người vĩ đại nhất trong hàng trăm năm qua, – Burne kêu lên đầy nhiệt huyết. – Cậu đã bao giờ nhìn thấy bức ảnh chụp mái đầu bù xù già nua đó của ông ấy chưa?

Họ trò chuyện đến tận ba giờ sáng, từ sinh học cho đến tôn giáo có tổ chức, và khi Amory run lẩy bẩy bò lên giường, tâm trí cậu bừng sáng những ý tưởng cùng cảm giác chấn động vì có ai đó đã khám phá ra con đường mà đáng lẽ cậu có thể đi theo. Burne Holiday đang tiến bộ quá rõ rệt – và Amory cứ tưởng rằng mình cũng đang làm điều tương tự. Cậu đã rơi vào trạng thái hoài nghi sâu sắc về những gì đi qua đời mình, vạch ra sự bất hoàn hảo của con người và đọc Shaw cùng Chesterton đủ để giữ cho tâm trí không trượt đến bờ vực suy đồi – để rồi giờ đây, bỗng nhiên mọi quá trình tư duy của cậu trong suốt một năm rưỡi qua bỗng trở nên sáo rỗng và vô ích – một sự hoàn thành nhỏ mọn của chính bản thân... và nằm ẩn như một phông nền u ám là vụ việc mùa xuân năm trước, thứ đã chiếm mất một nửa số đêm của cậu bằng nỗi kinh hoàng buồn tẻ và khiến cậu không thể cầu nguyện nổi. Cậu thậm chí còn chẳng phải là một tín đồ Công giáo, thế mà đó lại là cái bóng duy nhất của một bộ quy tắc mà cậu có, thứ chủ đạo giáo, rườm rà, đầy nghịch lý mà tiên tri là Chesterton, có đám cổ vũ là những tay ăn chơi sa đọa đã hoàn lương trong văn chương như Huysmans và Bourget, có nhà bảo trợ người Mỹ là Ralph Adams Cram cùng sự tôn sùng các nhà thờ lớn thế kỷ thứ mười ba – một thứ Công giáo mà Amory thấy thuận tiện và có sẵn, chẳng cần linh mục, bí tích hay sự hy sinh.

Cậu không thể ngủ được, bèn bật đèn đọc sách lên và với lấy cuốn "Bản Xô-nát Kreutzer", dò dẫm thật kỹ tìm mầm mống nhiệt huyết của Burne. Việc được làm Burne bỗng trở nên thật hơn rất nhiều so với việc tỏ ra thông minh. Dù vậy cậu vẫn thở dài... ở đây lại có thêm những cái chân đất bằng sét khác.

Cậu nghĩ lại chặng đường hai năm qua, nhớ về một Burne vội vã, hay lo lắng trong bộ dạng tân sinh viên, hoàn toàn lu mờ trước cá tính của người anh trai. Rồi cậu nhớ đến một sự cố thời năm hai, trong đó Burne bị nghi ngờ đóng vai trò chủ mưu.

Đạo diễn Hollister bị một nhóm đông bắt gặp đang đôi co với một tài xế taxi, người đã chở ông từ ngã ba về. Trong lúc cãi vã, vị chủ nhiệm khoa nhận xét rằng ông “thêm chút nữa là mua đứt cái xe taxi này rồi đấy.” Ông trả tiền rồi bỏ đi, nhưng sáng hôm sau khi bước vào phòng làm việc riêng, ông sững sờ thấy chiếc xe taxi nằm ngay chỗ thường đặt bàn làm việc của mình, gắn một tấm biển đề: “Tài sản của Khoa trưởng Hollister. Đã mua đứt và trả tiền đủ.”... Phải mất hai thợ máy lành nghề nửa ngày trời mới tháo rời nó ra đến từng chi tiết nhỏ nhất rồi khiêng đi, điều đó đủ chứng minh năng lực hiếm có của sự hài hước thời năm hai dưới sự chỉ huy tài tình.

Rồi thêm một lần nữa, ngay mùa thu năm ấy, Burne đã gây ra mộtchấn động lớn. Một cô nàng tên là Phyllis Styles, một tay chuyên săn lùng các buổi khiêu vũ liên trường, đã không nhận được lời mời thường niên tham dự trận đấu Harvard-Princeton.

Jesse Ferrenby đã đưa cô ta đến một trận đấu nhỏ hơn vài tuần trước đó, và đã lôi kéo Burne vào cuộc – để rồi hủy hoại luôn chủ nghĩa độc thân của anh chàng.

– Cậu có đến xem trận Harvard không? – Burne đã hỏi một cách thiếu khôn ngoan, cốt chỉ để bắt chuyện.

– Nếu cậu mời tôi, – Phyllis nhanh nhẩu kêu lên.

– Đương nhiên là tớ mời rồi, – Burne đáp yếu ớt. Cậu vốn non kém trước những chiêu trò của Phyllis, và cứ đinh ninh rằng đây chỉ là một hình thức đùa cợt vô thưởng vô phạt nào đó. Chưa đầy một tiếng sau, cậu đã biết rằng mình thực sự bị mắc kẹt. Phyllis đã tóm lấy cậu và dọn cỗ cậu ra, thông báo cho cậu chuyến tàu cô ta sẽ đến, và làm cậu suy sụp hoàn toàn. Ngoài việc căm ghét Phyllis ra, cậu còn cực kỳ muốn được đi xem trận đấu một mình (stag) và tiếp đón mấy người bạn ở Harvard.

– Cô ta sẽ biết tay, – cậu thông báo với một đám đông đến phòng mình để trêu chọc. – Đây sẽ là trận đấu cuối cùng mà cô ta còn có thể dụ dỗ bất kỳ gã trai ngây thơ nào đưa đi đấy!

– Nhưng, Burne – tại sao cậu lại mời nếu cậu không muốn?

– Burne, cậu biết là cậu thầm mê mệt cô ta mà – rắc rối thực sự là ở đó.

– Cậu có thể làm gì nào, Burne? Cậu làm sao chống lại được Phyllis đây?

Nhưng Burne chỉ lắc đầu và lầm bầm những lời đe dọa chủ yếu xoay quanh câu: “Cứ đợi đấy, cô ta sẽ thấy tay!”

Nàng Phyllis vui tươi mang hai mươi lăm mùa xuân phơi phới bước xuống tàu, nhưng ngay trên sân ga, một cảnh tượng kinh hoàng đập vào mắt cô ta. Kìa Burne và Fred Sloane đang ăn vận chưng diện đến tận chân tơ kẽ tóc hệt như những nhân vật lòe loẹt trên các tấm áp-phích đại học. Họ mua những bộ đồ sặc sỡ với chiếc quần thụng khổng lồ và phần đệm vai to tướng. Trên đầu họ đội những chiếc mũ đại học nghênh ngang, ghim ngược phía trước và mang dải ruy-băng màu cam đen rực rỡ, trong khi từ những chiếc cổ áo bằng nhựa lòi ra những chiếc cà vạt màu cam chói lọi. Họ đeo băng tay đen có chữ “P” màu cam, và cầm những cây gậy phất phới cờ hiệu Princeton, và điểm nhấn hoàn hảo là đôi tất cùng chiếc khăn tay ló ra có cùng tông màu. Dắt theo một sợi xích khua khoắng là một con mèo mướp đực to lớn, hung dữ, được sơn vẽ trông giống như một con hổ.

Hơn một nửa đám đông trên sân ga đã trố mắt nhìn họ, bị giằng xé giữa nỗi kinh hoàng tội nghiệp và tràng cười náo loạn, và khi Phyllis với cái cằm thon thả rớt xuống đang tiến lại gần, cặp đôi liền cúi gập người và cất tiếng hô vang khẩu hiệu cổ vũ trường với âm lượng to, vang xa, lại còn chu đáo gắn thêm cái tên “Phyllis” vào tận cùng. Cô ta được chào đón bằng những tiếng hò hét vang dội và được hộ tống đầy nhiệt tình băng qua khuôn viên trường, theo sau là nửa trăm đứa trẻ con trong làng – trước tiếng cười nín nhịn của hàng trăm cựu sinh viên và khách tham quan, những người hoàn toàn không biết đây chỉ là một trò chơi khăm, mà đinh ninh rằng Burne và Fred là hai tay thể thao của trường đang dẫn bạn gái đi tận hưởng không khí đại học.

Cảm giác của Phyllis khi bị diễu hành qua các khán đài Harvard và Princeton, nơi có tá tá những kẻ từng tôn sùng cô ta đang ngồi, quả thật có thể tưởng tượng được. Cô ta cố bước lên trước một chút, lại cố bước chậm lại phía sau – nhưng hai kẻ đó cứ bám sát rạt, để chắc chắn không ai nhầm lẫn cô ta đi với ai, vừa lớn tiếng bàn tán về những người bạn của họ trong đội bóng bầu dục, cho đến khi cô ta gần như nghe được tiếng xì xào của những người quen:

– Chắc Phyllis Styles phải túng quẫn lắm mới phải đi cùng hai tên đó đấy.

Đó chính là Burne, một kẻ hài hước đầy nhiệt năng, vô cùng nghiêm túc về bản chất. Từ cái gốc đó đã đơm hoa kết trái nguồn năng lượng mà giờ đây cậu đang cố gắng điều hướng cùng tiến trình thời đại....

Cứ thế, những tuần lễ trôi qua, tháng Ba đến và những cái chân đất bằng sét mà Amory tìm kiếm vẫn chẳng thấy đâu. Khoảng một trăm sinh viên năm ba và năm tư đã xin rút khỏi câu lạc bộ trong cơn cuồng nộ cuối cùng của sự chính trực, và các câu lạc bộ trong sự bất lực đã quay sang dùng thứ vũ khí sắc bén nhất của họ để đánh trả Burne: sự chế nhạo. Bất cứ ai biết Burne đều quý mến cậu – nhưng những gì cậu đại diện (và cậu bắt đầu đại diện cho nhiều thứ hơn nữa theo thời gian) đã lọt vào tầm ngắm của vô số lưỡi dao đàm tiếu, cho đến mức nếu là một kẻ yếu bóng vía hơn thì cậu đã bị vùi dập từ lâu.

– Cậu không bận tâm khi mất đi uy tín sao? – Amory hỏi vào một tối nọ. Họ đã bắt đầu thói quen sang phòng nhau chơi vài lần một tuần.

– Đương nhiên là không rồi. Uy tín là cái thá gì chứ, suy cho cùng?

– Có người bảo cậu chỉ là một tay chính trị gia có chút gốc gác nguyên bản mà thôi.

Cậu cười lớn.

– Đó là điều Fred Sloane đã nói với tớ hôm nay đấy. Chắc tớ đáng bị thế thật.

Vào một buổi chiều, họ sa đà vào một chủ đề đã thu hút Amory từ lâu – vấn đề về ảnh hưởng của các đặc điểm thể chất đối với cấu trúc con người. Burne đã đi sâu vào khía cạnh sinh học của vấn đề này, rồi nói:

– Đương nhiên sức khỏe là quan trọng chứ – một người khỏe mạnh có cơ hội hướng thiện cao gấp đôi.

– Tớ không đồng ý với cậu – tớ không tin vào “chủ nghĩa Cơ Đốc cơ bắp”.

– Tớ thì có – tớ tin Chúa sở hữu một thể lực cường tráng.

– Ồ, không đâu, – Amory phản đối. – Ngài đã làm việc quá vất vả để có thể được như vậy. Tớ tưởng tượng rằng khi Ngài qua đời, Ngài là một con người suy kiệt – và các vị thánh vĩ đại cũng đâu có khỏe mạnh gì.

– Một nửa số họ khỏe đấy chứ.

– Chà, dẫu có công nhận điều đó đi nữa, tớ vẫn không nghĩ sức khỏe có liên quan gì đến sự lương thiện; tất nhiên, việc có thể chịu đựng được những áp lực khổng lồ là rất quý giá đối với một vị thánh lớn, nhưng cái mốt mấy ông mục sư đại chúng cứ nhón gót chân lên với vẻ cường tráng giả tạo, gào thét rằng thể dục dụng cụ sẽ cứu rỗi thế giới – không, Burne, tớ không nuốt nổi cái đó.

– Thôi được, gác chuyện đó lại đi – chúng ta chẳng đi đến đâu đâu, với lại bản thân tớ cũng chưa hoàn toàn định hình được quan điểm về nó. Giờ thì, đây là điều tớ biết chắc chắn – diện mạo bên ngoài có ảnh hưởng rất lớn đến chuyện đó đấy.

– Màu tóc á? – Amory háo hức hỏi.

– Đúng vậy.

– Đó cũng là điều tớ và Tom đã tính toán, – Amory đồng tình. – Bọn tớ đã lấy các cuốn kỷ yếu của mười năm qua và ngắm ảnh của hội đồng sinh viên năm tư. Tớ biết cậu không đánh giá cao cái cơ quan tôn nghiêm đó cho mấy, nhưng nó cũng phần nào đại diện cho sự thành công ở đây theo nghĩa chung nhất. Chà, tớ đoán là chỉ có khoảng ba mươi lăm phần trăm sinh viên mỗi khóa ở đây có tóc vàng, là tóc sáng màu thực sự – thế mà có đến hai phần ba thành viên trong hội đồng sinh viên năm tư là tóc sáng màu đấy. Tớ đang nói đến việc xem ảnh của mười năm liền đấy nhé; điều đó có nghĩa là cứ trong số mười lăm anh chàng tóc vàng ở năm cuối thì có một người nằm trong hội đồng sinh viên năm tư, còn với mấy anh chàng tóc tối màu thì tỷ lệ chỉ là một trên năm mươi.

– Đúng là như vậy, – Burne đồng ý. – Nói một cách chung nhất, người tóc sáng màu thuộc hệ thống cấp bậc cao hơn. Tớ đã từng tính toán chuyện này với các Tổng thống Hợp chủng quốc Hoa Kỳ, và nhận ra rằng hơn một nửa số họ tóc sáng màu – trong khi hãy nghĩ xem số lượng áp đảo của những người tóc sẫm trong nhân loại là bao nhiêu.

– Mọi người vô thức thừa nhận điều đó, – Amory nói. – Cậu sẽ nhận thấy một người tóc vàng luôn được mặc định là phải biết nói chuyện. Nếu một cô gái tóc vàng không nói chuyện, chúng ta gọi cô ấy là “búp bê”; nếu một anh chàng tóc sáng màu giữ im lặng, anh ta được coi là đần độn. Thế nhưng thế giới lại đầy rẫy những “gã tóc sẫm trầm tính” và những “ả tóc sẫm uể oải” chẳng có lấy một hạt chất xám trong đầu, nhưng thế giới lại chẳng đời nào quy tội thiếu hụt trí tuệ cho họ cả.

– Và miệng rộng, cằm bộc lộ sự kiên định cùng chiếc mũi hơi to chắc chắn tạo nên một gương mặt ưu việt.

– Tớ không chắc lắm đâu. – Amory vốn chuộng các đường nét cổ điển hơn.

– Ồ, đúng thế đấy – để tớ cho cậu xem, – và Burne lôi từ trong ngăn kéo ra một bộ sưu tập ảnh những nhân vật nổi tiếng râu ria xồm xoàm, bù xù – Tolstoy, Whitman, Carpenter và những người khác.

– Trông họ thật tuyệt vời phải không?

Amory cố gắng tỏ ra lịch sự để đánh giá cao chúng, rồi bật cười đầu hàng.

– Burne, tớ nghĩ đây là đám người có ngoại hình xấu xí nhất mà tớ từng thấy đấy. Trông họ chẳng khác gì một viện dưỡng lão.

– Ồ, Amory, hãy nhìn cái trán của Emerson kìa; hãy nhìn đôi mắt của Tolstoy đi. – Giọng cậu ta đầy trách móc.

Amory lắc đầu.

– Không! Cứ gọi họ là những người có vẻ ngoài đáng chú ý hay bất cứ thứ gì cậu muốn – nhưng chắc chắn họ rất xấu xí.

Vẫn không hề nao núng, Burne âu yếm lướt bàn tay qua những vầng trán rộng mở, rồi xếp chồng những bức ảnh lại và cất chúng trở lại ngăn kéo.

Đi dạo ban đêm là một trong những sở thích của cậu ta, và có lần cậu đã thuyết phục Amory đi cùng.

– Tớ ghét bóng tối lắm, – Amory phản đối. – Trước đây tớ không thế – trừ khi những lúc tớ giàu trí tưởng tượng một cách đặc biệt, nhưng giờ thì tớ ghét thật đấy – tớ đúng là một kẻ ngốc tuyệt đối trong chuyện này.

– Cậu biết là điều đó vô ích mà.

– Rất có thể là thế.

– Chúng ta sẽ đi về hướng đông, – Burne đề nghị, – và đi xuống chuỗi con đường xuyên qua khu rừng ấy.

– Nghe chẳng hấp dẫn mấy đối với tớ, – Amory miễn cưỡng thừa nhận, – nhưng đi thì đi.

Họ bắt đầu bước đi với sải chân vững chắc, và suốt một tiếng đồng hồ sải bước trong một cuộc tranh luận sôi nổi cho đến khi những ngọn đèn của Princeton lùi lại phía sau thành những đốm trắng mờ ảo.

– Bất cứ ai có trí tưởng tượng đều buộc phải sợ hãi, – Burne quả quyết nói. – Và chính việc đi dạo ban đêm này là một trong những điều mà tớ từng sợ hãi. Tớ sẽ kể cho cậu nghe lý do tại sao bây giờ tớ có thể đi bất cứ đâu mà không còn sợ hãi nữa.

– Nói đi, – Amory háo hức giục. Họ đang sải bước hướng về phía khu rừng, giọng nói đầy nhiệt huyết và có phần căng thẳng của Burne đang hòa nhịp vào chủ đề.

– Tớ từng ra đây một mình vào ban đêm, ừm, cách đây khoảng ba tháng, và tớ luôn dừng lại ở cái ngã tư mà chúng ta vừa đi qua. Đằng trước là khu rừng ẩn hiện mờ ảo, hệt như bây giờ, có tiếng chó hú, có bóng tối và chẳng có lấy một âm thanh của con người. Tất nhiên, tớ đã nhét vào khu rừng đủ mọi thứ gớm ghiếc, hệt như cậu vậy; chẳng phải cậu cũng thế sao?

– Tớ có chứ, – Amory thừa nhận.

– Chà, tớ bắt đầu phân tích nó – trí tưởng tượng của tớ cứ khăng khăng nhét những nỗi kinh hoàng vào bóng tối – thế là tớ bèn nhét ngược trí tưởng tượng của mình vào bóng tối và để nó nhìn ra ngoài ngắm tớ – tớ để nó đóng vai một con chó hoang, một tên tù vượt ngục hay một con ma, rồi tự tưởng tượng ra cảnh mình đang bước đi trên con đường này. Điều đó làm mọi chuyện ổn thỏa – cũng như việc phóng chiếu hoàn toàn bản thân vào vị trí của người khác luôn làm mọi thứ ổn thỏa vậy. Tớ biết rằng nếu tớ là con chó hoang, tên tù hay con ma đó thì tớ sẽ chẳng phải là mối đe dọa với Burne Holiday nữa, cũng như cậu ta chẳng đe dọa gì tớ. Rồi tớ nghĩ đến chiếc đồng hồ của mình. Chắc mình nên quay lại cất nó đi rồi hãy thử thách khu rừng nhỉ. Không; tớ quyết định rằng, thà mất một chiếc đồng hồ còn hơn là quay đầu lại – và tớ đã bước vào đó – không chỉ đi theo con đường xuyên qua khu rừng, mà còn dấn thân sâu vào trong đó cho đến khi tớ hết sợ hãi thì thôi – cứ làm thế cho đến một đêm nọ tớ ngồi xuống và thiếp đi ở trlỏng; lúc đó tớ biết mình đã thôi sợ bóng tối.

– Chúa ơi, – Amory thở dài. – Tớ không đời nào làm được thế. Tớ sẽ quay ra ngay nửa đường, và ngay lần đầu tiên có chiếc ô tô chạy qua làm bóng tối càng thêm đặc quánh khi đèn pha của nó khuất dạng, là tớ chuồn thẳng rồi.

– Chà, – Burne đột nói sau vài phút im lặng, – chúng ta đi được nửa đường rồi, quay lại thôi.

Trên đường quay về, cậu ta lao vào một cuộc thảo luận về ý chí.

– Đó là tất cả vấn đề, – cậu ta khẳng định. – Đó là ranh giới phân định duy nhất giữa thiện và ác. Tớ chưa từng gặp một kẻ nào sống một cuộc đời đồi bại mà lại không sở hữu một ý chí yếu kém cả.

– Thế còn những tên tội phạm lớn thì sao?

– Chúng thường là những kẻ tâm thần. Nếu không, thì chúng là kẻ yếu đuối. Không có cái gọi là một tên tội phạm vừa mạnh mẽ lại vừa tỉnh táo đâu.

– Burne, tớ hoàn toàn không đồng ý với cậu; thế còn siêu nhân (superman) thì sao?

– Sao nào?

– Tớ nghĩ hắn ta tồi tệ, thế nhưng hắn lại mạnh mẽ và tỉnh táo.

– Tớ chưa từng gặp kẻ đó bao giờ. Nhưng tớ cá là hắn ta either ngốc nghếch hoặc bị điên.

– Tớ đã gặp hắn ta hết lần này đến lần khác và hắn chẳng rơi vào trường hợp nào cả. Đó là lý do tại sao tớ nghĩ cậu đã sai.

– Tớ chắc chắn là mình không sai – và vì thế tớ không tin vào việc bỏ tù trừ khi đối tượng đó là kẻ tâm thần.

Về điểm này, Amory không thể đồng tình. Cậu thấy rằng cuộc đời và lịch sử nhan nhản những tên tội phạm mạnh mẽ, sắc sảo nhưng thường tự huyễn hoặc bản thân; ta có thể tìm thấy chúng trong chính trị và kinh doanh, và giữa những vị chính khách, vua chúa, tướng lĩnh thời xưa; nhưng Burne không bao giờ đồng ý và con đường của họ bắt đầu rẽ đôi từ điểm đó.

Burne càng ngày càng tách rời khỏi thế giới xung quanh. Cậu từ chức phó chủ tịch lớp năm tư và coi việc đọc sách cùng đi dạo gần như là những sở thích duy nhất của mình. Cậu tự nguyện tham dự các bài giảng cao học về triết học và sinh học, và ngồi nghe tất cả với một vẻ mặt tha thiết đến đáng thương, hệt như đang chờ đợi điều gì đó mà giảng viên sẽ không bao giờ đề cập tới một cách trọn vẹn. Thỉnh thoảng Amory thấy cậu cựa quậy không yên trên ghế; và khuôn mặt cậu bừng sáng; cậu đang sục sôi muốn tranh luận một vấn đề.

Cậu ngày càng trở nên đãng trí ngoài đường và thậm chí còn bị buộc tội là trở thành một kẻ hợm hĩnh, nhưng Amory biết chẳng có chuyện đó đâu, và có lần khi Burne lướt qua cậu ở khoảng cách bốn bước chân, hoàn toàn vô cảm và dửng dưng, tâm trí đặt tận đàng nào, Amory gần như nghẹn ngào vì niềm vui lãng mạn khi được ngắm nhìn cậu ta. Burne dường như đang leo lên những đỉnh cao mà người khác mãi mãi không thể đặt chân tới.

– Tớ nói cho cậu biết nhé, – Amory tuyên bố với Tom, – cậu ấy là người đồng trang lứa đầu tiên mà tớ thừa nhận là vượt trội hơn tớ về năng lực trí tuệ.

– Thừa nhận điều đó vào lúc này thì tệ đấy – mọi người bắt đầu nghĩ cậu ta kỳ cục rồi kìa.

– Cậu ta vượt tầm hiểu biết của họ rồi – chính cậu cũng biết điều đó khi nói chuyện với cậu ta mà – Chúa ơi, Tom, cậu từng phản đối “đám đông” cơ mà. Sự thành công đã hoàn toàn biến cậu thành một kẻ câu nệ khuôn sáo.

Tom có vẻ hơi bực mình.

– Cậu ta đang cố làm gì thế – tỏ ra thánh thiện quá mức à?

– Không! Không giống bất cứ ai mà cậu từng thấy đâu. Chẳng bao giờ bước chân vào Hội Philadelphian cả. Cậu ta không có niềm tin vào mấy cái thứ nhảm nhí đó. Cậu ta không tin rằng những hồ bơi công cộng và một lời nói ân cần đúng lúc sẽ sửa chữa được những bất công của thế giới; hơn thế nữa, cậu ta uống rượu bất cứ khi nào cậu ta thích.

– Cậu ta đúng là đang tự chuốc họa vào thân rồi.

– Cậu có nói chuyện với cậu ấy dạo này không?

– Không.

– Thế thì cậu chẳng có chút khái niệm nào về cậu ấy đâu.

Cuộc tranh luận chẳng đi đến đâu, nhưng Amory càng lúc càng nhận thấy rõ hơn thái độ đối với Burne đã thay đổi như thế nào trong khuôn viên trường.

– Thật kỳ lạ, – Amory nói với Tom vào một đêm khi họ đã trở nên ôn hòa hơn về chủ đề này, – là những kẻ kịch liệt phản đối chủ nghĩa cấp tiến của Burne lại chính là tầng lớp Biệt phái (Pharisee) – ý tớ là họ là những người có học thức cao nhất trường – các biên tập viên của các tờ báo, như cậu và Ferrenby, các giảng viên trẻ tuổi.... Mấy gã vận động viên mù chữ như Langueduc thì nghĩ cậu ta đang trở nên kỳ quặc, nhưng họ chỉ nói: “Cái lão Burne tốt bụng có mấy ý tưởng kỳ quặc trong đầu ấy mà,” rồi lướt qua – còn tầng lớp Biệt phái – Chúa ơi! Họ chế nhạo cậu ta một cách không thương tiếc.

Sáng hôm sau, cậu bắt gặp Burne đang rảo bước dọc lối đi McCosh sau giờ lên lớp.

– Đi đâu đấy, Sa hoàng?

– Sang tòa soạn tờ Prince để gặp Ferrenby, – cậu ta vẫy vẫy số báo Princetonian buổi sáng trước mặt Amory. – Cậu ta viết bài xã luận này đấy.

– Định lột da sống cậu ta à?

– Không – nhưng cậu ta làm tớ rối tinh cả lên. Hoặc là tớ đánh giá sai cậu ta, hoặc là cậu ta bỗng chốc trở thành kẻ cấp tiến tồi tệ nhất thế giới rồi.

Burne vội vã bước đi, và phải mấy ngày sau Amory mới nghe được tường tận về cuộc trò chuyện diễn ra sau đó. Burne đã bước vào phòng làm việc của biên tập viên với tờ báo trên tay đầy vẻ vui vẻ.

– Chào Jesse.

– Chào Savonarola.

– Tớ vừa đọc bài xã luận của cậu đấy.

– Cừ lắm – không ngờ cậu lại hạ mình đọc mấy thứ đó đấy.

– Jesse, cậu làm tớ giật mình đấy.

– Sao cơ?

– Cậu không sợ bị đám giảng viên gõ đầu nếu viết mấy thứ báng bổ này à?

– Cái gì?

– Như sáng nay ấy.

– Quái quỷ gì chứ – bài xã luận đó viết về hệ thống huấn luyện mà.

– Ừ, nhưng cái câu trích dẫn đó—

Jesse ngồi thẳng người lên.

– Câu trích dẫn nào?

– Cậu biết đấy: “Ai không đi với ta là chống lại ta.”

– Thì sao nào?

Jesse có chút bối rối nhưng chưa đến mức hoảng sợ.

– Chà, cậu viết ở đây này – để tớ xem nào. – Burne mở tờ báo ra và đọc: – “’Ai không đi với ta là chống lại ta,’ như vị quý ông nổi tiếng với khả năng chỉ đưa ra những phân biệt thô thiển và những lời chung chung nhạt nhẽo ấy đã nói.”

– Thì sao chứ? – Ferrenby bắt đầu thấy lo lắng. – Oliver Cromwell nói câu đó phải không? Hay là Washington, hoặc một vị thánh nào đó? Chúa ơi, tớ quên mất tiêu rồi.

Burne cười phá lên.

– Ồ, Jesse, ôi Jesse tốt bụng của tớ ơi.

– Thế quái nào mà là người khác nói thế? – Ferrenby hỏi.

– Thì, – Burne nói sau khi lấy lại được giọng, – Thánh Mát-thêu quy nó cho Chúa Cứu Thế mà.

– Chúa tôi ơi! – Jesse kêu lên, và ngã ngửa ra sau vào sọt rác.

AMORY VIẾT MỘT BÀI THƠ

Thời gian trôi vùn vụt. Amory thỉnh thoảng lang thang đến New York với hy vọng tìm được một chiếc xe buýt điện màu xanh sáng bóng mới toanh, để cái vẻ hào nhoáng ngọt ngào như thanh kẹo của nó có thể len lỏi vào tâm trạng cậu. Một ngày nọ, cậu mạo hiểm bước vào một buổi diễn vãng lai của một đoàn kịch với cái tên nghe quen quen. Mức màn nhung kéo lên – cậu dửng ngắm nhìn một cô gái bước ra. Vài câu thoại vang lên bên tai cậu và chạm nhẹ vào một cung đàn ký ức yếu ớt. Ở đâu nhỉ...? Khi nào nhỉ...?

Rồi cậu dường như nghe thấy tiếng ai đó thì thầm bên cạnh, một giọng nói vô cùng dịu dàng, đầy rung cảm: “Ồ, tôi là một đứa ngốc tội nghiệp thế đấy; anh hãy nhớ bảo tôi khi tôi làm sai nhé.”

Lời giải đáp lóe lên trong chớp mắt và cậu có một ký ức nhanh chóng, đầy hạnh phúc về Isabelle.

Cậu tìm một khoảng trống trên tờ chương trình, và bắt đầu nguệch ngoạc viết nhanh:

“Nơi bóng tối mờ ảo này ta ngắm nhìn lần nữa,

Kìa, cùng tấm màn nhung, năm tháng cuốn trôi đi;

Hai năm của những năm – từng có một ngày vô vị

Của chúng ta, khi những cái kết có hậu chẳng làm chán ngấy

Những tâm hồn chưa được ủ men; ta có thể tôn sùng

Khuôn mặt hân hoan bên cạnh ta, mở trọn đôi mắt, ngập tràn vui thú,

Cười vang cả một kho tàng trong lúc vở kịch nghèo nàn

Đến tai ta như gợn sóng nhỏ vỗ về bờ cát.

Ngáp dài và tự hỏi suốt cả một buổi tối,

Ta ngắm nhìn một mình... và những tiếng xì xào, dĩ nhiên,

Làm hỏng khung cảnh duy nhất mà bằng cách nào đó lại có sức quyến rũ;

Em đã khóc một chút, và ta buồn thay cho em

Ngay tại đây! Nơi ông X bảo vệ việc ly hôn

Và cô-nào-đấy ngã lăn ra bất tỉnh trong vòng tay ông ta.”

VẪN BÌNH TĨNH

– Ma quỷ là những thứ ngốc nghếch lắm, – Alec nói, – chúng chậm chạp kém cỏi. Tớ lúc nào cũng có thể đoán trước được nước đi của ma.

– Bằng cách nào? – Tom hỏi.

– Thì, tùy thuộc vào địa điểm. Lấy phòng ngủ làm ví dụ nhé. Nếu cậu dùng chút khôn ngoan thì ma không bao giờ tóm được cậu trong phòng ngủ đâu.

– Thôi đi, giả sử cậu nghĩ có con ma trong phòng ngủ của mình đi – cậu sẽ áp dụng biện pháp gì khi về nhà vào ban đêm? – Amory đầy hứng thú gặng hỏi.

– Lấy một cây gậy, – Alec đáp với vẻ trang nghiêm cường điệu, – một cây dài khoảng cỡ cán chổi ấy. Nào, việc đầu tiên cần làm là phải dọn sạch căn phòng – để làm được điều này, cậu nhắm chặt mắt lao thẳng vào phòng học và bật đèn lên – tiếp theo, tiến lại gần tủ quần áo, cẩn thận thọc cây gậy vào cửa ba bốn lần. Sau đó, nếu không có chuyện gì xảy ra, cậu có thể ngó vào. Luôn luôn, phải luôn luôn thọc gậy vào thật hung hãn trước đã – tuyệt đối đừng nhìn trước nhé!

– Tất nhiên, đó là trường phái Xeltic cổ đại rồi, – Tom nghiêm túc nói.

– Đúng vậy – nhưng họ thường cầu nguyện trước. Dù sao thì, cậu dùng phương pháp này để dọn sạch tủ quần áo và cả đằng sau các cánh cửa nữa—

– Cả gầm giường nữa chứ, – Amory gợi ý.

– Ôi Amory, không đâu! – Alec kinh hãi kêu lên. – Không phải cách đó – gầm giường đòi hỏi chiến thuật khác – hãy để yên cái giường đó, nếu cậu còn tiếc cái sự tỉnh táo của mình – nếu có ma trong phòng và điều đó chỉ xảy ra khoảng một phần ba thời gian thôi, thì nó hầu như luôn luôn nằm ở dưới gầm giường.

– Chà, – Amory bắt đầu.

Alec xua tay ra hiệu cậu im lặng.

– Dĩ nhiên là cậu không bao giờ được ngó xuống rồi. Cậu đứng ở giữa phòng và trước khi nó kịp hiểu cậu định làm gì, hãy tung một cú nhảy bất ngờ lên giường – tuyệt đối đừng đi lại gần giường; đối với ma thì cổ chân của cậu là bộ phận dễ tổn thương nhất – một khi đã lên giường rồi, cậu được an toàn; nó có thể nằm lảng vảng dưới gầm giường suốt cả đêm, nhưng cậu thì an toàn như ban ngày. Nếu vẫn còn hoài nghi, hãy trùm chăn lên đầu.

– Mấy cái đó thú vị thật đấy, Tom.

– Chứ sao nữa? – Alec tự hào rạng rỡ. – Toàn là sáng kiến của tớ đấy chứ – một Sir Oliver Lodge của thế giới mới.

Amory lại đang vô cùng tận hưởng cuộc sống đại học. Cảm giác tiến bước theo một đường thẳng trực diện, quyết đoán đã quay trở lại; tuổi trẻ đang cựa mình và tự vẫy vùng để xù ra vài chiếc lông vũ mới. Cậu thậm chí còn tích trữ đủ năng lượng dư thừa để dấn thân vào một tạo hình mới.

– Ý tưởng của cái mớ ra vẻ “phân tâm” này là gì thế, Amory? – Alec hỏi vào một ngày nọ, rồi khi Amory giả vờ cúi gập người trên cuốn sách với vẻ ngẩn ngơ: – Ồ, đừng có diễn cái trò Burne nhà thần bí với tớ nhé.

Amory ngước lên với vẻ ngây thơ vô số tội.

– Hả?

– Hả? – Alec nhại lại. – Cậu đang cố đọc sách đến mức phát cuồng với cái – để xem nào, đưa cuốn sách đây.

Cậu ta giật phăng lấy; săm soi với vẻ chế nhạo.

– Sao nào? – Amory hơi cứng nhắc lên tiếng.

– “Cuộc đời Thánh Teresa”, – Alec đọc to lên. – Ôi trời đất ơi!

– Này, Alec.

– Gì chứ?

– Nó làm phiền cậu à?

– Cái gì làm phiền tớ?

– Việc tớ làm bộ ngẩn ngơ và đại loại thế ấy?

– Ồ, không – đương nhiên là nó chẳng làm phiền tớ rồi.

– Thế thì, đừng có phá đám. Nếu tớ thích đi vòng quanh hồn nhiên tuyên bố với mọi người rằng tớ nghĩ mình là một thiên tài, cứ để tớ làm thế đi.

– Cậu đang mang tiếng là kẻ kỳ quặc đấy, – Alec vừa cười vừa nói, – nếu đó là điều cậu muốn nói.

Cuối cùng Amory cũng thắng thế, và Alec đồng ý chấp nhận giá trị bề nổi của cậu trước mặt người khác với điều kiện cậu được phép có những khoảng thời gian nghỉ ngơi khi họ ở một mình; thế nên Amory cứ thế “quẩy” nhiệt tình, mang những nhân vật kỳ quặc nhất đến bữa tối, từ những sinh viên cao học mắt trợn ngược, những giảng sư với những lý thuyết kỳ lạ về Chúa và chính phủ, trong sự ngạc nhiên đầy tính khinh miệt của Câu lạc bộ Cottage kiêu kỳ.

Khi tháng Hai bị đan xen bởi những tia nắng và bước sang tháng Ba một cách vui vẻ, Amory đã vài lần đến trải nghiệm cuối tuần với Đức Giám mục; có lần cậu dẫn theo Burne, và điều đó đã thành công mỹ mãn, bởi vì cậu vừa mang niềm tự hào vừa sự thích thú tột cùng khi trưng bày hai con người ấy cho nhau ngắm. Đức Giám mục đã dẫn cậu vài lần đi gặp Thornton Hancock, và một hai lần đến nhà bà Lawrence, một kiểu người Mỹ mê mẩn thành Rome mà Amory vừa gặp đã thích ngay.

Rồi một ngày nọ, có bức thư từ Đức Giám mục gửi đến, kèm theo một phần Tái bút vô cùng thú vị:

“Cậu có biết không,” thư viết, “rằng người chị họ đời thứ ba của cậu, Clara Page, góa chồng được sáu tháng và rất nghèo, đang sống ở Philadelphia không? Tớ không nghĩ cậu từng gặp cô ấy, nhưng tớ mong, coi như làm ơn cho tớ, hãy đến thăm cô ấy đi. Theo suy nghĩ của tớ, cô ấy là một phụ nữ khá đặc biệt, và độ tuổi cũng xấp xỉ cậu thôi.”

Amory thở dài và quyết định đi, coi như làm ơn....

CLARA

Cô ấy mang vẻ đẹp vượt thời gian.... Amory không đủ tốt để sánh với Clara, Clara với mái tóc vàng óng lượn sóng, nhưng ngẫm lại thì chẳng có người đàn ông nào xứng cả. Sự đức hạnh của cô ấy vượt lên trên thứ đạo đức tầm thường của kẻ đi tìm chồng, tách biệt khỏi thứ văn chương tẻ nhạt về đức hạnh của phụ nữ.

Nỗi buồn ngự trị rất nhẹ nhàng quanh cô, và khi Amory tìm thấy cô ở Philadelphia, cậu ngỡ rằng đôi mắt xanh thẳm sắc lạnh của cô chỉ chứa đựng hạnh phúc; một sức mạnh tiềm ẩn, một chủ nghĩa hiện thực, đã được phát triển đến mức tối đa bởi những thực tế mà cô buộc phải đối mặt. Cô đơn độc trên đời, với hai đứa con nhỏ, ít tiền, và tệ nhất là một đám bạn bè. Mùa đông năm ấy, cậu nhìn thấy cô ở Philadelphia đang tiếp một nhà đầy đàn ông suốt cả buổi tối, trong khi cậu biết thừa rằng trong nhà chẳng có lấy một người hầu nào ngoài cô bé da màu đang trông lũ trẻ trên lầu. Cậu nhìn thấy một trong những kẻ phóng đãng khét tiếng nhất thành phố đó, một gã thường xuyên say xỉn và nổi danh tai tiếng cả trong lẫn ngoài nước, ngồi đối diện cô suốt cả buổi tối, thảo luận về các trường nội trú nữ với một thứ hứng thú ngây ngô nào đó. Clara thật có một cách tư duy ngoắt ngoéo làm sao! Cô có thể tạo ra những cuộc trò chuyện lôi cuốn và gần như xuất sắc từ những thứ không đâu phảng phất qua phòng khách.

Ý nghĩ rằng cô gái này đang rơi vào cảnh túng quẫn đã khơi gợi khiếu tưởng tượng tình huống của Amory. Cậu đặt chân đến Philadelphia với tâm lý đinh ninh rằng số 921 phố Ark sẽ nằm trong một khu xóm tồi tàn nghèo đói. Cậu thậm chí còn chưng hửng khi sự thật hoàn toàn trái ngược. Đó là một ngôi nhà cổ đã thuộc về gia đình chồng cô từ nhiều năm trước. Một người cô lớn tuổi, người phản đối việc bán ngôi nhà, đã nộp trước mười năm tiền thuế cho một luật sư rồi cao chạy xa bay tới Honolulu, để lại một mình Clara chật vật vật lộn với vấn đề sưởi ấm thế nào cho qua mùa. Thế nên chẳng có người đàn bà đầu bù tóc rối nào với một đứa trẻ đói sữa trước ngực và vẻ mặt sầu thảm kiểu Amelia ra chào đón cậu cả. Ngược lại, nếu dựa vào màn đón tiếp, Amory hẳn đã tưởng cô chẳng có chút bận tâm nào trên đời.

Một sự nam tính điềm tĩnh và sự hài hước mơ mộng, hoàn toàn tương phản với sự thực tế của cô – cô đôi khi trượt vào những tâm trạng ấy như một chốn dung thân. Cô có thể làm những việc vô cùng tẻ nhạt (dù cô đủ khôn ngoan để không bao giờ tự làm giảm giá trị bản thân với những “nghệ thuật gia đình” như đan lát và thêu thùa), nhưng ngay lập tức sau đó lại cầm lấy một cuốn sách và thả trí tưởng tượng bay bổng như một đám mây vô định theo chiều gió. Sâu thẳm nhất trong nhân cách cô chính là ánh hào quang vàng rực mà cô lan tỏa xung quanh mình. Giống như một ngọn lửa bùng cháy trong căn phòng tối tăm mang sự lãng mạn và nét bi ai lên những gương mặt tĩnh lặng ở rìa sáng, cô rải những mảng sáng tối của mình quanh căn cứ địa chứa cô, cho đến khi cô biến người ông chú cổ lỗ tẻ nhạt thành một người đàn ông có vẻ quyến rũ kỳ lạ và trầm ngâm, biến cậu bé đưa điện tín ngang qua thành một sinh vật giống như Puck đầy nét độc đáo thú vị. Ban đầu, phẩm chất này của cô có phần làm Amory khó chịu. Cậu cho rằng sự độc nhất của bản thân thế là đủ, và cậu thấy hơi lúng túng khi cô cứ cố gán ghép những hứng thú mới cho cậu để làm vừa lòng những kẻ ái mộ khác đang có mặt. Cậu có cảm giác như một vị đạo diễn sân khấu lịch sự nhưng cố chấp đang cố ép mình thể hiện một cách diễn xuất hoàn toàn mới cho một vai diễn mà cậu đã thuộc nằm lòng từ nhiều năm nay.

Nhưng khi Clara nói chuyện, Clara kể một câu chuyện vụn vặt về cây trâm cài áo, một gã say rượu và chính cô.... Mọi người sau đó cố gắng lặp lại những giai thoại của cô nhưng dù vắt óc cách mấy họ cũng chỉ làm chúng nghe nhạt nhếch như chẳng có gì. Họ dành cho cô sự chú ý ngây thơ và những nụ cười tươi tắn nhất mà họ đã giữ rịt từ lâu; có rất ít nước mắt ở Clara, nhưng mọi người mỉm cười với cô trong đôi mắt ngân ngấn lệ.

Rất hiếm khi Amory ở lại thêm nửa tiếng đồng hồ sau khi đám người kia đã về hết, và họ sẽ cùng nhau ăn bánh mì phết mứt và uống trà vào chiều muộn hoặc những “bữa trưa đường phong”, như cô gọi chúng, vào ban đêm.

– Cậu thật là phi thường đấy, phải không nào! – Amory bắt đầu trở nên sáo rỗng từ chỗ cậu ngồi vắt vẻo giữa chiếc bàn ăn vào một lúc sáu giờ chiều.

– Đâu có tí nào, – cô đáp. Cô đang lục tìm mấy chiếc khăn ăn trong tủ đựng chén đĩa. – Tớ thực ra vô cùng tẻ nhạt và bình thường thôi. Chỉ là một trong những kẻ chẳng có chút hứng thú nào với bất cứ thứ gì ngoại trừ lũ trẻ nhà mình.

– Đi mà nói câu đó với kẻ khác ấy, – Amory chế giễu. – Cậu thừa biết mình tỏa sáng rực rỡ cơ mà. – Cậu hỏi cô điều duy nhất mà cậu biết có thể làm cô bối rối. Đó là câu nói mà gã ngốc đầu tiên từng thốt ra với Adam.

– Kể cho tôi nghe về cậu đi.

Và cô đã đưa ra câu trả lời mà hẳn Adam từng trả lời.

– Chẳng có gì để kể cả.

Nhưng cuối cùng thì Adam có lẽ cũng đã kể cho kẻ ngốc nghe tất cả những điều hắn suy nghĩ vào ban đêm khi bọn ve sầu cất tiếng kêu trong đám cỏ cát, và hẳn hắn đã nói với vẻ bề trên rằng hắn khác với Eve biết bao, quên mất rằng cô ấy khác hắn thế nào... dù sao đi nữa, tối hôm đó Clara đã kể cho Amory nghe rất nhiều về bản thân cô. Cuộc đời cô đã trải qua những phen khốn đốn từ năm mười sáu tuổi, và học vấn của cô đứt đoạn phăng theo những khoảng thời gian rảnh rỗi. Lục lọi trong thư viện của cô, Amory tìm thấy một cuốn sách xám màu rách rưới, từ đó rơi ra một tờ giấy ngả vàng mà cậu vô lễ mở ra. Đó là một bài thơ cô từng viết thời đi học về bức tường tu viện xám xịt trong một ngày xám xịt, và một cô gái với chiếc áo choàng bay phần phật trong gió đang ngồi trên đỉnh tường ngắm nhìn thế giới muôn màu. Thông thường, những thứ tình cảm sướt mướt như vậy làm cậu chán ngấy, nhưng bài thơ này được viết với sự giản dị và bầu không khí đậm đà đến mức nó mang lại hình ảnh của Clara trong tâm trí cậu, hình ảnh Clara trong một ngày mát mẻ, xám ngắt ấy với đôi mắt xanh sắc sảo nhìn đăm đăm ra ngoài, cố gắng nhìn ngắm những bi kịch của mình đang kéo quân qua những khu vườn phía trước. Cậu ghen tị với bài thơ đó biết bao. Cậu ao ước biết bao được xuất hiện và ngắm nhìn cô trên bức tường, rồi trò chuyện những điều nhảm nhí hoặc lãng mạn với cô, người đang ngồi vắt vẻo lơ lửng trên cao trước mặt cậu. Cậu bắt đầu trở nên ghen tị một cách khủng khiếp với mọi thứ thuộc về Clara: với quá khứ của cô, với những đứa con của cô, với những người đàn ông và phụ nữ đổ xô đến để đắm mình trong sự ân cần mát lành của cô và thư giãn tâm trí mệt mỏi của họ hệt như đang thưởng thức một vở kịch hấp dẫn.

– Dường như chẳng có ai làm cậu chán ngấy cả, – cậu phản đối.

– Khoảng một nửa thế giới thì có đấy, – cô thừa nhận, – nhưng tớ nghĩ đó là một tỷ lệ khá ổn rồi, cậu không thấy thế à? – và cô quay đi tìm thứ gì đó trong sách của Browning liên quan đến chủ đề này. Cô là người duy nhất cậu từng gặp có thể tra cứu các đoạn văn và câu trích dẫn để cho cậu xem ngay giữa cuộc trò chuyện mà không hề gây ra sự khó chịu đến mức phân tâm. Cô làm việc đó liên tục, với một sự nhiệt tình nghiêm túc đến mức cậu đâm ra thích thú ngắm nhìn mái tóc vàng của cô cúi gập xuống cuốn sách, vầng trán nhăn lại một chút xíu khi đang săn lùng câu văn của mình.

Suốt đầu tháng Ba, cậu bắt đầu có thói quen đến Philadelphia vào dịp cuối tuần. Gần như lúc nào ở đó cũng có mặt một ai đó khác và cô có vẻ không mấy sốt sắng để gặp riêng cậu, vì có rất nhiều cơ hội xuất hiện mà chỉ cần một lời từ cô thôi là cậu đã có thêm nửa giờ đắm chìm trong sự tôn sùng đầy ngọt ngào. Nhưng cậu dần rơi vào lưới tình và bắt đầu suy đoán viển vông về hôn nhân. Mặc dù ý định này lướt qua bộ não cậu thậm chí đến cả đôi môi, nhưng sau này cậu vẫn thừa nhận rằng ham muốn ấy chưa bao giờ bén rễ sâu xa. Có lần cậu mơ thấy điều đó đã thành sự thật và bừng tỉnh trong một cơn hoảng loạn lạnh sống lưng, bởi vì trong giấc mơ, cô đã trở thành một Clara ngốc nghếch, tóc vàng nhạt, với sắc vàng đã biến mất khỏi mái tóc và những lời sáo rỗng thốt ra nhạt nhẽo từ chiếc lưỡi của kẻ đã đánh tráo thân xác. Nhưng cô là người phụ nữ tuyệt vời đầu tiên cậu từng biết và là một trong số ít những người tốt từng làm cậu hứng thú. Cô biến sự tốt bụng của mình thành một thứ tài sản giá trị. Amory đã kết luận rằng hầu hết những người tốt hoặc là lết theo sự tử tế của họ như một gánh nặng nợ nần, hoặc là bóp méo nó thành sự thân thiện giả tạo, và đương nhiên luôn có sự hiện diện của đám đạo đức giả và Biệt phái – (nhưng Amory chưa bao giờ đưa họ vào hàng ngũ những kẻ được cứu rỗi).

THÁNH CECILIA

“Khoác lên chiếc áo nhung màu xám,

Dưới mái tóc vàng óng bện hờ,

Sắc hồng trong nỗi buồn giả dạng

Chợt ửng rồi phai, đẹp đến ngơ ngẩn thờ;

Lấp đầy không gian từ nàng đến chàng

Bằng ánh sáng, sự uể oải và những tiếng thở dài khe khẽ,

Tinh tế đến mức chàng едва nhận ra...

Nụ cười tóe lửa, sắc hồng ngọc ngà.”

– Cậu có thích tớ không?

– Đương nhiên là có chứ, – Clara nghiêm túc đáp.

– Tại sao?

– Chà, chúng ta có một số phẩm chất chung. Những điều mang tính bộc phát ở mỗi chúng ta – hoặc vốn dĩ là thế.

– Ý cậu là tớ đã không sử dụng bản thân mình cho ra hồn phải không?

Clara chần chừ.

– Thì, tớ không phán xét được. Đàn ông, tất nhiên, phải trải qua nhiều thứ hơn, còn tớ thì được che chở.

– Ồ, đừng có đánh trống lảng nữa, xin cậu đấy, Clara, – Amory ngắt lời; – nhưng hãy nói về tớ một chút đi, chịu không nào?

– Chắc chắn rồi, tớ rất thích ấy chứ. – Cô không cười.

– Cậu thật đáng yêu. Trước tiên hãy trả lời vài câu hỏi đã. Tớ có phải là kẻ tự phụ đến phát bực không?

– Chà – không, cậu có sự kiêu ngạo khủng khiếp, nhưng nó sẽ mang lại tiếng cười cho những ai nhận ra sự áp đảo đó của nó.

– Tớ hiểu rồi.

– Thực chất cậu là người khiêm tốn. Cậu chìm nghỉm xuống tầng địa ngục thứ ba của sự trầm cảm khi nghĩ rằng mình bị coi thường. Thực ra, cậu chẳng có mấy lòng tự trọng đâu.

– Gãi đúng chỗ ngứa hai lần rồi đấy, Clara. Sao cậu hay thế nhỉ? Cậu chẳng bao giờ để tớ kịp mở miệng.

– Đương nhiên là không rồi – tớ không bao giờ có thể phán xét một người đàn ông khi anh ta đang nói cả. Nhưng tớ chưa nói hết đâu; lý do khiến cậu có quá ít sự tự tin thực sự, dẫu cho cậu có trang trọng tuyên bố với dăm ba kẻ phàm phu tục tử nào đó rằng cậu nghĩ mình là thiên tài, chính là vì cậu đã gán cho bản thân đủ mọi thứ lỗi lầm tồi tệ và đang cố gắng sống đúng với chúng. Ví dụ nhé, cậu luôn mồm nói mình là nô lệ của những ly rượu mạnh.

– Nhưng tiềm năng thì đúng là thế mà.

– Và cậu bảo mình là kẻ có nhân cách yếu đuối, chẳng có chút ý chí nào.

– Chẳng có tí ý chí nào thật – tớ là nô lệ của cảm xúc, của sở thích, của sự chán ghét sự nhàm chán, của hầu hết mọi ham muốn—

– Cậu không hề! – Cô giáng mạnh một nắm đấm nhỏ xuống bàn tay kia. – Cậu là nô lệ, một tên nô lệ bị trói buộc bất lực trước duy nhất một thứ trên đời, đó là trí tưởng tượng của cậu.

– Cậu làm tớ thấy hứng thú thật đấy. Nếu việc này không làm cậu chán ngấy, nói tiếp đi.

– Tớ nhận thấy rằng khi cậu muốn ở lại trường thêm một ngày nữa, cậu tìm cách đạt được nó một cách chắc chắn. Cậu không bao giờ quyết định ngay từ đầu khi mà thiệt hơn của việc đi hay ở hãy còn rõ ràng trong tâm trí. Cậu để cho trí tưởng tượng của mình đu bám vào phía những ham muốn trong vài tiếng đồng hồ, rồi mới ra quyết định. Đương nhiên là trí tưởng tượng của cậu, sau khi được tự do một chút, sẽ bày vẽ ra hàng triệu lý do tại sao cậu nên ở lại, thế nên quyết định của cậu khi đưa ra chẳng hề chuẩn xác chút nào. Nó bị thiên vị rồi.

– Đúng vậy, – Amory phản đối, – nhưng chẳng phải việc để trí tưởng tượng đu bám vào phe sai trái chính là biểu hiện của việc thiếu ý chí sao?

– Ôi chàng trai của tôi ơi, đó chính là sai lầm lớn nhất của cậu đấy. Chuyện này chẳng liên quan gì đến ý chí cả; mà ý chí vốn dĩ là một từ điên rồ, vô tích sự rồi; cậu thiếu phán đoán – thiếu sự phán đoán để quyết định ngay lập tức khi cậu biết chắc trí tưởng tượng sẽ lừa gạt mình, chỉ cần cho nó một cơ hội nhỏ.

– Chà, tôi chịu thua cậu luôn đấy! – Amory ngạc nhiên thốt lên, – đó là điều cuối cùng tôi nghĩ tới đấy.

Clara không hề tỏ ra đắc ý. Cô đổi chủ đề ngay lập tức. Nhưng cô đã khơi gợi cho cậu những suy nghĩ và cậu tin rằng cô có phần đúng. Cậu cảm thấy giống như một chủ nhà xưởng sau khi buộc tội một nhân viên gian lận lại phát hiện ra rằng chính con trai mình trong văn phòng mới là kẻ đang sửa sổ sách mỗi tuần một lần. Ý chí tội nghiệp, bị đối xử tệ bạc mà cậu từng mang ra bêu riếu trước bản thân và bạn bè, đứng trước mặt cậu hoàn toàn vô tội, trong khi năng lực phán đoán của cậu lại thản nhiên bước vào tù cùng với con quỷ tinh nghịch không thể giam cầm mang tên trí tưởng tượng, đang nhảy múa cười cợt bên cạnh. Lời khuyên của Clara là lời khuyên duy nhất mà cậu từng chủ động xin ý kiến mà không tự mình áp đặt sẵn câu trả lời – ngoại trừ, có lẽ, trong những cuộc trò chuyện với Đức Giám mục Darcy.

Cậu thích làm bất cứ việc gì cùng Clara biết bao! Đi mua sắm cùng cô là một giấc mơ hiếm hoi mang hương vị hưởng lạc. Ở mọi cửa hàng cô từng lui tới, người ta đều thì thầm bàn tán về cô như một nàng Clara xinh đẹp.

– Tao cá là ả sẽ không ở vậy lâu đâu.

– Thôi đừng có gào lên thế. Người ta có cần lời khuyên của mày đâu.

– Xinh vãi chưởng ra ấy chứ!

(Một nhân viên quản lý tầng bước tới – im lặng cho đến khi anh ta bước qua, miệng mỉm cười.)

– Người ở tầng lớp thượng lưu phải không mày?

– Ừ, nhưng chắc giờ nghèo rồi; nghe đồn thế.

– Trời đất! Mấy đứa ơi, em này nuột phết nhờ!

Và Clara mỉm cười rạng rỡ với tất cả mọi người như nhau. Amory tin rằng những người buôn bán thường giảm giá cho cô, đôi khi cô biết và đôi khi không. Cậu biết cô ăn mặc rất đẹp, trong nhà lúc nào cũng có những thứ tốt nhất, và không thể tránh khỏi việc luôn được phục vụ bởi ít nhất là người quản lý tầng cao nhất.

Thỉnh thoảng họ sẽ cùng nhau đi nhà thờ vào Chủ nhật và cậu sẽ bước đi bên cạnh cô, tận hưởng đôi má ẩm ướt vì làn nước dịu nhẹ trong bầu không khí mới. Cô rất sùng đạo, vẫn luôn thế, và Chúa mới biết cô đã vươn tới những đỉnh cao nào và rút về cho mình bao nhiêu sức mạnh khi cô quỳ xuống và cúi mái tóc vàng vào ánh sáng hắt qua những ô cửa kính màu.

– Thánh Cecilia, – cậu bất chợt thốt lên thành tiếng, hoàn toàn vô thức, và mọi người quay lại nhìn trân trân, vị linh mục khựng lại giữa bài giảng còn Clara và Amory thì đỏ bừng cả mặt.

Đó cũng là Chủ nhật cuối cùng họ có với nhau, bởi vì cậu đã phá hỏng tất cả vào đêm đó. Cậu không thể kìm lại được.

Họ đang đi dạo qua chập choạng tháng Ba ấm áp hệt như tháng Sáu, và niềm vui tuổi trẻ ngập tràn tâm hồn khiến cậu cảm thấy mình phải thốt lên.

– Tớ nghĩ rằng, – cậu nói và giọng cậu run lên, – nếu tớ mất đi niềm tin vào cậu, tớ sẽ mất đi niềm tin vào Chúa.

Cô nhìn cậu với gương mặt giật mình đến mức cậu phải hỏi xem có chuyện gì.

– Không có gì, – cô chậm rãi nói, – chỉ là thế này: đã có năm người đàn ông nói điều đó với tớ trước đây, và nó làm tớ sợ hãi.

– Ôi Clara, đó là định mệnh của cậu sao!

Cô không đáp.

– Tớ cho rằng tình yêu đối với cậu là... – cậu bắt đầu.

Cô quay phắt lại như chớp.

– Tớ chưa từng yêu ai bao giờ.

Họ cứ thế bước đi, và cậu chậm rãi nhận ra cô đã thổ lộ với mình nhiều đến nhường nào... chưa từng yêu.... Cô bỗng trở thành một đứa con thuần túy của ánh sáng. Bản ngã của cậu rơi rụng khỏi bình diện của cô và cậu chỉ khao khát được chạm vào váy cô với sự thấu cảm gần như tương tự điều mà Giuse hẳn từng cảm thấy trước ý nghĩa vĩnh hằng của Đức Mẹ. Nhưng một cách máy móc hoàn toàn, cậu nghe thấy chính mình đang nói:

– Và anh yêu em – bất kỳ sự vĩ đại tiềm ẩn nào anh có đều là... ồ, anh không nói nổi nữa, nhưng Clara, nếu hai năm nữa anh trở lại trong một vị thế đủ sức cưới em—

Cô lắc đầu.

– Không, – cô nói; – tớ sẽ không bao giờ kết hôn nữa. Tớ có hai đứa con và tớ muốn giữ mình cho chúng. Tớ thích cậu – tớ thích tất cả những người đàn ông thông minh, cậu là người tớ thích nhất – nhưng cậu hiểu rõ tớ để biết rằng tớ sẽ không bao giờ cưới một gã thông minh đâu— – Cô đột ngột dừng lời.

– Amory.

– Gì thế?

– Cậu không yêu tớ đâu. Cậu chưa từng muốn cưới tớ bao giờ phải không?

– Đó là do ánh chiều tà, – cậu ngẩn ngơ nói. – Anh không có cảm giác như mình đang thốt ra thành tiếng. Nhưng anh yêu em – hoặc tôn sùng em – hoặc thờ phụng em—

– Lại thế nữa rồi – lướt qua cái danh mục cảm xúc của cậu trong vòng năm giây.

Cậu gượng cười.

– Đừng biến anh thành kẻ nhẹ dạ nông cạn thế chứ, Clara; đôi khi cậu làm người ta nản lòng thật đấy.

– Cậu không hề nhẹ dạ nông cạn chút nào đâu, – cô nói đầy tập trung, khoác lấy tay cậu và mở to đôi mắt – cậu có thể nhìn thấy sự ấm áp của chúng trong bóng tối đang nhạt dần. – Một kẻ nhẹ dạ là một lời từ chối vĩnh hằng.

– Có quá nhiều mùa xuân trong không gian – có quá nhiều sự ngọt ngào lười biếng trong trái tim cậu.

Cô buông tay cậu ra.

– Cậu ổn cả rồi, và tớ cảm thấy thật tuyệt vời. Cho tớ một điếu thuốc đi. Cậu chưa bao giờ thấy tớ hút thuốc đúng không? Nào, tớ có hút, khoảng một tháng một lần.

Và rồi cô gái tuyệt vời đó cùng Amory cắm cổ chạy về phía góc phố như hai đứa trẻ điên cuồng phát cuồng trong ánh hoàng hôn xanh nhạt.

– Tớ sẽ về quê vào ngày mai, – cô thông báo khi đứng thở hổn hển, an toàn bên kia ngọn đèn đường góc phố. – Những ngày này quá tuyệt vời để bỏ lỡ, mặc dù có lẽ tớ cảm nhận chúng rõ hơn khi ở thành phố.

– Ôi, Clara! – Amory thốt lên; – cậu sẽ là một ác quỷ thực thụ nếu Chúa uốn nắn tâm hồn cậu lệch đi một chút đấy!

– Có thể, – cô đáp; – nhưng tớ nghĩ là không đâu. Tớ chưa bao giờ thực sự nổi loạn và chưa từng như thế. Pha bộc phát nhỏ vừa rồi hoàn toàn thuần chất là mùa xuân thôi.

– Cả cậu nữa cũng vậy, – cậu bảo.

Lúc này họ đang rảo bước bên nhau.

– Không – cậu lại sai rồi, làm sao một kẻ sở hữu bộ óc tự nhận là uyên bác như cậu lại có thể liên tục sai lầm về tớ thế nhỉ? Tớ hoàn toàn trái ngược với mọi thứ mà mùa xuân từng đại diện. Thật là không may, nếu tớ trông có vẻ giống những gì làm hài lòng một gã nhà điêu khắc Hy Lạp ủy mị nào đó, nhưng tớ đảm bảo với cậu rằng nếu không vì cái mặt tiền này thì tớ đã là một nữ tu trầm mặc trong tu viện mà không có— – rồi cô bật cười chạy đi và âm thanh cất cao vọng lại với cậu trong lúc cậu lẽo đẽo theo sau – – những đứa con quý giá của tớ, những đứa mà tớ phải quay về để chăm nom đây.”

Cô là cô gái duy nhất cậu từng biết mà qua đó cậu có thể hiểu được tại sao một người đàn ông khác lại có thể được ưu ái hơn. Amory thường gặp những người vợ mà cậu từng biết khi họ còn là những thiếu nữ mới bước vào đời, và khi ngắm nhìn họ chăm chú, cậu tưởng tượng rằng mình tìm thấy điều gì đó trong gương mặt họ đang thốt lên:

– Ồ, giá mà mình tóm được cậu thì hay biết mấy! – Ôi, sự tự phụ tột cùng của đàn ông!

Nhưng đêm đó dường như là đêm của những vì sao, của những lời ca hát và tâm hồn rực rỡ của Clara vẫn tỏa sáng trên những con đường họ từng bước qua.

– Vàng, vàng là bầu trời – cậu ngâm nga với những vũng nước nhỏ. – Vàng là bầu trời, những nốt vàng từ những cây đàn măng-đô-lin bằng vàng, những phím đàn vàng của những cây vĩ cầm bằng vàng, tuyệt đẹp, ôi tuyệt đẹp đến mệt mỏi.... Những sợi chỉ từ chiếc giỏ bện, những kẻ phàm trần nào có giữ nổi; ôi vị thần trẻ tuổi ngông cuồng nào, ai kẻ biết hay cất lời hỏi?... ai có thể ban phát sắc vàng nhường ấy... qua...

AMORY TRỞ NÊN BỰC BỘI

Một cách chậm rãi và tất yếu, thế nhưng với một đợt sóng dồn dập vào phút chót, trong lúc Amory mải nói và mải mơ mộng, chiến tranh đã cuồn cuộn tràn lên bờ biển và cấy gội những bãi cát nơi Princeton từng vui đùa. Đêm nào nhà thi đấu cũng vang vọng tiếng giày đinh khi từng trung đội quét qua sàn nhà và xóa mờ các vạch sơn bóng rổ. Khi Amory đến Washington vào dịp cuối tuần tiếp theo, cậu bắt gặp bầu không khí khủng hoảng, để rồi nó biến thành sự ghê tởm khi ngồi trên toa tàu lửa quay về, bởi vì những chiếc giường nằm đối diện cậu đều bị chiếm giữ bởi những kẻ ngoại kiều hôi thối – những kẻ mà cậu đoán là người Hy Lạp, hoặc người Nga. Cậu nghĩ việc yêu nước sẽ dễ dàng biết bao đối với một chủng tộc thuần nhất, sẽ dễ dàng biết bao nếu được chiến đấu như cách các thuộc địa chiến đấu, hoặc như cách Liên minh miền Nam chiến đấu. Và đêm đó cậu chẳng tài nào chợp mắt nổi, chỉ nằm nghe bọn ngoại kiều cười hô hố và ngáy vang trong khi làm bầu không khí của toa tàu ngập tràn mùi hương nồng nặc của nước Mỹ tân thời.

Ở Princeton, mọi người đều nói đùa cợt trước mặt công chúng và tự nhủ thầm trong lòng rằng cái chết của họ ít ra cũng sẽ mang tính anh hùng. Đám sinh viên văn chương say sưa đọc Rupert Brooke; hội công tử bột lo lắng không biết chính phủ có cho phép mặc quân phục kiểu Anh dành cho sĩ quan hay không; một vài kẻ vô phương cứu chữa vì quá lười biếng thì viết thư cho những bộ phận mờ ám của Bộ Chiến tranh, tìm kiếm một chức sĩ quan nhàn hạ và một chỗ ngồi êm ái.

Rồi, sau một tuần, Amory gặp lại Burne và nhận ra ngay lập tức rằng tranh cãi sẽ chỉ là hoài công – Burne đã tuyên bố đứng về phía chủ nghĩa hòa bình. Các tạp chí xã hội chủ nghĩa, một lượng khổng lồ các tác phẩm của Tolstoy, cùng khát khao mãnh liệt của chính cậu ta về một lý tưởng có thể khơi dậy bất kỳ sức mạnh nào tiềm ẩn trong con người mình, cuối cùng đã khiến cậu ta quyết định ra sức truyền bá hòa bình như một lý tưởng chủ quan.

– Khi quân đội Đức tiến vào Bỉ, – cậu ta bắt đầu, – nếu cư dân ở đó vẫn bình thản tiếp tục công việc của họ, quân đội Đức đã bị làm cho tan rã trong—

– Tớ biết, – Amory ngắt lời, – tớ nghe hết mấy chuyện đó rồi. Nhưng tớ không định tranh luận về tuyên truyền với cậu đâu. Có khả năng là cậu đúng – nhưng dẫu vậy thì chúng ta đang đi trước hàng trăm năm so với thời điểm mà chủ nghĩa bất bạo động có thể chạm đến chúng ta như một thực tế.

– Nhưng, Amory, nghe tớ này—

– Burne, chúng ta chỉ cãi nhau thôi—

– Thôi được.

– Chỉ một điều thôi – tớ không đòi cậu phải nghĩ đến gia đình hay bạn bè, bởi vì tớ biết họ chẳng có chút trọng lượng nào với cậu so với ý thức trách nhiệm của cậu – nhưng, Burne, làm sao cậu biết chắc rằng những tờ tạp chí cậu đọc, những hội nhóm cậu gia nhập và những nhà lý tưởng chủ nghĩa mà cậu gặp gỡ không phải là đám tay sai của Đức?

– Vài người trong số họ thì đúng là thế rồi, đương nhiên.

– Làm sao cậu biết chắc họ không phải là đám thân Đức – chỉ là một lũ yếu đuối – mang những cái tên kiểu Do Thái gốc Đức.

– Đó chính là sự rủi ro, tất nhiên rồi, – cậu ta chậm rãi đáp. – Tớ có bao nhiêu phần trăm hành động theo lập trường này vì những lời tuyên truyền đã nghe, tớ không biết; đương nhiên tớ nghĩ đây là niềm tin sâu kín nhất trong tâm can mình – nó có vẻ như một con đường trải ra trước mắt tớ lúc này.

Tim Amory chùng xuống.

– Nhưng hãy nghĩ đến sự rẻ mạt của nó xem – chẳng có ai thực sự đem cậu ra làm vật tế thần vì tội làm người hòa bình cả – nó chỉ đẩy cậu vào đám tồi tệ nhất—

– Tớ nghi ngờ điều đó, – cậu ta ngắt lời.

– Chà, với tớ thì mọi thứ cứ mang cái mùi của cái xứ Bohemia ở New York ấy.

– Tớ hiểu ý cậu, và đó là lý do tại sao tớ chưa chắc mình sẽ đứng ra vận động.

– Cậu chỉ là một con người đơn độc, Burne – đi nói chuyện với những kẻ sẽ chẳng thèm lắng nghe – phung phí tất cả những gì Chúa đã ban cho cậu.

– Đó hẳn là điều mà Stephen từng nghĩ nhiều năm về trước. Nhưng ông ấy vẫn rao giảng bài giảng của mình và họ đã giết ông ấy. Hẳn lúc lâm ông ấy cũng nghĩ mọi thứ thật hoài phí làm sao. Nhưng cậu thấy đấy, tớ vẫn luôn cảm thấy cái chết của Stephen chính là sự kiện đã xảy ra với Phao-lô trên con đường tới Đa-mát, và thúc đẩy ông ấy đi rao giảng lời Chúa khắp muôn phương.

– Nói tiếp đi.

– Thế thôi – đây là nhiệm vụ đặc biệt của tớ. Ngay cả khi lúc này tớ chỉ là một con tốt – chỉ là kẻ bị hy sinh. Chúa ơi! Amory – cậu đừng có nghĩ là tớ thích tụi Đức nhé!

– Chà, tớ chẳng thể nói gì khác được – tớ đi đến tận cùng của mọi thứ logic về chủ nghĩa bất bạo động, và ở đó, giống như một khoảng giữa bị loại trừ, sừng sững bóng ma khổng lồ của con người như hắn vốn thế và sẽ mãi như thế. Và bóng ma này đứng ngay cạnh một bên là tất yếu logic của Tolstoy, và bên kia là tất yếu logic của Nietzsche— – Amory chợt ngắt lời. – Khi nào cậu đi?

– Tớ đi tuần tới.

– Chắc chắn tớ sẽ gặp cậu.

Khi bước đi, Amory có cảm giác rằng biểu cảm trên khuôn mặt Burne rất giống với vẻ mặt của Kerry khi anh nói lời tạm biệt dưới vòm cổng Blair Arch hai năm về trước. Amory buồn bã tự hỏi tại sao cậu chẳng bao giờ có thể dấn thân vào bất cứ việc gì với sự trung thực nguyên thủy như hai người họ.

– Burne là một kẻ cuồng tín, – cậu nói với Tom, – và cậu ta hoàn toàn sai lầm, hơn nữa, tớ nghiêng về ý kiến cho rằng cậu ta chỉ là một con tốt vô thức trong tay những nhà xuất bản vô chính phủ và đám vẫy cờ ăn tiền của Đức – nhưng cậu ta cứ ám ảnh tớ mãi – cứ thế bỏ lại tất cả mọi thứ có giá trị—

Burne ra đi trong một khung cảnh lặng lẽ mang tính kịch tính một tuần sau đó. Cậu bán hết mọi đồ đạc và ghé qua phòng để chào tạm biệt, cùng với một chiếc xe đạp cũ rích móp méo, thứ mà cậu dự định sẽ dùng để đạp xe về nhà ở Pennsylvania.

– Phê-rô Kẻ Ẩn Sĩ đang từ biệt Hồng y Richelieu đấy à, – Alec gợi ý, người đang ngồi thõng người trên bệ cửa sổ khi Burne và Amory bắt tay nhau.

Nhưng Amory không có tâm trạng cho chuyện đó, và khi nhìn thấy đôi chân dài của Burne đạp chiếc xe đạp lố bịch khuất dạng sau Tòa nhà Alexander, cậu biết mình sắp sửa trải qua một tuần tồi tệ. Không phải vì cậu hoài nghi cuộc chiến – nước Đức đại diện cho mọi thứ đáng ghê tởm đối với cậu; cho chủ nghĩa vật chất và sự điều hướng của một lực lượng vô luân khổng lồ; chỉ là gương mặt của Burne cứ bám lấy ký ức và cậu đã quá phát ngấy với bầu không khí cuồng loạn mà mình bắt đầu nghe thấy xung quanh.

– Rốt cuộc thì việc đùng đùng chỉ trích Goethe có ích gì cơ chứ, – cậu lớn tiếng cáu kỉnh với Alec và Tom. – Tại sao lại viết sách để chứng minh ông ta khơi mào chiến tranh – hay chứng minh cái gã Schiller ngu ngốc, bị đánh giá quá cao kia là một con quỷ trá hình?

– Cậu đã đọc tác phẩm nào của họ chưa? – Tom sắc sảo hỏi.

– Chưa, – Amory thừa nhận.

– Tớ cũng thế, – cậu ta vừa nói vừa cười.

– Mọi người cứ việc hò hét, – Alec điềm tĩnh nói, – nhưng Goethe vẫn nằm yên trên cái kệ quen thuộc trong thư viện đấy thôi – để làm chán ngấy bất cứ kẻ nào muốn đọc ông ta!

Amory dịu lại, và chủ đề đó chìm xuống.

– Cậu tính làm gì, Amory?

– Bộ binh hay không quân đây, tớ vẫn chưa quyết định được – tớ ghét máy móc, nhưng tất nhiên không quân mới là thứ dành cho tớ—

– Tớ cũng cảm thấy giống Amory, – Tom nói. – Bộ binh hay không quân – không quân nghe có vẻ là khía cạnh lãng mạn của chiến tranh, tất nhiên rồi – giống như kỵ binh ngày trước ấy mà; nhưng giống Amory, tớ chẳng phân biệt nổi mã lực với tay biên piston là cái quái gì.

Bằng cách nào đó, sự bất mãn của Amory với việc thiếu nhiệt huyết ở bản thân đã dồn tụ lại thành một nỗ lực đổ lỗi cho toàn bộ cuộc chiến lên đầu thế hệ tổ tiên của họ... tất cả những kẻ từng hò reo cổ vũ cho nước Đức vào năm 1870.... Toàn bộ đám tín đồ vật chất lộng hành, tất cả những kẻ thần thánh hóa khoa học và hiệu suất của người Đức. Thế là có hôm ngồi trong giờ giảng văn học Anh, nghe người ta ngâm nga câu thơ “Locksley Hall”, cậu chìm đắm trong một mớ suy tư trầm mặc với sự khinh miệt dành cho Tennyson cùng tất cả những gì ông đại diện – bởi vì cậu coi ông là đại diện tiêu biểu cho thời đại Nữ hoàng Victoria.

Hỡi thời Victoria, thời Victoria, chưa từng học cách khóc

Đã gieo thứ quả cay đắng để rồi con cháu các người phải gặt lấy—

Amory nguệch ngoạc viết vào sổ tay. Giảng viên đang giảng về sự vững chãi của Tennyson và năm mươi cái đầu đang cúi xuống chép bài. Amory lật sang một trang mới và bắt đầu nguệch ngoạc viết tiếp.

– Họ run rẩy khi phát hiện ra ngài Darwin đang mưu tính trò gì,

Họ run rẩy khi vũ điệu xập xình bước vào và Newman vội vã bước ra—

Nhưng vũ điệu xuất hiện sớm hơn nhiều; cậu gạch bỏ câu đó đi.

– Và mang tựa đề Một Bài Ca Trong Thời Kỳ Trật tự, – giọng vị giáo sư vang lên, vang vọng từ đằng xa. – “Thời Kỳ Trật tự” – Chúa tôi! Mọi thứ bị nhét gọn vào một chiếc hộp và đám người thời Victoria ngồi lên trên nắp mỉm cười thanh thản.... Với Browning trong biệt thự ở Ý đang dũng cảm kêu lên: “Mọi chuyện đều tốt đẹp cả.” Amory lại nguệch ngoạc viết.

– Các người quỳ gối trong đền thờ và Ngài cúi xuống lắng nghe lời cầu nguyện,

Các người cảm tạ Ngài vì những “thành quả vinh quang” – lại trách móc Ngài vì “Cathay”.

Sao cậu chẳng bao giờ viết được quá một cặp câu thơ cùng một lúc thế nhỉ? Giờ thì cậu cần một từ gì đó vần với:

– Các người muốn nắn Ngài đi đúng hướng bằng khoa học, dẫu trước đó Ngài đã đi lệch đường...

Thôi kệ đi....

– Các người gặp gỡ con cháu trong nhà – “Ta sắp xếp ổn thỏa cả rồi!” các người la lớn,

Đã ôm lấy năm mươi năm châu Âu của mình, rồi ra điều đức hạnh – chết đi.

– Đó phần lớn là tư tưởng của Tennyson, – giọng giảng viên vang lên. – Bài Ca Trong Thời Kỳ Trật Tự của Swinburne hoàn toàn có thể là tựa đề của Tennyson. Ông ấy lý tưởng hóa trật tự chống lại sự hỗn loạn, chống lại sự lãng phí.

Cuối cùng Amory cũng tìm ra ý tưởng. Cậu lật sang một trang khác và viết nguệch ngoạc một cách hăng say trong hai mươi phút còn lại của giờ học. Sau đó, cậu bước lên bàn giảng và đặt một trang giấy xé từ sổ tay của mình xuống.

– Thưa thầy, đây là một bài thơ gửi thời Victoria ạ, – cậu lạnh lùng nói.

Vị giáo sư tò mò cầm nó lên trong khi Amory nhanh chóng lùi bước ra cửa.

Đây là những gì cậu đã viết:

“Những khúc ca trong thời kỳ trật tự

Các người để lại cho chúng ta cất tiếng ca,

Những chứng minh với khoảng giữa bị loại trừ,

Những câu trả lời cho cuộc đời bằng vần điệu,

Những chiếc chìa khóa của ngục thất nhà tù

Và những tiếng chuông cổ xưa để rung lên,

Thời gian là điểm tận cùng của những câu đố,

Chúng ta là điểm tận cùng của thời gian...

Ở đây có những đại dương trong nhà

Và một bầu trời mà chúng ta có thể với tới,

Súng ống và một đường biên giới được canh gác,

Những chiếc găng sắt – nhưng không phải để ném đi,

Hàng ngàn xúc cảm cổ xưa

Và một câu nói sáo rỗng cho mỗi xúc cảm ấy,

Những khúc ca trong thời kỳ trật tự –

Và những chiếc lưỡi, để chúng ta cất tiếng ca.”

HỒI KẾT CỦA RẤT NHIỀU THỨ

Đầu tháng Tư trôi qua trong một lớp sương mù – lớp sương mù của những buổi tối dài dằng dặc trên hiên câu lạc bộ với chiếc máy hát phát vang khúc “Poor Butterfly” bên trong... bởi vì “Poor Butterfly” đã trở thành giai điệu của năm cuối cùng đó. Chiến tranh dường như hầu như chẳng chạm tới họ và nó có thể đã giống như bất kỳ mùa xuân năm cuối nào trong quá khứ, ngoại trừ những buổi tập luyện quân sự cách ngày, thế nhưng Amory nhận thức một cách nhói lòng rằng đây chính là mùa xuân cuối cùng dưới chế độ cũ.

– Đây chính là lời phản kháng vĩ đại chống lại siêu nhân, – Amory nói.

– Chắc vậy rồi, – Alec đồng tình.

– Hắn ta hoàn toàn không thể dung hòa với bất kỳ Xứ sở Không tưởng nào. Chừng nào hắn còn xuất hiện, chừng đó còn rắc rối và tất cả những cái ác tiềm ẩn khiến đám đông nghiêng ngả theo tiếng nói của hắn.

– Và tất nhiên bản chất của hắn chỉ là một kẻ có tài năng nhưng thiếu đi ý thức đạo đức.

– Chỉ thế thôi. Tớ nghĩ điều tồi tệ nhất cần phải suy ngẫm chính là điều này – tất cả những chuyện này đã từng xảy ra trước đây, vậy bao lâu nữa nó sẽ lặp lại? Năm mươi năm sau trận Waterloo, Napoleon vẫn là một người anh hùng trong mắt học sinh Anh quốc chẳng kém gì Wellington. Làm sao chúng ta biết được con cháu chúng ta sẽ không thần thánh hóa Von Hindenburg theo cùng một cách như thế?

– Điều gì tạo nên những chuyện đó?

– Thời gian, khỉ thật ạ, và nhà sử học. Giá như chúng ta có thể học cách nhìn nhận cái ác đúng bản chất của nó, dù nó được khoác lên vẻ bẩn thỉu, sự tẻ nhạt hay nét vĩ đại.

– Chúa ơi! Chẳng lẽ chúng ta chưa xới tung cả vũ trụ này lên trong bốn năm qua rồi sao?

Rồi đêm định mệnh là đêm cuối cùng cũng đến. Tom và Amory, sáng hôm sau sẽ lên đường đến các trại huấn luyện khác nhau, rảo bước trên những lối đi mờ ảo như thường lệ và có cảm giác như vẫn thấy xung quanh mình gương mặt của những người quen.

– Đêm nay thảm cỏ đầy ắp những bóng ma.

– Cả khuôn viên trường ngập tràn hình bóng họ.

Họ dừng chân bên tòa nhà Little và ngắm trăng mọc, nhuộm bạc mái ngói đá của Dodd và phủ sắc xanh lên những tán lá xào xạc.

– Cậu biết không, – Tom thì thầm, – những gì chúng ta cảm nhận lúc này chính là ý thức về toàn bộ tuổi trẻ lẫy lừng từng quậy phá tung hoành ở đây trong suốt hai trăm năm qua.

Một đợt khúc ca cuối cùng trào dâng từ vòm cổng Blair Arch – những giọng hát đứt quãng cho một cuộc chia ly kéo dài.

– Và những gì chúng ta để lại đây còn lớn lao hơn cả khóa học này; đó là toàn bộ di sản của tuổi trẻ. Chúng ta chỉ là một thế hệ – chúng ta đang đứt gãy mọi mối liên kết từng trói buộc chúng ta ở đây với những thế hệ đi giày bốt cao và cổ áo cứng đờ. Chúng ta đã bước đi sánh vai cùng Burr và Light-Horse Harry Lee qua một nửa những đêm xanh thẳm này.

– Đúng là chúng xanh thẳm thật, – Tom chuyển hướng câu chuyện, – một chút màu sắc nữa thôi cũng sẽ làm hỏng chúng, làm chúng trở nên ngoại lai. Những ngọn tháp gầy guộc chĩa vào bầu trời là lời hứa hẹn của bình minh, và ánh sáng xanh lam trên những mái ngói đá – thật nhói lòng... hơi chút tiếc nuối—

– Tạm biệt nhé, Aaron Burr, – Amory cất giọng hướng về tòa nhà Nassau Hall vắng lặng, – cậu và tớ đã từng biết những góc khuất kỳ lạ của cuộc đời.

Giọng cậu vọng lại trong sự tĩnh lặng.

– Những ngọn đuốc đã tắt rồi, – Tom thì thầm. – À, Messalina thân mến, những chiếc bóng dài đang dựng lên những ngọn tháp nhọn trên sân vận động—

Trong chốc lát, âm thanh của những ngày tân sinh viên ùa về bao quanh họ rồi họ nhìn nhau với làn nước mắt mờ nhạt trong khóe mi.

– Chết tiệt!

– Chết tiệt!

Ánh sáng cuối cùng phai dần và trôi dạt khắp đất trời – mảnh đất thấp dài, mảnh đất đầy nắng của những ngọn tháp; những bóng ma buổi chiều tối lại tấu lên cung đàn và lang thang ca hát thành một đoàn người than khóc dọc theo những hành lang cây dài; những ngọn lửa nhạt nhòa vang vọng màn đêm từ đỉnh tháp này sang đỉnh tháp khác: Ôi, giấc ngủ mang theo những giấc mơ, và giấc mơ chẳng bao giờ mệt mỏi, hãy vắt kiệt từ những cánh hoa sen một chút gì đó để giữ lấy, bản chất của một khoảng thời gian.

Không còn phải chờ đợi ánh hoàng hôn của vầng trăng trong thung lũng cô tịch toàn sao và tháp nhọn này nữa, vì một buổi sáng vĩnh hằng của những khao khát đang trôi qua vào thời gian và buổi chiều trần thế. Ở đây, hỡi Heraclitus, ngài có tìm thấy trong lửa và những đổi thay lời tiên tri mà ngài từng ném qua những năm tháng chết chóc; nửa đêm này khát vọng của tôi sẽ nhìn thấy, ẩn hiện giữa những tàn lửa, cuộn tròn trong ngọn lửa, vẻ huy hoàng và nỗi buồn của thế giới.

Nguồn: Việt Nam Thư Quán dịch từ Project Gutenberg
Được bạn: Mọt Sách đưa lên
vào ngày: 3 tháng 11 năm 2026

« Lùi Tiến »

💬 Thảo luận

Chưa có bình luận nào — hãy là người đầu tiên chia sẻ cảm nhận của bạn!

Đăng nhập để tham gia bình luận.