Bên Kia Thiên Đường

Lượt đọc: 47 | 0 Đánh giá: 0/10 Sao
★★★★★★★★★★
★★★★★★★★★★
« Lùi Tiến »
Chương 3
Sự Mỉa Mai Non Trẻ

❊ ❊ ❊

Nhiều năm về sau, mỗi khi Amory nghĩ về Eleanor, anh hình như vẫn nghe văng vẳng tiếng gió thổn thức xung quanh và gieo những luồng lạnh giá vào tận chốn thâm tâm. Đêm ấy, khi họ cưỡi ngựa lên sườn đồi và ngắm vầng trăng lạnh lẽo bồng bềnh trôi qua những tầng mây, anh đã đánh mất một phần bản ngã chẳng gì có thể bù đắp nổi; và khi mất đi phần ấy, anh cũng mất luôn cả khả năng tiếc nuối nó. Eleanor có thể coi là lần cuối cùng cái ác lẩn khuất đến gần Amory dưới vỏ bọc của sắc đẹp, là ẩn số kỳ quái cuối cùng đã kìm giữ anh bằng nỗi mê hoặc cuồng dại và nghiền nát tâm hồn anh thành trăm mảnh.

Trí tưởng tượng của họ thỏa sức cuồng quay khi ở bên nhau, và đó là lý do họ cùng cưỡi ngựa lên đỉnh đồi cao nhất để ngắm vầng trăng tà ác dâng cao, bởi khi ấy họ thừa biết rằng bản thân có thể nhìn thấy ác quỷ trong đối phương. Nhưng còn Eleanor—phải chăng Amory chỉ đang mơ thấy nàng? Về sau, những bóng ma của họ vẫn đùa giỡn với nhau, dẫu cả hai trong tận đáy lòng đều cầu mong không bao giờ còn gặp lại. Phải chăng chính nỗi buồn vô tận trong ánh mắt nàng đã lôi kéo anh, hay tấm gương phản chiếu chính mình mà anh tìm thấy nơi sự trong trẻo tuyệt mỹ của tâm trí nàng? Sẽ chẳng có cuộc phiêu lưu nào khác giống như Amory đối với nàng, và nếu đọc được những dòng này, nàng sẽ thốt lên rằng:

“Và Amory cũng sẽ chẳng có cuộc phiêu lưu nào khác giống như tôi.”

Nàng cũng sẽ chẳng thở dài, y như anh vậy.

Có lần Eleanor đã cố đem điều đó giãi bày lên trang giấy:

Những điều phai nhạt ta vừa hay biết

Rồi sẽ quên đi...

Cất kỹ vào rồi...

Những khát khao tan theo làn tuyết

Và những giấc mơ hoài

Cho đến hôm nay:

Bình minh chợt đến ta cười vui đón chào

Ai nấy đều thấy, chẳng ai sẻ chia nào

Rồi cũng chỉ là bình minh... và dẫu gặp lại

Ta cũng chẳng màng chi.

Người ơi... chẳng giọt lệ nào rơi vì điều đó...

Chỉ một thoáng sau

Chẳng chút nghẹn ngào

Lay động nụ hôn dĩ vãng

Ngay cả sự lặng thinh,

Khi ta gặp lại nhau,

Cũng chẳng ban cho bóng ma xưa bãi hoang nào để bước tới,

Hay làm gợn mặt biển xanh...

Nếu những bóng hình xám tro trôi dạt dưới bọt sóng

Ta nào có thấy đâu.

Họ đã cãi nhau một cách đầy nguy hiểm chỉ vì Amory quả quyết rằng sea (biển) và see (nhìn) tuyệt đối không thể dùng làm vần với nhau được. Rồi sau đó Eleanor có được một đoạn thơ khác mà cô không tài nào tìm nổi câu mở đầu:

... Nhưng sự khôn ngoan qua đi... năm tháng vẫn

Dưỡng nuôi ta khôn ngoan.... Tuổi già sẽ lùi dần

Về với chốn xưa—

Dẫu lệ tuôn chan chứa

Ta nào có hay biết đâu.

Eleanor căm ghét Maryland cay đắng. Nàng thuộc về một trong những dòng họ lâu đời nhất ở hạt Ramilly và sống trong một ngôi nhà u ám, rộng lớn cùng ông nội. Nàng sinh ra và lớn lên ở Pháp.... Tôi thấy mình đang bắt đầu sai hướng rồi. Để tôi bắt đầu lại từ đầu vậy.

Amory đang chán ngán, như anh vẫn thường thế mỗi khi ở miền quê. Anh thường thui thủi đi dạo xa một mình—lang thang dọc theo những cánh đồng ngô ngâm nga bài thơ “Ulalume”, và ca ngợi Poe vì đã uống rượu cho đến chết giữa bầu không khí tự mãn đến mỉm cười ấy. Một buổi chiều, anh đã tản bộ vài dặm dọc theo con đường hoàn toàn xa lạ, rồi băng qua một khu rừng theo lời khuyên tồi tệ của một người phụ nữ da màu... để rồi lạc lối hoàn toàn. Một cơn giông bất chợt kéo đến, và bầu trời tối sầm lại như mực khiến anh vô cùng sốt ruột, những hạt mưa bắt đầu lác đác rơi xuyên qua những tán cây chợt trở nên lén lút và kỳ quái. Tiếng sấm gầm rú đầy đe dọa dọc thung lũng rồi lan tỏa khắp khu rừng thành những đợt ngắt quãng. Anh quờ quạng bước đi trong mù mịt, tìm lối thoát, và cuối cùng, qua những chùm cành cây đan xen, anh thoáng thấy một khoảng trống giữa các tán cây nơi ánh chớp liên hồi rọi sáng vùng đất quang đãng bên ngoài. Anh lao vụt đếnì bìa rừng rồi ngập ngừng không biết có nên băng qua cánh đồng để tìm chỗ trú ẩn trong ngôi nhà nhỏ được đánh dấu bởi ánh đèn phía xa tít tận cuối thung lũng hay không. Lúc ấy mới chỉ có năm rưỡi chiều, nhưng anh hầu như chẳng thể nhìn rõ mười bước chân trước mặt, trừ những lúc chớp lóe lên làm mọi thứ xung quanh bừng sáng rực rỡ và kỳ dị trong một khoảng không gian rộng lớn.

Đột nhiên, một âm thanh kỳ lạ lọt vào tai anh. Đó là một khúc ca cất lên bằng chất giọng trầm, khàn đợt, giọng của một thiếu nữ, và bất cứ ai đang hát cũng đang ở rất gần anh. Một năm về trước, có lẽ anh đã phì cười hoặc run rẩy; nhưng trong tâm trạng bồn chồn lúc bấy giờ, anh chỉ đứng lặng lắng nghe khi từng lời thấm sâu vào ý thức:

Những tiếng nức nở dài

Của những cây vĩ cầm

Mùa thu

Làm tổn thương trái tim tôi

Bằng nỗi sầu muộn

Đơn điệu.

Ánh chớp xé toạc bầu trời, nhưng bài hát vẫn cất lên không một chút run rẩy. Nữ thi sĩ vô hình rõ ràng đang ở ngoài đồng và giọng hát dường như phát ra mơ hồ từ một đống cỏ khô cách anh chừng hai mươi bước chân.

Rồi tiếng hát dừng bặt: dứt rồi lại cất lên thành một khúc tụ ca kỳ quái vút cao, lơ lửng, rơi xuống rồi hòa quyện với tiếng mưa rơi:

Nghẹt thở vô cùng

Và tái nhợt khi

Giờ điểm

Tôi nhớ về

Những ngày xưa cũ

Và tôi khóc thương....

“Cái quái gì ở hạt Ramilly này,” Amory lẩm bẩm thành tiếng, “lại đi ngâm thơ Verlaine theo một giai điệu ứng khẩu bên đống cỏ khô ướt sũng thế nhỉ?”

“Có ai ở đó kìa!” giọng nói không chút hoảng hốt vang lên. “Anh là ai?—Manfred, Thánh Christopher, hay Nữ hoàng Victoria?”

“Tôi là Don Juan!” Amory bộc phát hét lớn, cất cao giọng át tiếng mưa và tiếng gió.

Một tiếng thét đầy thích thú phát ra từ đống cỏ khô.

“Tôi biết anh là ai rồi—anh là cậu thanh niên tóc vàng thích bài ‘Ulalume’—tôi nhận ra giọng anh đấy.”

“Làm sao tôi lên được đây?” anh kêu lên từ chân đống cỏ khô, nơi anh vừa lết tới trong tình trạng ướt sũng. Một cái đầu ló ra ở rìa trên—trời tối đến mức Amory chỉ có thể lờ mờ nhận ra một nhúm tóc ẩm ướt và đôi mắt lấp lánh như mắt mèo.

“Chạy lùi lại!” giọng nói vang lên, “rồi nhảy lên đi, tôi sẽ bắt lấy tay anh—không, không phải ở đấy—ở bên kia cơ.”

Anh làm theo hướng dẫn, và khi đang luống cuống bò lên sườn đống cỏ ngập đến đầu gối, một bàn chìa nhỏ nhắn, trắng trẻo chìa ra, siết chặt lấy tay anh và kéo anh lên đỉnh.

“Đến nơi rồi nhé, Juan,” cô gái mái tóc ẩm ướt kêu lên. “Anh có phiền không nếu tôi bỏ chữ Don đi?”

“Ngón cái của cô y hệt như ngón cái của tôi!” anh thốt lên.

“Và anh đang nắm tay tôi đấy, thật nguy hiểm làm sao khi chưa được nhìn thấy mặt tôi.”

Anh buông tay ra ngay lập tức.

Như để đáp lại lời cầu nguyện của anh, một tia chớp lóe lên và anh háo hức nhìn chăm chăm vào người đang đứng bên cạnh anh trên đống cỏ khô sũng nước, cách mặt đất mười thước. Nhưng nàng đã che mặt lại và anh chẳng thấy gì ngoài một vóc dáng mảnh mai, mái tóc ngắn đen ẩm ướt, cùng những ngón tay nhỏ nhắn trắng trẻo với phần ngón cái quặp ngược lại giống hệt của anh.

“Ngồi xuống đi,” nàng lịch sự gợi ý khi màn đêm bao trùm lấy họ trở lại. “Nếu anh ngồi đối diện tôi trong chỗ lõm này, anh có thể dùng ké một nửa chiếc áo mưa mà tôi đang dùng làm lều chống thấm nước cho đến khi anh xông vào làm phiền tôi một cách thô lỗ như vậy.”

“Tôi được mời mà,” Amory vui sướng nói; “chính cô mời tôi cơ mà—cô thừa biết là mình đã mời mà lị.”

“Don Juan lúc nào cũng xoay sở được như thế,” nàng vừa cười vừa nói, “nhưng tôi sẽ không gọi anh bằng cái tên đó nữa đâu, bởi vì anh có mái tóc ngả đỏ. Thay vào đó, anh có thể đọc bài ‘Ulalume’ còn tôi sẽ là Psyche, tâm hồn của anh.”

Amory đỏ bừng mặt, thật may mắn vì được che khuất dưới bức màn gió mưa. Họ đang ngồi đối diện nhau trong một trũng nhỏ trên đống cỏ khô với chiếc áo mưa trải che phần lớn người họ, phần còn lại thì mặc cho mưa tạt. Amory đang tuyệt vọng cố gắng nhìn cho ra Psyche, nhưng tia chớp nhất quyết không chịu lóe lên lần nữa, và anh đành kiên nhẫn chờ đợi. Lạy Chúa! Giả sử nàng không đẹp thì sao—giả sử nàng đã bốn mươi tuổi và ra điều thông thái chữ nghĩa—ôi trời! Giả sử, chỉ giả sử thôi, nàng bị điên thì sao. Nhưng anh biết điều giả thiết sau thật không đáng chút nào. Định mệnh vừa cử đến đây một cô gái để tiêu khiển cho anh y như cách Benvenuto Cellini sai người đi ám sát vậy, thế mà anh lại đi thắc mắc không biết nàng có điên hay không, chỉ vì nàng hoàn toàn phù hợp với tâm trạng của anh lúc này.

“Tôi không điên đâu,” nàng nói.

“Không cái gì cơ?”

“Không điên. Lúc đầu trông thấy anh tôi có nghĩ anh bị điên đâu, thế nên anh cũng đừng có mà nghĩ tôi thế chứ, thật chẳng công bằng chút nào.”

“Sao quái quỷ mà—”

Chừng nào còn quen biết nhau, Eleanor và Amory có thể đang “bàn về một chủ đề nào đó” rồi bỗng ngưng bặt với ý nghĩ rành mạch trong đầu, thế nhưng mười phút sau cất tiếng nói lên thì lại nhận ra tâm trí họ đã cùng đi theo những lối mòn giống nhau và dẫn dắt mỗi người đến một ý tưởng tương đồng, một ý tưởng mà kẻ khác sẽ thấy hoàn toàn chẳng dính dáng gì đến điều ban đầu.

“Nói cho tôi nghe xem,” anh sốắng đòi hỏi,ồm người về phía trước đầy háo hức, “làm sao cô biết về bài ‘Ulalume’—làm sao cô biết màu tóc của tôi? Tên cô là gì? Cô làm gì ở đây? Nói cho tôi nghe tất cả một lúc xem nào!”

Bất chợt tia chớp lóe lên với một luồng sáng chói lòa vượt qua tất cả và anh nhìn thấy Eleanor, lần đầu tiên nhìn thẳng vào đôi mắt ấy. Ồ, nàng thật lộng lẫy—làn da tái nhợt tựa cẩm thạch dưới ánh sao, đôi chân mày thanh mảnh, và đôi mắt ánh lên sắc xanh lục của ngọc lục bảo giữa vùng lóa mắt chói lòa. Nàng là một phù thủy, tuổi chừng mười chín theo anh phỏng đoán, nhanh nhạy, mộng mơ và có vết hằn trắng tố cáo nơi môi trên vừa là điểm yếu vừa là nét duyên ngây ngất. Anh thở dốc ngả người ra đằng sau dựa vào bức tường cỏ khô.

“Bây giờ anh đã nhìn thấy tôi rồi đấy,” nàng bình tĩnh nói, “và chắc là anh sắp sửa thốt lên rằng đôi mắt xanh của tôi đang thiêu đốt vào tận tâm can anh rồi chứ gì.”

“Tóc cô màu gì thế?” anh đăm đăm hỏi. “Cắt ngắn ngang vai phải không?”

“Vâng, cắt ngắn ngang vai. Tôi chẳng biết nó màu gì nữa,” nàng trầm ngâm đáp, “bao nhiêu người đàn ông đã hỏi tôi câu đó rồi. Chắc là màu trung gian thôi—Chẳng ai thèm nhìn kỹ tóc tôi lâu đâu. Bù lại tôi có đôi mắt đẹp, phải không nào. Anh muốn nói gì mặc kệ, tôi có đôi mắt đẹp mà.”

“Trả lời câu hỏi của tôi đi, Madeline.”

“Tôi nhớ làm sao hết được—hơn nữa tên tôi không phải Madeline, tôi tên là Eleanor.”

“Lẽ ra tôi phải đoán được chứ. Cô trông giống một Eleanor—cô có cái vẻ bề ngoài của một Eleanor. Cô hiểu ý tôi mà.”

Một khoảng lặng trùm lên khi họ lắng nghe tiếng mưa rơi.

“Nó đang chảy tòng tọt xuống cổ tôi rồi đấy, người đồng chí điên rồ ạ,” cuối cùng nàng lên tiếng.

“Trả lời những câu hỏi của tôi đi.”

“Thôi được—họ Savage, tên Eleanor; sống trong ngôi nhà cổ lớn cách đây một dặm dọc theo con đường; người thân ruột thịt gần nhất cần thông báo, ông nội—Ramilly Savage; chiều cao, năm thước bốn inch; số khắc trên nắp đồng hồ, 3077 W; mũi, khoằm thanh tú; tính tình, quái dị—”

“Còn tôi,” Amory cắt ngang, “cô nhìn thấy tôi ở đâu cơ chứ?”

“À, anh là cái kiểu đàn ông đấy,” nàng kiêu kỳ đáp, “cứ phải lôi cái bản thân già cỗi của mình vào cuộc trò chuyện cho bằng được. Này cậu bé, tuần trước tôi đang nằm sưởi nắng sau một hàng rào, thế rồi có một người đàn ông đi tới, miệng lẩm bẩm đọc bằng một giọng điệu dễ chịu và đầy tự mãn:

‘Và giờ đây khi màn đêm đã xế tàn’

(hắn ta nói thế)

‘Và những chiếc đồng hồ sao chỉ hướng ban mai’

(hắn ta nói thế)

‘Nơi cuối con đường một thứ ánh sáng lỏng’

‘Và vẻ rực rỡ mờ ảo đã sinh thành.’

Thế là tôi ngó cổ qua hàng rào lên xem, nhưng vì lý do quái quỷ nào đó mà anh đã bắt đầu chạy mất tiêu, thế nên tôi chẳng thấy gì ngoài cái gáy đẹp đẽ của anh. ‘Ồ!’ tôi tự nhủ, ‘có một kẻ mà khối kẻ tụi mình phải thở dài ngẩn ngơ đây,’ và tôi tiếp tục nói bằng thứ tiếng Ireland sõi nhất của mình—”

“Thôi được rồi,” Amory cắt ngang. “Bây giờ quay lại chuyện của cô đi.”

“Được thôi. Tôi là một trong những kẻ đi khắp thế gian này để mang lại cảm giác hồi hộp cho người khác, nhưng bản thân lại chẳng nhận được mấy, ngoại trừ những cảm xúc tôi tự gán ghép vào những người đàn ông trong những đêm thế này. Tôi có đủ can đảm xã hội để lên sân khấu, nhưng lại thiếu năng lượng; tôi không đủ kiên nhẫn để viết sách; và tôi chưa từng gặp được người đàn ông nào mà tôi muốn lấy làm chồng. Dẫu sao thì tôi mới mười tám tuổi thôi mà.”

Cơn giông đang dịu dần và chỉ còn tiếng gió tiếp tục gào thét ma quái khiến đống cỏ khô nghiêng ngả và lún xuống nặng nề từ bên này sang bên khác. Amory đang chìm trong trạng thái xuất thần. Anh cảm thấy từng khoảnh khắc trôi qua đều vô cùng quý giá. Anh chưa từng gặp cô gái nào thế này bao giờ—và sẽ chẳng bao giờ anh còn thấy lại một người y hệt như vậy nữa. Anh hoàn toàn không cảm thấy mình giống như một nhân vật trong kịch bản nào cả, thứ cảm giác thích hợp trong một hoàn cảnh phi truyền thống—trái lại, anh có cảm giác như vừa được trở về nhà.

“Tôi vừa đưa ra một quyết định lớn,” Eleanor nói sau một khoảng lặng nữa, “và đó là lý do tôi có mặt ở đây, để trả lời thêm một câu hỏi nữa của anh. Tôi vừa quyết định rằng mình không tin vào sự bất tử.”

“Thật á! Thật là tầm thường!”

“Tầm thường phát sợ lên được ấy chứ,” nàng đáp, “nhưng dẫu sao thì nó cũng mang lại sự chán nản theo một cách cũ kỹ và ốm yếu. Tôi ra đây để hứng nước mưa—giống như một con gà ướt; những con gà ướt lúc nào cũng có sự minh mẫn tuyệt vời trong tâm trí,” nàng kết luận.

“Nói tiếp đi,” Amory lịch sự giục.

“Thì là—tôi không sợ bóng tối, thế nên tôi mặc áo khoác chống thấm và đi ủng cao su rồi bước ra ngoài. Anh thấy đấy, trước đây tôi lúc nào cũng sợ, sợ rằng mình không tin vào Chúa—bởi vì sấm sét có thể đánh chết tôi—nhưng tôi đang ở đây và Chúa chẳng đánh tôi cả, dĩ nhiên rồi, thế nhưng điều cốt lõi là lần này tôi chẳng còn sợ nó chút nào nữa so với hồi tôi còn là một tín đồ Khoa học Cơ đốc giáo như năm ngoái. Cho nên giờ đây tôi biết chắc mình là một kẻ duy vật và tôi đang kết thân với đống cỏ khô này thì anh bước ra và đứng ngẩn ngơ gần khu rừng, sợ chết khiếp đi được.”

“Này, cô nhóc khốn kiếp—” Amory phẫn nộ kêu lên. “Sợ cái gì chứ?”

“Sợ chính anh chứ gì!” nàng hét lên và anh giật nảy mình. Nàng vỗ tay cười vang. “Thấy chưa—thấy chưa! Lương tâm ư—hãy tiêu diệt nó đi giống như tôi này! Eleanor Savage, nhà vật chất học—không giật mình, không hoảng hốt, xin mời đến sớm—”

“Nhưng tôi phải có tâm hồn chứ,” anh phản đối. “Tôi không thể sống lý trí được—và tôi kiên quyết không làm một cấu trúc phân tử.”

Nàng rướn người về phía anh, đôi mắt sục sôi không rời mắt anh và thì thầm với một vẻ quả quyết đầy lãng mạn:

“Em đã nghĩ thế đấy, Juan à, em đã sợ thế đấy—anh là một kẻ đa sầu đa cảm. Anh không giống em. Em chỉ là một cô nàng duy vật lãng mạn mà thôi.”

“Tôi không hề đa sầu đa cảm—tôi cũng lãng mạn y như cô vậy. Ý tôi là, người đa cảm thì nghĩ rằng mọi thứ sẽ trường tồn—còn người lãng mạn thì mang một niềm tin tuyệt vọng rằng chúng sẽ chẳng kéo dài đâu.” (Đây là một sự phân biệt cổ xưa của riêng Amory.)

“Toàn là châm ngôn. Tôi về nhà đây,” nàng buồn bã nói. “Xuống khỏi đống cỏ khô này rồi đi bộ ra ngã tư thôi.”

Họ chậm rãi leo xuống khỏi chỗ ngồi. Nàng nhất quyết không cho anh đỡ xuống và xua tay ra hiệu để rồi ngã vật một cách duyên dáng thành một đống trong lớp bùn mềm, nơi nàng ngồi thừ ra một lát, tự cười chính mình. Rồi nàng chồm dậy, luồn tay vào tay anh, và họ rón rén bước đi trên cánh đồng, nhảy nhót và đu mình từ vũng khô này sang vũng khô khác. Một niềm vui sướng tột cùng dường như lấp lánh trong từng vũng nước, bởi vầng trăng đã mọc lên và cơn giông đã vội vã rút chạy về phía tây Maryland. Khi cánh tay Eleanor chạm vào tay anh, anh cảm thấy bàn tay mình lạnh ngắt vì nỗi sợ tột độ rằng anh sẽ đánh mất chiếc cọ bóng tối mà trí tưởng tượng của anh đang dùng để vẽ nên những điều kỳ diệu về nàng. Anh liếc nhìn nàng bằng đuôi mắt như vẫn thường làm mỗi khi đi dạo cùng nàng—nàng vừa là một bữa yến tiệc vừa là một sự dại khờ, và anh ước gì định mệnh sắp đặt cho mình được ngồi mãi trên đống cỏ khô để ngắm nhìn cuộc đời qua đôi mắt xanh của nàng. Chủ nghĩa ngoại giáo trong anh trỗi dậy mãnh liệt đêm đó và khi nàng mờ dần đi như một bóng ma xám xịt cuối con đường, một khúc ca trầm hùng từ những cánh đồng vang lên lấp đầy lối bước chân anh về nhà. Suốt đêm ấy, những con bướm đêm mùa hè bay lượn dập dìu qua cửa sổ Amory; suốt đêm ấy, những âm thanh vang vọng lớn lao đong đưa trong nỗi hoài niệm huyền bí qua những hạt thóc bạc màu—và anh nằm thức trắng trong bóng tối trong trẻo.

THÁNG CHÍN

Amory ngắt một cọng cỏ rồi khoa học nhấm nháp nó.

“Tôi không bao giờ phải lòng ai vào tháng Tám hay tháng Chín cả,” anh hé lộ.

“Thế thì vào lúc nào?”

“Giáng sinh hoặc lễ Phục sinh. Tôi là một tín đồ phụng vụ.”

“Lễ Phục sinh!” Nàng bĩu môi. “Hừ! Mùa xuân mặc áo nịt ngực!”

“Lễ Phục sinh chắc sẽ làm mùa xuân chán chết đi được nhỉ? Lễ Phục sinh tóc tết gọn gàng, mặc một bộ đồ âu phục may đo chỉnh tề.”

“Hãy mang dép vào đi, ôi người nhanh nhẹn nhất.

Vượt qua vẻ lộng lẫy và tốc độ của đôi chân nàng—”

Eleanor khẽ ngâm nga, rồi bồi thêm: “Tôi đoán là lễ Hóa lộ quỷ (Hallowe’en) hợp với mùa thu hơn là lễ Tạ ơn.”

“Hợp hơn nhiều—và đêm Giáng sinh rất thích hợp cho mùa đông, nhưng mùa hè thì...”

“Mùa hè chẳng có ngày lễ nào cả,” nàng nói. “Chúng ta đời nào có nổi một mối tình mùa hè. Đã có bao nhiêu người thử rồi để rồi cái tên ấy trở thành một câu cửa miệng mang tính thành ngữ. Mùa hè chỉ là lời hứa hẹn không thành hiện thực của mùa xuân, một kẻ bịp bợm thay thế cho những đêm ấm áp dịu êm mà tôi hằng mơ ước hồi tháng Tư. Đó là một mùa buồn bã của cuộc đời chẳng thể lớn lên được.... Nó chẳng có ngày lễ nào cả.”

“Ngày Bốn tháng Bảy,” Amory bông đùa gợi ý.

“Đừng có mà đùa cợt!” nàng nói, lườm anh sắc lẹm.

“Thế cái gì mới thực hiện được lời hứa của mùa xuân?”

Nàng trầm ngâm suy nghĩ một lát.

“Ồ, tôi đoán là thiên đường, nếu có nơi đó,” cuối cùng nàng đáp, “một kiểu thiên đường ngoại giáo—lẽ ra anh nên làm một kẻ duy vật mới phải,” nàng lại nói lạc đề.

“Tại sao?”

“Bởi vì trông anh khá giống với những bức ảnh chụp Rupert Brooke.”

Đến một mức độ nào đó, Amory đã cố gắng hóa thân thành Rupert Brooke chừng nào còn quen biết Eleanor. Những gì anh nói, thái độ của anh đối với cuộc đời, đối với nàng, đối với chính mình, tất cả đều phản chiếu tâm trạng văn chương của người Anh đoản mệnh ấy. Thường thì nàng ngồi trên bãi cỏ, ngọn gió lười biếng đùa nghịch với mái tóc ngắn, giọng khàn khàn khi nàng đọc lên xuống các nốt từ Grantchester đến Waikiki. Có điều gì đó vô cùng nồng nhiệt trong cách Eleanor đọc to. Họ dường như xích lại gần nhau hơn, không chỉ về mặt tinh thần, mà cả thể xác, khi họ đọc sách, hơn là những lúc nàng nằm trong vòng tay anh, và điều này diễn ra thường xuyên, bởi họ đã vướng vào thứ tình yêu dở chừng gần như ngay từ phút đầu tiên. Thế nhưng liệu Amory có còn khả năng yêu đương ở thời điểm này không? Anh vẫn có thể, như mọi khi, trải qua mọi cung bậc cảm xúc chỉ trong nửa giờ đồng hồ, nhưng ngay cả khi họ say sưa trong trí tưởng tượng của mình, anh vẫn thừa biết rằng chẳng ai trong số họ có thể quan tâm sâu sắc như cách anh từng yêu trước kia—tôi đoán đó là lý do họ tìm đến Brooke, Swinburne và Shelley. Cơ hội của họ là biến mọi thứ trở nên tuyệt mỹ, hoàn hảo, phong phú và giàu trí tưởng tượng; họ phải uốn nắn những chiếc vòi tuộc vàng nhỏ xíu từ trí tưởng tượng của anh sang trí tưởng tượng của nàng, thứ có thể thay thế cho tình yêu lớn lao, sâu thẳm chưa từng đến gần như thế, nhưng cũng chưa bao giờ mang tính chiêm bao đến thế.

Có một bài thơ họ đọc đi đọc lại; bài “Triumph of Time” của Swinburne, và bốn câu thơ trong đó cứ văng vẳng trong ký ức anh vào những đêm ấm áp khi anh nhìn thấy đom đóm bay lượn giữa những thân cây tối sẫm và nghe tiếng vo ve trầm đục của muôn loài ếch nhái. Khi ấy Eleanor dường như bước ra từ màn đêm và đứng cạnh anh, và anh nghe thấy giọng nói đục ngầu hơi khàn như tiếng trống bọc cừu của nàng, lặp đi lặp lại:

Có đáng một giọt lệ, có đáng một giờ dài,

Để nghĩ về những thứ đã qua đi từ lâu;

Về vỏ trấu vô tích sự và bông hoa phù du,

Giấc mơ đã từ bỏ và hành động đã chùn chân?

Hai ngày sau, họ chính thức được giới thiệu với nhau, và người cô kể cho anh nghe về gia thế của nàng. Nhà Ramilly có hai người: cụ ông Ramilly và cô cháu gái Eleanor. Nàng từng sống ở Pháp với người mẹ bồi hồi không yên mà Amory tưởng tượng là rất giống mẹ mình, và sau khi bà qua đời, nàng sang Mỹ sống ở Maryland. Ban đầu nàng đến Baltimore để ở với một người chú độc thân, và ở đó nàng khăng khăng đòi làm một thiếu nữ dự vũ hội khi mới mười bảy tuổi. Nàng có một mùa đông nổi loạn và đến vùng quê vào tháng Ba, sau khi cãi nhau điên cuồng với tất cả họ hàng ở Baltimore, khiến họ bị sốc và phản ứng dữ dội. Một đám bạn có lối sống khá buông thả đã kéo đến, những kẻ uống cocktail trong những chiếc xe limousine và tỏ thái độ trịch thượng, bề trên đối với những người lớn tuổi, và Eleanor với sự sắc sảo phảng phất hương vị đại lộ Paris đã dẫn dắt nhiều kẻ ngây thơ còn vương vấn mùi vị của St. Timothy và Farmington vào những con đường hư hỏng kiểu Bohemia. Khi câu chuyện đến tai người chú, một hiệp sĩ lãng quên của một thời đại đạo đức giả hơn, một trận lôi đình đã nổ ra, từ đó Eleanor xuất hiện, ngoan ngoãn hơn nhưng đầy vẻ nổi loạn và phẫn nộ, để tìm kiếm chốn nương thân bên người ông đang lảng vảng nơi vùng quê ở cái tuổi cận kề lú lẫn. Câu chuyện của nàng chỉ đến đó; phần còn lại nàng tự kể cho anh nghe, nhưng là chuyện về sau.

Họ thường xuyên đi bơi và khi Amory lững lờ thả nổi mình trong làn nước, anh khép kín tâm trí trước mọi suy nghĩ ngoại trừ những vùng đất bong bóng xà phòng mờ ảo nơi ánh nắng vỡ òa qua những hàng cây say gió. Làm sao có thể suy nghĩ hay lo lắng bất cứ điều gì, ngoài việc đẫm mình, lặn ngụp và thư thả ngả ngớn bên bờ mé của thời gian trong lúc những tháng ngày hoa mộng lụi tàn. Cứ để những ngày tháng trôi qua đi—nỗi buồn, ký ức và nỗi đau lại tái hiện ở bên ngoài, còn ở đây, một lần nữa, trước khi anh bước đi để đối mặt với chúng, anh chỉ muốn trôi dạt và được sống tuổi trẻ.

Có những ngày Amory căm phẫn vì cuộc sống đã thay đổi từ một tiến trình đều đặn dọc theo con đường luôn mở rộng tầm mắt, với cảnh vật hòa quyện vào nhau, thành một chuỗi những cảnh tượng nhanh chóng, chẳng liên quan gì đến nhau—hai năm đẫm mồ hôi và máu, bản năng làm cha vô lý đột ngột mà Rosalind từng khơi gợi; cái phẩm chất nửa nhục cảm, nửa thần kinh của mùa thu này bên Eleanor. Anh cảm thấy sẽ phải mất hết thời gian, nhiều hơn cả quỹ thời gian cạn kiệt của mình, để dán những bức tranh kỳ lạ cồng kềnh này vào cuốn sổ lưu niệm của cuộc đời. Tất cả giống như một bữa yến tiệc nơi anh ngồi trong nửa giờ tuổi trẻ này và cố gắng thưởng thức những món ăn trác tuyệt rực rỡ.

Mơ hồ, anh tự hứa với lòng về một thời điểm nơi mọi thứ sẽ được hàn gắn lại với nhau. Trong nhiều tháng, dường như anh cứ dao động giữa việc bị cuốn đi trên dòng chảy của tình yêu hay sự say mê, hoặc bị bỏ lại trong một vũng xoáy, và tại những vũng xoáy đó, anh chẳng muốn suy nghĩ gì cả, mà chỉ muốn được vớt lên trên đỉnh ngọn sóng và cuốn đi một lần nữa.

“Mùa thu tàn lụi tuyệt vọng và tình yêu của chúng ta—chúng hòa hợp với nhau làm sao!” Eleanor buồn bã nói một ngày khi họ nằm ướt sũng bên dòng nước.

“Mùa hè muộn của lòng chúng ta—” anh bỏ lửng câu nói.

“Nói cho tôi nghe đi,” cuối cùng nàng nói, “cô ta tóc sáng màu hay tối màu?”

“Sáng màu.”

“Cô ta có đẹp hơn tôi không?”

“Tôi không biết,” Amory cụt lủn đáp.

Có một đêm họ đi dạo trong lúc trăng lên và trút xuống khu vườn một gánh nặng vinh quang lớn lao cho đến khi nơi đây trông tựa chốn thần tiên với Amory và Eleanor, những bóng hình mờ ảo phảng phất, bày tỏ vẻ đẹp vĩnh hằng trong những tâm trạng tình yêu tinh nghịch kỳ lạ. Rồi họ rẽ khỏi ánh trăng bước vào bóng tối giàn giụa dây leo của một cái chòi lợp giàn hoa, nơi có những mùi hương nồng nàn đến mức gần như hóa thành âm nhạc.

“Đốt một que diêm đi,” nàng thì thầm. “Em muốn nhìn thấy anh.”

Sẹt! Bùng cháy!

Màn đêm và những thân cây sần sùi trông giống như cảnh trí trong một vở kịch, và việc ở đó cùng Eleanor, mờ ảo và phi thực, bằng cách nào đó lại mang đến một cảm giác quen thuộc đến kỳ lạ. Amory nghĩ về việc chỉ có quá khứ mới luôn có vẻ xa lạ và khó tin đến thế. Que diêm tắt ngấm.

“Tối đen như mực.”

“Bây giờ chúng ta chỉ là những giọng nói,” Eleanor thì thầm, “những giọng nói cô đơn nhỏ bé. Đốt thêm que nữa đi.”

“Đấy là que diêm cuối cùng của anh rồi.”

Đột nhiên anh ôm chầm lấy nàng vào lòng.

“Em là của anh—em thừa nhận em là của anh đi!” anh cuồng nhiệt kêu lên... ánh trăng đan cài xuyên qua những giàn dây leo và lắng nghe... những con đom đóm đậu lại trên tiếng thì thầm của họ như muốn cướp đi cái nhìn của anh khỏi sự lộng lẫy trong đôi mắt nàng.

HẾT MÙA HÈ

“Chẳng có ngọn gió nào lay động trong đám cỏ; chẳng một ngọn gió nào... mặt nước trong những chiếc ao khuất lấp, phẳng lặng như gương, phản chiếu vầng trăng tròn và qua đó chôn vùi chiếc thẻ vàng trong khối băng giá,” Eleanor ngâm nga với những tán cây đã trơ xương của màn đêm. “Ở đây ma quái thật đấy chứ? Nếu anh có thể giữ cho chân ngựa của mình vững vàng, chúng ta hãy băng qua khu rừng và tìm những cái ao ẩn khuất đi.”

“Đã hơn một giờ rồi, và cô sẽ bị trận đòn nhừ tử cho xem,” anh phản đối, “hơn nữa tôi chẳng biết đủ nhiều về ngựa để có thể dắt nó vào chuồng trong cái cảnh tối như hũ nút này.”

“Câm miệng lại đi, cái đồ ngốc già cả,” nàng lờ đi rồi thì thầm, và rướn người vỗ nhẹ anh một cách lười biếng bằng chiếc roi ngựa của mình. “Anh có thể để con lừa già của anh ở chuồng nhà tôi rồi mai tôi cho người dắt sang.”

“Nhưng chú của tôi phải lái xe đưa tôi ra ga bằng con lừa già này vào lúc bảy giờ cơ mà.”

“Đừng có làm kẻ phá đám—hãy nhớ rằng, anh có xu hướng dao động khiến anh không thể trở thành ánh sáng duy nhất trong đời tôi được.”

Amory cho ngựa áp sát bên cạnh, và rướn người về phía nàng, nắm lấy tay nàng.

“Nói tôi là đi—nhanh lên, không thì tôi kéo cô qua đây và bắt cô cưỡi ngựa phía sau bây giờ.”

Nàng ngước lên, mỉm cười và lắc đầu đầy phấn khích.

“Ồ, làm đi!—hoặc đúng hơn là đừng! Tại sao mọi thứ thú vị lại cứ bất tiện thế nhỉ, như việc đánh nhau, thám hiểm và trượt tuyết ở Canada ấy? Nhân tiện đây, chúng ta sẽ cưỡi ngựa lên đồi Harper. Em nghĩ điều đó nằm trong chương trình của chúng ta vào khoảng năm giờ đấy.”

“Cô nhóc quỷ sứ,” Amory gầm gừ. “Cô định bắt tôi thức trắng đêm nay rồi ngủ trên tàu như một kẻ nhập cư suốt cả ngày mai để quay lại New York đấy à.”

“Suỵt! Có ai đang đi tới trên đường kìa—đi thôi! Whoo-ee-oop!” Và với một tiếng hét có lẽ khiến vị lữ khách lỡ đường phải trải qua một loạt cơn ớn lạnh, nàng quay ngựa lao vào rừng và Amory chầm chậm đi theo sau, y như cách anh đã bám theo nàng suốt cả ngày trong ba tuần qua.

Mùa hè đã kết thúc, nhưng anh đã dành những ngày tháng đó để ngắm nhìn Eleanor, một Manfred duyên dáng, tháo vát, tự xây dựng cho mình những kim tự tháp về mặt trí tuệ và trí tưởng tượng trong lúc nàng say sưa tận hưởng những điều nhân tạo của tuổi thiếu niên đầy cảm xúc và họ cùng nhau làm thơ bên bàn ăn.

Khi Phù hoa hôn Phù hoa, trăm năm những tháng Sáu hạnh phúc trước, hắn ngẩn ngơ ngắm hơi thở nàng không thốt nên lời, và để muôn người mãi khắc ghi, hắn gieo vần đôi mắt nàng cùng sự sống và cái chết:

“Qua Thời gian ta sẽ giữ lấy tình em!” hắn nói... thế nhưng Sắc đẹp phai mờ theo hơi thở của hắn, và cùng với những người tình, nàng đã chết...

—Mãi mãi là sự thông minh của hắn chứ chẳng phải đôi mắt nàng, mãi mãi là nghệ thuật của hắn chứ chẳng phải mái tóc nàng:

“Ai muốn học một thủ pháp gieo vần, hãy khôn ngoan dừng lại trước khúc sonnet của hắn ở đó”... Cho nên mọi lời của ta, dẫu chân thành đến đâu, có thể hát ru em đến tháng Sáu thứ ngàn, và chẳng một ai hay biết rằng em chỉ là Sắc đẹp trong khoảnh khắc của một buổi chiều.

Đó là những gì anh viết một ngày nọ, khi anh ngẫm nghĩ về việc chúng ta đã dửng dưng thế nào khi nghĩ về “Quý bà da ngăm trong các bài Sonnet”, và chúng ta nhớ về bà ít ỏi biết bao theo cách mà vĩ nhân muốn bà được ghi nhớ. Bởi vì điều mà Shakespeare chắc hẳn đã mong mỏi, để có thể viết ra với nỗi tuyệt vọng thiêng liêng nhường ấy, chính là việc người phụ nữ đó phải được sống... và giờ đây chúng ta chẳng còn chút hứng thú thực sự nào dành cho bà nữa.... Trớ trêu thay là nếu ông quan tâm đến bài thơ nhiều hơn là người phụ nữ thì bài sonnet ấy sẽ chỉ là thứ hùng biện hiển ngôn, bắt chước và chẳng một ai thèm đọc nó sau hai mươi năm nữa....

Đây là đêm cuối cùng Amory nhìn thấy Eleanor. Anh sẽ rời đi vào buổi sáng và họ đã thỏa thuận sẽ có một buổi cưỡi ngựa chào tạm biệt thật dài dưới ánh trăng lạnh lẽo. Nàng bảo nàng muốn trò chuyện—có lẽ là lần cuối cùng trong đời nàng có thể sống lý trí (ý nàng là làm dáng một cách thoải mái). Thế là họ rẽ vào rừng và cưỡi ngựa suốt nửa giờ liền hầu như chẳng nói câu nào, ngoại trừ lúc nàng thầm thì “Mẹ kiếp!” khi vướng phải một cành cây phiền phức—thì thầm câu nói ấy theo cách mà chưa cô gái nào khác có thể thốt lên. Rồi họ bắt đầu đi lên đồi Harper, dắt những con ngựa đã mệt mỏi.

“Lạy Chúa! Ở đây yên tĩnh quá!” Eleanor thì thầm; “cô quạnh hơn trong rừng nhiều.”

“Anh ghét rừng rậm lắm,” Amory rùng mình nói. “Bất kỳ loại tán lá hay bụi rậm nào vào ban đêm. Ở ngoài này không gian rộng rãi và dễ chịu cho tâm hồn làm sao.”

“Sườn dốc dài của một ngọn đồi dài.”

“Và vầng trăng lạnh lẽo đang lăn ánh trăng xuống sườn đồi ấy.”

“Và anh với em, những kẻ cuối cùng và quan trọng nhất.”

Đêm đó thật yên tĩnh—con đường thẳng tắp mà họ đi theo lên đến tận rìa vách đá rất hiếm dấu chân người qua lại ở bất kỳ thời điểm nào. Chỉ có thỉnh thoảng vài căn lều của người da đen, xám bạc dưới ánh trăng sắc lạnh như đá, phá vỡ dải đất trống trải dài dằng dặc; phía sau là rìa rừng đen thẫm tựa như một lớp kem phủ tối màu trên chiếc bánh kem trắng, và phía trước là chân trời sắc nhọn, cao vợi. Trời lạnh hơn rất nhiều—lạnh đến mức áp lên người họ và xua tan mọi đêm hè ấm áp khỏi tâm trí họ.

“Hết mùa hè rồi,” Eleanor khẽ nói. “Hãy lắng nghe tiếng móng ngựa của chúng ta đập—‘tịch-tịch-tịch-a-tịch’. Anh đã bao giờ bị sốt và thấy mọi âm thanh đều tách ra thành tiếng ‘tịch-tịch-tịch’ cho đến khi anh có thể thề rằng cõi vĩnh hằng có thể chia hết cho chừng ấy tiếng tịch chưa? Em cảm thấy thế đấy—những con ngựa già cứ tịch tịch.... Em đoán đó là điều duy nhất phân biệt loài ngựa và đồng hồ với chúng ta. Con người không thể cứ ‘tịch-tịch-tịch’ mãi mà không phát điên lên được.”

Cơn gió thổi lồng lộng hơn và Eleanor kéo áo choàng quấn chặt người rồi rùng mình.

“Em lạnh lắm à?” Amory hỏi.

“Không, em đang nghĩ về bản thân mình—cái phần nội tâm đen tối cũ kỹ bên trong em, cái phần thực sự, với sự trung thực căn bản ngăn em trở nên hoàn toàn độc ác bằng cách bắt em nhận thức rõ những tội lỗi của chính mình.”

Họ đang cưỡi ngựa sát mép vách đá và Amory nhìn xuống dưới. Nơi vực thẳm chạm mặt đất cách đó một trăm thước bên dưới, một dòng suối đen ngòm tạo thành một đường nét sắc cạnh, bị ngắt quãng bởi những ánh chớp li ti trong dòng nước xiết.

“Thế giới cũ thối nát, thối nát,” Eleanor đột ngột thốt lên, “và điều khốn nạn nhất trong số đó chính là em—ôi, tại sao em lại là con gái cơ chứ? Tại sao em không phải là một kẻ đần độn—? Nhìn anh xem; anh đần hơn em đấy, không nhiều lắm, nhưng có, và anh có thể tung tăng khắp nơi rồi thấy chán ngán rồi lại tung tăng đến chỗ khác, và anh có thể đùa giỡn với các cô gái mà không bị vướng vào lưới tình cảm, và anh có thể làm bất cứ điều gì và được biện minh—còn em đây, mang bộ óc để làm mọi thứ, thế nhưng lại bị trói buộc vào con tàu đắm mang tên hôn nhân tương lai. Nếu em sinh ra cách đây một trăm năm thì mọi chuyện đã khác, nhưng bây giờ cái gì đang chờ đón em đây—em phải kết hôn, điều đó là hiển nhiên rồi. Với ai? Em quá sáng dạ đối với hầu hết đàn ông, thế mà em lại phải hạ mình xuống mức độ của họ và để họ trịch thượng với trí tuệ của mình chỉ để đổi lấy sự chú ý của họ. Cứ mỗi năm trôi qua mà em không kết hôn là cơ hội tìm được một người đàn ông hạng nhất của em lại giảm đi. Tốt nhất là em chỉ có thể chọn lựa từ một hoặc hai thành phố và, dĩ nhiên, em phải kết hôn với một gã mặc áo vest đuôi tôm.”

“Lắng nghe này,” nàng lại rướn người sát lại, “em thích đàn ông thông minh và trai đẹp, và tất nhiên, chẳng ai quan tâm đến cá tính hơn em đâu. Ồ, cứ năm mươi người thì chỉ có đúng một người có chút manh mối về bản tính của giới tính là gì. Em bị ám ảnh bởi Freud và đủ thứ chuyện đó, nhưng thật khốn nạn là mọi hạt giống tình yêu đích thực trên đời này đều gồm chín mươi chín phần trăm là dục vọng và một chút xíu ghen tuông.” Nàng kết thúc câu nói đột ngột như lúc bắt đầu.

“Tất nhiên là em nói đúng rồi,” Amory đồng ý. “Đó là một sức mạnh áp đảo khá khó chịu vốn là một phần của cỗ máy ẩn dưới mọi thứ. Nó giống như một diễn viên để lộ cho bạn thấy cơ chế hoạt động của mình! Chờ một phút để anh nghĩ xem nào...”

Anh dừng lại và cố tìm một phép ẩn dụ. Họ đã đi vòng qua vách đá và đang cưỡi ngựa dọc theo con đường cách đó chừng năm mươi thước về phía bên trái.

“Em thấy đấy, ai cũng phải có một chiếc áo choàng để khoác lên nó. Những trí tuệ tầm thường, tầng lớp thứ hai của Plato, sử dụng những tàn dư của lòng hiệp sĩ lãng quan pha loãng với tình cảm thời Victoria—và chúng ta, những kẻ tự coi mình là trí thức, che đậy nó bằng cách giả vờ rằng đó là một khía cạnh khác của chúng ta, chẳng dính dáng gì đến bộ óc sáng chói của mình; chúng ta giả vờ rằng việc chúng ta nhận thức được điều đó thực ra đang giải thoát chúng ta khỏi việc trở thành con mồi của nó. Nhưng sự thật là dục vọng nằm ngay chính giữa những tầng trừu tượng thuần khiết nhất của chúng ta, gần đến mức nó làm mờ đi tầm nhìn... Anh có thể hôn em ngay bây giờ và anh sẽ làm thế...” Anh rướn người về phía nàng trên yên ngựa, nhưng nàng lùi ra.

“Em không thể—em không thể hôn anh lúc này—em nhạy cảm hơn.”

“Thế thì em càng đần độn hơn đấy,” anh có phần thiếu kiên nhẫn tuyên bố. “Trí tuệ chẳng thể che chắn gì cho dục vọng được nữa đâu, cũng giống như lề thói xã hội vậy...”

“Cái gì che chắn được chứ?” nàng nổi giận. “Giáo hội Công giáo hay những lời răn của Khổng Tử chắc?”

Amory ngẩng đầu lên, có phần sửng sốt.

“Đó là liều thuốc tiên của anh phải không?” nàng hét lên. “Ồ, anh cũng chỉ là một kẻ đạo đức giả già cõi mà thôi. Hàng ngàn vị linh mục cau mày bắt những kẻ Ý thoái hóa và người Ireland mù chữ phải hối cải bằng thứ ngôn từ nhảm nhí về điều răn thứ sáu và thứ chín. Tất cả chỉ là áo choàng, là tình cảm và son phấn tinh thần cùng những thứ thuốc tiên vớ vẩn. Tôi nói cho anh hay chẳng có Chúa tể nào hết, thậm chí chẳng có một sự thiện trừu tượng rạch ròi nào cả; thế nên mọi thứ đều phải được tự cá nhân giải quyết cho chính cá nhân ngay tại đây, trong những chiếc trán trắng cao vợi như trán tôi đây, và anh thì quá ra vẻ ta đây đạo đức để thừa nhận điều đó.” Nàng buông dây cương và giơ đôi tay nhỏ bé dọa đấm lên bầu trời đầy sao.

“Nếu có Chúa thì hãy giáng sét đánh tôi đi—đánh tôi đi!”

“Lại nói về Chúa theo kiểu của những kẻ vô thần,” Amory gay gắt nói. Chủ nghĩa duy vật của anh, vốn luôn là một chiếc áo choàng mỏng manh, đã bị xé toạc thành từng mảnh bởi những lời lộng ngôn của Eleanor.... Nàng thừa điều đó và việc nàng biết điều ấy khiến anh nổi giận.

“Và giống như hầu hết những trí thức không thấy đức tin là tiện lợi,” anh lạnh lùng tiếp tục, “giống như Napoleon và Oscar Wilde cùng những kẻ khác thuộc thể loại của cô, cô sẽ gào thét thật to đòi gặp linh mục trên giường bệnh cho mà xem.”

Eleanor giật mạnh cương ngựa dừng lại và anh cũng kéo cương dừng bên cạnh nàng.

“Tôi á?” nàng nói bằng một giọng kỳ lạ khiến anh hoảng sợ. “Tôi á? Xem đây! Tôi chuẩn bị lao xuống vách đá đây!” Và trước khi anh kịp can thiệp, nàng đã quay đầu ngựa phóng bạt mạng về phía rìa cao nguyên.

Anh quay xe đuổi theo, thân người lạnh ngát như băng, các dây thần kinh căng lên trong một thứ âm vang hỗn độn. Chẳng có cơ hội nào để cản nàng lại cả. Mặt trăng đang khuất sau tầng mây và con ngựa của nàng sẽ bước mù quáng lao xuống vực. Thế rồi cách mép vách đá chừng mười thước, nàng bất chợt thét lên một tiếng và quăng mình sang bên—lao khỏi lưng ngựa và, lộn nhào hai vòng, rơi tõm vào một đống bụi rậm cách mép vực năm thước. Con ngựa lao xuống vực với một tiếng hí cuồng loạn. Chỉ trong phút chốc, anh đã có mặt bên cạnh Eleanor và thấy mắt nàng đang mở trừng trừng.

“Eleanor!” anh kêu lên.

Nàng không đáp, nhưng đôi môi mấp máy và khóe mắt ngấn lệ.

“Eleanor, em có bị thương không?”

“Không; em nghĩ là không,” nàng thều thào đáp, rồi bắt đầu khóc nức nở.

“Ngựa của em chết rồi à?”

“Lạy Chúa—Đúng vậy!”

“Ôi!” nàng gào khóc. “Em cứ tưởng mình rơi xuống rồi chứ. Em không biết—”

Anh ân cần đỡ nàng đứng dậy và vực nàng lên yên ngựa của mình. Thế là họ bắt đầu hành trình trở về; Amory đi bộ còn nàng cúi gập người về phía trước trên yên ngựa, nức nở đắng cay.

“Em có một cơn điên ngầm trong máu,” nàng ngập ngừng tâm sự, “hai lần trước em cũng từng làm những chuyện kiểu như thế. Hồi em mười một tuổi, mẹ em đã phát—phát điên—phát rồ lên được. Hồi đó chúng ta đang ở Vienna—”

Suốt dọc đường về, nàng cứ đứt quãng nói về bản thân mình, và tình yêu của Amory lụi tàn chậm rãi cùng ánh trăng. Đến cửa nhà nàng, theo thói quen họ định cúi chào chúc ngủ ngon bằng một nụ hôn, nhưng nàng chẳng thể lao vào vòng tay anh, và vòng tay anh cũng chẳng rộng mở đón chào như tuần trước nữa. Họ đứng lặng ở đó một phút, căm ghét lẫn nhau bằng một nỗi buồn cay đắng. Thế nhưng cũng như cách Amory từng yêu chính mình ở Eleanor, giờ đây thứ anh căm ghét cũng chỉ là một tấm gương phản chiếu. Những chiếc mặt nạ của họ vương vãi khắp buổi bình minh nhợt nhạt tựa những mảnh thủy tinh vỡ vụn. Những vì sao đã lặn từ lâu và chỉ còn lại những cơn gió thoảng thở dài cùng sự tĩnh lặng giữa chốn không gian... nhưng những tâm hồn trần trụi luôn là một thứ nghèo nàn, và chẳng mấy chốc anh quay bước hướng về nhà để mặc những luồng ánh sáng mới tràn vào cùng ánh thái dương.

MỘT BÀI THƠ MÀ ELEANOR GỬI CHO AMORY VÀI NĂM SAU ĐÓ

Này hỡi kẻ sinh ra từ Đất, lướt trên giai điệu dòng nước,

Thì thầm khúc nhạc tình và mang gánh nặng ánh sáng,

Ôm ấp ngày vào lòng tựa đứa con gái rạng ngời tươi cười...

Nơi đây ta có thể thì thầm chẳng ai hay, chẳng sợ hãi màn đêm.

Bước đi cô độc... đó là vẻ huy hoàng, hay điều gì, mà ta bị trói buộc,

Sâu thẳm trong thời gian khi mùa hè buông xõa mái tóc?

Những bóng râm ta yêu và hoa văn chúng phủ đầy mặt đất

Những tấm thảm thêu, huyền bí, mờ ảo trong bầu không khí nghẹt thở.

Đó là ngày... và đêm cho một câu chuyện khác,

Nhợt nhạt tựa giấc mơ và phủ bóng bởi những hàng cây nét vẽ—

Những hồn ma của các vì sao từng đi ngang qua tìm kiếm vinh quang,

Thì thầm với ta về sự bình yên trong ngọn gió than van,

Thì thầm về những đức tin cũ đã chết mà ban ngày đã đập nát,

Tuổi trẻ là đồng xu mua lấy niềm vui của vầng trăng;

Đó là thôi thúc ta từng biết và là thứ ngôn ngữ duy nhất có nghĩa

Đó là món nợ ta trả cho kẻ cho nặng lãi tên là Mùa hè.

Nơi đây, sâu thẳm nhất của những giấc mơ, bên dòng nước chẳng mang

Bất cứ điều gì từ quá khứ mà ta chẳng cần phải biết,

Lỡ ánh sáng chỉ là mặt trời và những dòng suối nhỏ chẳng ca vang,

Dường như chúng ta ở bên nhau... anh đã yêu em nhường ấy...

Đêm cuối cùng chứa đựng điều chi, khi mùa hè đã khép lại,

Kéo ta trở về ngôi nhà giữa trảng cỏ đổi thay?

Điều gì đã nhe răng cười từ bóng tối trong đám cỏ ba lá ma quái?

Chúa ơi!... cho đến khi anh cựa mình trong giấc ngủ... và hoảng sợ cuồng dại...

Thôi nào... ta đã qua rồi... giờ ta chỉ còn là biên niên sử cho cõi u linh.

Kim loại kỳ lạ từ những vì sao băng đã lụi tàn trên bầu trời;

Kẻ sinh ra từ Đất không mệt mỏi nay đang nằm dài bên dòng nước, hoàn toàn kiệt sức,

Sắp sửa đối mặt với sinh linh đổi dạng khó hiểu chính là ta đây...

Nỗi sợ chỉ là tiếng vang ta dò ra từ ái nữ của Sự an toàn;

Giờ đây ta chỉ là những khuôn mặt và giọng nói... rồi sẽ chẳng còn lại gì quá sớm thôi,

Thì thầm mối tình dở dang trên giai điệu dòng nước...

Tuổi trẻ là đồng xu mua lấy niềm vui của vầng trăng.

MỘT BÀI THƠ AMORY GỬI CHO ELEANOR MÀ ANH ĐẶT TÊN LÀ “CƠN GIÔNG MÙA HÈ”

Những cơn gió yếu ớt, và một bài hát lụi tàn cùng những chiếc lá rơi,

Những cơn gió yếu ớt, và tiếng cười phai nhạt ở tận đẩu tận đâu...

Và cơn mưa cùng tiếng ai gọi vọng qua cánh đồng...

Đám mây xám cuồn cuộn của chúng ta vội vã lướt qua và dâng lên cao,

Trượt trên mặt trời và lững lờ ở đó để vẫy gọi

Những người chị em tiến bước. Cái bóng của một chú bồ câu

Rơi xuống chuồng chim, những hàng cây ngập tràn đôi cánh;

Và dọc theo thung lũng xuyên qua những hàng cây đang khóc than

Thân hình của cơn giông bão tối tăm hơn bay đến; mang theo

Cùng bầu không khí mới hơi thở của những vùng biển chìm sâu

Và tiếng sấm mảnh mai mong manh...

Nhưng tôi vẫn chờ...

Chờ những làn sương mù và cơn mưa đen đúa hơn—

Những cơn gió nặng nề hơn khuấy động tấm màn định mệnh,

Những cơn gió hạnh phúc hơn làm rối tung mái tóc nàng;

Một lần nữa

Chúng cào xé tôi, dạy dỗ tôi, rắc bầu không khí nặng trĩu

Lên người tôi, những cơn gió tôi đã biết, và cơn giông bão.

Đã có một mùa hè mọi cơn mưa đều hiếm hoi;

Đã có một mùa mùa mọi cơn gió đều ấm áp....

Và giờ đây em lướt qua tôi trong màn sương... mái tóc em

Bay phấp phới trong mưa, đôi môi ẩm ướt uốn cong một lần nữa

Trong nụ mỉa mai hoang dại ấy, nỗi tuyệt vọng vui tươi ấy

Đã khiến em già dặn khi ta gặp nhau trước đó;

Tựa hồn ma em trôi dạt ra đi trước trận mưa,

Băng qua những cánh đồng, cuốn theo những đóa hoa không cuống,

Cùng những hy vọng cũ của em, những chiếc lá khô và tình yêu một lần nữa—

Mờ ảo tựa giấc mơ và tiều tụy với mọi thời gian cũ

({Những tiếng thì thầm sẽ luồn lách vào màn đêm đang lớn dần...

Sự hỗn độn sẽ lụi tàn trên những ngọn cây)

Giờ đây bóng đêm

Xé toạc từ bộ ngực ướt đẫm tấm áo lem luốc

Của ban ngày, lướt xuống những ngọn đồi mộng mơ, đẫm lệ ngời sáng,

Để che phủ bằng mái tóc mình sắc xanh kỳ quái...

Tình yêu cho hoàng hôn... Tình yêu cho khoảnh khắc lấp lánh sau đó;

Làm dịu những hàng cây đến tận ngọn chót vót... thanh thản...

Những cơn gió yếu ớt, và tiếng cười phai nhạt ở tận đẩu tận đâu...

Nguồn: Việt Nam Thư Quán dịch từ Project Gutenberg
Được bạn: Mọt Sách đưa lên
vào ngày: 3 tháng 11 năm 2026

« Lùi Tiến »

💬 Thảo luận

Chưa có bình luận nào — hãy là người đầu tiên chia sẻ cảm nhận của bạn!

Đăng nhập để tham gia bình luận.