Bên Kia Thiên Đường

Lượt đọc: 47 | 0 Đánh giá: 0/10 Sao
★★★★★★★★★★
★★★★★★★★★★
« Lùi Tiến »
Chương 3
Kẻ Ngã Mạn Suy Ngẫm

❊ ❊ ❊

“Ái chà! Thả tôi ra!”

Cậu buông thõng hai tay xuống.

“Sao thế?”

“Cái khuy măng-séc áo của anh—nó cào đau em này—nhìn xem!” Cô cúi nhìn xuống chiếc cổ, nơi một vết thâm nhỏ cỡ hạt đậu đang làm lu mờ đi làn da trắng ngần.

“Ồ, Isabelle,” cậu tự trách mình, “anh đúng là một gã ngốc nghếch. Thật sự anh xin lỗi—lẽ ra anh không nên ôm em sát thế.”

Cô ngước lên vẻ sốt ruột.

“Ồ, Amory, tất nhiên là anh đâu cố ý, và nó cũng chẳng đau mấy; nhưng chúng ta phải tính sao đây?”

“Tính sao ư?” cậu hỏi. “À—cái vết đó ấy mà; nó sẽ biến mất trong chốc lát thôi.”

“Nó không biến mất đâu,” cô nói sau một thoáng chăm chú quan sát, “nó vẫn còn kìa—và trông chẳng khác nào lão Xatan—ồ, Amory, tụi mình phải làm sao đây! Nó nằm đúng ngay tầm vai anh.”

“Xoa nó đi,” cậu gợi ý, cố nén lại nụ cười suýt bật ra.

Cô nhẹ nhàng dùng đầu ngón tay xoa lên chỗ đau, rồi một giọt nước mắt bỗng ứa ra khóe mắt, lăn dài trên má.

“Ồ, Amory,” cô nói đầy tuyệt vọng, ngước gương mặt vô cùng đáng thương lên, “em mà xoa nữa là cả cái cổ này đỏ bừng lên mất. Em phải làm sao đây?”

Một câu thơ vụt hiện lên trong đầu khiến cậu không sao kiềm chế được mà đọc lớn lên.

“Tất cả nước hoa xứ Ả Rập cũng không thể làm trắng nổi bàn tay nhỏ bé này.”

Cô ngước nhìn lên, ánh long lanh của giọt nước mắt trong mắt cô lạnh lẽo như băng.

“Anh chẳng có chút cảm thông nào cả.”

Amory đã hiểu lầm ý cô.

“Isabelle, mình yêu, anh nghĩ là nó—”

“Đừng chạm vào em!” cô hét lên. “Trong lòng em đã bao chuyện rối bời vậy mà anh còn đứng đó mà cười được cơ chứ!”

Thế là cậu lại lỡ lời.

“Thì, chuyện đó buồn cười thật mà, Isabelle, với lại hôm nọ chúng ta chẳng bàn về việc có khiếu hài hước là—”

Cô nhìn cậu với một vẻ không hẳn là nụ cười, mà đúng hơn là âm hưởng mờ nhạt, trống rỗng của một nụ cười đọng lại ở khóe môi.

“Ồ, câm miệng đi!” cô thình lình quát lên, rồi quay đầu chạy biến dọc hành lang về phòng mình. Amory đứng chết trân ở đó, ngập chìm trong sự bối rối và hối hận.

“Khỉ thật!”

Khi Isabelle quay trở lại, cô đã khoác hờ một chiếc khăn mỏng trên vai, và hai người lặng lẽ bước xuống cầu thang, sự im lặng kéo dài suốt bữa tối.

“Isabelle,” cậu bắt đầu có vẻ bực bội khi họ đã ngồi lên xe để đến dự buổi khiêu vũ tại Câu lạc bộ Đồng quê Greenwich, “em đang giận đấy, và chỉ một lát nữa là anh cũng nổi giận theo thôi. Thôi nào, làm lành đi em.”

Isabelle đăm chiêu vẻ khó chịu.

“Em ghét bị đem ra làm trò cười,” cuối cùng cô nói.

“Anh không cười nữa đâu. Anh có đang cười đâu nào?”

“Anh vừa cười xong.”

“Ồ, đừng có ra vẻ nữ tính khó ưa thế chứ.”

Môi cô khẽ cong lên.

“Em muốn thế nào thì thế.”

Amory phải chật vật lắm mới kìm được cơn giận. Cậu chợt nhận ra rằng mình chẳng hề có chút tình cảm thật lòng nào dành cho Isabelle, nhưng sự lạnh lùng của cô lại khơi gợi lòng hiếu thắng trong cậu. Cậu muốn hôn cô, hôn thật nhiều, bởi vì khi đó cậu biết mình có thể ra đi vào buổi sáng hôm sau mà chẳng mảy may bận tâm. Ngược lại, nếu cậu không hôn cô, điều đó sẽ khiến cậu bứt rứt... Nó sẽ ngấm ngầm làm tổn hại đến hình ảnh của cậu về một kẻ chinh phu bách chiến bách thắng. Thật chẳng ra thể thống gì nếu phải chịu thua kém và nài nỉ trước một nữ chiến binh dũng mãnh như Isabelle.

Có lẽ cô đã đoán được điều đó. Dù thế nào đi nữa, Amory đành ngậm ngùi chứng kiến đêm lẽ ra phải là đỉnh êm đềm của sự lãng mạn trôi qua, với những con bướm đêm dập dờn trên đầu và hương thơm ngào ngạt từ những khu vườn ven đường, nhưng hoàn toàn vắng bóng những lời thì thầm đứt quãng, những tiếng thở dài khe khẽ...

Sau đó, họ ăn khuya bằng bánh gừng và nước ngọt vị gừng trong phòng chứa đồ ăn, rồi Amory đưa ra quyết định.

“Sáng mai anh đi sớm.”

“Sao cơ?”

“Sao lại không?” cậu vặn lại.

“Chẳng có lý do gì cả.”

“Dù sao thì anh vẫn đi.”

“Được thôi, nếu anh cứ khăng khăng cư xử một cách lố bịch như thế—”

“Ồ, đừng nói thế chứ,” cậu phản đối.

“—chỉ vì em không cho anh hôn. Anh nghĩ là—”

“Này Isabelle,” cậu ngắt lời, “em thừa biết không phải vì chuyện đó—cho dù có là thế đi nữa. Chúng ta đã bước đến giai đoạn mà hoặc là phải hôn nhau—hoặc là—hoặc là chẳng có gì cả. Đâu phải em từ chối vì những lý do đạo đức.”

Cô ngập ngừng.

“Thật sự em chẳng biết phải nghĩ sao về anh nữa,” cô mở đầu, tỏ vẻ yếu ớt và ương bướng trong một nỗ lực làm hòa gượng gạo. “Anh buồn cười lắm cơ.”

“Sao lại buồn cười?”

“Thì, em cứ tưởng anh là kẻ vô cùng tự tin chứ, nhớ hôm nọ anh bảo rằng anh có thể làm bất cứ điều gì anh muốn, hoặc đạt được bất cứ thứ gì anh thích cơ mà?”

Amory đỏ bừng mặt. Cậu đã ba hoa với cô đủ điều.

“Đúng thế.”

“Thế mà tối nay trông anh chẳng có vẻ gì là tự tin cả. Có khi anh chỉ là một kẻ kiêu ngạo rỗng tuếch thôi.”

“Không, anh không phải thế,” cậu ngập ngừng. “Ở Princeton—”

“Ôi, anh và cái xứ Princeton! Cứ nghe cách anh nói thì khối kẻ tưởng đó là cả thế giới rồi ấy chứ! Có thể anh viết văn giỏi hơn bất cứ ai trên tờ Princetonian cũ rích của anh; có thể mấy tên sinh viên năm nhất nghĩ rằng anh là nhân vật ghê gớm lắm—”

“Em không hiểu—”

“Có, em hiểu chứ,” cô ngắt lời. “Em hiểu rõ là đằng khác, bởi vì lúc nào anh cũng chỉ nói về bản thân mình, và trước kia em còn thấy thích điều đó; nhưng giờ thì không.”

“Tối nay anh có làm thế đâu?”

“Đó mới là vấn đề,” Isabelle khăng khăng. “Tối nay anh cứ làm mình làm mẩy lên đấy thôi. Anh chỉ ngồi đó và nhìn chằm chằm vào mắt em. Hơn nữa, lúc nào em cũng phải vắt óc suy nghĩ khi nói chuyện với anh—anh săm soi quá mức rồi đấy.”

“Anh làm em phải suy nghĩ cơ à?” Amory lặp lại với một chút tự đắc.

“Anh làm em căng thẳng thần kinh đấy”—câu này được nhấn mạnh rất dứt khoát—“và khi anh cứ phân tích từng cảm xúc hay bản năng vụn vặt nào của em, thì em chẳng còn cảm giác gì nữa.”

“Anh biết.” Amory thừa nhận và bất lực lắc đầu.

“Chúng ta đi thôi.” Cô đứng dậy.

Cậu thẫn thờ đứng lên và hai người bước về phía chân cầu thang.

“Anh có thể đi chuyến tàu nào?”

“Có một chuyến khoảng 9 giờ 11 phút nếu anh thực sự phải đi.”

“Ừ, anh phải đi thật rồi. Chúc ngủ ngon.”

“Chúc ngủ ngon.”

Họ đã lên đến đầu cầu thang, và khi Amory quay về phòng mình, cậu ngỡ như thoáng bắt gặp một bóng mây bất mãn vương trên nét mặt cô. Cậu nằm thức trằn trọc trong bóng đêm, tự hỏi bản thân quan tâm đến mức nào—bao nhiêu phần trong nỗi bất hạnh bất chợt này xuất phát từ lòng tự trọng bị tổn thương—rằng rốt cuộc, có phải cấu trúc tâm lý của cậu vốn không hợp với sự lãng mạn hay không.

Khi tỉnh giấc, một nguồn năng lượng ngập tràn niềm hân hoan ùa về trong tâm thức. Cơn gió sớm lay động tấm rèm vải chintz bên cửa sổ, và cậu ngẩn ngơ tự hỏi sao mình lại không ở trong phòng tại Princeton, với bức ảnh đội bóng bầu dục của trường treo trên chiếc tủ có gương và câu lạc bộ Triangle treo ở bức tường đối diện. Đúng lúc đó, chiếc đồng hồ quả lắc ở ngoài hành lang điểm tám giờ, kéo theo ký ức về đêm hôm trước ùa về. Cậu vùng dậy, mặc quần áo nhanh như chớp; cậu phải chuồn khỏi ngôi nhà này trước khi chạm mặt Isabelle. Điều từng có vẻ như một biến cố đượm buồn giờ đây lại tựa như một sự tụt hăng hái đầy chán ngán. Cậu mặc xong đồ lúc tám giờ rưỡi,èn ngồi xuống bên cửa sổ; cảm thấy những thớ thịt trong lồng ngực như thắt lại hơn so với tưởng tượng. Buổi sáng mới thật trớ trêu làm sao!—tươi sáng, ngập tràn nắng vàng và thoang thoảng mùi hương của khu vườn; nghe thấy tiếng bà Borge vọng lên từ phòng khách kính ở tầng dưới, cậu tự hỏi không biết Isabelle đang ở đâu.

Có tiếng gõ cửa.

“Thưa cậu, xe sẽ đến đón vào lúc chín giờ kém mười ạ.”

Cậu quay lại ngắm cảnh vật bên ngoài, rồi cứ thế lặp đi lặp lại một cách máy móc một đoạn thơ của Browning mà thuở trước cậu từng trích dẫn trong thư gửi Isabelle:

“Mỗi đời người lỡ dở, em xem,

Vẫn chắp vá dở dang buồn thảm;

Chưa thở dài, chưa cười thỏa mãn,

Chưa đói lòng, tiệc tùng, tuyệt vọng—đã vui sao.”

Nhưng cuộc đời cậu sẽ không dở dang thế đâu. Cậu tìm thấy một niềm thỏa mãn u sầu khi nghĩ rằng có lẽ từ trước đến nay, Isabelle chẳng là gì ngoài những hình mẫu mà cậu tự áp đặt lên cô; rằng đây chính là đỉnh cao của cô, và sẽ chẳng có ai khác khiến cô biết suy nghĩ nữa. Dù vậy, đó lại chính là điều cô từng phàn nàn ở cậu; và Amory bỗng cảm thấy mệt mỏi với việc tư duy, suy nghĩ mãi!

“Khỉ thật!” cậu cay đắng thốt lên, “cô ta đã phá hỏng cả năm của tôi!”

SIÊU NHÂN TRỞ NÊN BẤT CẨN

Vào một ngày tháng Chín bụi bặm, Amory trở lại Princeton và hòa vào đám đông nhễ nhại mồ hôi gồm những sinh viên đang nợ môn bủa vây khắp các con phố. Khởi đầu năm học thượng viện bằng việc dành bốn tiếng mỗi buổi sáng trong căn phòng ngột ngạt của một lò luyện thi, hít hà sự chán ngắt vô tận của các đường cong conics, quả là một cách tẻ nhạt. Ông Rooney, kẻ chuyên dắt mối cho đám học trò đần độn, điều hành lớp học và phì phèo vô số điếu thuốc Pall Malls trong lúc vẽ biểu đồ cùng các phương trình từ sáu giờ sáng cho đến tận nửa đêm.

“Nào, Langueduc, nếu thầy dùng công thức đó, thì điểm A của thầy sẽ nằm ở đâu?”

Langueduc uể oải xoay trở thân hình cao sáu thước ba của một cầu thủ bóng bầu dục và cố tập trung tư tưởng.

“Ạ... ừm... quái quỷ gì chứ em chịu chết, thưa thầy Rooney.”

“Ồ, sao lại thế được, tất nhiên là trò không thể dùng công thức đó rồi. Đó mới là điều thầy muốn trò trả lời chứ lị.”

“Vâng, tất nhiên rồi ạ.”

“Trò có hiểu tại sao không?”

“Dạ rõ—em nghĩ thế.”

“Nếu không hiểu thì cứ bảo thầy. Thầy ở đây là để giảng cho các trò mà.”

“Thưa thầy Rooney, nếu thầy không phiền, em ước gì thầy giảng lại đoạn đó lần nữa.”

“Sẵn sàng thôi. Nào, đây là điểm ‘A’...”

Căn phòng là một bức tranh sống động về sự đần độn—hai giá vẽ giấy lớn, ông Rooney tay áo xắn cao đứng trước lớp, và xung quanh là chục gã sinh viên đang ngả ngớn trên ghế: Fred Sloane, tay ném bóng bằng mọi giá phải đạt đủ điều kiện thi đấu; “Slim” Langueduc, người sẽ đánh bại Yale vào mùa thu này nếu như lão ta có thể vớt vát nổi năm mươi phần trăm điểm số; McDowell, gã sinh viên năm hai ăn chơi tơi bời, kẻ cho rằng việc đến đây ôn thi cùng với đám vận động viên nổi tiếng này là một điều gì đó rất oai.

“Tôi chỉ tội nghiệp cho mấy cái thây nghèo kiết xác chẳng có nổi một xu để thuê gia sư, cứ phải cắm cổ học ngấu nghiến suốt học kỳ thôi,” hắn tuyên bố với Amory một hôm, điệu bộ suồng sã thể hiện qua điếu thuốc lủng lẳng nơi khóe môi nhợt nhạt. “Tôi cứ nghĩ học hành thế thì chán chết, ở New York trong kỳ học có bao nhiêu thứ vui để chơi cơ mà. Chắc tụi nó chẳng biết mình đã bỏ lỡ những gì đâu.” Ở con người McDowell tỏa ra thứ bầu không khí “cậu với tớ” nồng nặc đến mức Amory suýt nữa thì tống cổ hắn ra khỏi khung cửa sổ đang mở khi nghe hắn thốt lên câu đó... Tháng Hai tới thể nào mẹ hắn cũng phải thắc mắc sao hắn không gia nhập được câu lạc bộ nào để rồi lại phải xin tăng tiền tiêu vặt... một thằng nhóc đần độn chính hiệu...

Xuyên qua làn khói thuốc và bầu không khí trang nghiêm, đặc quánh vẻ vụ lợi bao trùm căn phòng, lại vang lên tiếng kêu bất lực quen thuộc:

“Em chẳng hiểu gì sất! Giảng lại đi thầy Rooney ơi!” Hầu hết bọn họ đều quá ngốc nghếch hoặc bất cẩn đến mức chẳng dám thừa nhận khi mình không hiểu bài, và Amory cũng thuộc tuồng người thứ hai. Cậu thấy việc học các đường cong conics là bất khả thi; một thứ gì đó điềm tĩnh và đầy trêu ngươi phảng phất vẻ đáng kính phản kháng một cách ngạo mạn xuyên qua căn phòng khách nồng nặc mùi của ông Rooney đã bóp méo các phương trình thành những câu đố chữ vô phương giải đáp. Cậu dồn chút sức lực cuối cùng của đêm hôm trước với chiếc khăn ướt huyền thoại, rồi phó mặc cho số phận bước vào phòng thi với tâm trạng phơi phới, thầm tự hỏi không hiểu tại sao mọi sắc màu và hoài bão của mùa xuân trước lại phai nhạt đi đâu mất. Chẳng hiểu sao, sự ra đi của Isabelle đã khiến ý tưởng về vinh quang thời sinh viên tuột khỏi tầm với của trí tưởng tượng, và cậu bình thản đón nhận khả năng trượt môn điều kiện của mình, dẫu cho điều đó đồng nghĩa với việc cậu sẽ bị loại khỏi ban biên tập tờ Princetonian và chấm dứt mọi cơ hội bước vào Hội đồng Sinh viên.

Và dẫu sao thì cậu vẫn còn có vận may.

Cậu ngáp dài, nguệch ngoạc viết lời tuyên thệ danh dự lên trang bìa rồi thong thả bước ra khỏi phòng.

“Nếu cậu mà trượt môn này,” Alec mới đến ngồi trên bệ cửa sổ phòng Amory và ngắm nghía kế hoạch trang trí tường nhà nói, “thì cậu đúng là gã ngốc tệ hại nhất hành tinh. Cổ phiếu của cậu sẽ cắm đầu lao dốc như thang máy ở câu lạc bộ và cả trong khuôn viên trường cho mà xem.”

“Mả bố cậu, tớ biết thừa rồi. Còn nhai đi nhai lại làm gì?”

“Tại cậu đáng đời thế. Bất cứ ai dám đánh đổi những gì cậu từng có cơ hội nắm giữ đều đáng bị truất quyền ứng cử chủ tịch tờ Princetonian.”

“Thôi dẹp chủ đề này đi,” Amory phản đối. “Cứ chờ đấy mà xem rồi ngậm miệng lại. Tớ không muốn ngày nào ở câu lạc bộ cũng có kẻ xúm lại hỏi han vụ này, cứ như tớ là củ khoai tây đem đi triển lãm hội chợ nông nghiệp không bằng.” Một buổi tối tuần sau đó, trên đường đến tiệm Renwick’s, Amory dừng lại dưới cửa sổ phòng mình, thoáng thấy ánh đèn bèn gọi vọng lên:

“Này Tom, có thư từ gì không?”

Đầu Alec ló ra khỏi khung cửa vuông vức ngập ánh vàng.

“Có chứ, kết quả của cậu về rồi đây.”

Tim cậu đập thình thịch dữ dội.

“Thế nào, xanh hay hồng?”

“Chịu. Tốt nhất là lên đây đi.”

Cậu bước vào phòng, tiến thẳng tới chiếc bàn, rồi chợt nhận ra có những kẻ khác đang ở đây.

“Chào Kerry.” Cậu cực kỳ lịch sự. “À, mấy chiến hữu ở Princeton.” Trông bọn họ hầu hết toàn là bạn bè, vì thế cậu cầm lấy phong thư đề chữ “Văn phòng Đăng ký” và bồn chồn cân nhắc nó trên tay.

“Chúng ta đang có ở đây một mẩu giấy kha khá đấy.”

“Mở ra đi, Amory.”

“Cho ra vẻ kịch tính một chút, tớ xin thông báo là nếu giấy màu xanh, tên tớ sẽ bị rút khỏi ban biên tập tờ Prince, và sự nghiệp ngắn ngủi của tớ đến đây là chấm hết.”

Cậu khựng lại, rồi lần đầu tiên nhìn thấy ánh mắt thèm thuồng của Ferrenby đang hồi hộp dõi theo mình. Amory nhìn thẳng lại đối phương đầy khiêu khích.

“Hỡi các quý ông, hãy quan sát gương mặt tôi để thấy những cảm xúc nguyên thủy nhất nào.”

Cậu xé toạc phong thư và giơ mẩu giấy lên hướng ánh đèn.

“Sao rồi?”

“Hồng hay xanh?”

“Nói nhanh xem nào.”

“Tụi này đang căng tai hóng đây, Amory.”

“Cười hay chửi đi—hoặc làm gì đi chứ.”

Một khoảng lặng trôi qua... một chuỗi những giây ngắn ngủi trôi vèo qua... rồi cậu nhìn lại lần nữa và thêm một chuỗi khoảnh khắc nữa chìm vào quá khứ.

“Xanh như bầu trời luôn các cậu ạ....”

HẬU QUẢ

Những gì Amory làm trong suốt năm đó, từ đầu tháng Chín cho đến tận cuối mùa xuân, vô mục đích và rời rạc đến mức chẳng đáng để ghi chép lại. Tất nhiên, cậu lập tức cảm thấy hối hận vì những gì đã đánh mất. Triết lý thành công của cậu đã sụp đổ tơi bời, và cậu bắt đầu đi tìm nguyên nhân.

“Do sự lười biếng của chính cậu thôi,” Alec nói sau đó.

“Không—còn sâu xa hơn thế. Tớ bắt đầu cảm thấy mình được định sẵn là phải đánh mất cơ hội này.”

“Ở câu lạc bộ họ không mấy thiện cảm với cậu đâu, biết không; mỗi một tên không vượt qua được kỳ thi lại khiến phe chúng ta suy yếu đi từng ấy.”

“Tớ ghét cái quan điểm đó.”

“Tất nhiên, nếu cố gắng một chút thì cậu vẫn có thể lội ngược dòng mà.”

“Không—tớ hết thời rồi—xét trên phương diện trở thành một thế lực ở trường đại học.”

“Nhưng mà Amory, thật tình thì điều khiến tớ tức điên lên không phải việc cậu không được làm chủ tịch tờ Prince hay ngồi vào Hội đồng Sinh viên, mà là vì cậu đã không chịu cắm cổ vào ôn để qua cái kỳ thi đó.”

“Không phải tớ,” Amory chậm rãi đáp; “tớ bực mình cái sự việc rành rành ra kia kìa. Sự lười biếng của tớ hoàn toàn phù hợp với hệ thống của tớ, chỉ có điều vận may lại gãy gánh giữa đường.” ý cậu là hệ thống của cậu sập tiệm thì có.”

“Có lẽ thế.”

“Thế giờ cậu định làm gì? Kiếm cái hệ thống nào khá khẩm hơn nhanh lên, hay cứ lêu lổng làm một kẻ hết thời trong hai năm nữa đây?”

“Tớ chưa biết nữa...”

“Ôi, Amory, xốc lại tinh thần đi chứ!”

“Biết đâu đấy.”

Quan điểm của Amory, dẫu nguy hiểm, nhưng lại không cách xa sự thật là mấy. Nếu những phản ứng của cậu trước hoàn cảnh sống được lập thành bảng, biểu đồ hẳn sẽ trông như thế này, bắt đầu từ những năm tháng thơ ấu:

1. Bản ngã nguyên thủy của Amory.

2. Amory cộng với Beatrice.

3. Amory cộng với Beatrice cộng với Minneapolis.

Rồi St. Regis đã nhào nặn cậu và bắt đầu lại từ đầu:

4. Amory cộng với St. Regis.

5. Amory cộng với St. Regis cộng với Princeton.

Đó là lần cậu tiến gần nhất đến thành công thông qua sự hòa nhập. Bản ngã nguyên thủy của Amory, kẻ lười biếng, giàu trí tưởng tượng và ngỗ ngược, suýt chút nữa đã bị vùi lấp hoàn toàn. Cậu đã hòa nhập, đã thành công, nhưng vì trí tưởng tượng của cậu không hề được thỏa mãn hay bị thu phục bởi chính thành công ấy, cậu đã chán chường, vô tình vứt bỏ tất cả để rồi lại trở thành:

6. Bản ngã nguyên thủy của Amory.

TÀI CHÍNH

Cha cậu qua đời một cách lặng lẽ và âm thầm vào dịp Lễ Tạ ơn. Sự bất tương xứng giữa cái chết với vẻ đẹp của hồ Geneva hay thái độ kín đáo, đầy tự trọng của người mẹ đã khiến cậu xao lãng, và cậu nhìn tang lễ với một sự bao dung đầy thú vị. Cậu quyết định rằng dẫu sao thì thổ táng vẫn hơn là hỏa táng, và cậu mỉm cười nhớ lại sự lựa chọn thuở nhỏ của mình: phân hủy chậm trên ngọn một cái cây. Ngày hôm sau tang lễ, cậu tự giải khuây trong thư viện lớn bằng cách ngả người ra chiếc ghế dài theo những tư thế tang lễ tao nhã, cố xác định xem khi ngày của mình đến, liệu người ta có tìm thấy mình với hai tay đắp cung kính trước ngực (Đức ông Darcy từng ca ngợi tư thế này là lịch thiệp nhất), hay với hai tay đắp sau gáy, một tư thế mang màu sắc ngoại giáo và đậm chất trường phái Byron hơn.

Điều thu hút sự quan tâm của cậu hơn nhiều so với cuộc ra đi trần thế của cha mình là cuộc trò chuyện tay ba giữa Beatrice, ông Barton thuộc công ty luật Barton và Krogman, cùng chính cậu diễn ra vài ngày sau đám tang. Lần đầu tiên cậu thực sự nắm bắt được tình hình tài chính của gia đình và nhận ra khối tài sản kếch xù từng nằm dưới quyền quản lý của cha mình lớn thế nào. Cậu cầm một cuốn sổ cái đề nhãn “1906” và lật xem khá kỹ lưỡng. Tổng chi tiêu năm đó lên tới hơn một trăm mười ngàn đô-la. Trong số đó, bốn mươi ngàn là thu nhập riêng của Beatrice, và chẳng có chút nỗ lực nào nhằm giải trình về nó: tất cả đều được gom dưới đề mục “Hối phiếu, séc và thư tín dụng gửi cho Beatrice Blaine.” Khoản chi còn lại được liệt kê khá chi tiết: tiền thuế và tu sửa bất động sản ở hồ Geneva ngốn gần chín ngàn đô-la; chi phí bảo trì chung, bao gồm chiếc xe điện của Beatrice và một chiếc xe hơi kiểu Pháp mua năm đó, là hơn ba mươi lăm ngàn đô-la. Phần còn lại đều đã được lo liệu chu đáo, và thế nào cũng có những khoản không khớp nổi ở bên có của cuốn sổ cái.

Đến tập sổ năm 1912, Amory vô cùng bàng hoàng khi phát hiện ra sự sụt giảm số lượng trái phiếu nắm giữ và sự lao dốc thảm hại của nguồn thu nhập. Riêng với khoản tiền của Beatrice thì điều này không quá rõ rệt, nhưng rõ ràng là năm trước đó cha cậu đã vướng vào vài canh bạc đầu tư dầu mỏ bất thành. Rất ít dầu được đốt lên, nhưng Stephen Blaine thì đã bị táp lửa đến tơi bời. Những năm tiếp theo, tiếp theo nữa đều cho thấy sự sụt giảm tương tự, và lần đầu tiên Beatrice bắt đầu phải dùng đến tiền riêng để duy trì dinh cơ. Thế nhưng hóa đơn tiền thuốc của bà trong năm 1913 lại lên tới hơn chín ngàn đô-la.

Về tình trạng chính xác của gia đình, ông Barton tỏ ra khá mơ hồ và rối trí. Đã có những khoản đầu tư gần đây mà kết quả hãy còn là dấu hỏi lớn cho hiện tại, và ông lờ mờ đoán rằng còn có thêm những vụ đầu cơ lẫn trao đổi khác mà ông không hề được thamσ vấn.

Phải vài tháng sau Beatrice mới viết thư tường thuật toàn bộ hoàn cảnh cho Amory. Toàn bộ phần còn lại của gia tài nhà Blaine và O’Hara chỉ bao gồm điền trang ở hồ Geneva và khoảng nửa triệu đô-la, hiện đang được đầu tư vào các khoản nắm giữ mang lại sáu phần trăm khá an toàn. Thậm chí, Beatrice viết rằng bà đang dồn tiền mua trái phiếu đường sắt và xe điện nhanh nhất có thể.

“Mẹ hoàn toàn chắc chắn rằng,” bà viết cho Amory, “nếu có một điều chúng ta có thể quả quyết, thì đó là con người ta sẽ không chịu đứng yên một chỗ. Cái tay Ford này chắc chắn đã tận dụng triệt để ý tưởng đó. Thế nên mẹ đang chỉ đạo ông Barton chuyên tâm vào những thứ như đường sắt Northern Pacific và các Công ty Giao thông Vận tải Tốc độ này, theo cách họ gọi mấy cái xe điện ấy mà. Mẹ sẽ không bao giờ tha thứ cho bản thân vì đã không mua cổ phiếu thép Bethlehem. Mẹ được nghe mấy câu chuyện hấp dẫn lắm. Con phải dấn thân vào tài chính đi, Amory. Mẹ chắc chắn con sẽ đắm chìm trong đó cho mà xem. Con bắt đầu làm nhân viên đưa thư hoặc giao dịch viên, mẹ tin thế, rồi từ đó con sẽ thăng tiến—gần như không có giới hạn. Mẹ chắc chắn nếu là đàn ông mẹ sẽ mê mẩn việc quản lý tiền bạc; nó đã trở thành một niềm đam mê lẩm cẩm của mẹ rồi đây. Trước khi đi xa hơn, mẹ muốn bàn với con chuyện này. Bà Bispam, một phu nhân nhiệt tình thái quá mà mẹ gặp trong buổi tiệc trà hôm nọ, kể rằng con trai bà ấy đang học ở Yale viết thư về bảo rằng tất cả đám con trai ở đó đều mặc đồ lót mùa hè suốt cả mùa đông, lại còn đầu trần đi giày thấp cổ trong những ngày lạnh nhất. Này Amory, mẹ không biết đấy có phải là mốt ở Princeton hay không, nhưng mẹ không muốn con ngớ ngẩn như thế. Nó không những khiến một thanh niên dễ mắc bệnh viêm phổi và bại liệt trẻ em, mà còn dẫn đến đủ mọi thứ bệnh về phổi, thứ mà con vốn dĩ rất dễ mắc phải. Con không thể đem sức khỏe ra làm thí nghiệm được đâu. Mẹ đã rút ra bài học đó rồi. Mẹ sẽ không tự biến mình thành trò cười như mấy bà mẹ khác hay làm bằng cách khăng khăng bắt con đi giày cao su, dù mẹ nhớ có lần Giáng sinh nọ con cứ đi giày đó suốt mà chẳng thèm cài lấy một chiếc khuy, tạo ra tiếng xột xoạt kỳ quặc làm sao, thế mà con nhất quyết không chịu cài vì bảo thế mới là sành điệu. Ngay Giáng sinh năm sau con thậm chí còn chẳng thèm đi giày cao su nữa, mặc cho mẹ nài nỉ. Con đã gần hai mươi tuổi rồi con yêu ạ, và mẹ không thể kè kè bên con mọi lúc để xem con có đang hành xử khôn ngoan hay không.

Thư này mang tính thực tế lắm đấy. Mẹ từng cảnh báo con trong bức thư trước rằng việc thiếu tiền để làm những điều mình muốn sẽ khiến con người ta trở nên vụn vặt và mang nặng tính gia đình biết bao, nhưng vẫn còn thừa thãi mọi thứ nếu chúng ta không quá hoang phí. Hãy tự chăm sóc lấy bản thân nhé con trai yêu quý, và nhớ viết thư cho mẹ ít nhất mỗi tuần một lần, bởi vì mẹ sẽ tưởng tượng ra đủ thứ kinh khủng nếu không nhận được tin con. Thân ái, MẸ.”

SỰ XUẤT HIỆN ĐẦU TIÊN CỦA THUẬT NGỮ “NHÂN VẬT TẦM CỠ”

Đức ông Darcy mời Amory lên cung điện Stuart bên bờ sông Hudson nghỉ lễ Giáng sinh một tuần, và hai người đã có những cuộc trò chuyện dài bất tận bên lò sưởi mở. Đức ông có vẻ mập lên một chút và tính cách của ngài cũng vì thế mà trở nên cởi mở hơn, còn Amory cảm thấy vừa được nghỉ ngơi vừa an toàn khi cuộn mình trên chiếc ghế đệm lùn, cùng ngài thưởng thức điếu xì-gà mang sự minh mẫn của tuổi trung niên.

“Con có cảm giác muốn bỏ học đại học, thưa Đức ông.”

“Tại sao?”

“Toàn bộ sự nghiệp của con đã tiêu tan thành mây khói; ngài có thể cho là nó nhỏ nhặt hay thế nào đi nữa, nhưng—”

“Không hề nhỏ nhặt chút nào. Ta thấy nó vô cùng quan trọng. Ta muốn nghe toàn bộ câu chuyện. Mọi thứ con đã làm kể từ lần gặp trước đến nay.”

Amory kể lể; cậu đi sâu vào việc sự nghiệp kiêu ngạo của mình sụp đổ thế nào, và chỉ nửa tiếng sau, chất giọng uể oải đã biến đi đâu mất.

“Con sẽ làm gì nếu bỏ học?” Đức ông hỏi.

“Con không biết. Con muốn đi du lịch, nhưng ngặt nỗi cuộc chiến tranh khốn khổ này lại cản trở chuyện đó. Dù sao thì mẹ cũng sẽ ghét cay ghét đắng việc con không tốt nghiệp. Con đang hoàn toàn lạc lối. Kerry Holiday muốn con sang đó cùng gia nhập Phi đội Lafayette.”

“Con thừa biết là con không thích đi đâu.”

“Cũng có lúc con thích chứ—đêm nay là con sẵn sàng đi ngay lập tức ấy chứ.”

“Ừm, thế thì con phải chán ngấy cuộc đời này hơn nhiều so với những gì ta nghĩ đấy. Ta thừa hiểu con mà.”

“Con e là ngài hiểu thật,” Amory miễn cưỡng thừa nhận. “Chỉ là con thấy đó là lối thoát dễ dàng khỏi mọi thứ—mỗi khi nghĩ đến một năm vô tích sự, lê thê nữa.”

“Phải, ta biết chứ; nhưng nói thật với con, ta không lo lắng gì về con hết; ta thấy con vẫn đang tiến triển một cách hoàn toàn tự nhiên đấy chứ.”

“Không,” Amory phản đối. “Con đã đánh mất một nửa nhân cách của mình trong vòng một năm qua.”

“Không đời nào!” Đức ông cười nhạo. “Con chỉ đánh mất một lượng lớn sự kiêu ngạo và thế thôi.”

“Chúa ơi! Dù sao đi nữa con vẫn có cảm giác mình vừa trải qua một năm học đúp nữa ở St. Regis.”

“Không.” Đức ông lắc đầu. “Đó là một bất hạnh; còn lần này là một điều tốt đẹp. Bất cứ điều gì đáng giá đến với con, sẽ không đi qua những con đường mà con đã cặm cụi tìm kiếm hồi năm ngoái.”

“Còn cái sự cù bất cù bơ hiện tại của con thì có gì là không vô tích sự cơ chứ?”

“Có lẽ tự thân nó thì là thế... nhưng con đang trưởng thành. Chuyện này đã cho con thời gian để suy ngẫm và con đang vứt bỏ bớt đống hành lý cũ rích về sự thành công, về siêu nhân các thứ. Những người như chúng ta không thể rập khuôn theo toàn bộ những học thuyết như con đã làm đâu. Nếu chúng ta làm tốt việc trước mắt, và có mỗi ngày một giờ để suy ngẫm, chúng ta có thể làm nên những kỳ tích, nhưng còn dính dáng đến bất kỳ mưu đồ cao ngạo nào về sự thống trị mù quáng ư—chúng ta chỉ tự biến mình thành mấy tên lừa mà thôi.”

“Nhưng thưa Đức ông, con không thể làm nổi việc trước mắt.”

“Amory, nói thật giữa hai chúng ta nhé, chính ta đây cũng mới chỉ học cách làm điều đó gần đây thôi. Ta có thể làm một trăm việc nằm xa đằng sau việc trước mắt, nhưng ta lại vấp chân ngã oạch ở chính việc đó, y như con đã vấp ngã môn toán học vào mùa thu này vậy.”

“Tại sao chúng ta cứ phải làm việc trước mắt cơ chứ? Trông nó chẳng bao giờ giống thứ việc mà một kẻ như con nên làm cả.”

“Chúng ta buộc phải làm vì chúng ta không phải là những cá tính đơn thuần, mà là những nhân vật tầm cỡ.”

“Câu này hay đấy—ý ngài là sao?”

“Một cá tính là những gì con tưởng mình có, là những gì tên Kerry và Sloane mà con kể evidently đang sở hữu. Cá tính hầu như hoàn toàn là vấn đề thể chất; nó làm hạ thấp những kẻ chịu sự chi phối của nó—ta từng thấy nó biến mất trong một trận bạo bệnh. Nhưng trong khi một cá tính còn hoạt động, nó sẽ giẫm đạp lên ‘việc trước mắt’. Ngược lại, một nhân vật tầm cỡ thì tích lũy. Người ta không bao giờ nghĩ về anh ta tách rời khỏi những gì anh ta đã làm. Anh ta là một thanh xà để treo hàng ngàn thứ lên đó—đôi khi là những thứ lấp lánh, như của chúng ta chẳng hạn; nhưng anh ta sử dụng những thứ đó với một tư duy lạnh lùng ẩn phía sau.”

“Và vài món đồ lấp lánh nhất của con đã rơi rụng mất khi con cần chúng nhất.” Amory hào hứng tiếp lời phép ẩn dụ.

“Ừ, chính thế đấy; khi con cảm thấy uy tín, tài năng tích lũy và mọi thứ đại loại thế đã được trưng bày ra ngoài, con chẳng cần phải bận tâm đến bất kỳ ai nữa; con có thể đương đầu với họ một cách dễ dàng.”

“Nhưng mặt khác, nếu con không có những món đồ của mình, con sẽ trắng tay hoàn toàn!”

“Tuyệt đối là thế.”

“Đúng là một ý tưởng hay ho.”

“Giờ thì con có một khởi đầu sạch sẽ—một khởi đầu mà Kerry hay Sloane về mặt bản chất không bao giờ có được. Con đã phủi rơi ba bốn món đồ trang trí, rồi trong một phút bốc đồng, đánh rớt luôn số còn lại. Vấn đề bây giờ là thu lượm những món mới, và con nhìn càng xa về phía trước trong việc thu lượm thì càng tốt. Nhưng hãy nhớ lấy, hãy làm việc trước mắt!”

“Sao ngài có thể làm cho mọi thứ trở nên minh bạch đến thế!”

Cứ thế họ trò chuyện, thường là về bản thân, đôi khi về triết học, tôn giáo, và cuộc đời nhìn nhận như một trò chơi hay một ẩn số. Vị linh mục dường như đoán được suy nghĩ của Amory trước cả khi chúng kịp rõ ràng trong đầu cậu, bởi tâm trí họ vốn gắn kết chặt chẽ với nhau cả về hình thức lẫn lối tư duy.

“Tại sao con lại hay lập danh sách thế nhỉ?” Amory hỏi ngài một đêm nọ. “Danh sách đủ mọi thứ trên đời?”

“Vì con là một kẻ hoài cổ thời trung cổ,” Đức ông đáp. “Cả hai chúng ta đều thế. Đó là niềm đam mê phân loại và tìm kiếm một khuôn mẫu.”

“Đó là khao khát nắm bắt một điều gì đó cụ thể.”

“Đó là hạt nhân của triết học kinh viện.”

“Con cứ tưởng mình đang trở nên kỳ quặc cho đến khi lên đây đấy. Chắc là con làm dáng thế thôi.”

“Đừng bận tâm về điều đó; đối với con, việc không làm dáng có khi lại là cái vẻ làm dáng to lớn nhất đấy. Làm dáng—”

“Vâng?”

“Nhưng hãy làm việc trước mắt đi.”

Sau khi Amory trở lại trường, cậu nhận được vài bức thư từ Đức ông, tiếp tục cung cấp cho cậu những chất liệu suy ngẫm đầy tính tự mãn.

Ta e rằng ta đã trao cho con quá nhiều sự đảm bảo về sự an toàn tất yếu của con, và con phải nhớ rằng ta làm điều đó vì niềm tin vào nguồn năng lượng của con; chứ không phải vì sự tin tưởng ngớ ngẩn rằng con sẽ đạt đích mà không phải tranh đấu. Sẽ có một số sắc thái tính cách mà con phải mặc nhiên thừa nhận ở bản thân, dẫu con phải cẩn trọng khi thổ lộ chúng với người khác. Con là kẻ vô cảm, gần như không có khả năng yêu thương, sắc sảo mà không xảo quyệt và kiêu ngạo mà chẳng hếnh hoang.

Đừng để bản thân cảm thấy mình vô dụng; trong suốt cuộc đời, thường thì con sẽ ở trạng thái tồi tệ nhất khi con tưởng chừng mình hay ho nhất; và đừng lo lắng về việc đánh mất “cá tính” của mình, như cách con cứ khăng khăng gọi nó; ở tuổi mười lăm con tỏa rạng ánh dương buổi sớm mai, năm hai tuổi con bắt đầu mang ánh sáng u buồn của vầng trăng, và khi con bằng tuổi ta, con sẽ tỏa ra, y như ta vậy, hơi ấm vàng vọt, dịu ngọt của buổi chiều lúc bốn giờ.

Nếu con viết thư cho ta, xin hãy viết những bức thư tự nhiên. Bức thư gần đây nhất của con, cái bài luận bàn về kiến trúc đó, dở tệ hại—ra dáng “trí thức” đến nỗi ta hình dung con đang sống trong một cỗ máy chân không cả về trí tuệ lẫn cảm xúc; và hãy cẩn thận với việc gán ghép con người ta quá rẽ ròi vào các khuôn mẫu; con sẽ thấy rằng suốt tuổi trẻ của họ, họ sẽ vẫn cứ ngoan cố nhảy cóc từ nhóm này sang nhóm khác một cách phiền toái, và bằng cách dán lên trán bất cứ ai con gặp một cái nhãn ngạo mạn, con chỉ đang gói ghém một con búp bê lò xo chực chờ bật dậy nhăn nhở cười nhạo con khi con chính thức bước vào những va chạm đầy đối kháng với thế giới thực tại mà thôi. Việc lý tưởng hóa một nhân vật như Leonardo da Vinci sẽ là ngọn hải đăng giá trị hơn đối với con vào lúc này.

Con chắc chắn sẽ có lúc thăng lúc trầm, y như ta thời trẻ, nhưng hãy giữ cho minh mẫn đầu óc, và nếu lũ khờ hay đám hiền triết dám chê bai thì đừng quá tự trách mình.

Con nói rằng lề thói xã hội là thứ duy nhất thực sự giữ con đi đúng hướng trong “vấn đề phụ nữ” này; nhưng còn hơn thế nữa cơ, Amory ạ; đó là nỗi sợ rằng những gì con đã bắt đầu thì con không thể dừng lại; con sẽ nổi điên lên mất, và ta biết rõ mình đang nói gì chứ; đó là giác quan thứ sáu kỳ diệu đủ để con phát hiện ra cái điều ác độc, đó là nỗi sợ Chúa được nhận thức một nửa trong tim con.

Bất kể nghề nghiệp tương lai của con là gì—tôn giáo, kiến trúc, văn chương—ta chắc chắn con sẽ an toàn hơn nhiều nếu neo đậu vào Giáo hội, nhưng ta sẽ không mạo hiểm đánh đổi ảnh hưởng của mình để tranh cãi với con dẫu ta thầm chắc chắn rằng “vực thẳm tăm tối của chủ nghĩa Rô-ma” đang há miệng chờ đón con dưới chân. Nhớ viết thư cho ta sớm nhé.

Với tình cảm thân thiết, THAYER DARCY.

Ngay cả việc đọc sách của Amory cũng trở nên nhạt nhẽo trong giai đoạn này; cậu đào sâu hơn vào những ngóc ngách mờ mịt của văn chương: Huysmans, Walter Pater, Theophile Gautier, cùng những đoạn cay cay đắng đắng trong Rabelais, Boccaccio, Petronius và Suetonius. Có tuần, do sự tò mò chung, cậu đã đi khám phá các thư viện riêng của bạn học và nhận thấy bộ sách của Sloane là điển hình hơn cả: trọn bộ Kipling, O. Henry, John Fox, Jr., và Richard Harding Davis; “Mỗi phụ nữ trung niên nên biết điều gì,” “Sức hút của vùng Yukon”; một cuốn sách “tặng phẩm” của James Whitcomb Riley, dăm ba cuốn sách giáo khoa cũ rách bươm, chi chít ghi chú, và cuối cùng, điều khiến cậu ngạc nhiên là một trong những phát hiện gần đây của cậu, tuyển tập thơ của Rupert Brooke.

Cùng với Tom D’Invilliers, cậu cất công tìm kiếm giữa những vì sao sáng của Princeton một ai đó có thể đặt nền móng cho Truyền thống Thơ ca Đại khái Mỹ.

Bản thân khối sinh viên năm đó thú vị hơn hẳn so với cái xứ Princeton toàn những kẻ thực dụng Philistine của hai năm trước. Mọi thứ sôi nổi lên một cách đáng ngạc nhiên, dẫu phải đánh đổi bằng phần lớn sức hút tự nhiên của năm nhất. Ở Princeton thời xưa, chắc chắn họ sẽ chẳng bao giờ phát hiện ra Tanaduke Wylie. Tanaduke là sinh viên năm hai, với đôi tai vểnh to đùng cùng cái điệu nói: “Trái đất xoáy lốc qua những vầng trăng điềm gở của các thế hệ đã được định đoạt từ trước!” khiến người ta mơ hồ thắc mắc tại sao nghe chẳng rõ nghĩa tẹo nào, nhưng lại chưa bao giờ hoài nghi rằng đó là phát ngôn của một siêu-tâm-hồn. Ít ra thì Tom và Amory đã coi hắn là như thế. Họ khẳng định chắc nịch với hắn rằng hắn sở hữu một bộ óc sánh ngang Shelley, và lăng xê những vần thơ tự do siêu cấp cùng thơ văn xuôi của hắn trên tờ Tạp chí Văn học Nassau. Nhưng thiên tài của Tanaduke lại thấm đẫm muôn màu của thời đại, và hắn đâm đầu theo đuổi lối sống Bohemia, khiến họ thất vọng toàn tập. Hắn bắt đầu huyên thuyên về Làng Greenwich thay vì những “vầng trăng xoáy giữa trưa”, và tụng ca những nàng thơ mùa đông mang hơi hướng phi học viện, ẩn dật nơi Phố 42 và Đại lộ Broadway, thay vì những đứa con tinh thần mang giấc mơ kiểu Shelley mà hắn từng dùng để vuốt ve sự kỳ vọng của họ. Thế là họ đành nhượng lại Tanaduke cho phái vị lai, quyết định rằng hắn cùng những chiếc cà vạt rực lửa của mình sẽ sống hợp hơn ở đó. Tom đưa ra lời khuyên cuối cùng là hắn nên ngừng viết trong hai năm và đọc trọn bộ tác phẩm của Alexander Pope bốn lần, nhưng theo gợi ý của Amory rằng đọc Pope đối với Tanaduke chẳng khác nào uống thuốc trị đau chân cho bệnh đau dạ dày, họ cười xòa cho qua chuyện và tếu táo rằng thật khó đoán thiên tài này quá vĩ đại hay quá nhỏ nhen đối với họ.

Amory tỏ ra khinh khỉnh né tránh những vị giáo sư nổi tiếng, những kẻ chuyên phát chẩn những câu châm ngôn dễ dãi cùng vài giọt Chartreuse nhỏ giọt cho đám tín đồ vây quanh mỗi đêm. Cậu cũng thấy thất vọng trước bầu không khí mơ hồ bao trùm lên mọi vấn đề vốn gắn liền với bản tính gàn dở của giới uyên bác; những quan điểm của cậu đã hình thành nên một tác phẩm châm biếm thu nhỏ mang tên “Trong một Giảng đường”, thứ mà cậu đã thuyết phục Tom đưa lên tờ Nassau Lit.

“Chào buổi sáng, tên Ngốc...

Ba bận mỗi tuần

Anh trói buộc chúng tôi bằng lời lẽ phân bua,

Khêu gợi những linh hồn khô khát bằng dăm câu

Triết lý ‘vâng dạ’ mượt mà êm ái...

Nào, chúng tôi đây, trăm con cừu của anh,

Hãy tấu lên, cất lời, tuôn trào... chúng tôi đang ngủ...

Anh là một học giả, người ta bảo thế;

Hôm nọ anh vừa mới gò ra

Một bản đề cương, theo chúng tôi đoán ra

Từ dăm cuốn cổ tịch nào đã phai mờ;

Anh đã hít hà qua lớp bụi bặm của một thời đại,

Nhét đầy những rác rưởi vào hai cánh mũi,

Rồi vùng dậy từ chốn quỳ gối ấy

Phát hành tác phẩm trong một cái hắt xì vĩ đại...

Nhưng kìa kẻ hàng xóm bên tay phải tôi,

Một Tên Ngốc Sốt Sắng, được cho là sáng dạ;

Kẻ hay hỏi han... Hắn sẽ đứng đó ra sao,

Với vẻ mặt đăm chiêu cùng đôi bàn tay bứt rứt,

Sau buổi học này, khoe với anh rằng

Hắn đã thức trắng đêm để gặm nhấm

Cuốn sách của anh... Ôi, anh sẽ làm bộ thẹn thùng còn hắn

Sẽ ra điều ta đây từng trải,

Cả hai kẻ học làm sang, anh sẽ cười nhe nhởn và nhếch mép,

Đắc ý cười trừ, rồi hối hả quay về với đống công việc...

Chính vào ngày này tuần trước, thưa ngài,

Anh đã trả lại bài luận của tôi, từ đó tôi nhận ra

Qua những lời phê bình lề trang giấy

Mà anh đã cào cấu nguệch ngoạc rằng tôi đã dám thách thức

Những quy chuẩn tối cao của giới phê bình

Chỉ vì dăm câu trêu chọc rẻ tiền, cẩu thả...

‘Cậu có chắc là thế này được không?’

Và

‘Shaw chẳng phải là chân lý gì sất!’

Nhưng Tên Ngốc Sốt Sắng kia, với món quà hắn gửi tới,

Lại tàn phá điểm số cao nhất của anh.

Thế mà—vẫn thế—tôi gặp anh đây đó...

Khi kịch Shakespeare diễn, anh chiếm trọn một ghế ngồi,

Và một ngôi sao mục nát, mọt sách nào đó

Đang mê hoặc cái bản ngã trọc phú trong anh...

Một gã cực đoan xuống đường và tạo cú sốc

Cho đám chính thống vô thần?

Anh đại diện cho Lẽ Phải Thông Thường,

Há hốc mồm ngồi giữa đám đông khán giả.

Và đôi khi, cả nhà nguyện cũng dụ dỗ được

Cái sự bao dung có ý thức đó ở anh,

Cái nhìn khoáng đạt, rạng ngời về chân lý

*(Bao gồm cả Kant và Tướng quân Booth...)*

Và cứ thế anh sống qua từng cú sốc,

Một kẻ đồng tình rỗng tuếch, tái nhợt...

Hết giờ rồi... và bừng tỉnh khỏi giấc ngủ

Trăm đứa trẻ được ơn phước

Cướp lấy của anh vài lời khi tiếng giày nện xuống

Rầm rập dọc theo những lối đi chật chội...

Hãy quên đi trên cõi đời hẹp hòi này

Cái Ngáp Vĩ Đại đã sinh ra anh.”

Vào tháng Tư, Kerry Holiday rời trường đại học và lên đường sang Pháp để gia nhập Phi đội Lafayette. Sự ganh tị và ngưỡng mộ của Amory đối với bước ngoặt ấy đã bị dìm lấp bởi chính trải nghiệm của cậu, một sự việc mà mãi sau này cậu vẫn không sao tìm ra được giá trị thích hợp để đánh giá, nhưng dẫu vậy, nó vẫn ám ảnh cậu suốt ba năm ròng rã tiếp theo.

ÁC QUỶ

Họ rời quán Healy lúc mười hai giờ và bắt taxi đến Bistolary’s. Nhóm đi có Axia Marlowe và Phoebe Column, hai vũ công từ chương trình Summer Garden, Fred Sloane và Amory. Đêm hãy còn rất trẻ nên họ cảm thấy thừa thãi năng lượng đến mức lố bịch, cứ thế ùa vào quán cà phê như những kẻ cuồng hoan dưới chướng thần Dionysus.

“Bàn bốn người giữa sảnh!” Phoebe hét lớn. “Nhanh lên anh bạn già, bảo chúng nó là tụi mình đến rồi kìa!”

“Bảo chúng nó mở bài ‘Admiration’!” Sloane gào lên. “Hai người gọi món đi; Phoebe với tôi chuẩn bị uốn éo đây,” rồi họ lao vút vào đám đông hỗn độn. Axia và Amory, dẫu chỉ mới quen nhau được một tiếng, chen lấn theo chân người phục vụ đến một chiếc bàn ở vị trí đắc địa; họ ngồi xuống và đưa mắt quan sát.

“Kìa Findle Margotson đến từ New Haven kìa!” cô hét lên át tiếng ồn ào. “Ê Findle! Whoo-ee!”

“Ôi Axia!” hắn hét lên chào lại. “Ghé qua bàn tụi mình đi.” “Không!” Amory thì thầm.

“Không được đâu Findle; tớ đang đi với người khác! Mai gọi cho tớ tầm một giờ nhé!”

Findle, một gã lông bông chính hiệu chuyên lảng vảng ở Bisty’s, ú ớ đáp lời rồi quay lại với côả nàng tóc vàng rực rỡ mà hắn đang cố la cà dắt tay lượn quanh phòng.

“Đúng là một thằng đần chết tiệt tự nhiên,” Amory bình luận.

“Ôi dào, hắn ta bình thường mà. Kìa gã phục vụ nhà xe cũ kỹ tới rồi kìa. Nếu anh hỏi em, em muốn làm một ly Daiquiri kép.”

“Làm bốn ly đi.”

Đám đông xoay vần, đổi thay và dịch chuyển. Hầu hết bọn họ xuất hiện từ các trường đại học, rải rác thêm mấy thành phần cặn bã nam nhi từ Broadway, cùng những ả đàn bà thuộc hai trường phái, mà hạng cao cấp hơn chính là mấy cô vũ nữ đồng ca. Nhìn chung đó là một đám đông tiêu biểu, và nhóm của họ cũng tiêu biểu chẳng kém. Khoảng ba phần tư cái hoạt động đó chỉ cốt để làm màu nên vô hại, kết thúc ngay trước cửa quán cà phê, vừa kịp lúc để bắt chuyến tàu năm giờ sáng quay lại Yale hay Princeton; khoảng một phần tư tiếp tục dấn thân vào những giờ khắc mờ ảo hơn để gom nhặt thứ bụi bặm kỳ lạ từ những chốn kỳ quái. Nhóm của họ được xếp lịch vào loại vô hại. Fred Sloane và Phoebe Column là bạn cũ; Axia và Amory là bạn mới. Nhưng những điều kỳ quái vẫn được chuẩn bị sẵn sàng ngay cả trong đêm sâu tăm tối nhất, và thứ bất thường vốn ít khi ẩn nấy trong quán cà phê, cội nguồn của sự tầm thường và tất yếu, đang chực chờ phá hỏng sự lãng mạn sắp tàn của Broadway đối với cậu. Cách thức mà nó diễn ra mới kinh hoàng làm sao, không thể tưởng tượng nổi làm sao, để rồi sau đó Amory chẳng bao giờ xem nó như một trải nghiệm; mà đó là một cảnh quay trích ra từ vở kịch bi thương mờ mịt, được diễn tấu khuất sau tấm màn che, và cậu thừa biết nó mang một ý nghĩa vô cùng rạch ròi.

Khoảng một giờ đêm họ chuyển sang quán Maxim’s, và lúc hai giờ thì cập bến Deviniere’s. Sloane đã nốc rượu liên tu bất tận và rơi vào trạng thái phấn khích chuếnh choáng, nhưng Amory thì tỉnh táo đến mức phát bực; họ chẳng chạm trán bất kỳ tên đại gia mua champagne già cả, nhũng lầy nào thường hay kè kè trong các cuộc ăn chơi ở New York của họ. Họ vừa nhảy xong và đang lết về phía ghế ngồi thì Amory bỗng nhận ra có ai đó ở chiếc bàn gần đấy đang nhìn mình. Cậu quay người liếc nhìn qua loa... hóa ra là một người đàn ông trung niên mặc bộ âu phục màu nâu, ngồi lẻ loi một mình ở chiếc bàn riêng và chăm chú quan sát nhóm họ. Bắt gặp ánh mắt Amory, hắn khẽ mỉm cười. Amory quay sang Fred, kẻ vừa mới đặt mông xuống ghế.

“Tên ngốc da tái ngắt đang nhìn tụi mình là thằng nào thế?” cậu bực bội phàn nàn.

“Đâu?” Sloane hét lên. “Tụi mình tống cổ hắn ra ngoài!” Hắn lồm cồm đứng dậy, người ngả nghiêng bám vào ghế. “Hắn đâu rồi?”

Axia và Phoebe đột ngột nhoài người thì thầm với nhau qua chiếc bàn, và trước khi Amory kịp định thần, họ đã thấy mình đang rảo bước về phía cửa ra vào.

“Giờ đi đâu nữa?”

“Lên căn hộ đi,” Phoebe gợi ý. “Tụi mình có brandy với rượu sủi—v với lại dưới này tối nay chán ngắt à.”

Amory nhanh chóng cân nhắc. Cậu không hề uống ngụm nào, và tự nhủ nếu mình không uống thêm, việc túc tắc bám càng theo nhóm này cũng coi như khá kín kẽ. Trên thực tế, đó có lẽ là việc nên làm để còn canh chừng Sloane, kẻ lúc này đã chẳng còn đủ tỉnh táo để tự suy nghĩ nữa rồi. Thế là cậu cầm tay Axia, chen chúc thân thiết vào một chiếc xe taxi rồi phóng băng qua hàng trăm dãy nhà trước khi đỗ xịch trước một tòa chung cư đá trắng cao ngất ngưởng... Suốt đời cậu sẽ chẳng thể nào quên được con đường đó... Đó là một con đường rộng, hai bên hàng quán san sát những tòa nhà đá trắng cao lớn y như thế, điểm xuyết những ô cửa sổ tối mò; chúng kéo dài tít tắp tận chân trời, ngập chìm trong ánh trăng rực rỡ mang lại thứ sắc thái nhợt ngạt như vôi sống. Cậu tưởng tượng mỗi tòa nhà đều có thang máy, cậu tiếp tân da màu và chiếc bảng treo chìa khóa; mỗi tòa cao tám tầng với la liệt những căn hộ ba, bốn phòng. Cậu thấy khá dễ chịu khi bước vào không gian ấm cúng của phòng khách nhà Phoebe và ngả người xuống chiếc ghế sofa, trong khi mấy cô nàng lục lọi tìm đồ ăn.

“Phoebe cừ lắm đấy,” Sloane thì thầm to nhỏ.

“Tớ chỉ ở lại nửa tiếng thôi đấy nhé,” Amory nghiêm giọng nói. Tự cậu thấy nghe ra vẻ ra điều đạo mạo quá chăng.

“Khỉ khô ấy,” Sloane phản đối. “Đang ở đây cơ mà—đừng vội vã thế chứ.”

“Tớ không thích chỗ này,” Amory phụ nịu nói, “và tớ cũng chẳng muốn ăn gì sất.”

Phoebe quay lại với bánh mì kẹp, chai brandy, bình xịt soda và bốn chiếc cốc.

“Amory, rót rượu đi cậu,” cô nói, “rồi chúng ta cạn ly vì Fred Sloane, một gã có cái chất quái dị hiếm có.”

“Đúng thế,” Axia bước vào tiếp lời, “và cả Amory nữa. Em thích Amory.” Cô ngồi phịch xuống bên cạnh cậu và tựa mái tóc vàng lên vai cậu.

“Để tớ rót,” Sloane nói; “cậu dùng bình xịt đi Phoebe.”

Họ xếp đầy khay những ly rượu.

“Sẵn sàng chưa, cạn ly nào!”

Amory chần chừ, tay vẫn cầm ly.

Có một khoảng lặng khi sự cám dỗ len lỏi vào cậu tựa ngọn gió ấm áp, trí tưởng tượng biến thành ngọn lửa bùng cháy, và cậu nhận lấy chiếc ly từ tay Phoebe. Chỉ có vậy thôi; bởi đúng vào khoảnh khắc quyết định ấy, cậu ngước nhìn lên và thấy, cách chỗ mình mười thước, gã đàn ông từng xuất hiện ở quán cà phê, và cùng với cú giật mình kinh ngạc, chiếc ly rơi khỏi bàn tay đang giơ cao của cậu. Hắn đang nửa ngồi, nửa tì người vào đống gối tựa ở góc sô-pha dài. Gương mặt hắn mang màu sáp vàng y hệt như ở quán cà phê, không phải thứ sắc xanh tái, nhợt nhạt của một thây ma—mà đúng hơn là một dạng da dẻ tái nhợt đậm chất đàn ông—cũng chẳng phải thứ bệnh hoạn gì cho cam; mà giống như một gã trai tráng làm việc quần quật trong hầm mỏ hay trực ca đêm ở xứ ẩm thấp. Amory săm soi hắn thật kỹ để rồi sau đó, cậu có thể phác họa lại dung mạo hắn đến từng chi tiết nhỏ nhặt nhất. Miệng hắn là kiểu miệng được gọi là bộc trực, và đôi mắt xám bình thản của hắn chậm rãi đảo từ người này sang người khác trong nhóm với một chút biểu cảm tò mò phảng phất. Amory chú ý đến đôi bàn tay hắn; chúng chẳng hề thanh mảnh chút nào, nhưng lại có sự linh hoạt cùng một sức mạnh tiềm ẩn... đó là những bàn tay thần kinh nằm lỏng lẻo dọc theo những chiếc gối và liên tục cử động với những nhịp mở ra khép lại giật cục. Rồi thình lình, Amory nhận ra đôi chân hắn, và cùng với dòng máu dồn cục lên não, cậu nhận ra mình đang sợ hãi. Đôi chân ấy hoàn toàn sai lệch... mang một sự sai lệch mà cậu cảm nhận được rõ hơn là nhận biết... Nó giống như sự yếu đuối ở một người phụ nữ đoan trang, hay vết máu trên tấm vải satin; một trong những sự bất tương xứng khủng khiếp làm rung chuyển những ngóc ngách nhỏ nhặt phía sau bộ não. Hắn không đi giày, mà thay vào đó là một dạng giày da mềm bán phần, mũi nhọn hỏn hoét như kiểu giày người ta chuộng thế kỷ mười چهار, với phần chóp uốn cong vút lên. Chúng có màu nâu sẫm và mấy ngón chân hắn như nhồi nhét chật ních đến tận mũi giày... Chúng kinh tởm đến mức chẳng thể thốt nên lời....

Chắc hẳn cậu đã thốt lên điều gì đó, hoặc biểu lộ nét mặt nào đó, nên giọng Axia cất lên từ khoảng không hư vô mang theo một sự xoa dịu kỳ lạ.

“Nhìn Amory kìa! Tội nghiệp Amory già nua đang ốm à—lại quay cuồng đầu óc rồi phỏng?”

“Nhìn kìa gã kia kìa!” Amory hét lên, chỉ tay về phía chiếc ghế dài ở góc phòng.

“Ý cậu là con ngựa vằn tía ấy hả!” Axia pha trò hét toáng lên. “Ooo-ee! Amory có con ngựa vằn tía đang nhìn trộm kìa!”

Sloane cười ngây ngô.

“Bị con ngựa vằn tóm rồi hả Amory?”

Một khoảng im lặng trùm xuống... Gã đàn ông đăm đăm nhìn Amory đầy vẻ trêu ngươi... Rồi những âm thanh giọng nói con người lại mơ hồ văng vẳng bên tai:

“Tưởng không uống cơ mà,” Axia mỉa mai nhận xét, nhưng giọng cô nghe sao mà ấm áp làm sao; cả cái ghế dài đang giữ gã đàn ông ấy đều cử động; sống động như những làn sóng nhiệt phả trên lớp nhựa đường, như những con giun đang nguây nguẩy...

“Quay lại đi! Quay lại nào!” Tay Axia vắt lên vai cậu. “Amory, cưng ơi, cậu đi đâu thế, Amory!” Cậu đã đi được nửa quãng đường ra cửa.

“Nào Amory, ở lại chơi với bọn tớ đi!”

“Ốm à, thế sao?”

“Ngồi xuống chốc lát đã!”

“Uống ngụm nước đi.”

“Làm ngụm brandy đi...”

Cầu thang máy sát ngay bên, và cậu thiếu niên da màu đang ngái ngủ, xanh xao tựa đồng thau lợt lạt... Giọng nài nỉ của Axia vọng dọc theo giếng thang. Đôi chân đó... đôi chân đó...

Khi họ sụt xuống tầng dưới, đôi chân ấy lại lọt vào tầm mắt dưới thứ ánh sáng điện bệnh hoạn của sảnh lát đá.

NGOÀI CON HẺM

Ánh trăng trải dài dọc theo con phố, và Amory quay lưng lại với nó rồi sải bước. Mười, mười lăm bước chân đằng sau vang lên tiếng giày nện. Chúng giống như những giọt nước rơi chậm chạp, với sự thúc giục ngấm ngầm trong từng cú nện xuống. Bóng của Amory trải dài, có lẽ khoảng mười thước trước mặt, và gã đi giày mềm phỏng chừng cũng cách đó từng ấy phía sau. Với bản năng của một đứa trẻ, Amory lùi hẳn vào mảng bóng tối u ám của những tòa nhà trắng, xé toạc ánh trăng qua những giây phút bơ phờ, có lúc hoảng hốt bộc phát thành một cú chạy trốn lóng ngóng vấp váp. Sau đó cậu khựng lại đột ngột; cậu phải giữ lấy bình tĩnh, cậu tự nhủ. Môi cậu khô khốc và cậu đưa lưỡi liếm chúng.

Liệu cậu có gặp được ai đó tử tế không—trên đời này vẫn còn người tử tế chứ hay tất cả bọn họ giờ đều chui rúc trong mấy tòa chung cư màu trắng hết cả rồi? Có phải bất cứ ai cũng bị bám đuôi dưới ánh trăng không? Nhưng nếu cậu gặp được một ai đó tử tế, kẻ hiểu cậu đang hàm ý điều gì và nghe thấy tiếng lẹt xẹt chết tiệt này... thì tiếng lẹt xẹt đó bỗng lớn dần lên, và một đám mây đen phủ trùm lấy vầng trăng. Khi ánh sáng nhợt ngạt lại lướt qua những gờ tường, nó đã ở sát bên cạnh, và Amory tưởng chừng nghe thấy tiếng thở đều đều khe khẽ. Thình lình cậu nhận ra tiếng bước chân không hề ở phía sau, chưa từng ở phía sau, chúng ở ngay đằng trước và cậu không hề trốn chạy mà đang bám theo... bám theo. Cậu bắt đầu cắm cổ chạy thục mạng, tim đập thình thịch nặng nề, đôi tay siết chặt. Tít đằng xa, một chấm đen xuất hiện, từ từ hiện nguyên hình thành một dáng người. Nhưng lúc này Amory đã vượt qua giới hạn đó rồi; cậu rẽ ngoặt khỏi con phố rồi lao đầu vào một con hẻm nhỏ, tối tăm và nồng nặc mùi hôi thối mục rữa. Cậu luồn lách qua một khúc quanh đen ngòm uốn lượn, nơi ánh trăng bị chặn đứng ngoại trừ vài vệt sáng li ti cùng dăm đốm vá... rồi ngã vật xuống thở dốc trong một góc khuất sát hàng rào, kiệt sức. Những tiếng bước chân phía trước khựng lại, và cậu có thể nghe thấy chúng khẽ xoay chuyển với một chuyển động liên tục, giống như những con sóng vỗ quanh mạn kè.

Cậu úp mặt vào hai tay, che kín cả mắt lẫn tai hết mức có thể. Suốt khoảng thời gian đó, chưa có giây phút nào cậu nghĩ rằng mình đang phát cuồng hay say xỉn. Cậu có một thứ cảm giác chân thực mà những vật chất đời thường chẳng bao giờ mang lại nổi. Nội hàm trí tuệ của cậu dường như thụ động khuất phục trước nó, và nó khít khao như chiếc găng tay ôm trọn mọi thứ từng xảy ra trong đời cậu trước đó. Nó không hề làm cậu bối rối. Nó giống như một bài toán mà cậu đã biết đáp số trên giấy, nhưng lại chẳng tài nào nắm bắt được cách giải. Cậu đã vượt xa khỏi nỗi sợ hãi. Cậu đã tụt xuyên qua lớp vỏ mỏng manh của nó, giờ đây đang di chuyển trong một vùng chạng vạng nơi đôi chân và nỗi sợ những bức tường trắng là những thực thể có thật, sống động, những thứ cậu buộc phải chấp thuận. Chỉ có sâu thẳm trong tâm hồn, một ngọn lửa nhỏ đang bùng lên gào thét rằng có cái gì đó đang lôi kéo cậu xuống, đang cố tống cậu vào bên trong một cánh cửa rồi sập mạnh nó lại phía sau. Một khi cánh cửa đó sập xuống, sẽ chỉ còn lại những tiếng bước chân và những tòa nhà trắng trong ánh trăng, và biết đâu cậu sẽ lại là một trong những tiếng bước chân ấy.

Suốt năm hay mười phút chôn chân trong bóng râm của hàng rào, ngọn lửa ấy vẫn cứ âm ỉ... đó là cách gọi gần đúng nhất mà cậu có thể đặt tên cho nó sau này. Cậu nhớ mình đã cất tiếng gọi lớn:

“Tôi muốn tìm một kẻ đần độn. Ồ, làm ơn gửi cho tôi một kẻ đần độn!” Cậu nói điều này với bức hàng rào đen đối diện, nơi trong bóng tối của nó tiếng bước chân vẫn cứ xào xạc... xào xạc. Cậu ngầm hiểu “đần độn” và “tử tế” vốn dĩ đã hòa quyện vào nhau qua những liên tưởng trước đó. Khi cậu cất tiếng gọi như vậy, đó hoàn toàn chẳng phải hành động của ý chí—ý chí đã quay lưng bắt cậu trốn chạy khỏi hình thon thướt tha đang di chuyển ngoài phố; đó gần như là bản năng cất lời kêu cứu, tựa như sự tích tụ chồng chất của truyền thống nguyên thủy hay một lời nguyện cầu điên cuồng vọng về từ tận cùng màn đêm. Rồi có cái gì đó vang lên leng keng như tiếng cồng thấp đánh từ một khoảng cách xa, và trước mắt cậu, một gương mặt lướt qua đôi bàn chân kia, một gương mặt tái nhợt và méo mó với một thứ ác tâm vô tận bóp méo nó như ngọn lửa trong gió; nhưng dẫu vậy, trong khoảnh khắc ngắn ngủi khi tiếng cồng ngân vang và u uố, cậu thừa nhận đó chính là gương mặt của Dick Humbird.

Nhiều phút sau, cậu lồm cồm đứng dậy, lờ mờ nhận ra chẳng còn âm thanh nào nữa, và cậu đang đơn độc trong con hẻm xám ngắt. Trời lạnh ngắt, và cậu bắt đầu cắm cổ chạy một mạch hướng về ánh sáng phát ra từ con phố ở đầu bên kia.

BÊN CỬA SỔ

Đã muộn buổi sáng khi cậu tỉnh giấc và phát hiện chiếc điện thoại bên giường khách sạn đang reo inh ỏi, chợt nhớ ra mình từng dặn người ta gọi thức dậy lúc mười một giờ. Sloane đang ngáy o o, quần áo vứt đống lù lù bên giường. Họ mặc đồ và lặng lẽ ăn sáng, rồi thong thả đi dạo hít thở không khí trong lành. Đầu óc Amory hoạt động chậm chạp, cố gắng đồng hóa những gì vừa xảy ra và gạt bỏ khỏi đống hình tượng hỗn loạn đang chất đống trong trí nhớ những mảnh sự thật trần trụi. Nếu buổi sáng hôm ấy trời lạnh và xám xịt thì cậu đã có thể tóm lấy dây cương của quá khứ trong chớp mắt, nhưng đây lại là một trong những ngày tháng Năm hiếm hoi mà New York có được, khi bầu không khí trên Đại lộ Fifth dịu ngọt như một loại rượu nhẹ. Sloane nhớ nhiều hay ít Amory chẳng mảy may bận tâm; gã dường như chẳng hề có chút căng thẳng thần kinh nào đang bủa vây lấy Amory, cứ bóp nghẹt và vặn vẹo tâm trí cậu như một lưỡi cưa réo rắt.

Rồi Đại lộ Broadway đột ngột đập vào mắt họ, và cùng với mớ âm thanh hỗn độn cùng những gương mặt trát phấn, một cơn buồn nôn đột ngột ập đến tơi bời trong lòng Amory.

“Vì Chúa, quay lại thôi! Tránh xa cái—cái chỗ này ra!”

Sloane ngước nhìn cậu ngạc nhiên.

“Cậu nói cái gì thế?”

“Cái con phố này, kinh tởm quá! Đi thôi! Quay lại Đại lộ đi!”

“Ý cậu là,” Sloane điềm đạm nói, “chỉ vì cậu bị khó tiêu dẫn đến hành động như một kẻ điên tối qua, mà từ nay cậu cạch mặt Broadway luôn à?”

Ngay lập tức, Amory xếp gã vào cùng một giuộc với đám đông kia, và gã trông không còn là Sloane với khiếu hài hước hào hoa cùng nhân cách vui vẻ nữa, mà chỉ còn là một trong những gương mặt quái đản đang cuồn cuộn trôi theo dòng nước đục ngầu.

“Đồ khốn!” cậu hét lên to đến mức đám người ngoài góc phố phải quay đầu lại dõi theo họ bằng ánh mắt dò xét, “nó thối tha, và nếu cậu không nhận ra điều đó, thì cậu cũng thối tha nốt!”

“Tớ chịu cậu đấy,” Sloane bướng bỉnh đáp. “Bị làm sao thế hả? Cơn hối hận muộn màng đang bóp nghẹt cậu à? Cậu mà tham gia trọn vẹn bữa tiệc tùng của tụi mình thì giờ có mà nằm một đống.”

“Tớ đi đây, Fred,” Amory chậm rãi nói. Đầu gối cậu đang lỏng lơi khuỵu xuống, và cậu biết nếu mình nán lại trên con phố này thêm một phút nữa, cậu sẽ lăn quay ra đất mất. “Tớ về khách sạn Vanderbilt ăn trưa.” Rồi cậu sải bước thật nhanh rẽ sang Đại lộ Fifth. Về đến khách sạn, cậu thấy khá hơn, nhưng khi bước vào tiệm cắt tóc với ý định mát-xa đầu, mùi hương phấn và thuốc bổ lại gợi cho cậu nụ cười liếc xéo đầy gợi tình của Axia, khiến cậu phải vội vã chuồn thẳng. Ngay ngưỡng cửa phòng mình, một màn đêm bỗng đột ngột bao trùm lấy cậu như dòng sông chia nhánh.

Khi tỉnh lại, cậu biết rằng mấy tiếng đồng hồ đã trôi qua. Cậu ngã phịch xuống giường, úp mặt vào gối với nỗi sợ tột độ rằng mình đang phát điên. Cậu thèm con người, thèm con người biết bao, một ai đó bình thường, ngốc nghếch và tử tế. Cậu nằm bất động suốt khoảng thời gian chẳng thể đo đếm nổi. Cậu có thể cảm nhận những mạch máu nhỏ trên trán đang hằn lên giật giật, và nỗi kinh hoàng đã bám chặt lấy cậu như lớp thạch cao khô cứng. Cậu cảm thấy mình lại đang lách qua lớp vỏ mỏng manh của sự kinh hoàng, và giờ đây chỉ có thể nhận ra chập choạng hoàng hôn mà mình đang bỏ lại phía sau. Chắc chắn cậu lại chợp mắt, bởi vì khi ý thức quay trở lại, cậu đã thanh toán xong tiền phòng khách sạn và bước lên chiếc taxi đậu sẵn ở cửa. Trời đang mưa như trút nước.

Trên chuyến tàu về Princeton, cậu chẳng thấy ai quen, chỉ có đám đông người Philadelphia với vẻ ngoài mệt mỏi rã rời. Sự hiện diện của một mụ đàn bà trát phấn ngồi ghế bên kia lối đi khiến cậu lại dâng lên một tràng buồn nôn mới, thế là cậu đổi sang toa khác, cố tập trung đọc một bài báo trên tạp chí phổ thông. Cậu nhận ra mình cứ đọc đi đọc lại mãi mấy đoạn văn, bèn vứt xó ý định đó rồi mệt mỏi nhoài người áp trán nóng hổi lên tấm kính cửa sổ đẫm hơi sương. Toa tàu hút thuốc ngột ngạt và nồng nặc đủ thứ mùi đặc trưng của những thành phần ngoại kiều trong tiểu bang; cậu hé cửa sổ và rùng mình trước đám sương mù lạnh buốt tràn vào người. Chuyến hành trình hai tiếng dài dã dự như cả thế kỷ, và cậu suýt bật khóc vì sung sướng khi những ngọn tháp của Princeton hiện ra sừng sững bên cạnh cùng những ô cửa sổ vuông vức hắt ánh sáng vàng xuyên qua làn mưa xanh thẫm.

Tom đang đứng giữa phòng, thẫn thờ châm lại mẩu xì-gà dở dang. Amory thấy hình như nét mặt cậu bạn có vẻ nhẹ nhõm hơn khi trông thấy mình.

“Đêm qua tớ mơ một giấc ác mộng kinh hoàng về cậu đấy,” giọng khàn khàn vang lên qua làn khói xì-gà. “Tớ có cảm giác cậu đang gặp rắc rối gì thì phải.”

“Đừng có kể cho tớ nghe!” Amory suýt thét lên. “Đừng nói gì hết; tớ mệt mỏi và kiệt sức lắm rồi.”

Tom nhìn cậu đầy quái lạ rồi lả người ngồi phịch xuống ghế, mở cuốn vở tiếng Ý ra. Amory ném áo khoác cùng mũ xuống sàn, nới lỏng cổ áo và tiện tay vớ bừa một cuốn tiểu thuyết của Wells trên kệ sách. “Wells là người tỉnh táo,” cậu nghĩ, “còn nếu lão không trị được thì tớ sẽ đọc Rupert Brooke.”

Nửa tiếng trôi qua. Bên ngoài, gió bắt đầu lồng lộng thổi, và Amory giật nảy mình khi những cành cây ướt sũng chuyển động, cào cấu cành lá sột soạt vào mặt kính cửa sổ. Tom đang cắm cúi làm bài tập, và trong căn phòng tĩnh lặng chỉ thỉnh thoảng vang lên tiếng quẹt diêm lẹt xẹt hoặc tiếng da ghế sột soạt khi họ đổi tư thế. Rồi sự thay đổi ập đến nhanh như một tia chớp ngoằn ngoèo. Amory ngồi bật dậy thẳng người, lạnh băng cứng đờ trên ghế. Tom đang nhìn cậu với cái miệng há hốc, mắt trân trân.

“Chúa cứu chúng con!” Amory kêu lên.

“Ôi trời đất quỷ thần ơi!” Tom hét toảng lên, “nhìn đằng sau kìa!” Nhanh như chớp, Amory quay phắt người lại. Cậu chẳng thấy gì ngoài tấm kính cửa sổ tối thui. “Nó biến mất rồi,” giọng Tom vang lên sau một giây với nỗi kinh hoàng vẫn đọng lại. “Có cái gì vừa nhìn cậu đấy.”

Run lẩy bẩy, Amory lại ngã sụp xuống ghế.

“Tớ phải kể cho cậu nghe cái này,” cậu nói. “Tớ vừa trải qua một phen kinh hoàng nhớ đời. Tớ nghĩ là tớ—tớ vừa nhìn thấy ác quỷ hay—thứ gì đó tương tự thế. Gái cậu vừa nhìn thấy mặt ai?—hoặc thôi,” cậu nhanh nhẩu bồi thêm, “đừng có nói cho tớ biết!”

Và cậu kể hết mọi chuyện cho Tom nghe. Đã là nửa đêm khi cậu dứt câu chuyện, và sau đó, dưới ánh đèn bật sáng trưng, hai đứa trẻ mệt lử, run lẩy bẩy cứ thế đọc cho nhau nghe những đoạn trích từ cuốn “The New Machiavelli” cho đến khi ánh bình minh ló dạng từ phía tòa nhà Witherspoon Hall, tiếng chim sẻ tháng Năm chào đón vầng thái dương sau trận mưa dầm dề đêm qua vang lên ngoài cửa.

Nguồn: Việt Nam Thư Quán dịch từ Project Gutenberg
Được bạn: Mọt Sách đưa lên
vào ngày: 3 tháng 11 năm 2026

« Lùi Tiến »

Truyện bạn đang đọc dở dang

💬 Thảo luận

Chưa có bình luận nào — hãy là người đầu tiên chia sẻ cảm nhận của bạn!

Đăng nhập để tham gia bình luận.