Ban đầu, Amory chỉ chú ý đến những mảng nắng vàng rực rỡ đang trải dài trên thảm cỏ xanh mướt, nhảy múa trên những ô cửa sổ lắp chì, và bao quanh đỉnh của các ngọn tháp, tháp chuông cùng những bức tường có ụ chiến đấu. Dần dần, anh mới nhận ra mình đang thực sự bước đi trên phố University Place, vừa cảm thấy ngượng ngùng vì chiếc vali, vừa hình thành một thói quen mới là nhìn thẳng về phía trước mỗi khi đi ngang qua ai đó. Có đến mấy lần anh chắc mẩm rằng có những nam sinh đã quay lại nhìn mình bằng ánh mắt đánh giá. Anh thầm băn khoăn không biết trang phục của mình có vấn đề gì không, và ao ước giá như sáng nay mình đã cạo râu trên tàu. Anh thấy bản thân trở nên cứng nhắc và vụng về một cách thừa thãi giữa đám thanh niên mặc đồ nỉ trắng và để đầu trần này – những kẻ chắc hẳn là sinh viên năm ba và năm tư, nếu cứ nhìn vào phong thái tự tin điềm tĩnh khi họ dạo bước.
Anh nhận ra số 12 University Place là một dinh thự lớn, cũ kỹ, thoạt nhìn có vẻ không có người ở, dù anh biết nơi này thường là chỗ ở của khoảng một tá tân sinh viên. Sau một màn ngắn ngủi giải quyết xong xuôi với bà chủ nhà, anh xách giày bước ra ngoài để đi thám thính, nhưng đi chưa nổi một dãy nhà thì anh bàng hoàng nhận ra mình có lẽ là người duy nhất trong thị trấn đội mũ. Anh vội vã quay về số 12 University, cất chiếc mũ quả dưa đi, và rồi bước ra với cái đầu trần, thong thả dạo dọc phố Nassau, dừng chân để ngắm nghía tủ kính bày các bức ảnh thể thao của một cửa hàng, trong đó có bức ảnh lớn của Allenby – đội trưởng đội bóng bầu dục, rồi tiếp tục bị thu hút bởi tấm biển "Jigger Shop" treo trên khung cửa sổ của một tiệm bánh kẹo. Cái tên này nghe quen quen, thế là anh bước thong thả vào trong và chọn một chỗ ngồi trên chiếc ghế đẩu cao.
"Cho một ly kem chocolate sundae," anh gọi một người da màu.
"Kem đôi chocolate jiggah nhé? Dùng thêm gì nữa không?"
"Ừm... có chứ."
"Bánh mì kẹp thịt xông khói nhé?"
"Ừm... có chứ."
Anh cắn ngấu nghiến bốn chiếc bánh, thấy hương vị thật ngon lành, rồi lại nốc thêm một ly kem đôi chocolate jigger nữa cho đến khi sự thoải mái bao trùm lấy tâm trí. Sau một lượt quan sát qua loa những chiếc vỏ gối, cờ đuôi nheo bằng da và những bức tranh thiếu nữ Gibson vẽ dọc các bức tường, anh rời đi, tiếp tục dạo bước dọc theo phố Nassau với hai tay đút túi quần. Dần dần, anh học được cách phân biệt giữa sinh viên năm trên và sinh viên mới nhập trường, dẫu rằng chiếc mũ tân sinh viên phải đến thứ Hai tuần sau mới xuất hiện. Những kẻ tỏ ra quá rõ ràng, quá bồn chồn vì thấy thân thuộc chính là tân sinh viên; bởi vì cứ mỗi chuyến tàu mang đến một nhóm sinh viên mới thì họ lại ngay lập tức hòa mình vào dòng người không đội mũ, mang giày trắng, ôm đầy sách vở – những kẻ có vẻ như chẳng có việc gì làm ngoài việc lang thang hết lên lại xuống con đường ấy, nhả ra những làn khói dày đặc từ những chiếc tẩu thuốc hãy còn mới tinh. Đến xế chiều, Amory nhận ra rằng giờ đây những người mới đến nhất đang coi anh là một sinh viên năm trên, và anh cố gắng hết sức để ra vẻ vừa chán đời đầy tao nhã vừa chê bai một cách dửng dưng – đó là hình ảnh biểu cảm gương mặt phổ biến nhất mà anh có thể tự phân tích.
Đến năm giờ chiều, anh cảm thấy cần được nghe thấy giọng nói của chính mình, thế nên anh lủi thủi quay về nhà xem có ai khác đến chưa. Sau khi leo lên những bậc thang lộc cộc, anh đưa mắt săm soi căn phòng của mình với vẻ cam chịu, và kết luận rằng thật vô vọng nếu muốn trang trí nó bằng thứ gì đó sáng tạo hơn những lá cờ của khóa học và những bức tranh vẽ hổ. Có tiếng gõ cửa.
"Vào đi!"
Một gương mặt thanh tú với đôi mắt xám và nụ cười hài hước xuất hiện ở khung cửa.
"Cậu có búa không?"
"Không—tiếc quá. Chắc là mụ chủ nhà, hay bất cứ tên gọi nào của bà ta, có đấy."
Người lạ bước hẳn vào trong phòng.
"Cậu là tù nhân của cái nhà thương điên này à?"
Amory gật đầu.
"Đúng là cái chuồng bò tồi tàn so với số tiền thuê chúng ta phải trả."
Amory đành phải công nhận điều đó là đúng.
"Tớ cũng từng nghĩ đến việc ở trong khuôn viên trường," anh nói, "nhưng họ bảo ở đó ít tân sinh viên lắm nên mấy cậu ấy cứ như lạc lõng ấy. Toàn phải ngồi ì ra đấy rồi học để có việc mà làm."
Chàng trai mắt xám quyết định tự giới thiệu.
"Tớ tên là Holiday."
"Tớ tên Blaine."
Họ bắt tay theo kiểu cúi người sành điệu. Amory nhe răng cười.
"Cậu học trường dự bị nào thế?"
"Andover—còn cậu?"
"St. Regis’s."
"Ồ thế á? Tớ có một người họ hàng học ở đấy."
Họ bàn tán rôm rả về người họ hàng nọ, rồi Holiday thông báo rằng sáu giờ cậu ta có hẹn ăn tối với anh trai.
"Đi cùng bọn tớ làm miếng lót dạ nhé."
"Được thôi."
Tại Kenilworth, Amory gặp Burne Holiday — cậu trai mắt xám kia tên là Kerry — và trong bữa ăn thanh đạm chỉ gồm súp loãng cùng rau củ nhợt nhạt, họ đưa mắt ngắm nhìn những tân sinh viên khác đang ngồi hoặc là thành từng nhóm nhỏ với vẻ đầy bất an, hoặc thành từng nhóm lớn trông vô cùng tự nhiên như ở nhà.
"Tớ nghe nói nhà ăn Commons tệ lắm phải không?" Amory hỏi.
"Đồn đại thế đấy. Nhưng cậu vẫn phải ăn ở đó—hoặc ít ra vẫn phải trả tiền."
"Thật là tội ác!"
"Đúng là bóc lột!"
"Ồ, ở Princeton thì năm đầu tiên cậu phải nuốt trôi mọi thứ. Nó chẳng khác gì một cái trường dự bị khốn kiếp cả."
Amory đồng tình.
"Dù sao thì cũng rất hăng hái đấy chứ," cậu khăng khăng. "Cho một triệu đô tớ cũng chẳng thèm vào Yale."
"Tớ cũng thế."
"Cậu có định tham gia hoạt động gì không?" Amory hỏi người anh trai.
"Tớ thì không—còn Burne đây sẽ tham gia tờ Prince — tờ Daily Princetonian ấy mà, cậu biết đấy."
"Ừ, tớ biết."
"Thế cậu có tham gia gì không?"
"À... có chứ. Tớ định thử sức với đội bóng bầu dục tân sinh viên."
"Hồi ở St. Regis’s có chơi không?"
"Chơi chút đỉnh," Amory khiêm tốn thừa nhận, "nhưng dạo này tớ gầy xọm cả đi rồi."
"Cậu có gầy đâu."
"Thì, mùa thu năm ngoái tớ còn lực điền chán."
"Ồ!"
Sau bữa tối, họ đi xem phim. Ở đó, Amory vô cùng ấn tượng trước những lời bình luận trơn tru của một gã ngồi ngay trước mặt, cũng như trước những tiếng hò hét và la oai oái đầy hoang dại.
"Yoho!"
"Ôi, cục cưng ngọt ngào của anh—em vừa to lớn lại vạm vỡ, nhưng ôi sao mà dịu dàng thế!"
"Ôm chặt đi!"
"Ôi, ôm chặt lấy!"
"Hôn đi, hôn cô nàng ấy đi, nhanh lên!"
"Ô-h-h-h!"
Một nhóm người bắt đầu huýt sáo bài "By the Sea", và cả rạp liền hưởng ứng theo một cách ồn ào. Tiếp theo đó là một bài hát không rõ lời, kèm theo rất nhiều tiếng giậm chân, rồi kết thúc bằng một khúc ca ai điếu kéo dài lê thê và vô nghĩa.
Ô-h-h-h-h
Cô ấy làm việc ở Phân xưởng Mứt
Và—điều-đó-có-thể-là-đúng
Nhưng đừng-hòng-lừa-được-tôi
Bởi vì tôi-BIẾT-RÕ-MỒM-MỘTRằng cô-ấy-KHÔNG-LÀM-MỨT-suốt-đêm!
Ô-h-h-h-h!
Khi chen chúc bước ra ngoài, trao đi và nhận lại những cái nhìn đầy tò mò nhưng lạnh lùng, Amory quyết định rằng cậu thích xem phim rồi, cậu muốn tận hưởng chúng giống như hàng ghế sinh viên năm trên ở phía trước đã tận hưởng: gác tay lên lưng ghế, những lời bình luận vừa đậm chất Gaelic vừa cay độc, và thái độ thì là sự pha trộn giữa nét hóm hỉnh đầy chỉ trích cùng sự khoan dung đầy thích thú.
"Muốn ăn sundae không—ý tớ là một ly jigger ấy?" Kerry hỏi.
"Chắc chắn rồi."
Họ ăn tối một cách thị túc rồi lại thong thả tản bộ quay về nhà số 12.
"Đêm nay tuyệt thật."
"Phải công nhận là đỉnh của chóp."
"Mấy cậu có định dọn hành lý ra không?"
"Chắc là có. Đi thôi, Burne."
Amory quyết định ngồi lại bậc thềm trước nhà một lát, thế là cậu chúc bọn họ ngủ ngon.
Những tấm thảm cây khổng lồ đã sẫm màu lại như những bóng ma ở tận mép rìa của chạng vạng. Ánh trăng sớm đã nhuộm đẫm những vòm cổng bằng một thứ ánh sáng xanh nhạt, và đan xen khắp màn đêm, luồn lách qua những khe hở mỏng manh như tơ nhện của ánh trăng, là một giai điệu vang lên — một khúc ca mang theo không ít nỗi buồn, vô cùng thoáng qua, vô cùng tiếc nuối.
Cậu nhớ lại việc một cựu sinh viên của thập niên chín mươi từng kể cho cậu nghe về một trong những trò tiêu khiển của Booth Tarkington: đứng giữa khuôn viên trường vào lúc nửa đêm canh ba để hát những bản nhạc tenor hướng về các vì sao, khơi gợi những cảm xúc lẫn lộn trong lòng những cậu sinh viên đang nằm trên giường tùy theo tâm trạng của họ.
Giờ đây, tít đằng xa dọc theo dãy phố University Place mờ ảo, một đội hình mặc đồ trắng đang xé tan màn đêm tĩnh mịch, và những bóng người đang di chuyển, áo trắng, quần trắng, nhịp nhàng tiến lên con đường với những cánh tay đan vào nhau và cái đầu ngẩng cao:
Trở về—trở về,
Trở—về—Nassau—Hall,
Trở về—trở về
Đến—Nơi-Cũ-Tốt-Đẹp-Nhất.
Trở về—trở về,
Từ khắp—hành-tinh—này,
Chúng ta sẽ—dọn sạch—đường-để-trở-về—
Trở—về—Nassau—Hall!
Amory nhắm nghiền mắt lại khi đoàn diễu hành ma quái ấy tiến đến gần. Khúc ca vang lên vút cao đến mức tất cả đều đuối sức và dừng lại, ngoại trừ những giọng tenor vẫn kiêu hãnh cất cao giai điệu vượt qua khúc cua nguy hiểm rồi nhường lại cho dàn đồng ca kỳ ảo. Sau đó Amory mở mắt ra, nửa sợ rằng cảnh tượng thực tế sẽ làm hỏng đi ảo ảnh hòa âm tuyệt mỹ.
Cậu thở dài đầy khao khát. Ngay ở đầu đội hình mặc đồ trắng ấy là Allenby đang sải bước, đội trưởng đội bóng bầu dục, mảnh khảnh và đầy thách thức, như thể anh nhận thức được rằng năm nay niềm hy vọng của trường đều đặt lên vai mình, rằng trọng lượng một trăm sáu mươi pao của anh được kỳ vọng sẽ lách qua những hàng phòng thủ nặng nề màu xanh thẫm và đỏ thẫm để mang về chiến thắng.
Bị mê hoặc, Amory dõi theo từng hàng tay đan tay bước ngang qua, những gương mặt mờ ảo bên dưới chiếc áo polo, những giọng hát hòa quyện vào nhau thành một khúc khải hoàn ca — và rồi đoàn người bước qua vòm cổng Campbell u ám, những tiếng hát nhỏ dần khi họ ngoặt về hướng đông băng qua khuôn viên trường.
Thời gian trôi qua và Amory cứ thế ngồi đó thật lặng lẽ. Cậu lấy làm tiếc vì quy định cấm tân sinh viên ra ngoài sau giờ giới nghiêm, bởi vì cậu muốn lang thang qua những con hẻm thơm ngát mùi cây cỏ và mờ sương, nơi tòa Witherspoon sừng sững tựa người mẹ hiền thầm lặng che chở cho Whig và Clio – những người con thuộc trường phái Attic của bà, nơi con rắn Gothic đen tuyền của tòa Little uốn lượn uốn khúc dẫn đến Cuyler và Patton, để rồi những tòa nhà này lại tiếp tục tung tóe vẻ huyền bí ra khắp sườn dốc êm đềm thoai thoải hướng về phía hồ nước.
Khung cảnh ban ngày của Princeton từ từ thấm sâu vào nhận thức của cậu — West và Reunion thoang thoảng dư vị của thập niên sáu mươi, tòa Seventy-nine Hall đỏ rực màu gạch và đầy kiêu ngạo, Upper và Lower Pyne mang dáng dấp của những quý cô thời Elizabeth quý tộc nhưng không hẳn đã bằng lòng sống giữa những kẻ buôn bán nhỏ, và trên hết, vươn lên cùng khát vọng xanh ngắt là những ngọn tháp mộng mơ vĩ đại của Holder và Cleveland.
Ngay từ đầu, Amory đã đem lòng yêu Princeton — vẻ đẹp lười biếng của nó, ý nghĩa hãy còn mông lung của nó, cuộc vui hoang dã dưới ánh trăng của những trận xô xát, những đám đông cổ vũ các trận đấu lớn vừa bảnh bao lại vừa thị vượng, và ẩn sâu dưới tất cả những điều ấy là bầu không khí đấu tranh bao trùm lên cả khóa học của cậu. Kể từ ngày mà những tân sinh viên mặc áo thun chật cứng, với đôi mắt trợn ngược vì hoảng loạn và kiệt sức, ngồi trong phòng thể dục để bầu ra một cậu đến từ trường Hill làm lớp trưởng, một nhân vật nổi tiếng của trường Lawrenceville làm lớp phó, một ngôi sao khúc côn cầu đến từ St. Paul’s làm thư ký, cho đến tận cuối năm hai, hệ thống xã hội nghẹt thở ấy, sự sùng bái ấy — hiếm khi được gọi tên, chưa bao giờ thực sự thừa nhận — hướng về cộp mác "Nhân vật lớn" chưa bao giờ ngừng lại.
Đầu tiên là chuyện trường miệt, và Amory, một mình cô độc đến từ St. Regis’, đứng nhìn đám đông tụ tập, mở rộng rồi lại tụ tập; những nhóm đến từ St. Paul’s, Hill, Pomfret cùng nhau ngồi ăn ở những chiếc bàn ngầm mặc định dành riêng cho họ, thay đồ ở những góc riêng trong phòng thể dục, và vô thức vẽ xung quanh mình một hàng rào gồm những kẻ kém quan trọng hơn một chút nhưng có tham vọng đổi đời để bảo vệ họ khỏi thành phần học sinh trung học đầy thân thiện nhưng có phần bối rối. Ngay từ khoảnh khắc nhận ra điều đó, Amory đã căm ghét những rào cản xã hội như những thứ phân biệt nhân tạo do kẻ mạnh dựng lên để củng cố cho đám tay sai yếu ớt của mình và ngăn chặn những kẻ suýt-thì-mạnh bước vào.
Sau khi quyết định phải trở thành một trong những vị thần của khóa, cậu đăng ký tham gia tập luyện đội bóng bầu dục tân sinh viên, nhưng đến tuần thứ hai, khi đang chơi ở vị trí tiền vệ và đã được nhắc tên ở mấy góc báo của tờ Princetonian, cậu bị trật khớp gối nặng đến mức phải nghỉ thi đấu trong suốt phần còn lại của mùa giải. Điều này buộc cậu phải rút lui và tĩnh tâm suy ngẫm về tình hình.
"12 Univee" là nơi trú ngụ của một tá những dấu hỏi chấm đủ loại. Có ba hoặc bốn cậu đến từ Lawrenceville trông khá lu mờ và hoàn toàn giật mình thon thót, hai gã hoang dã tự phong đến từ một trường tư thục ở New York (Kerry Holiday đặt biệt danh cho họ là "những kẻ say xỉn bình dân"), một thiếu niên gốc Do Thái cũng đến từ New York, và để bù đắp cho Amory, chính là hai anh em nhà Holiday – những người mà cậu vừa gặp đã có thiện cảm ngay lập tức.
Người ta đồn rằng hai anh em nhà Holiday là sinh đôi, nhưng thực ra cậu em tóc sẫm màu, Kerry, lớn hơn người anh tóc vàng, Burne, một tuổi. Kerry cao gầy, có đôi mắt xám hài hước và nụ cười bừng sáng, dễ mến; cậu nhanh chóng trở thành người thầy tinh thần của cả nhà, là kẻ chuyên nhổ bỏ những chiếc tai mọc quá cao, là giám thị chuyên trị bệnh kiêu ngạo, là nhà cung cấp thứ khiếu hài hước châm biếm hiếm có. Amory dọn ra bàn tiệc của tình bạn tương lai giữa họ tất cả những ý tưởng của cậu về việc đại học nên và thực sự có ý nghĩa gì. Kerry, lúc bấy giờ hãy còn chưa có xu hướng nhìn nhận mọi thứ một cách nghiêm túc, đã nhẹ nhàng quở trách cậu vì lúc không đúng thời điểm này lại đi tò mò về những điều rắc rối của hệ thống xã hội, nhưng cậu ấy vẫn quý mến Amory và cảm thấy vừa hứng thú vừa buồn cười.
Burne, tóc vàng, trầm lặng và quả quyết, chỉ xuất hiện trong nhà như một bóng ma bận rộn, lẳng lặng lướt về nhà vào ban đêm rồi lại vội vã rời đi vào sáng sớm để kịp lên thư viện tự học — cậu đang tranh cử vào tờ Princetonian, cạnh tranh điên cuồng với bốn mươi người khác để giành lấy vị trí đầu bảng hằng ao ước. Đến tháng Mười hai, cậu ngã bệnh vì bệnh bạch hầu, và một người khác đã giành chiến thắng trong cuộc đua, thế nhưng, khi quay lại trường vào tháng Hai, cậu lại dũng mãnh lao vào cuộc đua giành lấy phần thưởng ấy một lần nữa. Do điều kiện khách quan, sự quen biết của Amory với cậu chỉ thông qua những cuộc trò chuyện dài ba phút trên đường đi học hay tan lớp, thế nên cậu đã không thể thấu thấu hiểu được mối quan tâm duy nhất đang chiếm trọn tâm trí Burne và tìm ra thứ ẩn giấu bên dưới vẻ ngoài ấy.
Amory hoàn toàn không cảm thấy thỏa mãn. Cậu tiếc nuối vị trí mà mình từng giành được ở St. Regis’, cảm giác được biết đến và ngưỡng mộ, thế nhưng Princeton đã kích thích cậu, và có rất nhiều điều đang chờ đợi phía trước đủ sức đánh thức con người Machiavelli tiềm ẩn trong cậu, giá mà cậu có thể chen được một chân vào. Các câu lạc bộ của sinh viên năm trên — những nơi mà cậu đã gặng hỏi một cựu sinh viên tỏ ra bất đắc dĩ vào mùa hè trước — đã khơi gợi sự tò mò trong cậu: Ivy, xa cách và mang vẻ quý tộc đến nghẹt thở; Cottage, sự pha trộn ấn tượng giữa những nhà thám hiểm tài ba và những kẻ phiêu lưu bảnh bao; Tiger Inn, lực lưỡng và mang đậm chất thể thao, tràn đầy sinh khí nhờ sự phát triển chân thực từ các tiêu chuẩn của trường dự bị; Cap and Gown, chống rượu chè, mang hơi hướng tôn giáo và có quyền lực chính trị; Colonial sặc sỡ; Quadrangle đậm chất văn chương; và hàng tá câu lạc bộ khác, khác biệt nhau về tuổi đời lẫn vị thế.
Bất cứ điều gì khiến một sinh viên cấp dưới lọt thỏm dưới ánh hào quang quá chói lọi đều bị dán cho cái nhãn chết chóc là "bày đặt ra vẻ". Xem phim thì thích thú với những lời bình luận cay độc thật đấy, nhưng những gã thốt ra những lời đó thường là những kẻ đang "bày đặt ra vẻ"; bàn tán về các câu lạc bộ cũng là "bày đặt ra vẻ"; ủng hộ một thứ gì đó quá mức mạnh mẽ, chẳng hạn như những bữa tiệc rượu hay việc tuyệt đối không uống rượu, cũng là "bày đặt ra vẻ"; tóm lại, việc nổi bật cá nhân là điều không thể dung tha, và một nhân vật có sức ảnh hưởng phải là một kẻ không đưa ra chính kiến rõ ràng, cho đến khi cuộc bầu cử câu lạc bộ vào năm hai diễn ra, lúc đó mọi người mới được nhét vào một chiếc túi nào đó cho đến hết quãng đời sinh viên của mình.
Amory nhận ra rằng việc viết bài cho tờ Tạp chí Văn học Nassau sẽ chẳng mang lại cho cậu điều gì cả, nhưng việc có chân trong ban biên tập của tờ Daily Princetonian sẽ đem lại cho bất cứ ai rất nhiều lợi ích. Niềm khao khát mơ hồ được diễn những vở kịch bất hủ cùng Hiệp hội Kịch nghệ Anh phai nhạt dần khi cậu nhận ra rằng những bộ óc và tài năng tinh vi nhất đều tập trung vào Câu lạc bộ Triangle, một tổ chức nhạc kịch hằng năm tổ chức chuyến lưu diễn lớn vào dịp Giáng sinh. Trong lúc đó, khi cảm thấy xa lạ và bồn chồn một cách kỳ lạ ở nhà ăn Commons, với những khát khao và hoài bão mới đang cuồn cuộn trong tâm trí, cậu để cho học kỳ đầu tiên trôi qua giữa một bên là sự đố kỵ với những mầm mống thành công và một bên là nỗi bực dọc khó hiểu cùng Kerry về lý do tại sao họ lại không được đón nhận ngay lập tức giữa tầng lớp tinh hoa của khóa.
Nhiều buổi chiều, họ thong thả ngồi bên cửa sổ nhà số 12 Univee nhìn dòng người đi qua đi lại giữa lớp học và nhà ăn Commons, nhận ra những kẻ bợ đỡ đã bắt đầu bám rễ vào những nhân vật nổi bật hơn, quan sát những mọt sách cô độc với bước chân vội vã cùng ánh mắt đăm đăm nhìn xuống đất, rồi đem lòng ghen tị với sự an toàn đầy hạnh phúc của các nhóm học sinh trường lớn.
"Chúng ta chính là tầng lớp trung lưu khốn khổ, thế thôi!" cậu phàn nàn với Kerry một ngày nọ khi đang nằm dài trên ghế sofa, thưởng thức một chùm thuốc lá Fatima với vẻ chăm chú đầy suy ngẫm.
"Thì sao chứ? Chúng ta đến Princeton là để có thể cảm nhận điều đó đối với các trường nhỏ — đè bơ cổ tụi nó, tự tin hơn, ăn mặc đẹp hơn, tạo nên một phong cách..."
"Ồ, không phải là tớ bận tâm đến cái hệ thống đẳng cấp chói lọi ấy đâu," Amory thừa nhận. "Tớ thích có một đám mèo nóng bỏng ở trên đỉnh, nhưng chà, Kerry, tớ phải trở thành một trong số bọn họ mới được."
"Nhưng hiện tại, Amory ạ, cậu chỉ là một gã tư sản đẫm mồ hôi thôi."
Amory nằm im lặng một lát.
"Tớ sẽ không làm thế... lâu đâu," cuối cùng cậu cũng lên tiếng. "Nhưng tớ ghét việc đạt được điều gì đó bằng cách phải cố gắng vì nó. Tớ sẽ phô bày những vết sẹo cho xem, cậu hiểu ý tớ chứ."
"Những vết sẹo vinh quang." Kerry đột nhiên rướn cổ nhìn ra ngoài đường. "Kìa Langueduc đấy, nếu cậu muốn xem mặt mũi hắn thế nào — còn Humbird đi ngay phía sau kìa."
Amory bật dậy một cách đầy nhiệt huyết và lao ra cửa sổ.
"Ồ," cậu nói khi đang săm soi những nhân vật này, "Humbird trông có vẻ hạ gục đối thủ đấy, nhưng cái tên Langueduc này — hắn thuộc tuýp người phong trần phải không? Tớ không tin tưởng kiểu người đó lắm. Kim cương nào mà chẳng to khi còn ở dạng thô."
"Thế thì," Kerry nói khi cơn hứng khởi đã dịu xuống, "cậu đúng là một thiên tài văn học rồi. Tùy cậu đấy."
"Tớ tự hỏi..." Amory ngập ngừng, "liệu mình có thể làm được không. Thỉnh thoảng tớ thực sự nghĩ vậy đấy. Nghe có vẻ kiêu ngạo thật, và tớ chẳng nói điều này với ai ngoài cậu đâu."
"Thế thì — cứ tiến lên đi. Nuôi tóc dài rồi viết thơ giống cái lão D’Invilliers trên tờ Lit ấy."
Amory lười biếng với tay lấy chồng tạp chí trên bàn.
"Đã đọc nỗ lực mới nhất của lão ấy chưa?"
"Chưa bao giờ bỏ sót. Hiếm có khó tìm lắm đấy."
Amory lướt qua số báo.
"Ê!" cậu ngạc nhiên thốt lên, "hắn là tân sinh viên mà, đúng không?"
"Ừ."
"Hãy nghe cái này xem! Lạy Chúa!
"‘Một mụ hầu gái cất lời:
Nhung đen buông nếp rủ trọn ngày dài,
Những ngọn nến trắng, nhốt trong khung bạc hoài,
Vẫy ngọn lửa mảnh như bóng chiều trong gió,
Pia, Pompia, đến đây—đến đây thôi—’
"Này, thế quái nào mà câu đó lại có nghĩa nhỉ?"
"Đấy là cảnh trong phòng chứa thức ăn."
"‘Ngón chân mụ cứng đờ như cò lúc bay,
Mụ nằm trên giường, trên những tấm ga trắng phau,
Hai tay ép chặt lên bầu ngực mịn màng như thánh nữ,
Bella Cunizza, hãy bước ra ánh sáng mau!’
"Lạy Chúa, Kerry, rốt cuộc thì tất cả những thứ quái quỷ này có nghĩa là gì thế? Thề có Chúa là tớ chẳng hiểu nổi lão ta đang viết gì nữa, trong khi tớ cũng là một kẻ dính dáng đến văn chương đấy chứ."
"Khá là rắc rối đấy," Kerry nói, "chỉ là cậu phải nghĩ đến những chiếc xe tang và sữa ôi khi đọc nó thôi. Bài này còn chưa sướt mướt bằng mấy bài khác đâu."
Amory quăng tờ tạp chí lên bàn.
"Thế đấy," cậu thở dài, "tớ đúng là đang ở trên mây rồi. Tớ biết mình chẳng phải là một kẻ bình thường, thế nhưng tớ lại ghét cay ghét đắng bất cứ ai không bình thường. Tớ chẳng thể quyết định nổi là nên mài giũa tâm trí để trở thành một nhà viết kịch vĩ đại, hay là bĩu môi khinh bỉ Tuyển tập Thơ Golden Treasury để trở thành một tay chơi bảnh bao ở Princeton."
"Sao cứ phải chọn thế?" Kerry gợi ý. "Cứ trôi dạt như tớ thì hơn. Tớ chuẩn bị cưỡi lên vinh quang bằng tà áo của Burne rồi đây."
"Tớ không thể trôi dạt được — tớ muốn thấy mình có hứng thú. Tớ muốn giật dây, dù là cho người khác, hoặc làm chủ tịch tờ Princetonian hay chủ tịch câu lạc bộ Triangle. Tớ muốn được ngưỡng mộ, Kerry ạ."
"Cậu đang nghĩ quá nhiều về bản thân mình rồi đấy."
Amory chồm người dậy nghe vậy.
"Không. Tớ cũng đang nghĩ về cậu nữa mà. Chúng ta phải ra ngoài và hòa nhập với đám đông trong khóa ngay bây giờ cơ, khi mà việc làm kẻ kiêu kỳ vẫn còn đang rất thú vị. Lấy ví dụ nhé, tớ rất muốn đưa một cô nàng cá mòi đi dự buổi dạ vũ vào tháng Sáu, nhưng tớ sẽ chẳng làm thế trừ khi tớ có thể thật phong lưu và lịch lãm về chuyện đó — giới thiệu cô ấy với tất cả những tay sát gái khét tiếng nhất, rồi đội trưởng đội bóng bầu dục, cùng mấy thứ đơn giản kiểu đó."
"Amory," Kerry thiếu kiên nhẫn nói, "cậu cứ đi vòng quanh trong một cái vòng luẩn quẩn thế nhỉ. Nếu cậu muốn nổi bật, hãy ra ngoài và thử sức với cái gì đó đi; còn nếu không muốn, thì cứ thong thả mà tận hưởng." Cậu ngáp dài. "Nào, để làn khói bay đi thôi. Chúng ta xuống dưới kia xem tập bóng bầu dục nào."
Amory dần chấp nhận quan điểm ấy, quyết định rằng mùa thu tới sẽ là cột mốc mở ra sự nghiệp của mình, và buông xuôi để mặc Kerry tìm kiếm niềm vui từ căn nhà số 12 Univee.
Họ nhét đầy bánh chanh vào giường của cậu sinh viên gốc Do Thái; họ thổi tắt đèn gas ở khắp nhà mỗi đêm bằng cách thổi vào ngọn lửa trong phòng Amory, khiến cho mụ chủ nhà số 12 và thợ sửa ống nước địa phương phải bối rối khôn cùng; họ mang toàn bộ đồ đạc của mấy gã say xỉn bình dân — từ tranh ảnh, sách vở cho đến nội thất — ra bày biện trong phòng tắm, khiến cho đôi bạn nọ phải ngớ người ra khi phát hiện sự đổi chỗ này sau khi đi chơi trác táng ở Trenton về; họ cảm thấy hụt hẫng vô bờ bến khi mấy gã say xỉn bình dân quyết định xem đó chỉ là một trò đùa; họ chơi bài red-dog, twenty-one và jackpot từ bữa tối cho đến tận rạng sáng, và vào dịp sinh nhật của một người, họ đã thuyết phục cậu ta mua đủ rượu sâm-panh cho một bữa tiệc linh đình. Vì người đứng ra chiêu đãi vẫn hoàn toàn tỉnh táo, Kerry và Amory đã vô tình đẩy ngã anh ta xuống hai tầng lầu rồi mặt mày hối hận, bứt rứt đến thăm anh ta ở bệnh xá trong suốt tuần lễ sau đó.
"Này, mấy cái đứa con gái này là ai thế?" Kerry hỏi một ngày nọ, khi đang phàn nàn về số lượng thư từ tấp nập của Amory. "Dạo này tớ toàn nhìn dấu bưu điện — Farmington, Dobbs, rồi Westover và Dana Hall — ý đồ gì thế này?"
Amory cười ranh mãnh.
"Toàn từ vùng Twin Cities cả đấy." Cậu điểm mặt từng người một. "Có Marylyn De Witt — cô ấy xinh lắm, có xe ô tô riêng và điều đó thật tiện lợi biết bao; có Sally Weatherby — cô ấy ngày càng béo lên rồi; còn Myra St. Claire nữa, cô ấy là người tình cũ, rất dễ hôn nếu cậu thích..."
"Cậu thả thính kiểu gì thế?" Kerry gặng hỏi. "Tớ thử đủ mọi cách rồi mà mấy cô nàng nổi loạn đó thậm chí còn chẳng thèm sợ tớ cơ."
"Cậu thuộc tuyp 'cậu bé ngoan' rồi," Amory gợi ý.
Đúng thế thật đấy. Mẹ bao giờ cũng cảm thấy con bé được an toàn nếu nó đi cùng tớ. Thật sự là rất bực mình. Nếu tớ bắt đầu nắm tay ai đó, họ sẽ cười vào mặt tớ, và cứ để mặc tớ nắm, hệt như thể bàn tay đó chẳng phải là một phần cơ thể họ vậy. Ngay khi tớ vừa tóm được một bàn tay thì họ lại kiểu như tách rời nó ra khỏi phần cơ thể còn lại ấy."
"Hãy hờn dỗi đi," Amory gợi ý. "Nói với họ rằng cậu là một kẻ hoang dã và bắt họ phải cải tạo cậu — rồi vùng vằng bỏ về trong cơn thịnh nộ — sau đó quay lại sau nửa tiếng — khiến họ phải kinh ngạc."
Kerry lắc đầu.
"Không có cửa đâu. Năm ngoái tớ viết cho một cô bé ở St. Timothy một bức thư tình thực sự. Có đoạn tớ luống cuống quá nên đã thốt lên rằng: 'Lạy Chúa, anh yêu em biết nhường nào!' Thế là cô ấy lấy kéo cắt móng tay, cạo cụt cụm từ 'Lạy Chúa' đi rồi đem bức thư khoe khắp trường. Chẳng ăn thua gì đâu. Tớ mãi chỉ là 'cái lão Kerry tốt bụng' và mấy thứ nhảm nhí đó thôi."
Amory mỉm cười và cố hình dung bản thân mình trong vai trò "cậu Amory tốt bụng". Cậu hoàn toàn thất bại.
Tháng Hai trôi qua trong những trận mưa tuyết dầm dề, kỳ thi giữa kỳ của tân sinh viên đầy bão tố đã qua đi, và cuộc sống ở 12 Univee vẫn tiếp tục thú vị dẫu cho có phần không có mục đích rõ ràng. Mỗi ngày một lần, Amory tự thưởng cho mình một chiếc bánh mì kẹp ba tầng, bánh ngô giòn và khoai tây thái sợi tại quán của "Joe", thường đi cùng Kerry hoặc Alec Connage. Người sau là một tay chơi bảnh bao, điềm tĩnh và có phần xa cách đến từ trường Hotchkiss, sống ở căn phòng bên cạnh và cũng rơi vào hoàn cảnh đơn độc bất đắc dĩ giống như Amory, do toàn bộ lớp của cậu ta đều đã sang Yale. Quán của "Joe" không có tính thẩm mỹ và hơi kém vệ sinh một chút, nhưng ở đó người ta cho phép mở một tài khoản ghi nợ không giới hạn — một sự tiện lợi mà Amory vô cùng trân trọng. Cha cậu đang thử nghiệm kinh doanh cổ phiếu khai mỏ và kết quả là tiền trợ cấp của cậu, dẫu rộng rãi, nhưng hoàn toàn chẳng được như những gì cậu từng mong đợi.
Quán của "Joe" còn có thêm một ưu điểm là tránh xa được ánh mắt tò mò của đám sinh viên năm trên, thế nên cứ vào lúc bốn giờ chiều mỗi ngày, Amory, cùng với bạn bè hoặc sách vở, lại đến đó để trải nghiệm hệ thống tiêu hóa của mình. Một ngày nọ vào tháng Ba, nhận thấy tất cả các bàn đều đã có người ngồi, cậu bèn len lén bước vào ngồi ở chiếc bàn cuối cùng, đối diện với một tân sinh viên đang cắm cúi đọc sách. Họ gật đầu chào nhau ngắn gọn. Suốt hai mươi phút, Amory vừa ăn bánh mì kẹp thịt xông khói vừa đọc cuốn "Nghề nghiệp của bà Warren" (cậu tình cờ phát hiện ra Shaw khi đang mày mò trong thư viện trong đợt thi giữa kỳ); trong khi đó, cậu sinh viên kia cũng chăm chú vào cuốn sách của mình, vừa giải quyết xong ba ly sữa mạch nha vị chocolate.
Lát sau, ánh mắt Amory tò mò lướt sang cuốn sách của người bạn cùng bàn. Cậu đánh vần tên tác giả và tựa sách bị lộn ngược — "Marpessa" của Stephen Phillips. Điều này chẳng mang lại ý nghĩa gì với cậu cả, vì giáo dục thi ca của cậu vốn chỉ giới hạn trong mấy tác phẩm kinh điển ngày Chủ nhật kiểu như "Đến vườn nhà anh đi, Maude", cùng với những mảnh vụn Shakespeare và Milton vừa mới bị nhồi nhét vào đầu gần đây.
Được thúc giục để bắt chuyện với người đối diện, cậu giả vờ tỏ ra hứng thú với cuốn sách của mình trong giây lát, rồi đột nhiên thốt lên thành tiếng như thể không kiềm chế được:
"Chà! Tác phẩm tuyệt cú mèo!"
Cậu tân sinh viên ngước lên và Amory liền ra chiều bối rối giả tạo.
"Cậu đang ám chỉ những chiếc bánh mì kẹp thịt xông khói đấy à?" Giọng nói lạo xạo và đầy thân thiện của cậu ta rất hợp với cặp kính dày cộp cùng ấn tượng về một trí tuệ uyên bác mà cậu tỏa ra.
"Không," Amory đáp. "Tớ đang nói đến Bernard Shaw cơ." Cậu xoay cuốn sách lại để giải thích.
Tớ chưa từng đọc tác phẩm nào của Shaw cả. Tớ vẫn luôn tự hứa là sẽ đọc." Cậu bé ngập ngừng rồi nói tiếp: "Cậu đã bao giờ đọc Stephen Phillips chưa, hay là cậu thích thơ ca?"
"Có chứ, chắc chắn rồi," Amory hào hứng khẳng định. "Nhưng tớ chưa bao giờ đọc nhiều về Phillips cả." (Cậu chưa từng nghe nói về bất kỳ vị Phillips nào ngoại trừ vị cố gia David Graham quá cố.)
"Tớ nghĩ cũng khá ổn đấy chứ. Tất nhiên là ông ấy thuộc trường phái Victoria rồi." Họ lao vào một cuộc thảo luận sôi nổi về thơ ca, qua đó họ tự giới thiệu về bản thân, và người đồng hành của Amory hóa ra lại chính là "gã tri thức khó ưa Thomas Parke D’Invilliers" — người chuyên ký tên dưới những bài thơ tình đầy đam mê trên tờ Lit. Cậu ta khoảng mười chín tuổi, lưng hơi gù, đôi mắt xanh nhạt, và qua vẻ bề ngoài chung, Amory có thể nhận ra rằng cậu ta chẳng màng mấy đến những cuộc đua tranh xã hội hay những hiện tượng có sức hút mãnh liệt tương tự. Mặc dù vậy, cậu ta thích sách, và có cảm giác như đã từ rất lâu rồi Amory mới gặp lại một người cũng có chung sở thích ấy; giá mà đám sinh viên St. Paul’s ở chiếc bàn bên cạnh không nhầm tưởng cậu ta cũng là một gã quái dị nào đó, thì cậu sẽ tận hưởng cuộc gặp gỡ này một cách trọn vẹn biết bao.
Có vẻ như bọn họ không chú ý lắm, thế là cậu cứ thả lỏng bản thân, bàn luận về hàng tá cuốn sách — những cuốn đã đọc, đã nghe nói đến, và cả những cuốn chưa từng nghe bao giờ, tuôn ra một lèo hàng loạt tựa sách với sự trôi chảy của một nhân viên tiệm sách Brentano. D’Invilliers bị lừa gạt một phần và hoàn toàn mê mẩn. Với bản tính dĩ hòa vi quý, cậu ta suýt chút nữa đã kết luận rằng Princeton một nửa là bọn Trọc phú đần độn và một nửa là những mọt sách chán ngắt, thế nên việc tìm được một người có thể nhắc đến tên Keats mà không bị lắp bắp, lại rõ ràng là biết rửa tay sạch sẽ, quả thực là một điều thú vị.
"Cậu đã bao giờ đọc Oscar Wilde chưa?" cậu ta hỏi.
"Chưa. Ai viết thế?"
"Là một ông lão — cậu không biết thật á?"
"Ồ, chắc chắn rồi." Một sợi dây âm thanh mờ nhạt vang lên trong ký ức Amory. "Có phải vở nhạc kịch hài 'Patience' viết về ông ấy không?"
"Đúng rồi, chính là lão đấy. Tớ vừa đọc xong một cuốn sách của ông ấy, 'Bức chân dung của Dorian Gray', và tớ thực sự mong cậu hãy đọc nó đi. Cậu sẽ thích nó cho mà xem. Cậu có thể mượn nếu muốn."
"Ừ, tớ rất thích đấy — cảm ơn nhé."
"Cậu có muốn lên phòng tớ không? Tớ còn vài cuốn sách khác nữa."
Amory ngập ngừng, liếc nhìn nhóm sinh viên St. Paul’s — một trong số họ chính là Humbird tráng lệ và kiêu kỳ — và cậu cân nhắc xem việc kết giao thêm người bạn này sẽ mang tính quyết định đến mức nào. Cậu chưa bao giờ đạt đến trình độ kết bạn rồi rũ bỏ họ — cậu không đủ nhẫn tâm để làm thế — thế nên cậu đong đếm sức hút và giá trị không thể chối cãi của Thomas Parke D’Invilliers với mối đe dọa từ những ánh mắt lạnh lùng ẩn sau cặp kính gọng đồi mồi mà cậu tưởng tượng đang trừng trừng nhìn sang từ chiếc bàn bên cạnh.
"Được chứ, tớ sẽ đi."
Thế là cậu tìm thấy "Dorian Gray", "Mystic and Somber Dolores" và "Belle Dame sans Merci"; trong suốt một tháng trời, cậu say mê những thứ đó đến quên ăn quên ngủ. Thế giới bỗng trở nên nhợt nhạt và đầy thú vị, và cậu cố gắng nhìn Princeton qua đôi mắt ngập ngụa sự chán ngấy của Oscar Wilde và Swinburne — hay "Fingal O’Flaherty" và "Algernon Charles", theo cách gọi đầy vẻ đài ác ôn của cậu trong những trò đùa mang tính trác tuyệt. Cậu ngấu nghiến vô số sách vở mỗi đêm — Shaw, Chesterton, Barrie, Pinero, Yeats, Synge, Ernest Dowson, Arthur Symons, Keats, Sudermann, Robert Hugh Benson, các vở nhạc kịch Savoy — chỉ là một sự pha trộn hỗn tạp, bởi vì cậu chợt nhận ra mình đã chẳng đọc gì suốt bao nhiêu năm qua.
Tom D’Invilliers thoạt đầu chỉ là một dịp tình cờ hơn là một người bạn thực thụ. Amory gặp cậu ta khoảng một tuần một lần, và họ cùng nhau dát vàng trần nhà của Tom, trang trí tường bằng những tấm thảm giả mua được trong một buổi đấu giá, cùng những cây nến cao và rèm cửa có hoa văn. Amory quý cậu ta vì sự thông minh và chất văn chương mà không hề ra vẻ hay điệu đà. Trên thực tế, Amory mới là kẻ hay làm bộ làm tịch nhất và luôn cố gắng một cách đau đớn để biến mọi câu nói thành một câu châm ngôn — mà nếu ai đó chỉ cần thỏa mãn với những câu châm ngôn bề nổi thì sẽ thấy có rất nhiều kỳ tích còn khó hơn thế nhiều. Căn nhà số 12 Univee cảm thấy rất thú vị. Kerry đọc "Dorian Gray" và bắt chước phong thái của Lãnh chúa Henry, lẽo đẽo đi theo Amory, gọi cậu là "Dorian" và làm bộ khuyến khích cậu nuôi dưỡng những tư tưởng độc ác cùng xu hướng chán chường uể oải. Khi cậu đem trò đó vào phòng ăn Commons khiến cho những người khác ở bàn phải trố mắt ngạc nhiên, Amory trở nên vô cùng lúng túng, và từ đó về sau, cậu chỉ phun ra những câu châm ngôn trước mặt D’Invilliers hoặc một chiếc gương soi tiện lợi.
Có một ngày, Tom và Amory thử ngâm thơ của chính họ và của Lãnh chúa Dunsany trên nền nhạc chiếc máy hát đĩa của Kerry.
"Ngâm đi!" Tom hét lên. "Đừng có đọc! Hãy ngâm vang lên!"
Amory, người đang biểu diễn, tỏ vẻ khó chịu và cho rằng cậu cần một bản thu âm có ít tiếng đàn piano hơn. Lập tức, Kerry lăn ra sàn cười nấc nẻ đến mức nghẹt thở.
"Bật bài 'Hearts and Flowers' lên xem nào!" cậu hú hét. "Ôi trời ơi, tớ sắp đẻ non ra được rồi đây."
"Tắt ngay cái máy hát khốn kiếp ấy đi," Amory hét lên, mặt đỏ tía tai. "Tớ có đang đi biểu diễn đâu cơ chứ."
Trong khi đó, Amory vẫn âm thầm tìm cách đánh thức ý thức về hệ thống xã hội trong lòng D’Invilliers, bởi vì cậu biết nhà thơ này thực ra còn bảo thủ hơn cả cậu, và chỉ cần chải chuốt lại mái tóc, thu hẹp phạm vi trò chuyện cùng một chiếc mũ nâu sẫm hơn là sẽ trở nên hoàn toàn bình thường. Thế nhưng những lời giáo huấn về cổ áo Livingstone và những chiếc cà vạt sẫm màu đều rơi vào tai kẻ điếc; trên thực tế, D’Invilliers còn hơi bực bội trước những nỗ lực của cậu; thế nên Amory đành giới hạn bản thân bằng những chuyến ghé thăm mỗi tuần một lần, và thỉnh thoảng lôi cậu ta đến nhà số 12 Univee. Điều này đã gây ra những tiếng cười khúc khích nho nhỏ trong đám tân sinh viên, những kẻ thường gọi họ là "Tiến sĩ Johnson và Boswell".
Alec Connage, một vị khách thường xuyên khác, quý cậu ta một cách mơ hồ nhưng lại dè chừng vì sợ cái mác tri thức của cậu ta. Kerry, kẻ nhìn thấu lớp vỏ bọc thi ca để thấy được tầng sâu vững chắc, gần như đáng kính ở bên trong, cảm thấy vô cùng thích thú và thường bắt cậu đọc thơ hàng giờ liền, trong khi chính cậu ta thì nằm nhắm nghiền mắt trên chiếc sofa của Amory và lắng nghe:
Đang ngủ hay thức đó? Vì chiếc cổ nàng
Bị hôn quá sát, vẫn hằn vết tím loang
Nơi dòng máu đau đớn lịm dần rồi tắt lịm;
Mềm mại và đau nhói dịu êm—đẹp hơn vì một vết đốm...
"Hay đấy," Kerry lẩm bẩm nói. "Làm hài lòng lão Holiday lớn tuổi rồi đấy. Chắc hẳn đó là một nhà thơ vĩ đại." Tom, vô cùng sung sướng khi có được khán giả, cứ thế ngâm nga xuyên suốt tập "Poems and Ballades" cho đến khi cả Kerry và Amory thuộc lòng chúng chẳng kém gì cậu ta.
Amory đâm ra thích làm thơ vào những buổi chiều mùa xuân, trong những khu vườn của các bất động sản lớn gần Princeton, khi những con thiên nga tạo ra bầu không khí đầy dụng ý trong các hồ nước nhân tạo, và những đám mây lững lờ trôi hòa hợp trên rặng liễu. Tháng Năm đến quá nhanh, và bỗng nhiên không thể chịu đựng nổi những bức tường nữa, cậu lang thang khắp khuôn viên trường vào mọi thời điểm qua ánh sao trời và làn mưa bụi.
MỘT KHOẢNG LẶNG ĐẦY TÂM TRANG VÀ ẨM ƯỚT
Màn sương đêm buông xuống. Nó cuộn mình từ vầng trăng, quần tụ quanh những ngọn tháp rồi sà xuống bên dưới, để những đỉnh tháp mộng mơ vẫn vươn lên cao vời vợi hướng về bầu trời. Những bóng người lấm chấm giữa ban ngày giờ đây lướt qua như những bóng ma mờ ảo, ra vào mờ ảo giữa khung cảnh. Những tòa nhà và hành lang kiểu Gothic càng trở nên huyền bí gấp bội khi chúng bất ngờ hiện lên từ màn sương tối, được phác họa ranh giới bởi vô vàn ô vuông ánh sáng vàng leo lét. Từ một nơi nào đó không rõ, tiếng chuông vang lên điểm mười lăm phút, và Amory, dừng bước bên chiếc đồng hồ mặt trời, nằm dài toàn thân trên bãi cỏ ẩm ướt. Hơi lạnh gội rửa đôi mắt cậu và làm chậm lại nhịp bước của thời gian — thời gian vốn trôi đi một cách đầy âm thầm qua những buổi chiều tháng Tư lười biếng, tưởng chừng vô hình trong những buổi chạng vạng mùa xuân kéo dài. Hết buổi tối này đến buổi tối khác, tiếng hát của sinh viên năm tư đã lan tỏa khắp khuôn viên trường trong vẻ đẹp u sầu, và xuyên qua lớp vỏ bọc ý thức của một sinh viên đại học, một lòng sùng kính sâu sắc và thành kính đã bùng cháy hướng về những bức tường xám xịt, những đỉnh tháp Gothic cùng tất cả những gì chúng tượng trưng như những kho tàng của thời đại đã qua.
Ngọn tháp mà từ góc nhìn bên cửa sổ của cậu vút bay lên cao, phát triển thành một chóp nhọn, khao khát vươn cao hơn nữa cho đến khi chớp đỉnh của nó nửa ẩn nửa hiện giữa bầu trời ban mai, đã mang lại cho cậu cảm giác đầu tiên về sự phù du và tính không quan trọng của những bóng hình trong khuôn viên trường ngoại trừ tư cách là những kẻ tiếp quản dòng dõi tông đồ. Cậu thích việc thấu hiểu rằng kiến trúc Gothic, với xu hướng vươn lên, lại đặc biệt phù hợp với các trường đại học, và ý tưởng ấy trở nên gắn bó với cá nhân cậu. Những dải cỏ xanh ngút ngàn tĩnh lặng, những tòa nhà trầm mặc với ánh đèn học thỉnh thoảng còn cháy muộn đã nắm giữ trí tưởng tượng của cậu một cách chặt chẽ, và sự thuần khiết của ngọn tháp trở thành biểu tượng cho nhận thức ấy.
"Mẹ kiếp," cậu lẩm bẩm thành tiếng, làm ướt đôi tay trong làn sương ẩm rồi luồn tay vào mái tóc. "Năm sau mình sẽ học hành chăm chỉ!" Thế nhưng cậu biết rằng nơi mà hiện tại tinh thần của những ngọn tháp khiến cậu mộng mơ đồng thuận, thì sau đó nó sẽ khiến cậu phải kính sợ. Nơi mà hiện tại cậu chỉ nhận ra sự tầm thường của bản thân, thì sự nỗ lực sẽ khiến cậu nhận thức được sự bất lực và thiếu thốn của chính mình.
Ngôi trường đại học vẫn mộng mơ — trong cơn tỉnh giấc. Cậu cảm thấy một sự kích động thần kinh có lẽ chính là nhịp đập của trái tim chậm chạp nơi đây. Đó là một dòng suối nơi cậu sắp ném xuống một hòn đá mà gợn sóng mờ nhạt của nó sẽ tan biến ngay khi vừa rời khỏi tay cậu. Cho đến nay, cậu chưa cống hiến được gì, và cũng chẳng nhận lại được gì.
Một tân sinh viên đi muộn, chiếc áo mưa vải dầu kêu sột soạt lớn, lê bước dọc theo con đường mòn mềm mại. Một giọng nói từ đâu đó cất lên câu khẩu hiệu bất hủ, "Thò đầu ra xem nào!", vang lên bên dưới một ô cửa sổ khuất khuất. Hàng trăm âm thanh nhỏ bé của dòng chảy cứ tiếp tục trôi đi dưới màn sương cuối cùng cũng len lỏi vào ý thức cậu.
"Ôi, Chúa ơi!" cậu đột nhiên thốt lên, và giật mình trước âm thanh giọng nói của chính mình giữa không gian tĩnh mịch. Mưa vẫn rơi tí tách. Cậu nằm thêm một phút nữa không động đậy, hai tay siết chặt. Rồi cậu bật dậy và vỗ nhẹ vào quần áo để thăm dò.
"Mình ướt như chuột lột rồi đây này!" cậu nói lớn với chiếc đồng hồ mặt trời.
LỊCH SỬ
Chiến tranh bùng nổ vào mùa hè sau năm nhất đại học của cậu. Ngoại trừ hứng thú mang tính thể thao đối với cuộc tấn công chớp nhoáng của người Đức vào Paris, toàn bộ sự việc ấy không tài nào làm cậu phấn khích hay nổi lên chút quan tâm nào. Với thái độ mà lẽ ra cậu có thể dành cho một bộ phim truyền hình giật gân đầy giải trí, cậu hy vọng nó sẽ kéo dài và đẫm máu hơn nữa. Nếu nó không tiếp tục diễn ra, cậu sẽ cảm thấy giống như một kẻ mua vé đang nổi giận tại một trận đấu quyền anh mà các võ sĩ từ chối không chịu lao vào quần nhau.
Đó là toàn bộ phản ứng của cậu.
"HA-HA HORTENSE!"
"Được rồi, đám pony!"
"Nhanh chân lên nào!"
"Này, mấy em pony — bớt chơi bài bạc đi và lắc cáiông hông cho dẻo vào xem nào?"
"Này, mấy em pony!"
Huấn luyện viên cáu kỉnh đến bất lực, chủ tịch câu lạc bộ Triangle với vẻ mặt cau có đầy lo lắng, dao động giữa những cơn phẫn nộ quyền uy và những lúc chán nản lười biếng theo kiểu nghệ sĩ, khi anh ta ngồi thừ người ra không hồn và tự hỏi không biết quái nào mà vở diễn có thể kịp lưu diễn vào dịp Giáng sinh đây.
"Được rồi. Chúng ta sẽ tập bài hát cướp biển."
Đám pony rít nốt hơi thuốc cuối cùng rồi uể oải vào vị trí; nữ chính lao vút lên tiền cảnh, đôi tay và đôi chân chuyển động theo những bước nhún nhảy đầy chất thơ; và khi huấn luyện viên vỗ tay, giậm chân, đập nhịp theo tiếng nhạc, họ bắt đầu ráp lại một điệu nhảy.
Câu lạc bộ Triangle chính là một cái ổ kiến sôi sục và náo nhiệt. Nó tổ chức một vở nhạc kịch hằng năm, mang theo dàn diễn viên, đội đồng ca, dàn nhạc và phông màn đi lưu diễn khắp trong kỳ nghỉ Giáng sinh. Vở kịch và âm nhạc đều là tác phẩm của các sinh viên, và bản thân câu lạc bộ chính là một trong những thiết chế có ảnh hưởng lớn nhất, với hơn ba trăm nam sinh tranh cử vào đó mỗi năm.
Amory, sau chiến thắng dễ dàng trong cuộc thi tuyển chọn thành viên cho tờ Princetonian năm thứ hai, đã bước vào vị trí còn trống trong dàn diễn viên với vai Boiling Oil, một tên cướp biển phó tướng. Mỗi đêm trong tuần lễ cuối cùng, họ đã tập luyện vở "Ha-Ha Hortense!" tại Casino, từ hai giờ chiều cho đến tận tám giờ sáng, được duy trì sức lực bởi những tách cà phê đen đặc sánh, và tranh thủ ngủ gật trong các giờ lên lớp ở khoảng thời gian giữa hai buổi tập. Một khung cảnh hiếm có, Casino. Một khán phòng rộng lớn, trông như cái chuồng bò, rải rác những cậu con trai đóng giả con gái, con trai đóng giả cướp biển, con trai đóng giả em bé; cảnh trí thì đang được dựng lên một cách bạo lực; anh chàng phụ trách đèn sân khấu tập luyện bằng cách chiếu những luồng sáng kỳ quái vào những đôi mắt đang cau có; trùm lên tất cả là âm thanh dàn nhạc cứ điều chỉnh liên tục hoặc tiếng đập nhịp vui tai của một giai điệu Triangle. Cậu trai viết lời bài hát đang đứng ở góc phòng, cắn bút với vỏn vẹn hai mươi phút để nghĩ ra một bài hát encore; người quản lý kinh doanh tranh cãi với thư ký về việc có thể chi bao nhiêu tiền cho "mấy cái bộ trang phục cô thôn nữ chết tiệt đó"; vị cựu sinh viên, chủ tịch khóa chín mươi tám, ngồi vắt vẻo trên một chiếc thùng gỗ và nghĩ xem mọi thứ thời của ông ta đơn giản biết nhường nào.
Làm thế nào mà một buổi diễn Triangle có thể ra lò vẫn là một điều bí ẩn, nhưng dẫu sao đó vẫn là một bí ẩn náo nhiệt, dù người ta có cống hiến đủ để được đeo một chiếc huy hiệu Triangle bằng vàng nhỏ xíu trên dây đồng hồ hay không. "Ha-Ha Hortense!" đã được viết đi viết lại sáu lần và mang tên của chín cộng tác viên trên chương trình. Tất cả các buổi biểu diễn của Triangle đều bắt đầu với tuyên bố là "một thứ gì đó hoàn toàn khác biệt — chứ không chỉ là một vở nhạc kịch thông thường", nhưng khi các tác giả, vị chủ tịch, huấn luyện viên và ủy ban khoa nhúng tay vào hoàn thiện, thì thứ còn lại vẫn chỉ là một vở Triangle đáng tin cậy quen thuộc với những câu đùa đáng tin cậy quen thuộc cùng nam danh hài chính — kẻ bị đuổi học hoặc ngã bệnh hay gặp sự cố gì đó ngay trước chuyến lưu diễn, và gã đàn ông để râu đen trong dàn múa pony – kẻ mà "cho dù thế nào đi chăng nữa cũng nhất quyết không chịu cạo râu một ngày hai lần!"
Có một chi tiết vô cùng rực rỡ trong "Ha-Ha Hortense!". Theo truyền thống ở Princeton, bất cứ khi nào một sinh viên trường Yale — thành viên của tổ chức "Skull and Bones" được quảng cáo rầm rộ — nghe thấy cái tên thiêng liêng đó được nhắc đến, anh ta phải rời khỏi phòng ngay lập tức. Đó cũng là truyền thống rằng các thành viên đều vô cùng thành công trong những năm tháng sau này, vơ vét được những khối tài sản khổng lồ, những lá phiếu hay những phiếu lĩnh cổ tức hoặc bất cứ thứ gì họ chọn để vơ vét. Do đó, trong mỗi buổi biểu diễn của "Ha-Ha Hortense!", nửa tá ghế được giữ lại không bán và bị chiếm giữ bởi sáu gã lang thang tồi tệ nhất có thể thuê được ngoài đường phố, được trang điểm thêm bởi chuyên gia hóa trang của Triangle. Ngay tại thời điểm trong vở kịch khi Firebrand, Tên cướp biển trưởng, chỉ vào lá cờ đen của mình và nói: "Ta là cựu sinh viên Yale — hãy nhìn Chiếc hộp sọ và Xương chéo của ta đây!" — chính vào khoảnh khắc ấy, sáu gã lang thang đã được hướng dẫn phải đứng phắt dậy một cách rõ mồn một và rời khỏi nhà hát với vẻ mặt đầy u sầu và một nỗi tổn thương lòng tự trọng. Người ta đồn rằng — dẫu chưa bao giờ được chứng minh — có lần đám người Yale được thuê đó đã được phổng phui thêm bởi một nhân vật hàng thật giá thật.
Họ đi lưu diễn qua kỳ nghỉ tại tám thành phố mang phong cách thời trang thượng lưu. Amory thích Louisville và Memphis nhất: những nơi này biết cách đối đãi với người khách lạ, cung cấp những ly punch phi thường và trưng ra một dàn nhan sắc phụ nữ đáng kinh ngạc. Chicago thì được cậu đánh giá cao vì một thứ sức sống tràn trề vượt lên trên cái giọng điệu ồn ào của nó — tuy nhiên, đó là lãnh địa của Yale, và vì Câu lạc bộ Hát bè Yale sẽ đến trong vòng một tuần nên Triangle chỉ nhận được sự tôn sùng bị chia sẻ đôi ngả. Ở Baltimore, Princeton mới thực sự là nhà, và ai nấy đều rơi vào lưới tình. Việc tiêu thụ những loại đồ uống mạnh diễn ra điều đặn dọc theo suốt hành trình; có một anh chàng luôn luôn bước lên sân khấu trong trạng thái kích thích cao độ, với lý lẽ rằng cách diễn giải vai diễn cụ thể của anh ta đòi hỏi phải như vậy. Có ba toa tàu riêng; tuy nhiên, chẳng ai ngủ nghê gì ngoại trừ toa tàu thứ ba có biệt danh là "toa động vật" — nơi nhốt những gã thổi kèn tò te đeo kính cận của dàn nhạc. Mọi thứ diễn ra vội vã đến mức chẳng có thời gian để mà chán nản, nhưng khi họ đặt chân đến Philadelphia với kỳ nghỉ đã gần kề, thật là nghỉ ngơi thoải mái khi được thoát ra khỏi bầu không khí nặng nề của hoa tươi và lớp phấn trang điểm béo ngậy, và đám pony cởi bỏ những chiếc áo nịt ngực với những cơn đau quặn thắt vùng bụng cùng tiếng thở phào nhẹ nhõm.
Khi buổi lễ giải tán diễn ra, Amory liền cắm cổ lên đường đi Minneapolis, vì cô em họ của Sally Weatherby là Isabelle Borge đang đến Minneapolis để nghỉ đông trong lúc bố mẹ cô sang châu Âu. Amory chỉ nhớ Isabelle như một cô bé mà cậu thỉnh thoảng chơi đùa cùng khi mới đến Minneapolis. Cô đã chuyển đến Baltimore sống — nhưng kể từ đó cô đã phát triển cho mình một quá khứ đầy biến động.
Amory đang ở trạng thái sung sức nhất, đầy tự tin, bồn chồn và hoan hỉ. Vội vã quay về Minneapolis để gặp một cô gái mà cậu từng quen biết thuở nhỏ có vẻ là một việc làm đầy thú vị và lãng mạn, thế nên chẳng chút ngần ngại, cậu đánh điện thoại về nhà bảo mẹ đừng mong ngóng mình... ngồi lên tàu, và suy nghĩ về bản thân suốt ba mươi sáu tiếng đồng hồ.
"ÔM ẤP VUỐT VE"
Trong chuyến lưu diễn của Triangle, Amory đã liên tục tiếp xúc với một hiện tượng lớn của văn hóa Mỹ đương đại: "bữa tiệc ôm ấp" (petting party).
Không một người mẹ nào theo trường phái Victoria — và phần lớn các bà mẹ đều thuộc trường phái Victoria — lại có mảy may ý niệm về việc các cô con gái của họ đã quen với việc được hôn một cách bâng quơ đến nhường nào. "Mấy đứa con gái hầu phòng mới thế thôi," bà Huston-Carmelite nói với cô con gái nổi tiếng của mình. "Chúng nó được hôn trước rồi mới được cầu hôn sau."
Thế nhưng Cô nàng Nổi tiếng lại đính hôn sáu tháng một lần trong khoảng thời gian từ mười sáu đến hai mươi hai tuổi, khi cô sắp xếp một cuộc hôn nhân với cậu trẻ Hambell thuộc công ty Cambell & Hambell — kẻ một cách ngớ ngẩn tự coi mình là mối tình đầu của cô, và giữa những lần đính hôn, C. N. (cô được lựa chọn thông qua hệ thống cắt ngang tại các buổi khiêu vũ, thiên vị sự sinh tồn của những kẻ thích nghi nhất) lại có những nụ hôn cuối mang tính tình cảm dưới ánh trăng, ánh lửa, hay trong bóng tối mịt mùng ngoài kia.
Amory chứng kiến những cô gái làm những điều mà ngay cả trong ký ức của cậu cũng là bất khả thi: ăn những bữa tối lúc ba giờ sáng sau các buổi khiêu vũ tại những quán cà phê bất khả thi, bàn luận về mọi khía cạnh của cuộc sống với một nửa thái độ nghiêm túc, một nửa chế giễu, nhưng lại đi kèm với một sự khích lệ ngấm ngầm mà Amory cho rằng đó biểu thị cho sự suy đồi đạo đức thực sự. Thế nhưng cậu chưa bao giờ nhận ra nó lan rộng đến mức nào cho đến khi chứng kiến các thành phố nằm giữa New York và Chicago hiện lên như một âm mưu vị thành niên khổng lồ.
Buổi chiều tại khách sạn Plaza, với màn sương mờ mùa hè lảng vảng bên ngoài và tiếng trống dồn dập thoang thoảng ở tầng dưới... họ nghênh ngang đi lại ở sảnh chờ, nốc thêm một ly cocktail nữa, ăn mặc chỉnh tề và chờ đợi. Rồi những cánh cửa xoay vòng lại và ba chùm lông thú rụt rè bước vào. Tiếp theo là rạp chiếu phim; rồi một chiếc bàn ở Midnight Frolic — tất nhiên là mẹ sẽ đi cùng ở đó rồi, nhưng bà chỉ đóng vai trò làm cho mọi thứ trở nên kín đáo và rực rỡ hơn khi bà ngồi một mình một cõi ở chiếc bàn vắng vẻ và nghĩ rằng những chòi giải trí kiểu này chẳng tệ hại một nửa so với lời đồn đại, chỉ là hơi mệt mỏi mà thôi. Nhưng C. N. lại đang yêu lần nữa... thật kỳ lạ phải không? — rằng mặc dù trong taxi vẫn còn rất nhiều chỗ trống nhưng C. N. và cậu thanh niên đến từ trường Williams không hiểu sao lại bị chèn ép ra ngoài và phải đi bằng một chiếc xe khác. Thật kỳ lạ! Cậu có để ý thấy C. N. đỏ bừng mặt thế nào khi đến nơi muộn đúng bảy phút không? Thế nhưng C. N. vẫn "lướt qua mọi chuyện một cách êm thấm".
Danh hiệu "mỹ nhân" đã biến thành "gái lẳng lơ", và "gái lẳng lơ" đã biến thành "tiểu yêu tinh". "Mỹ nhân" từng có năm hoặc sáu vị khách ghé thăm mỗi buổi chiều. Nếu C. N., vì một tai nạn kỳ lạ nào đó, có đến hai người, thì mọi chuyện sẽ trở nên vô cùng khó chịu đối với kẻ không có lịch hẹn với cô. "Mỹ nhân" từng được bao quanh bởi một tá đàn ông trong các khoảng nghỉ giữa các điệu nhảy. Cứ thử tìm C. N. giữa các điệu nhảy xem, cứ thử tìm cô ấy mà xem.
Cùng một cô gái ấy... chìm đắm trong bầu không khí của âm nhạc rừng già và những câu hỏi về các chuẩn mực đạo đức. Amory cảm thấy khá thú vị khi nghĩ rằng bất kỳ cô gái nổi tiếng nào cậu gặp trước tám giờ thì rất có thể cậu sẽ hôn được trước mười hai giờ.
"Sao quái chúng ta lại ở đây thế này?" cậu hỏi cô gái cài lược xanh một đêm nọ khi họ ngồi trong chiếc limousine của ai đó, đỗ bên ngoài Câu lạc bộ Đồng quê ở Louisville.
"Không biết nữa. Tớ chỉ đang nổi cơn điên lên thôi."
"Hãy thành thật đi — chúng ta sẽ chẳng bao giờ gặp lại nhau nữa đâu. Tớ muốn ra đây với cậu vì tớ nghĩ cậu là cô gái trông được nhất ở đây rồi. Cậu thực sự chẳng quan tâm xem có bao giờ gặp lại tớ nữa không, đúng chứ?"
"Không — nhưng đây là chiêu trò cậu dùng với mọi cô gái à? Tớ đã làm gì nên tội cơ chứ?"
"Và cậu không hề thấy mệt khi nhảy múa hay muốn hút một điếu thuốc hay bất cứ thứ gì cậu vừa nói sao? Cậu chỉ muốn được —"
"Ôi, vào trong đi," cô cắt lời, "nếu cậu cứ thích phân tích. Đừng bàn về nó nữa."
Khi những chiếc áo len không tay đan tay trở thành mốt thời thượng, Amory, trong một phút lóe sáng đầy cảm hứng, đã đặt tên cho chúng là "áo len ôm ấp". Cái tên ấy lan truyền từ bờ biển này sang bờ biển nọ trên đôi môi của đám sát gái và các cô nàng C. N.
MÔ TẢ
Amory lúc này đã mười tám tuổi, cao suýt soát sáu Fuß và đẹp trai một cách xuất chúng, nhưng không theo kiểu thông thường. Cậu có một gương mặt khá trẻ con, nét ngây thơ bị làm cho phai mờ bởi đôi mắt xanh sắc sảo, viền mi dài đen sẫm. Cậu thiếu đi thứ sức hút động vật mãnh liệt thường đi kèm với vẻ đẹp của đàn ông hay phụ nữ; nhân cách của cậu có vẻ nghiêng về mặt tinh thần nhiều hơn, và cậu không có khả năng bật hay tắt nó đi giống như một cái vòi nước. Thế nhưng mọi người không bao giờ quên được gương mặt cậu.
ISABELLE
Cô dừng lại ở bậc cao nhất của cầu thang. Những cảm xúc thường được gán cho các vận động viên nhảy cầu trên ván nhún, các nữ chính trong đêm công diễn đầu tiên, và những chàng trai trẻ vạm vỡ cục mịch vào ngày diễn ra Trận đấu lớn, đang dồn dập tuôn trào trong lòng cô. Lẽ ra cô phải bước xuống trong tiếng trống vang dội hoặc một bản hòa tấu chói tai gồm các chủ đề từ "Thais" và "Carmen". Chưa bao giờ cô cảm thấy tò mò về ngoại hình của mình đến thế, và cũng chưa bao giờ cô cảm thấy hài lòng về nó đến vậy. Cô vừa tròn mười sáu tuổi được sáu tháng.
"Isabelle!" cô em họ Sally gọi vọng ra từ khung cửa phòng thay đồ.
"Tớ sẵn sàng rồi đây." Cô nuốt cục nghẹn hồi hộp ở cổ họng.
"Tớ phải sai người về nhà lấy đôi giày khác. Chờ một phút nhé."
Isabelle bước về phía phòng thay đồ để ngắm mình lần cuối trong gương, nhưng có cái gì đó thôi thúc cô đứng lại và phóng tầm mắt nhìn xuống nhịp cầu thang rộng lớn của Câu lạc bộ Minnehaha. Chúng uốn lượn đầy khiêu khích, và cô chỉ có thể thoáng thấy hai đôi giày nam ở sảnh bên dưới. Đi giày đế bệt màu đen đồng phục, chúng không hề hé lộ chút danh tính nào, nhưng cô háo hức tự hỏi không biết có đôi nào thuộc về Amory Blaine hay không. Chàng trai trẻ này, dẫu chưa từng chạm mặt, nhưng thế mà lại chiếm một phần đáng kể trong ngày đầu tiên cô đặt chân đến. Ngồi trên ô tô từ ga đi lên, Sally đã buột miệng thốt lên giữa một rừng câu hỏi, bình luận, tiết lộ và phóng đại:
"Cậu vẫn nhớ Amory Blaine chứ, tất nhiên rồi. Chà, cậu ta đang phát cuồng lên được vì muốn gặp lại cậu đấy. Cậu ta nán lại trường thêm một ngày, và tối nay sẽ đến đây. Cậu ta nghe kể về cậu nhiều lắm — bảo là vẫn nhớ đôi mắt của cậu."
Điều này làm Isabelle vô cùng hài lòng. Nó đưa họ về chung một vạch xuất phát, dẫu cho cô hoàn toàn đủ khả năng tự dàn dựng những câu chuyện lãng mạn cho riêng mình, có hoặc không cần đến những màn quảng cáo trước. Thế nhưng tiếp nối sau cơn run rẩy đầy hạnh phúc vì mong đợi ấy lại là một cảm giác chìm xuống khiến cô phải hỏi:
"Ý cậu là thế nào khi bảo cậu ta nghe nói về tớ? Kiểu chuyện gì cơ?"
Sally mỉm cười. Cô có cảm giác mình giống như một người dẫn chương trình với cô em họ kỳ lạ hơn của mình.
"Cậu ta biết cậu là... cậu được coi là xinh đẹp và mấy thứ đại loại thế" — cô ngập ngừng — "và tớ đoán là cậu ta biết cậu từng được hôn."
Nghe vậy, bàn tay nhỏ bé của Isabelle siết chặt lại dưới lớp áo choàng lông thú. Cô vốn đã quen với việc bị cái quá khứ lẫy lừng ấy bám đuổi, và nó chưa bao giờ thôi khơi gợi trong cô cảm giác phẫn uất tương tự; thế nhưng — ở một thị trấn xa lạ, đó lại là một danh tiếng có lợi. Cô là một đứa "Tốc độ" ư? Vậy thì — cứ để bọn họ tìm hiểu xem sao.
Nhìn qua khung cửa sổ, Isabelle ngắm nhìn khung cảnh tuyết lướt qua trong buổi sáng giá lạnh. Ở đây lạnh hơn ở Baltimore rất nhiều; cô đã không thể nhớ nổi; lớp kính ở cửa bên đã đóng băng, các khung cửa sổ bị tuyết che kín ở các góc. Tâm trí cô vẫn mải mê với một chủ đề duy nhất. Liệu cậu ta có ăn mặc giống như cái cậu bé đang thản nhẫn đi bộ dọc theo con phố kinh doanh nhộn nhịp kia trong bộ trang phục trượt tuyết mùa đông và giày moca không? Thật là đậm chất miền Tây làm sao! Tất nhiên là cậu ta không phải kiểu người đó rồi: cậu ta học ở Princeton, là sinh viên năm hai hay đại loại thế. Thật ra cô chẳng có chút ấn tượng rõ ràng nào về cậu ta cả. Một bức ảnh chụp nhanh cổ xưa mà cô lưu giữ trong cuốn album cũ từng gây ấn tượng với cô bởi đôi mắt to (thứ mà bây giờ chắc cậu ta đã lớn kịp với nó rồi). Tuy nhiên, trong tháng vừa qua, khi chuyến thăm mùa đông tới nhà Sally được quyết định, cậu ta đã vươn lên tầm vóc của một đối thủ xứng tầm. Bọn trẻ, những kẻ mai mối xảo quyệt nhất, vạch ra các chiến dịch của chúng một cách nhanh chóng, và Sally đã chơi một bản sonata thư từ vô cùng khéo léo nhằm vào khí chất dễ kích động của Isabelle. Isabelle vốn đã có khả năng nuôi dưỡng những cảm xúc rất mãnh liệt, dù chúng có vô cùng thoáng qua đi chăng nữa...
Họ dừng xe trước một tòa nhà đá trắng trải dài, nằm lùi sâu khỏi con phố phủ đầy tuyết. Bà Weatherby chào đón cô nồng nhiệt và đám em họ nhỏ tuổi lần lượt được lôi ra khỏi mấy xó xỉnh nơi chúng đang rụt rè đứng nấp. Isabelle khéo léo làm quen với chúng. Khi ở trạng thái tốt nhất, cô thu phục tất cả những ai tiếp xúc với mình — ngoại trừ các cô gái lớn tuổi hơn và một số phụ nữ. Tất cả những ấn tượng cô tạo ra đều là sự tính toán có chủ đích. Nửa tá cô gái mà cô làm quen lại vào sáng hôm đó đều khá ấn tượng và bị thu hút không kém bởi cá tính trực diện cũng như danh tiếng của cô. Amory Blaine là một đề tài mở. Rõ ràng là một kẻ lăng nhăng nhẹ nhàng, chẳng nổi bật cũng chẳng chìm nghỉm — hình như cô gái nào ở đó cũng từng có chuyện tình cảm với cậu ta vào lúc này hay lúc khác, nhưng chẳng ai chịu hé lộ bất kỳ thông tin thực sự hữu ích nào. Cậu ta sẽ gục ngã trước cô thôi... Sally đã công bố thông tin đó cho nhóm bạn trẻ của mình và họ đang truyền tai lại cho Sally nhanh như khi họ vừa nhìn thấy Isabelle. Isabelle thầm quyết định rằng nếu cần thiết, cô sẽ ép bản thân phải thích cậu ta — cô nợ Sally điều đó chứ. Giả sử cô bị thất vọng ê chề thì sao. Sally đã tô vẽ cậu ta bằng những màu sắc rực rỡ đến thế — cậu ta ưa nhìn, "kiểu như có khí chất vương giả, khi cậu ta muốn thế", có tài thả thính, và vô cùng lăng nhăng đúng chỗ. Tóm lại, cậu ta tổng hòa tất cả sự lãng mạn mà lứa tuổi và môi trường sống xui khiến cô khao khát. Cô tự hỏi không biết đó có phải là giày khiêu vũ của cậu ta đang phát ra tiếng nhảy fox-trot nhè nhẹ xung quanh tấm thảm mềm mại ở phía dưới hay không.
Mọi ấn tượng và, trên thực tế, mọi ý tưởng đều vô cùng vạn hoa đối với Isabelle. Cô sở hữu sự pha trộn kỳ lạ giữa khí chất xã hội và nghệ thuật thường được tìm thấy ở hai tầng lớp: phụ nữ thượng lưu và các nữ diễn viên. Nền giáo dục của cô, hay đúng hơn là sự từng trải của cô, được hấp thụ từ những chàng trai cứ bám lấy sự sủng ái của cô; sự khéo léo của cô mang tính bản năng, và khả năng vướng vào những cuộc tình của cô chỉ bị giới hạn bởi số lượng những kẻ dễ xiêu lòng nằm trong tầm với của điện thoại. Sự lơ đễnh mỉm cười toát lên từ đôi mắt nâu đen to tròn và chiếu rọi qua sức hút thể chất mãnh liệt của cô.
Thế là cô đợi sẵn ở đầu cầu thang tối hôm đó trong lúc người ta đi lấy giày. Ngay khi cô đang bắt đầu thấy thiếu kiên nhẫn, Sally bước ra từ phòng thay đồ, rạng rỡ với bản tính tốt bụng và tinh thần phấn chấn quen thuộc, và họ cùng nhau bước xuống tầng dưới, trong khi lăng kính chuyển động trong tâm trí Isabelle lóe lên hai ý tưởng: cô mừng vì tối nay mình có màu da rám rạng rỡ, và cô tự hỏi không biết cậu ta có nhảy giỏi không.
Dưới tầng trệt, trong căn phòng lớn của câu lạc bộ, cô phút chốc bị bao quanh bởi những cô gái cô đã gặp vào buổi chiều, rồi cô nghe thấy giọng Sally lặp lại một chuỗi tên, và thấy mình đang cúi chào trước một sáu con người mặc đồ đen trắng, cứng nhắc khủng khiếp và quen thuộc một cách mơ hồ. Cái tên Blaine xuất hiện ở đâu đó, nhưng thoạt đầu cô không thể nhớ ra nổi. Một khoảnh khắc vô cùng bối rối, vô cùng trẻ con với những cú lùi và va chạm vụng về nối tiếp sau đó, và ai nấy đều thấy mình đang trò chuyện với kẻ mà họ ít muốn nói chuyện nhất. Isabelle khéo léo lôi kéo bản thân và Froggy Parker — tân sinh viên đại học Harvard, kẻ từng chơi nhảy lò cò với cô — ra một chỗ ngồi trên cầu thang. Một lời nhắc nhở hài hước về quá khứ là tất cả những gì cô cần. Những gì Isabelle có thể làm trong các mối quan hệ xã hội chỉ với một ý tưởng duy nhất thật đáng kinh ngạc. Đầu tiên, cô lặp lại nó một cách đầy say sưa bằng chất giọng trầm ấm nhiệt tình pha lẫn chút âm hưởng miền Nam; sau đó cô đẩy nó ra xa và mỉm cười với nó — nụ cười tuyệt diệu của cô; rồi cô tung ra các biến thể và chơi đùa với nó bằng một thứ trò chơi bắt chữ trong tâm trí, tất cả những điều đó diễn ra dưới hình thức danh nghĩa của một cuộc hội thoại. Froggy bị mê hoặc và hoàn toàn không hề hay biết rằng việc này đang được thực hiện, không phải vì cậu ta, mà là vì đôi mắt xanh đang lấp lánh bên dưới mái tóc bóng bẩy được chăm sóc kỹ lưỡng nằm ở phía bên trái cô, bởi vì Isabelle đã phát hiện ra Amory. Giống như một nữ diễn viên ngay cả trong đỉnh cao rực rỡ của sức hút cá nhân vẫn thu được ấn tượng sâu sắc về phần lớn những khán giả ở hàng ghế đầu, Isabelle đánh giá đối thủ của mình. Đầu tiên, cậu có mái tóc màu hạt dẻ, và từ cảm giác thất vọng dâng lên, cô biết rằng mình đã mong đợi cậu ta phải có mái tóc sẫm màu và gầy gò thanh mảnh như trong các quảng cáo quần lót... Về phần còn lại, một chút ửng hồng trên má và chiếc mũi thẳng đầy lãng mạn; hiệu ứng được làm nổi bật bởi bộ đồ dạ hội ôm sát và chiếc sơ mi lụa xếp nếp kiểu mà phụ nữ vẫn thích thú ngắm đàn ông mặc, nhưng đàn ông thì bắt đầu thấy chán ngấy.
Trong lúc quan sát ấy, Amory vẫn lặng lẽ dõi theo.
"Cậu không nghĩ thế à?" cô đột nhiên lên tiếng, ngước nhìn cậu với đôi mắt ngây thơ.
Có tiếng xôn xao, và Sally dẫn đường đi về phía bàn của họ. Amory lách người đến bên Isabelle và thì thầm:
"Cậu là bạn nhảy ăn tối của tớ đấy, biết chưa. Bọn mình được xếp cặp sẵn cho nhau rồi."
Isabelle há hốc mồm — chuyện này trúng phóc ý đồ quá đi chứ. Nhưng thực sự cô có cảm giác như một lời thoại hay đã bị cướp khỏi tay nữ chính và trao cho một diễn viên phụ... Cô không được phép đánh mất vị trí dẫn đầu dù chỉ một chút. Bàn tiệc lấp lánh tiếng cười trước sự lúng túng khi tìm chỗ ngồi, rồi những ánh mắt tò mò đổ dồn về phía cô, người ngồi gần phía đầu bàn. Cô đang tận hưởng điều này vô cùng, và Froggy Parker mải mê ngắm nhìn sắc màu đang bừng sáng trên má cô đến nỗi quên mất việc kéo ghế cho Sally và rơi vào vẻ bối rối mờ mịt. Amory ngồi ở phía bên kia, tràn đầy tự tin và kiêu hãnh, đắm đuối nhìn cô với ánh mắt ngưỡng mộ không giấu giếm. Cậu bắt đầu mở lời ngay lập tức, và Froggy cũng vậy:
"Tớ nghe nhiều điều về cậu lắm kể từ hồi cậu còn để tóc bím..."
"Hồi chiều buồn cười thật đấy..."
Cả hai cùng khựng lại. Isabelle thẹn thùng quay sang Amory. Gương mặt cô luôn là câu trả lời đủ đầy cho bất kỳ ai, nhưng cô quyết định cất lời.
"Thế á — từ ai cơ?"
"Từ mọi người — trong suốt ngần ấy năm cậu đi vắng." Cô đỏ mặt đúng điệu. Bên phải cô, Froggy đã hoàn toàn "tử trận" dẫu cậu ta chưa hoàn toàn nhận thức được điều đó.
"Tớ sẽ kể cho cậu nghe điều tớ nhớ nhất về cậu trong ngần ấy năm nhé," Amory tiếp lời. Cô hơi rướn người về phía trước và khiêm tốn nhìn vào đĩa rau cần tây trước mặt. Froggy thở dài — cậu ta quá hiểu Amory, và những tình huống mà Amory sinh ra như để giải quyết. Cậu ta quay sang Sally và hỏi xem cô có định đi học nội trú vào năm tới không. Amory phóng ra một loạt đạn chùm.
"Tớ có một tính từ miêu tả đúng y sì đúc về cậu." Đây là một trong những kiểu mở màn yêu thích của cậu — cậu hiếm khi có sẵn một từ trong đầu, nhưng đó là một thứ kích thích sự tò mò, và cậu luôn có thể vắt ra được vài lời khen ngợi nếu bị dồn vào chân tường.
"Ồ — từ gì thế?" Gương mặt Isabelle là cả một công trình nghiên cứu về sự tò mò say đắm.
Amory lắc đầu.
"Tớ chưa hiểu rõ về cậu lắm."
"Cậu sẽ kể chứ — sau nhé?" cô thì thầm nửa vời.
Cậu gật đầu.
"Chúng ta sẽ ra ngoài ngồi riêng."
Isabelle gật đầu.
"Có ai từng nói với cậu là cậu có đôi mắt sắc sảo chưa?" cô nói.
Amory cố gắng làm cho đôi mắt của mình trông sắc sảo hơn nữa. Cậu lờ mờ đoán — dù không chắc chắn — rằng chân cô vừa chạm vào chân cậu dưới gầm bàn. Nhưng rất có thể đó chỉ là chân bàn. Thật khó mà nhận ra được. Dù vậy, nó vẫn khiến cậu xôn xao. Cậu nhanh chóng tự hỏi liệu có khó khăn gì để chiếm lấy căn phòng nhỏ trên lầu hay không.
NHỮNG KẺ KHỜ KHẠO TRONG RỪNG
Isabelle và Amory rõ ràng không hề ngây thơ, nhưng họ cũng chẳng phải là những kẻ trơ trẽn. Hơn thế nữa, tư cách thành viên nghiệp dư chẳng có mấy giá trị trong trò chơi mà họ đang tham gia, một trò chơi mà có lẽ sẽ là môn học chính của cô trong nhiều năm tới. Cô bắt đầu giống như cậu, với ngoại hình ưa nhìn và một khí chất dễ kích động, và phần còn lại là kết quả của những cuốn tiểu thuyết dễ tiếp cận và những đoạn hội thoại trong phòng thay đồ được chắt lọc từ một nhóm lớn tuổi hơn một chút. Isabelle từng bước đi với một dáng vẻ nhân tạo khi mới chín tuổi rưỡi, và khi đôi mắt cô, to tròn và lấp lánh, thể hiện rõ vẻ ngây thơ nhất thì Amory lại càng ít bị lừa phỉnh hơn tương ứng. Cậu chờ đợi chiếc mặt nạ rơi xuống, nhưng đồng thời cậu cũng không hề chất vấn quyền được đeo nó của cô. Về phần mình, cô không hề bị ấn tượng bởi cái vẻ sành điệu chán chời được học đòi của cậu. Cô từng sống ở một thành phố lớn hơn và có chút lợi thế về tầm nhìn. Nhưng cô chấp nhận vỏ bọc của cậu — đó là một trong hàng tá quy ước nhỏ nhặt của kiểu chuyện tình thế này. Cậu ý thức được rằng mình đang nhận được sự sủng ái đặc biệt này lúc này là vì cô đã được huấn luyện trước; cậu biết rằng mình chỉ đại diện cho ván bài tốt nhất trong tầm mắt, và rằng cậu sẽ phải cải thiện cơ hội của mình trước khi mất đi lợi thế. Thế nên họ tiến hành với một sự mưu mẹo vô hạn đủ sức khiến bố mẹ cô phải kinh hoàng.
Sau bữa tối, điệu nhảy bắt đầu... một cách mượt mà. Mượt mà ư? — đám con trai cứ cách vài bước lại ra cắt ngang bước nhảy của Isabelle rồi cãi lộn trong góc với câu: "Cậu làm ơn cho tớ chen vào nhiều hơn một inch đi!" và "Cô ấy cũng chẳng thích đâu — cô ấy bảo tớ thế lần tới khi tớ ra cắt ngang đấy." Đúng là thế thật — cô bảo mọi người như thế, và trao cho mỗi cái bắt tay một lực siết chia tay mang thông điệp: "Cậu biết rằng những điệu nhảy của cậu đang làm nên buổi tối của tớ đấy."
Thế nhưng thời gian vẫn trôi qua, hai tiếng đồng hồ trôi qua, và những anh chàng kém tinh tế hơn đã biết cách hướng những ánh mắt giả vờ đắm đuối của họ đi chỗ khác, bởi vì mười một giờ đêm đã điểm, tìm thấy Isabelle và Amory đang ngồi trên chiếc ghế dài trong căn phòng nhỏ sát phòng đọc sách ở tầng trên. Cô nhận thức được rằng họ là một cặp đôi đẹp đôi, và có vẻ thuộc về chốn riêng tư này một cách đặc biệt, trong khi những ánh sáng kém lung linh hơn thì đang lăng xăng và tán gẫu ở tầng dưới.
Những cậu con trai đi ngang qua phòng liếc nhìn vào với vẻ ghen tị — những cô gái đi ngang qua chỉ cười khẩy, cau mày và tự rút ra bài học cho riêng mình.
Họ giờ đây đã đạt đến một giai đoạn vô cùng xác định. Họ đã trao đổi cho nhau những bản báo cáo về sự tiến bộ của họ kể từ lần gặp trước, và cô đã lắng nghe rất nhiều điều mình từng nghe trước đó. Cậu là sinh viên năm hai, có chân trong ban biên tập tờ Princetonian, hy vọng sẽ làm chủ tịch vào năm cuối. Cô hay tin rằng một số cậu trai cô đi chơi cùng ở Baltimore là những "kẻ tốc độ khủng khiếp" và đến các buổi khiêu vũ trong trạng thái kích thích nhân tạo; phần lớn bọn họ chừng đôi mươi, và lái những chiếc xe Stutz màu đỏ đầy lôi cuốn. Một nửa số đó dường như đã bị đuổi học khỏi các trường phổ thông và đại học khác nhau, nhưng một số người mang những cái tên lừng lẫy trong thể thao khiến cô nhìn cậu với ánh mắt ngưỡng mộ. Thực tế mà nói, sự quen thuộc gần gũi của Isabelle với các trường đại học chỉ mới bắt đầu. Cô chỉ có quan hệ xã giao với một đám thanh niên cho rằng cô là một "cô nhóc xinh xắn — đáng để lưu tâm". Thế nhưng Isabelle nhào nặn những cái tên đó thành một ảo ảnh vui tươi đủ sức làm lóa mắt một nhà quý tộc Viên. Sức mạnh của giọng nữ trầm trẻ trung trên những chiếc ghế sofa lún sâu là thế đấy.
Cậu hỏi cô xem cô có nghĩ mình kiêu ngạo không. Cô nói rằng giữa sự kiêu ngạo và sự tự tin có một ranh giới khác biệt. Cô ngưỡng mộ sự tự tin ở đàn ông.
"Froggy có phải là bạn tốt của cậu không?" cô hỏi.
"Cũng tạm — sao thế?"
"Cậu ta nhảy chán lắm."
Amory bật cười.
"Cậu ta nhảy cứ như thể con gái đang nằm trên lưng chứ không phải trong vòng tay mình ấy."
Cô đánh giá cao điều này.
"Cậu rất giỏi trong việc đánh giá con người đấy chứ."
Amory cực lực phủ nhận điều này. Mặc dù vậy, cậu cũng đánh giá vài người cho cô nghe. Sau đó họ trò chuyện về đôi bàn tay.
"Cậu có đôi bàn tay đẹp phết đấy chứ," cô nói. "Trông cứ như thể cậu biết chơi piano ấy. Cậu có chơi không?"
Tôi đã nói rằng họ đã đạt đến một giai đoạn rất xác định — không, hơn thế nữa, một giai đoạn vô cùng nguy hiểm. Amory đã nán lại thêm một ngày để gặp cô, và chuyến tàu của cậu rời đi lúc mười hai giờ mười tám phút đêm đó. Chiếc rương và vali của cậu đang chờ sẵn ở nhà ga; chiếc đồng hồ trong túi cậu bắt đầu nặng trĩu.
"Isabelle," cậu đột nhiên lên tiếng, "tớ muốn nói với cậu điều này." Họ vừa trò chuyện bâng quơ về "cái vẻ kỳ lạ trong đôi mắt cô", và từ sự thay đổi trong thái độ của cậu, Isabelle biết điều gì sắp xảy ra — quả thực cô đã tự hỏi không biết nó sẽ đến sớm thế nào. Amory với tay lên trên đầu họ và tắt công tắc điện đi, thế là họ chìm trong bóng tối, ngoại trừ ánh đỏ rực hắt qua cánh cửa từ những ngọn đèn của phòng đọc sách. Rồi cậu bắt đầu:
"Tớ không biết là cậu có biết hay không... những gì tớ sắp nói. Chúa ơi, Isabelle — nghe có vẻ giống như văn mẫu thả thính, nhưng không phải thế đâu."
"Tớ biết chứ," Isabelle khẽ đáp.
"Có lẽ chúng ta sẽ chẳng bao giờ gặp lại nhau thế này nữa — dạo này tớ gặp nhiều vận rủi quái quỷ lắm." Cậu đang ngả người xa cô trên tay vịn bên kia của chiếc ghế dài, nhưng cô vẫn có thể nhìn rõ đôi mắt cậu trong bóng tối.
"Cậu sẽ gặp lại tớ thôi — đồ ngốc ạ." Có một chút nhấn mạnh nhẹ vào từ cuối cùng — để nó suýt trở thành một từ xưng hô trìu mến. Cậu tiếp tục với giọng hơi khàn khàn:
"Tớ từng say nắng rất nhiều người — con gái — và tớ đoán là cậu cũng thế — ý tớ là con trai, nhưng thực lòng mà nói, cậu..." cậu đột nhiên ngưng bặt và chồm người về phía trước, cằm tựa lên hai tay: "Ồ, có ích gì đâu — cậu cứ đi đường cậu và tớ đoán là tớ sẽ đi đường tớ thôi."
Im lặng trong chốc lát. Isabelle thực sự cảm thấy xúc động; cô vo tròn chiếc khăn tay lại thành một cục chặt, và nương theo ánh sáng mờ ảo hắt lên người mình, cô chủ động thả nó xuống sàn. Tay họ chạm nhau trong giây lát, nhưng chẳng ai nói năng gì. Những khoảng lặng ngày càng trở nên thường xuyên hơn và ngọt ngào hơn. Ở bên ngoài, một cặp đôi lang thang khác vừa đi lên và đang thử đùa nghịch trên chiếc đàn piano ở căn phòng bên cạnh. Sau phần mở đầu quen thuộc là những tiếng "đũa gỗ", một trong số họ bắt đầu cất lên bài "Babes in the Woods" và một giọng tenor nhẹ nhàng mang theo lời ca vọng vào căn phòng nhỏ:
Đưa tay đây nào
Anh sẽ hiểu thấu
Mình cùng đến xứ sở giấc mơ thôi.
Isabelle khẽ ngân nga theo và run lên khi cảm thấy bàn tay Amory siết chặt lấy tay mình.
"Isabelle," cậu thì thầm. "Cậu biết là tớ phát cuồng vì cậu mà. Cậu có chút bận tâm nào đến tớ đấy chứ."
"Có chứ."
"Cậu quan tâm đến mức nào — có thích ai hơn không?"
"Không." Cậu hầu như không nghe rõ tiếng cô, mặc dù cậu rướn người sát đến mức cảm nhận được hơi thở của cô phả vào má mình.
"Isabelle, tớ phải quay lại trường đại học trong sáu tháng dài đằng đẵng, và tại sao chúng ta lại không — giá như tớ chỉ có một món đồ để làm kỷ niệm về cậu..."
"Đóng cửa lại đi..." Giọng cô khẽ khàng đến mức cậu tự hỏi không biết cô có thực sự vừa cất lời hay không. Khi cậu khép cánh cửa lại một cách nhẹ nhàng, âm nhạc dường như đang rung lên ngay bên ngoài.
Ánh trăng thật sáng,
Hôn anh chúc ngủ ngon nhé.
Thật là một bài hát tuyệt vời, cô nghĩ — mọi thứ tối nay đều tuyệt vời, tuyệt vời nhất là khung cảnh lãng mạn này trong căn phòng nhỏ, với đôi bàn tay quyến luyến không rời và tương lai đang lấp ló sát bên đầy quyến rũ. Viễn cảnh tương lai trong đời cô dường như là một chuỗi không dứt những khung cảnh thế này: dưới ánh trăng và ánh sao nhạt nhòa, ở hàng ghế sau của những chiếc limousine ấm áp và trong những chiếc xe mui trần ấm cúng nhỏ gọn dừng lại dưới những tán cây che chở — chỉ có điều là cậu con trai có thể thay đổi, và cậu trai này thật đáng yêu làm sao. Cậu nhẹ nhàng cầm lấy tay cô. Với một cử động bất chợt, cậu xoay lòng bàn tay cô lại và áp nó lên môi, hôn nhẹ vào lòng bàn tay.
"Isabelle!" Tiếng thì thầm của cậu hòa lẫn vào âm nhạc, và họ dường như trôi dạt lại gần nhau hơn. Hơi thở cô gấp gáp hơn. "Anh có thể hôn em được không, Isabelle — Isabelle?" Đôi môi hé mở, cô quay đầu về phía cậu trong bóng tối. Bỗng nhiên, âm thanh của những tiếng nói, tiếng bước chân chạy rầm rập ào đến gần họ. Nhanh như chớp, Amory với tay bật đèn lên, và khi cánh cửa bật mở cùng ba cậu con trai — trong đó có tên Froggy tức giận vì thèm khiêu vũ — xông vào, thì cậu đang lật giở mấy cuốn tạp chí trên bàn, trong khi cô ngồi im không nhúc nhích, bình thản và không hề bối rối, thậm chí còn chào đón họ bằng một nụ cười chào mừng. Thế nhưng trái tim cô đang đập loạn nhịp, và cô có cảm giác như mình vừa bị tước đoạt thứ gì đó.
Rõ ràng mọi chuyện đã kết thúc. Có tiếng hò hét đòi khiêu vũ, có một cái nhìn lướt qua giữa họ — bên cậu là sự tuyệt vọng, bên cô là niềm tiếc nuối, và rồi buổi tối lại tiếp tục trôi đi với những anh chàng tự tin trở lại và những màn cắt ngang điệu nhảy bất tận.
Đến mười hai giờ kém mười lăm, Amory bắt tay cô một cách trang nghiêm giữa một đám đông nhỏ tập trung lại để chúc cậu thượng lộ bình an. Trong khoảnh khắc, cậu đánh mất vẻ điềm tĩnh, và cô cảm thấy hơi hoảng hốt khi một giọng nói châm biếm từ một kẻ cợt nhả nấp đâu đó cất lên:
"Dắt cô ấy ra ngoài đi, Amory!" Khi cầm lấy tay cô, cậu siết nhẹ một cái, và cô đáp lại lực siết đó y hệt như đã làm với hai mươi bàn tay tối hôm đó — chỉ có thế mà thôi.
Vào lúc hai giờ sáng, khi đã về đến nhà Weatherby, Sally hỏi cô liệu cô và Amory có "vui vẻ" gì trong căn phòng nhỏ đó không. Isabelle điềm tĩnh quay sang Sally. Trong đôi mắt cô ngập tràn ánh sáng của một kẻ mộng mơ lý tưởng, một người mơ mộng bất khả xâm phạm mang giấc mơ giống như Joan of Arc.
"Không," cô đáp. "Tớ không làm mấy trò kiểu đó nữa đâu; cậu ấy có đòi hỏi, nhưng tớ bảo không."
Khi rúc vào chăn, cô tự hỏi không biết ngày mai trong bức thư chuyển phát nhanh cậu sẽ viết gì nhỉ. Cậu có một bờ môi trông đẹp làm sao — liệu cô có bao giờ —?
"Mười bốn thiên thần đang canh chừng họ," Sally ngái ngủ hát vang từ căn phòng bên cạnh.
"Mẹ kiếp!" Isabelle lẩm bẩm, đấm chiếc gối phồng lên thành một cục êm ái và thận trọng dò dẫm tìm những tấm ga lạnh ngắt.
HỘI CHỢ
Amory, thông qua tờ Princetonian, đã chính thức thành danh. Bọn tiểu tiểu tốt nịnh bợ, những chiếc nhiệt kế đo lường sự thành công nhạy bén, bắt đầu tỏ ra niềm nở với cậu khi mùa bầu cử câu lạc bộ đến gần, và cậu cùng Tom được ghé thăm bởi các nhóm sinh viên năm trên đến một cách vụng về, ngồi chênh vênh bên mép đồ đạc và bàn luận về đủ mọi chủ đề ngoại trừ cái chủ đề đang hấp dẫn sự chú ý. Amory cảm thấy buồn cười trước những ánh mắt đăm đăm hướng về mình, và trong trường hợp những vị khách đại diện cho một câu lạc bộ nào đó mà cậu không có hứng thú, cậu rất lấy làm thích thú khi làm họ sốc bằng những phát ngôn khác người.
"Ồ, để xem nào..." cậu nói vào một buổi tối với một phái đoàn đang há hốc mồm mỏi miệng, "cậu đại diện cho câu lạc bộ nào thế?"
Với những vị khách đến từ Ivy, Cottage và Tiger Inn, cậu sắm vai "cậu bé ngoan, chưa bị vấy bẩn, ngây thơ" vô cùng thoải mái và hoàn toàn phớt lờ mục đích của chuyến viếng thăm.
Khi buổi sáng định mệnh ấy đến vào đầu tháng Ba, và khuôn viên trường biến thành một tài liệu về sự cuồng loạn, cậu lướt một cách mượt mà vào Cottage cùng Alec Connage và nhìn ngắm lớp học bỗng nhiên trở nên tăng động của mình với rất nhiều sự kinh ngạc.
Có những nhóm người dễ thay đổi nhảy cóc từ câu lạc bộ này sang câu lạc bộ khác; có những người bạn mới quen được hai ba ngày tuyên bố trong nước mắt và sự điên cuồng rằng họ phải gia nhập cùng một câu lạc bộ, không gì có thể chia cắt họ; có những màn phanh phui đầy gầm ghét về những mối hận thù bị giấu kín từ lâu khi Kẻ Vừa-Mới-Nổi bất chợt nhớ lại những lần bị lờ đi hồi năm nhất. Những kẻ vô danh được nâng tầm quan trọng khi họ nhận được những lời mời thèm muốn; những kẻ khác vốn được coi là "đã chắc suất" lại phát hiện ra mình đã kết nạp thêm những kẻ thù bất đắc dĩ, cảm thấy bản thân bị bỏ rơi và mắc kẹt, khóc lóc la lối đòi bỏ học.
Ngay trong nhóm của mình, Amory chứng kiến những người bị loại vì đội mũ xanh, vì là "một con ma-nơ-canh chết tiệt của tiệm may", vì có "quá nhiều thế lực chống lưng trên thiên đàng", vì say xỉn một đêm "không giống một quý ông chút nào, lạy Chúa", hoặc vì những lý do bí ẩn không thể dò thấu mà không ai biết ngoài những kẻ nắm giữ những viên bi đen.
Buổi hoan ca xã giao này kết thúc bằng một bữa tiệc khổng lồ tại quán trọ Nassau Inn, nơi rượu punch được múc ra từ những chiếc thau khổng lồ, và toàn bộ tầng trệt biến thành một bức tranh cuồng nhiệt, luân chuyển, hò hét gồm vô số khuôn mặt và giọng nói.
"Này, Dibby — chúc mừng nhé!"
"Cậu giỏi lắm, Tom, cậu vớ được một đám khá khẩm ở Cap đấy."
"Này, Kerry —"
"Ồ, Kerry — tớ nghe nói cậu vào Tiger với toàn bộ đám chuyên tạ cơ mà!"
"Ừ, tớ có vào Cottage đâu — cái ổ của đám sát gái."
"Họ bảo Overton ngất xỉu khi nhận được lời mời từ Ivy đấy — Cậu ta ký ngay ngày đầu tiên á? — Ồ không. Phải đạp xe hộc tốc sang Murray-Dodge vì sợ là mình nhầm lẫn."
"Sao cậu lại lọt được vào Cap thế — đồ trác táng già dặn?"
"Chúc mừng nhé!"
"Cảm ơn, chúc mừng cậu luôn. Nghe nói cậu vớ được một đám được đấy chứ."
Khi quán bar đóng cửa, bữa tiệc chia thành từng nhóm nhỏ và kéo nhau đi, cất tiếng hát vang khắp khuôn viên trường phủ đầy tuyết, trong một ảo tưởng kỳ quái rằng thói kiêu kỳ và sự căng thẳng cuối cùng đã chấm dứt, và rằng họ có thể làm bất cứ điều gì mình muốn trong hai năm tiếp theo.
Mãi về sau, Amory vẫn nghĩ về mùa xuân năm hai là khoảng thời gian hạnh phúc nhất trong cuộc đời cậu. Những ý tưởng của cậu hòa nhịp với cuộc sống như cậu đã tìm thấy nó; cậu chẳng mong gì hơn ngoài việc được trôi dạt, mộng mơ và tận hưởng hàng tá tình bạn mới chớm nở xuyên suốt những buổi chiều tháng Tư.
Alec Connage bước vào phòng cậu một buổi sáng và đánh thức cậu dậy giữa ánh nắng cùng vẻ vinh quang kỳ lạ của tòa Campbell Hall đang rọi thẳng qua khung cửa sổ.
"Dậy đi, Nguyên tội ơi, và gom cái thân xác cậu lại đi. Ra trước tiệm Renwick trong nửa tiếng nữa. Ai đó mượn được xe rồi kìa." Cậu ta lấy tấm phủ bàn trang điểm và cẩn thận đặt nó, cùng với đống đồ đạc lỉnh kỉnh bên trên, lên giường.
"Cậu kiếm đâu ra chiếc xe thế?" Amory hỏi với giọng đầy hoài nghi.
"Là một sự tin tưởng thiêng liêng, nhưng đừng có mà tỏ ra cái điều chê bai nếu không thì cậu chẳng được đi đâu đấy!"
"Tớ nghĩ tớ sẽ ngủ tiếp," Amory bình thản nói, nằm dịch người lại và với tay tìm điếu thuốc ở cạnh giường.
"Ngủ!"
"Sao lại không? Tớ có tiết học lúc mười một giờ rưỡi cơ mà."
"Đồ u tối chết tiệt! Tất nhiên, nếu cậu không muốn đi ra biển..."
Chỉ với một cú nhảy, Amory đã vùng dậy khỏi giường, làm vương vãi đống đồ trên tấm phủ bàn xuống sàn nhà. Biển... cậu đã không được nhìn thấy nó suốt nhiều năm nay, kể từ hồi cậu và mẹ đi hành hương.
"Ai đi thế?" cậu vừa hỏi vừa luồn chân vào chiếc quần lót.
"Ồ, Dick Humbird và Kerry Holiday và Jesse Ferrenby và — khoảng năm sáu người gì đó. Nhanh chân lên nhóc!"
Chỉ trong mười phút, Amory đã ngấu nghiến bát ngũ cốc ngô ở tiệm Renwick, và đến chín giờ rưỡi, họ vui vẻ lái xe ào ra khỏi thị trấn, hướng thẳng đến bãi cát Deal Beach.
"Cậu thấy đấy," Kerry giải thích, "chiếc xe thuộc về dưới đó. Trên thực tế, nó đã bị đánh cắp ở Asbury Park bởi một số kẻ giấu mặt nào đó, những kẻ đã bỏ rơi nó ở Princeton và chuồn về miền Tây. Hắn Humbird vô cảm đây đã xin phép hội đồng thành phố để đem trả nó."
"Có ai mang tiền không đấy?" Ferrenby quay người từ ghế trước hỏi vọng lại.
Một chorus phủ định vang lên vô cùng quả quyết.
"Thế thì mới thú vị chứ."
"Tiền — tiền là cái thá gì? Chúng ta có thể bán xe đi cơ mà."
"Bắt chúng nó trả tiền công cứu hộ hay đại loại thế."
"Thế bọn mình lấy gì ăn đây?" Amory hỏi.
"Thành thật mà nói," Kerry đáp, nhìn cậu với ánh mắt quở trách, "cậu lại nghi ngờ năng lực sinh tồn trong ba ngày ngắn ngủi của Kerry á? Có những người còn sống nhăn mà chẳng cần tiền suốt bao nhiêu năm trời cơ mà. Đọc Tạp chí Hướng đạo sinh đi."
"Ba ngày," Amory ngẫm nghĩ, "mà tớ thì có tiết học."
"Một trong số đó là ngày Chủ nhật."
"Dù sao đi nữa, tớ chỉ được phép nghỉ sáu buổi nữa thôi, trong khi thời gian kéo dài tới hơn một tháng rưỡi."
"Đem vứt hắn xuống đường đi!"
"Đi bộ về thì xa lắm đấy."
"Amory, cậu đang 'bày đặt ra vẻ' rồi đấy, nếu tớ được phép phát minh ra một cụm từ mới."
"Cậu không nên tự chẩn đoán bệnh cho mình à, Amory?"
Amory đành buông xuôi đầu hàng và chìm đắm vào việc ngắm cảnh. Thơ của Swinburne có vẻ khá phù hợp vào lúc này.
Ồ, những cơn mưa và tàn tích mùa đông đã qua rồi,
Và mọi mùa của tuyết rơi và tội lỗi;
Những ngày chia cắt kẻ yêu và người nhớ,
Ánh sáng đánh rơi, đêm tối chiếm ngai vàng;
Và thời gian khắc ghi thành nỗi buồn đã lãng quên,
Và sương giá bị tiêu diệt cùng hoa cỏ sinh sôi,
Và trong lùm cây xanh rờn và bụi rậm,
Mỗi đóa hoa xuân bắt đầu chớm nở.
Dòng suối nguồn nuôi dưỡng những đóa hoa...
"Sao thế, Amory? Amory đang nghĩ về thơ ca, về những chú chim xinh xắn và hoa lá cỏ cây kìa. Tớ nhìn thấy nó trong mắt cậu đấy."
"Không, tớ có nghĩ thế đâu," cậu nói dối. "Tớ đang nghĩ về tờ Princetonian. Lẽ ra tối nay tớ phải hoàn thành bài vở; nhưng chắc tớ gọi điện thoại về là được chứ gì."
"Ồ," Kerry nói với giọng đầy cung kính, "những nhân vật quan trọng này..."
Amory đỏ mặt và cậu có cảm giác như Ferrenby, một đối thủ thất bại, có chút nhăn mặt. Tất nhiên, Kerry chỉ đang đùa cợt thôi, nhưng cậu thực sự không nên nhắc đến tờ Princetonian nữa.
Đó là một ngày đẹp trời, và khi họ đến gần bờ biển, những làn gió mặn thổi xẹt qua, cậu bắt đầu hình dung về đại dương cùng những dải cát phẳng lặng kéo dài và những mái nhà đỏ rực ẩn hiện trên mặt biển xanh thẳm. Rồi họ phóng vội qua thị trấn nhỏ và tất cả ùa vào nhận thức của cậu thành một khúc khải hoàn vĩ đại của cảm xúc...
"Ôi, lạy Chúa! Nhìn kìa!" cậu kêu lên.
"Cái gì?"
"Thả tớ xuống mau — tớ không được nhìn thấy nó suốt tám năm nay rồi! Ồ, hỡi những vị tôn giả, dừng xe lại đi!"
"Đúng là một đứa trẻ kỳ cục!" Alec nhận xét.
"Tớ dám cá là hắn hơi có vấn đề về thần kinh đấy."
Chiếc xe ngoan ngoãn tấp vào lề đường, và Amory chạy thục mạng về phía lối đi bằng ván trên bãi biển. Đầu tiên, cậu nhận ra rằng biển có màu xanh và có một lượng nước khổng lồ ở đó, và rằng nó cứ gầm rú mãi — thực ra là tất cả những lời sáo rỗng về đại dương mà người ta có thể nhận thức được, nhưng nếu lúc đó có ai bảo với cậu rằng những điều ấy là sáo rỗng, chắc cậu sẽ trố mắt ra nhìn vì ngạc nhiên.
"Bây giờ chúng ta sẽ đi ăn trưa," Kerry ra lệnh, thong thả đi tới cùng đám đông. "Nào, Amory, dứt cái thân cậu ra và thực tế lên xem nào."
"Trước tiên chúng ta sẽ thử khách sạn tốt nhất," cậu tiếp tục, "rồi tính tiếp."
Họ thong thả dạo bước dọc theo lối đi lát ván tới nhà trọ uy nghi nhất trong tầm mắt, rồi bước vào phòng ăn, tản ra ngồi quanh một chiếc bàn.
"Tám ly Bronx," Alec ra lệnh, "cùng một chiếc bánh mì kẹp ba tầng và khoai tây chiên sợi. Đồ ăn cho một người thôi. Phần còn lại chia đều ra."
Amory ăn rất ít, cậu chọn một chỗ ngồi có thể ngắm nhìn biển và cảm nhận nhịp sóng vồ dập của nó. Khi bữa trưa kết thúc, họ ngồi lặng lẽ hút thuốc.
Hóa đơn thế nào?"
Ai đó liếc nhìn nó.
"Tám hai mươi lăm."
"Thu quá đắt rồi. Chúng ta sẽ đưa chúng hai đô-la và một đô-la cho phục vụ. Kerry, gom tiền lẻ lại đi."
Người phục vụ tiến lại gần, và Kerry điềm tĩnh đưa cho anh ta một đô-la, quăng hai đô-la lên tờ hóa đơn rồi quay lưng bỏ đi. Họ thong thả dạo bước về phía cửa, chốc lát sau bị đuổi theo bởi vị thần Ganymede đầy nghi ngờ.
"Có nhầm lẫn gì rồi thưa ngài."
Kerry cầm tờ hóa đơn lên và săm soi nó một cách kỹ lưỡng.
"Không nhầm lẫn gì đâu!" cậu nói, lắc đầu vẻ nghiêm nghị, rồi xé nó thành bốn mảnh, trao những mảnh giấy vụn cho người phục vụ — kẻ đang chết trân đến mức đứng bất động và vô cảm trong lúc họ bước ra ngoài.
"Hắn không đuổi theo chúng ta chứ?"
"Không," Kerry nói; "trong một phút nữa hắn sẽ nghĩ chúng ta là con trai của chủ quán hoặc đại loại thế; rồi hắn sẽ nhìn lại hóa đơn một lần nữa và gọi quản lý, còn trong lúc đó thì..."
Họ để lại chiếc xe ở Asbury và bắt xe điện đến Allenhurst, nơi họ rảo bước quan sát những bóng hồng tại các sảnh đợi đông đúc. Lúc bốn giờ, họ ghé vào một quán ăn nhẹ để thưởng thức đồ ăn, và lần này họ trả một tỷ lệ phần trăm thậm chí còn nhỏ hơn trên tổng chi phí; có cái gì đó trong ngoại hình và phong thái của nhóm người đã khiến mọi chuyện trôi chảy trót lọt, và họ không hề bị đuổi theo.
"Cậu thấy đấy, Amory, chúng ta là những người theo chủ nghĩa xã hội Marx," Kerry giải thích. "Chúng ta không tin vào quyền tư hữu và chúng ta đang đưa nó vào bài kiểm tra vĩ đại."
"Đêm sắp buông xuống rồi đấy," Amory nhắc nhở.
"Hãy theo dõi và đặt trọn niềm tin vào Holiday."
Họ trở nên vui vẻ vào khoảng năm giờ rưỡi và, tay trong tay, tản dọc theo lối đi lát ván thành một hàng, ê a ngân nga một khúc ca đơn điệu về những con sóng biển buồn. Rồi Kerry nhìn thấy một khuôn mặt trong đám đông thu hút cậu và, lao đi, quay trở lại ngay lập tức cùng một trong những cô gái có ngoại hình kém xinh nhất mà Amory từng thấy trong đời. Miệng cô nhợt nhạt kéo dài từ tai này sang tai kia, hàm răng nhô ra thành một khối hình nêm vững chắc, và cô có đôi mắt híp tịt liếc xéo một cách rụt rè qua sống mũi. Kerry long trọng giới thiệu họ với nhau.
Tên là Kaluka, Nữ hoàng Hawaii! Cho phép tớ giới thiệu các cậu Connage, Sloane, Humbird, Ferrenby và Blaine."
Cô gái cúi chào vòng quanh. Tội nghiệp sinh vật; Amory đoán chắc chưa bao giờ trong đời cô từng được ai chú ý đến — có lẽ cô ta hơi có vấn đề về trí tuệ. Trong suốt thời gian cô đi cùng họ (Kerry đã mời cô ăn tối), cô chẳng nói câu nào có thể làm lu mờ đi niềm tin đó.
"Cô ấy thích các món ăn truyền thống quê hương hơn," Alec nói với vẻ nghiêm túc với người phục vụ, "nhưng bất kỳ loại thức ăn thô nào cũng được."
Xuyên suốt bữa tối, anh đối xử với cô bằng thứ ngôn ngữ kính trọng nhất, trong khi Kerry thì thả thính cô một cách ngớ ngẩn ở phía bên kia, còn cô thì khúc khích cười và toe toét. Amory thấy hài lòng khi chỉ ngồi ngắm nghía màn tương tác, nghĩ xem Kerry có ngón nghề nhẹ nhàng biết bao, và cậu ta có thể biến một sự kiện trần trụi nhất thành một thứ đường nét uốn lượn như thế nào. Tất cả bọn họ ít nhiều đều mang tinh thần đó, và việc được ở bên cạnh họ chính là một sự xả hơi tuyệt vời. Amory thường thích đàn ông theo từng cá nhân, nhưng lại sợ họ khi ở giữa đám đông trừ phi đám đông đó vây quanh cậu. Cậu tự hỏi không biết mỗi người đóng góp bao nhiêu cho bữa tiệc, bởi vì ở đó dường như có một khoản thuế tinh thần nào đó được thu. Alec và Kerry là linh hồn của buổi tiệc, nhưng lại không hẳn là tâm điểm. Không hiểu sao Humbird trầm lặng, và Sloane với vẻ kiêu kỳ thiếu kiên nhẫn mới chính là tâm điểm.
Dick Humbird, kể từ năm nhất, đã luôn xuất hiện trong mắt Amory như một hình mẫu hoàn hảo của kẻ quý tộc. Cậu ta mảnh khảnh nhưng vóc dáng cân đối — mái tóc đen xoăn tít, các đường nét ngay ngắn, và làn da khá ngăm. Mọi điều cậu ta nói đều mang lại âm hưởng phù hợp một cách vô hình. Cậu ta sở hữu lòng dũng cảm vô hạn, một tư duy nhìn chung là tốt, cùng một ý thức danh dự với vẻ quyến rũ rõ ràng và phong thái quý tộc noblesse oblige giúp cậu ta tách biệt khỏi sự tựrighteous đơn thuần. Cậu ta có thể ăn chơi trác táng mà không bị sụp đổ, và thậm chí ngay cả những cuộc phiêu lưu mang đậm chất bohemian nhất của cậu ta cũng không bao giờ giống như hành vi "bày đặt ra vẻ". Mọi người ăn mặc giống cậu ta, cố gắng nói năng giống cậu ta... Amory kết luận rằng có lẽ cậu ta chính là kẻ kéo lùi thế giới lại phía sau, nhưng cậu sẽ chẳng bao giờ muốn thay đổi con người ấy.
Cậu ta khác biệt so với kiểu người khỏe mạnh vốn mang bản chất trung lưu — cậu ta dường như chẳng bao giờ đổ mồ hôi cả. Có những người không thể thân thiết với một tài xế mà không bị ngầm vượt ranh giới; Humbird có thể ăn trưa tại Sherry’s cùng một người da màu, thế nhưng mọi người vẫn sẽ tự hiểu rằng mọi thứ hoàn toàn ổn. Cậu ta không phải là một kẻ hợm hĩnh, dẫu cậu ta chỉ quen biết một nửa số người trong khóa của mình. Bạn bè của cậu ta trải dài từ tầng lớp cao nhất cho đến thấp nhất, nhưng việc "lấy lòng" cậu ta là điều bất khả thi. Những người hầu sùng bái cậu ta, và đối xử với cậu ta như một vị thần. Cậu ta có vẻ là hiện thân vĩnh cửu của những gì mà tầng lớp thượng lưu luôn cố gắng vươn tới.
"Cậu ta trông giống như những bức ảnh trên tờ Illustrated London News chụp các sĩ quan Anh đã hy sinh vậy," Amory từng nói với Alec. "Chà," Alec đáp, "nếu cậu muốn biết sự thật động trời, bố cậu ta từng là một nhân viên bán tạp hóa kiếm được một khối tài sản từ bất động sản ở Tacoma và chuyển đến New York mười năm trước."
Amory từng cảm thấy một cảm giác chìm xuống kỳ lạ.
Kiểu tiệc tùng hiện tại này trở nên khả thi là nhờ sự tụ họp của toàn khóa sau các cuộc bầu cử câu lạc bộ — hệt như một nỗ lực tuyệt vọng cuối cùng để tự thấu hiểu chính mình, để gắn kết với nhau, để chống lại tinh thần ngày càng thắt chặt của các câu lạc bộ. Đó là sự rũ bỏ những đỉnh cao quy ước mà tất cả bọn họ đã từng bước đi một cách cứng nhắc.
Sau bữa tối, họ tiễn Kaluka ra lối đi lát ván, rồi thong thả dạo bước dọc theo bãi biển trở về Asbury. Biển đêm lúc bấy giờ mang lại một cảm giác mới mẻ, bởi vì toàn bộ màu sắc và sự già dặn dịu êm của nó đã biến mất, và nó hiện lên như một vùng đất hoang vu ảm đạm khiến những khúc sử thi Bắc Âu trở nên buồn bã; Amory nhớ đến câu thơ của Kipling:
"Những bãi biển Lukanon trước khi những kẻ săn hải cẩu đến."
Thế nhưng đó vẫn là một bản âm thanh, vô cùng u sầu.
Mười giờ đêm tìm thấy họ trong tình trạng cháy túi. Họ đã ăn tối thị túc bằng mười một xu cuối cùng của mình và, vừa đi vừa hát, dạo bước qua các sảnh ca nhạc và những vòm cổng được thắp sáng trên lối đi lát ván, dừng chân để tán thưởng tất cả các buổi hòa nhạc ban nhạc. Ở một góc, Kerry đứng ra quyên góp cho Quỹ Trẻ mồ côi Chiến tranh Pháp thu về được một đô-la hai mươi xu, và với số tiền này họ mua một ít rượu mạnh phòng khi bị cảm lạnh trong đêm. Họ kết thúc một ngày bằng một buổi xem phim và cùng nhau cười lớn một cách có hệ thống đối với một bộ phim hài cổ lỗ sĩ, khiến cho phần còn lại của khán giả phải ngỡ ngàng khó chịu. Sự xuất hiện của họ mang tính chiến lược rõ rệt, bởi vì mỗi người khi bước vào đều chỉ tay đầy trách móc vào kẻ đi ngay phía sau mình. Sloane, kẻ đi cuối cùng, chối bỏ mọi hiểu biết và trách nhiệm ngay khi những người khác đã tản ra bên trong; rồi khi người soát vé phẫn nộ xông vào thì cậu ta thản nhiên bước theo sau.
Họ tập hợp lại sau đó bên khu Casino và sắp xếp chỗ ngủ cho qua đêm. Kerry nài nỉ xin phép người gác cổng cho ngủ trên bệ sân khấu và, sau khi gom được một đống thảm khổng lồ từ các gian hàng để làm đệm và chăn, họ trò chuyện cho đến tận nửa đêm, rồi chìm vào một giấc ngủ không mộng mị, mặc dù Amory đã cố gắng hết sức để thức và ngắm nhìn vầng trăng kỳ diệu ấy lặn xuống mặt biển.
Cứ thế họ tiến bước trong hai ngày hạnh phúc, ngược xuôi dọc theo bờ biển bằng xe điện hoặc xe máy, hoặc bằng đôi giày da trên lối đi lát ván đông đúc; đôi khi ăn uống cùng những kẻ giàu có, thường xuyên hơn là ăn tối đạm bạc dựa trên kinh phí của một chủ nhà hàng không hề hay biết. Họ chụp ảnh kỷ niệm, tám tư thế, tại một cửa hàng lấy ảnh nhanh. Kerry khăng khăng xếp họ thành một đội bóng bầu dục của trường đại học, rồi sau đó là một băng nhóm giang hồ đến từ Phía Đông với áo khoác mặc lộn trái, còn cậu ta thì ngồi ở chính giữa trên một vầng trăng bằng bìa cứng. Chắc là tay thợ ảnh vẫn còn giữ chúng — ít nhất là thế, vì họ chưa bao giờ quay lại lấy. Thời tiết vô cùng hoàn hảo, và một lần nữa họ ngủ ngoài trời, và một lần nữa Amory lại bất đắc dĩ chìm vào giấc ngủ.
Ngày Chủ nhật bắt đầu trong vẻ lầm lì và đứng đắn, và thậm chí biển cũng có vẻ lẩm bẩm và phàn nàn, thế nên họ quay trở lại Princeton bằng những chiếc xe Ford của những người nông dân quá giang, và giải tán với những cái mũi sụt sịt vì cảm lạnh, nhưng ngoài ra thì chẳng có tổn hại gì sau chuyến lang thang.
Thậm chí còn hơn cả năm trước, Amory xao nhãng việc học hành, không phải một cách có chủ đích mà là vì lười biếng và bị phân tâm bởi vô số sở thích khác. Hình học tọa độ cùng những câu thơ sáu âm buồn bã của Corneille và Racine chẳng mang lại mấy sức hấp dẫn, và thậm chí môn tâm lý học — thứ mà cậu từng háo hức chờ đợi — lại hóa ra là một môn học tẻ nhạt đầy rẫy những phản ứng cơ bắp và thuật ngữ sinh học thay vì là môn nghiên cứu về nhân cách và tầm ảnh hưởng. Đó là tiết học giữa trưa, và nó luôn khiến cậu chìm vào giấc ngủ gật. Sau khi phát hiện ra câu trả lời "thưa thầy, chủ quan và khách quan" có thể trả lời hầu hết mọi câu hỏi, cậu áp dụng cụm từ này trong mọi hoàn cảnh, và nó trở thành câu nói đùa kinh điển trong lớp mỗi khi cậu bị Ferrenby hoặc Sloane huých vai đánh thức để thốt lên nó trước một câu hỏi nhắm vào mình.
Phần lớn thời gian là những bữa tiệc — tới Orange hoặc bờ biển, hiếm hoi hơn là tới New York và Philadelphia, dẫu có một đêm họ lùa mười bốn nữ phục vụ từ quán Childs’ lên xe và bắt họ đi dạo dọc Đại lộ Fifth trên nóc một chiếc xe buýt tự động. Tất cả bọn họ đều nghỉ học quá số buổi cho phép, điều này đồng nghĩa với việc sẽ phải học bù một khóa vào năm sau, nhưng mùa xuân quá đỗi tuyệt vời để có thể để bất cứ thứ gì cản trở những cuộc lang thang đầy màu sắc của họ. Vào tháng Năm, Amory được bầu vào Ban Tổ chức Prom Khóa Hai, và khi sau một buổi tối dài thảo luận cùng Alec, họ lập ra một danh sách dự kiến các ứng viên tiềm năng trong khóa cho hội đồng sinh viên năm tư, họ tự đặt mình vào nhóm chắc suất nhất. Hội đồng sinh viên năm tư giả định bao gồm mười tám sinh viên tiêu biểu nhất, và xét trên tư cách quản lý đội bóng bầu dục của Alec cùng cơ hội đánh bại Burne Holiday để giành chức chủ tịch tờ Princetonian của Amory, họ có vẻ hoàn toàn có lý khi đưa ra phỏng đoán này. Thật kỳ lạ làm sao, cả hai đều xếp D’Invilliers vào nhóm có khả năng, một phỏng đoán mà một năm trước đó cả lớp sẽ phải há hốc mồm ngạc nhiên.
Xuyên suốt mùa xuân, Amory vẫn duy trì việc thư tín ngắt quãng với Isabelle Borge, ngắt quãng bằng những trận cãi vã nảy lửa và chủ yếu được làm cho sinh động bởi những nỗ lực tìm kiếm từ ngữ mới để diễn tả tình yêu của cậu. Cậu phát hiện ra Isabelle là một cô nàng kín đáo và bực bội thay vì sướt mướt trong thư từ, nhưng cậu vẫn ôm ấp hy vọng rằng cô sẽ chứng tỏ mình không phải là một đóa hoa quá ư kỳ lạ để có thể lấp đầy không gian rộng lớn của mùa xuân như cách cô từng lấp đầy căn phòng nhỏ ở Câu lạc bộ Minnehaha. Suốt tháng Năm, hầu như đêm nào cậu cũng viết những bức thư dài ba mươi trang, gửi cho cô trong những chiếc phong bì cồng kềnh bên ngoài dán nhãn "Phần I" và "Phần II".
"Này Alec, tớ tin là tớ chán ngấy trường đại học rồi đấy," cậu buồn bã nói khi cả hai cùng đi dạo trong buổi chiều chạng vạng.
"Tớ nghĩ tớ cũng thế, theo mộth cách nào đó."
"Tất cả những gì tớ muốn là một ngôi nhà nhỏ ở vùng nông thôn, một vùng quê ấm áp, và một người vợ, cùng vừa đủ việc để làm sao cho không bị thối rữa."
"Tớ cũng vậy."
"Tớ muốn nghỉ học quách đi cho rồi."
"Bạn gái của cậu nói sao?"
"Ồ!" Amory hốt hoảng thốt lên. "Cô ấy sẽ chẳng đời nào nghĩ đến chuyện kết hôn... ý tớ là, không phải bây giờ. Ý tớ là tương lai cơ, cậu biết đấy."
"Bạn gái tớ thì có đấy. Tớ đính hôn rồi."
"Thật á?"
"Ừ. Xin cậu đừng hé răng với ai nhé, nhưng tớ đính hôn thật rồi đấy. Có khi năm sau tớ không quay lại nữa đâu."
"Nhưng cậu mới chỉ hai mươi tuổi thôi mà! Bỏ học đại học á?"
"Sao cơ, Amory, chính cậu vừa mới nói lúc nãy..."
"Đúng," Amory ngắt lời, "nhưng tớ chỉ ước ao thế thôi. Tớ sẽ chẳng bao giờ nghĩ đến chuyện bỏ học cả. Chỉ là tớ cảm thấy buồn quá vào những đêm tuyệt vời này. Tớ cứ có cảm giác như chúng sẽ chẳng bao giờ quay trở lại nữa, và tớ thực sự chưa vắt kiệt được những gì tốt nhất từ chúng. Tớ ước gì bạn gái tớ sống ở đây. Nhưng cưới xin thì — không có cửa đâu. Nhất là khi bố tớ bảo tiền bạc không còn rủng rỉnh như trước nữa."
"Những đêm này mới lãng phí làm sao!" Alec đồng tình.
Nhưng Amory chỉ thở dài và tận dụng triệt để những đêm ấy. Cậu có một bức ảnh chụp nhanh của Isabelle, được lồng trong một chiếc đồng hồ đeo tay cũ, và cứ khoảng tám giờ mỗi đêm, cậu lại tắt hết đèn chỉ để lại chiếc đèn bàn và, ngồi bên khung cửa sổ mở toang với bức ảnh trước mặt, viết cho cô những bức thư đầy đà đắm say.
... Ồ, thật khó để viết cho em biết những gì anh thực sự cảm thấy khi anh nghĩ về em quá nhiều; em đã trở thành trong anh một giấc mơ mà anh không thể đặt lên trang giấy được nữa. Bức thư cuối cùng của em đã đến và nó thật tuyệt vời! Anh đọc đi đọc lại khoảng sáu lần, đặc biệt là phần cuối, nhưng đôi khi anh thực sự ước em có thể thẳng thắn hơn và cho anh biết em thực sự nghĩ gì về anh, dẫu cho bức thư cuối cùng của em quá tuyệt để có thể là sự thật, và anh khó lòng mà chờ đợi cho đến tháng Sáu được nữa! Hãy chắc chắn là em có thể đến buổi prom nhé. Mọi thứ sẽ tuyệt lắm đây, anh nghĩ thế, và anh muốn đưa em đến ngay thời điểm cuối cùng của một năm tuyệt vời. Anh thường nghĩ về những gì em đã nói đêm hôm ấy và tự hỏi em đã thực sự nghiêm túc đến mức nào. Nếu đó là bất kỳ ai khác ngoài em — nhưng em thấy đấy, anh từng nghĩ em là kẻ lăng nhăng ngay lần đầu tiên anh gặp em và em lại quá nổi tiếng cùng mọi thứ khiến anh không thể tưởng tượng nổi là em thực sự thích anh nhất.
Ồ Isabelle yêu dấu — đây là một đêm tuyệt vời. Ai đó đang chơi bản "Love Moon" bằng đàn mandolin ở đâu đó tít đằng xa khuôn viên trường, và âm nhạc dường như mang em đến bên khung cửa sổ. Giờ thì cậu ta đang chơi bản "Good-by, Boys, I’m Through", và nó mới hợp với anh làm sao. Vì anh đã chấm dứt với mọi thứ rồi. Anh đã quyết định sẽ không bao giờ uống một ly cocktail nào nữa, và anh biết mình sẽ không bao giờ yêu thêm lần nào nữa — anh không thể — em đã trở thành một phần quá lớn trong những ngày tháng và đêm dài của anh để có thể nghĩ về một cô gái khác. Anh gặp bọn họ suốt mà chẳng có ai làm anh hứng thú cả. Anh không vờ vịt ra vẻ chán đời đâu, vì không phải thế đâu. Chỉ là anh đang yêu thôi. Ồ Isabelle thân yêu nhất (không hiểu sao anh không thể gọi em đơn giản là Isabelle, và anh sợ mình sẽ buột miệng thốt ra từ "thân yêu nhất" trước mặt gia đình em vào tháng Sáu này), em phải đến buổi prom nhé, và rồi anh sẽ lên nhà em chơi một ngày và mọi thứ sẽ hoàn hảo...
Cứ thế tiếp diễn trong một âm điệu đơn điệu vĩnh cửu mà cả hai đều thấy vô cùng quyến rũ, vô cùng mới mẻ.
Tháng Sáu đến và những ngày trở nên oi bức và lười biếng đến mức họ chẳng thể bận tâm nổi đến chuyện thi cử, mà dành trọn những buổi chiều mộng mơ trên sân của tòa Cottage, bàn luận về những đề tài dài lê thê cho đến khi khoảng không gian đồng quê hướng về phía suối Stony Brook chìm trong làn sương mờ xanh thẫm và những chùm hoa tử đinh hương nở trắng quanh các sân quần vợt, rồi lời nói nhường chỗ cho những điếu thuốc lá trong thinh lặng... Rồi dọc theo con phố Prospect vắng bóng người và dọc theo đường McCosh với tiếng hát vang vọng khắp nơi xung quanh họ, tiến lên sự vui vẻ oi ả của phố Nassau.
Tom D’Invilliers và Amory thường đi dạo muộn vào những ngày đó. Cơn sốt cờ bạc càn quét qua sinh viên năm hai và họ cắm mặt vào những viên xí ngầu cho đến tận ba giờ sáng trong rất nhiều đêm oi bức. Sau một buổi chơi, họ bước ra khỏi phòng của Sloane và nhận ra sương đêm đã buông xuống và các vì sao trên trời đã cũ.
"Chúng ta mượn xe đạp đi dạo một chuyến đi," Amory gợi ý.
"Được thôi. Tớ chẳng mệt chút nào và đây gần như là đêm cuối cùng của năm rồi, thực sự thế, bởi vì mấy thứ linh tinh của prom bắt đầu từ thứ Hai cơ mà."
Họ tìm thấy hai chiếc xe đạp không khóa ở Holder Court và đạp xe ra ngoài vào khoảng ba giờ rưỡi dọc theo con đường Lawrenceville.
"Mùa hè này cậu định làm gì, Amory?"
"Đừng hỏi tớ — vẫn những thứ cũ kỹ ấy thôi, tớ đoán thế. Một hoặc hai tháng ở hồ Geneva — tớ đang trông chờ cậu sẽ có mặt ở đó vào tháng Bảy đấy nhé, cậu biết đấy — rồi sẽ tới Minneapolis, và điều đó có nghĩa là hàng tá buổi nhảy múa mùa hè, tán tỉnh, phát chán lên được — Nhưng ồ Tom," cậu đột nhiên nói thêm, "năm nay tuyệt làm sao chứ!"
"Không," Tom dứt khoát tuyên bố, một Tom hoàn toàn mới, mặc đồ của Brooks, mang giày của Franks, "tớ đã thắng trò chơi này rồi, nhưng tớ có cảm giác như mình chẳng bao giờ muốn chơi thêm ván nào nữa. Cậu thì ổn đấy — cậu là một quả bóng cao su, và không hiểu sao nó lại hợp với cậu, nhưng tớ đã chán ngấy việc phải uốn mình thích nghi với thói hợm hĩnh địa phương của cái góc thế giới này rồi. Tớ muốn đến nơi nào mà người ta không bị loại trừ chỉ vì màu sắc của chiếc cà vạt hay nếp bẻ của chiếc áo khoác."
"Cậu không thể đâu, Tom," Amory tranh luận khi họ lăn bánh xuyên qua màn đêm đang thưa dần; "bất cứ nơi nào cậu đến bây giờ, cậu cũng sẽ luôn vô thức áp dụng những tiêu chuẩn 'có' hoặc 'không có' đó. Dù hay hay dở, chúng ta đã đóng ấn lên cậu rồi; cậu chính là một sản phẩm mang phong cách Princeton!"
"Thế thì," Tom phàn nàn, giọng khàn khàn cất lên đầy vẻ hờn dỗi, "sao tớ cứ phải quay lại đây làm gì cơ chứ? Tớ đã học được tất cả những gì Princeton có thể mang lại rồi. Thêm hai năm nữa chỉ để học mót mớ kiến thức pédantry và lượn lờ quanh câu lạc bộ chẳng giúp ích gì được đâu. Chúng chỉ làm tớ rối trí thêm, làm tớ trở nên câu nệ hoàn toàn mà thôi. Ngay lúc này đây tớ còn thấy mình ba phải đến mức tự hỏi sao mình lại có thể chuồn êm được cơ chứ."
"Ồ, nhưng cậu đang bỏ lỡ điểm cốt lõi rồi, Tom," Amory cắt lời. "Cậu vừa mới được mở mang tầm mắt về thói hợm hĩnh của thế giới một cách khá đường đột đấy thôi. Princeton lúc nào cũng mang lại cho một kẻ có tư duy một nhận thức xã hội."
"Cậu cho rằng chính cậu đã dạy tớ điều đó phải không?" cậu ta hỏi với nụ cười cợt nhả, liếc nhìn Amory trong bóng tối lờ mờ.
Amory khẽ bật cười.
"Chẳng phải thế sao?"
"Đôi khi," cậu ta chầm chậm nói, "tớ nghĩ cậu chính là thiên thần sa ngã của tớ. Lẽ ra tớ đã có thể trở thành một nhà thơ khá khẩm rồi."
"Thôi nào, nghe nặng nề phết đấy. Cậu đã chọn đến một trường đại học miền Đông cơ mà. Hoặc là mắt cậu đã được mở ra trước bản chất tranh giành tầm thường của con người, hoặc là cậu cứ thế mù quáng đi qua, và cậu sẽ ghét nếu phải làm thế — trở thành một kẻ giống như Marty Kaye."
"Ừ," cậu ta đồng tình, "cậu nói đúng. Tớ không thích thế đâu. Mặc dù vậy, trở thành một kẻ yếm thế ở tuổi đôi mươi thật khó khăn làm sao."
"Tớ sinh ra đã là một kẻ yếm thế rồi," Amory lẩm bẩm. "Tớ là một kẻ theo chủ nghĩa lý tưởng yếm thế." Cậu ngập ngừng và tự hỏi điều đó có nghĩa là gì.
Họ đã đến ngôi trường Lawrenceville đang chìm trong giấc ngủ, và quay đầu đạp xe trở về.
"Đi dạo thế này tuyệt phết nhỉ, đúng không?" Tom nói lát sau.
"Ừ; đây là một cái kết đẹp, đỉnh của chóp; tối nay cái gì cũng tuyệt. Ôi, thèm làm sao một mùa hè oi ả, lười biếng và Isabelle!"
"Ôi, cậu và cái cô Isabelle của cậu! Tớ cá là cô ấy ngây thơ lắm... đọc thơ đi cậu."
Thế là Amory cao giọng ngâm bài "Ode to a Nightingale" hướng về những bụi cây họ đi ngang qua.
"Tớ sẽ chẳng bao giờ làm nhà thơ đâu," Amory nói khi đọc xong. "Thực ra tớ chưa đủ chất cảm thụ; tớ chỉ chú ý đến một vài thứ hiển nhiên mang lại vẻ đẹp nguyên thủy: phụ nữ, buổi chiều mùa xuân, âm nhạc ban đêm, biển cả; tớ không bắt được những thứ tinh tế như 'tiếng kèn gầm gừ sắc bạc'. Tớ có thể trở thành một trí thức, nhưng tớ sẽ chẳng bao giờ viết được cái gì ngoài thơ làng nhàng cả."
Họ đạp xe vào Princeton khi mặt trời đang tạo ra những tấm bản đồ đầy màu sắc trên bầu trời phía sau trường sau đại học, và vội vã đi tắm vòi sen để refresh bản thân thay cho giấc ngủ. Đến trưa, đám cựu sinh viên mặc trang phục rực rỡ chen chúc trên đường phố cùng các ban nhạc và dàn hợp xướng của họ, và trong những lều bạt là những cuộc hội ngộ tưng bừng dưới những lá cờ vàng-đen đang uốn lượn và phần phật trong gió. Amory nhìn đăm đăm vào một ngôi nhà mang dòng chữ "Sáu mươi chín". Ở đó, một vài người đàn ông tóc điểm bạc ngồi trò chuyện khẽ khàng trong lúc các lớp học lần lượt lướt qua như một bức tranh toàn cảnh của cuộc đời.
DƯỚI ÁNH ĐÈN HỒ QUANG
Rồi đôi mắt xanh ngọc bích của thảm kịch bất ngờ trừng trừng nhìn Amory từ phía rìa tháng Sáu. Vào đêm sau chuyến đi dạo đến Lawrenceville, một đám đông rủ nhau kéo đến New York để tìm kiếm phiêu lưu, và bắt đầu quay trở lại Princeton vào khoảng mười hai giờ đêm trên hai chiếc xe ô tô. Đó là một bữa tiệc vui vẻ và có đủ các trạng thái tỉnh táo khác nhau. Amory ngồi ở chiếc xe phía sau; họ đi nhầm đường và lạc lối, thế nên đang phóng hộc tốc để bắt kịp.
Đó là một đêm trời quang đãng và sự hưng phấn của con đường thấm vào đầu Amory. Cậu có sẵn bóng dáng hai khổ thơ đang hình thành trong tâm trí...
Thế là chiếc xe xám luồn lách hướng về màn đêm tăm tối và chẳng có sự sống nào động đậy khi nó lướt qua... Như những lối mòn biển cả tĩnh lặng trước con cá mập trên những luồng nước lấp lánh đầy sao, rực rỡ nét đẹp, những tán cây được trùm ánh trăng rẽ ra, từng đôi một, trong khi những chú chim đêm vỗ cánh kêu vang khắp bầu không gian...
Một khoảnh khắc bên quán trọ của đèn đóm và rèm che, một quán trọ vàng rực dưới vầng trăng vàng — rồi sự tĩnh lặng, nơi tiếng cười crescendo phai dần... chiếc xe lại lao vút ra hướng gió tháng Sáu, làm dịu đi những bóng râm nơi khoảng cách vươn dài, rồi nghiền nát những cái bóng màu vàng thành sắc xanh...
Họ khựng lại với một cú xóc nảy, và Amory ngước nhìn lên đầy giật mình. Một người phụ nữ đang đứng bên lề đường, nói chuyện với Alec đang ngồi ghế lái. Mãi về sau cậu vẫn nhớ cái vẻ mụ phù thủy mà chiếc áo kimono cũ kỹ mang lại cho sự hiện diện của bà ta, và cái giọng khàn đặc rỗng tuếch khi bà cất lời:
"Mấy đứa là sinh viên Princeton phỏng?"
"Vâng."
"Ừm, có một đứa trong tụi mày bị giết ở đây rồi, và hai đứa khác thì sắp chết đến nơi."
"Lạy Chúa!"
"Nhìn kìa!" Bà ta chỉ tay và họ kinh hoàng nhìn theo. Dưới ánh sáng rực rỡ của một ngọn đèn đường là một thân hình nằm úp mặt xuống đất giữa vũng máu đang loang rộng dần.
Họ chồm khỏi xe. Amory nghĩ đến phần sau của cái đầu đó — mái tóc ấy — mái tóc ấy... và rồi họ lật ngửa thân hình đó lại.
"Là Dick — Dick Humbird!"
"Ôi Chúa ơi!"
"Bắt mạch tim anh ấy xem!"
Rồi giọng nói khăng khăng của mụ mụ già nọ vang lên như một sự đắc thắng đầy quái gở:
"Nó chết hẳn rồi còn gì. Xe bị lật úp. Hai thằng không bị thương vừa khải khiêng mấy thằng kia vào trong rồi, nhưng đứa này thì vô phương cứu chữa."
Amory lao vào nhà và những người còn lại đi theo sau với một khối cơ thể mềm nhũn mà họ đặt lên chiếc ghế sofa trong phòng khách tồi tàn phía trước. Sloane, với bả vai thủng một lỗ, đang nằm trên một chiếc ghế dài khác. Cậu ta nửa mê sảng, cứ lẩm bẩm điều gì đó về một tiết học hóa học lúc 8 giờ 10 phút.
"Tớ không biết chuyện gì đã xảy ra nữa," Ferrenby nói bằng giọng căng thẳng. "Dick lái và hắn nhất quyết không chịu nhường tay lái; bọn tớ bảo hắn uống nhiều quá rồi — rồi cái khúc cua quái quỷ này xuất hiện — ôi Chúa ơi!..." Cậu ta úp mặt xuống sàn và bật khóc nức nở không thành tiếng.
Bác sĩ đã đến, và Amory bước đến chiếc ghế sofa, nơi ai đó đưa cho cậu một tấm ga để phủ lên thi thể. Với một sự cứng cỏi bất chợt, cậu nhấc một bàn tay lên rồi buông thõng nó xuống bất động. Trán lạnh ngắt nhưng gương mặt không phải là không có biểu cảm. Cậu nhìn vào dây giày — sáng nay Dick đã thắt chúng. Cậu ấy đã tự tay thắt chúng — và giờ đây cậu ấy chỉ là một khối trắng nặng trịch này. Tất cả những gì còn lại của sự quyến rũ và cá nhân của Dick Humbird mà cậu từng biết — ôi, mọi thứ thật kinh khủng, thiếu chất quý tộc và áp sát mặt đất. Mọi thảm kịch đều mang theo nét châm biếm và tồi tàn đó — quá vô ích, vô vọng... cách mà những loài động vật chết đi...
Amory nhớ lại một con mèo từng nằm bị thương tích khủng khiếp ở một con hẻm nào đó thời thơ ấu của cậu.
"Ai đó đi cùng Ferrenby về Princeton đi."
Amory bước ra ngoài cửa và rùng mình nhẹ trước ngọn gió muộn màng của đêm — một ngọn gió làm rung chuyển chiếc chắn bùn bị bẻ cong trên đống kim loại méo mó tạo nên một âm thanh réo rắt, rẻ tiền.
CRESCENDO!
Ngày hôm sau, nhờ một sự may mắn thương xót, trôi qua trong một cơn cuồng phong. Khi ở một mình, suy nghĩ của Amory cứ zigzag không thể tránh khỏi về bức ảnh cái miệng đỏ lòe đang ngáp một cách bất hợp pháp trên gương mặt trắng bệch ấy, nhưng với một nỗ lực quả quyết, cậu chồng chất những sự phấn khích hiện tại lên ký ức đó và lạnh lùng khóa kín nó lại trong tâm trí.
Isabelle và mẹ cô lái xe vào thị trấn lúc bốn giờ, và họ mỉm cười đi dọc Đại lộ Prospect, xuyên qua đám đông vui vẻ, để uống trà ở Cottage. Các câu lạc bộ có bữa tối thường niên vào đêm hôm đó, thế nên lúc bảy giờ cậu nhường cô cho một tân sinh viên và sắp xếp gặp cô ở nhà thể dục lúc mười một giờ, khi sinh viên năm trên được phép vào tham dự buổi khiêu vũ của tân sinh viên. Cô đúng là tất cả những gì cậu hằng mong đợi, và cậu hạnh phúc, háo hức biến đêm đó thành tâm điểm của mọi giấc mơ. Lúc chín giờ, các sinh viên năm trên đứng trước các câu lạc bộ khi đoàn diễu hành rước đuốc của tân sinh viên đi ngang qua trong sự hỗn loạn, và Amory tự hỏi liệu những nhóm người mặc đồ dạ hội đứng trước phông nền tối tăm, uy nghi dưới ánh lửa bập bùng có làm cho đêm tối trở nên rực rỡ đối với đám tân sinh viên đang trố mắt hô hò giống như nó từng rực rỡ đối với cậu một năm về trước hay không.
Ngày hôm sau lại là một cơn cuồng phong khác. Họ ăn trưa trong một bữa tiệc sáu người vui vẻ tại phòng ăn riêng trong câu lạc bộ, trong khi Isabelle và Amory trìu mến nhìn nhau qua món gà rán và biết rằng tình yêu của họ sẽ là vĩnh cửu. Họ khiêu vũ suốt buổi prom cho đến tận năm giờ, và đám sát gái cứ thế nhảy vào cắt ngang điệu nhảy với Isabelle trong sự cuồng nhiệt đầy hứng khởi — thứ càng lúc càng trở nên nhiệt huyết hơn khi trời về khuya và lượng rượu cất giấu trong túi áo khoác ở phòng giữ đồ khiến cho sự mệt mỏi lâu năm phải chờ đến ngày mai mới dám xuất hiện. Dàn sát gái là một khối đồng nhất nhất của những người đàn ông. Nó rung rinh đúng nghĩa với một tâm hồn duy nhất. Một mỹ nhân tóc đen lướt qua và có một tiếng thở hấp háo khi gợn sóng chồm tới trước và một gã bảnh bao hơn phần còn lại lao ra cắt ngang điệu nhảy. Rồi khi cô gái cao sáu foot (do Kaye dẫn đến lớp của cậu, và người mà cậu đã cố gắng giới thiệu suốt buổi tối) phi kiệu lướt qua, dàn người lại chùng xuống và quay mặt về hướng khác, tập trung vào những góc xa của hội trường, bởi vì Kaye, đầy lo lắng và nhám mồ hôi, xuất hiện đang lách qua đám đông để tìm kiếm những khuôn mặt quen thuộc.
"Này cậu bạn, tớ có một em cực kỳ dễ thương..."
"Xin lỗi nhé Kaye, nhưng tớ bận điệu này rồi. Tớ phải ra cắt ngang bước nhảy của ai đó cái đã."
"Thế còn điệu sau?"
"Cái gì — à — ừ — thề có Chúa là tớ phải đi cắt ngang đây — tìm tớ khi nào cô ấy trống lịch nhảy nhé."
Amory cảm thấy vô cùng thích thú khi Isabelle đề nghị họ rời đi một lúc và lái xe dạo quanh Princeton. Trong một tiếng đồng hồ tuyệt diệu trôi qua quá nhanh, họ lướt đi trên những con đường tĩnh mịch quanh Princeton và trò chuyện từ phần nông cạn của trái tim trong sự phấn khích ngượng ngùng. Amory cảm thấy ngây thơ một cách kỳ lạ và không hề có ý định hôn cô.
Ngày hôm sau họ đi ngược lên vùng đồng quê New Jersey, ăn trưa ở New York, và buổi chiều đi xem một vở kịch có vấn đề — vở kịch mà Isabelle khóc suốt màn thứ hai, làm Amory hơi bối rối một chút — dẫu cho nó làm cậu tràn ngập sự dịu dàng khi ngắm nhìn cô. Cậu bị cám dỗ muốn rướn người sang để hôn lau đi những giọt nước mắt của cô, và cô lén đút tay vào tay cậu dưới lớp che phủ của bóng tối để được siết nhẹ một cách êm ái.
Rồi lúc sáu giờ họ đến trang viên mùa hè của nhà Borge ở Long Island, và Amory vội vã lên lầu để thay chiếc áo vest dạ hội. Khi cài những chiếc khuy măng-sét, cậu nhận ra mình đang tận hưởng cuộc sống theo cách mà có lẽ cậu sẽ chẳng bao giờ tận hưởng lại lần nào nữa. Mọi thứ đều được tôn nghiêm bởi làn sương mờ của tuổi trẻ chính cậu. Cậu đã thành danh, sánh vai cùng những kẻ ưu tú nhất trong thế hệ của mình ở Princeton. Cậu đang yêu và tình yêu của cậu được đáp đền. Bật hết ngọn đèn lên, cậu ngắm nhìn bản thân trong gương, cố tìm kiếm trên gương mặt chính mình những phẩm chất giúp cậu nhìn thấu đáo hơn đám đông to lớn ngoài kia, giúp cậu quyết định một cách quả quyết và đủ sức ảnh hưởng cũng như tuân theo ý chí của riêng mình. Có rất ít điều trong cuộc đời cậu lúc bấy giờ mà cậu muốn thay đổi...
Oxford có lẽ đã là một sân chơi lớn hơn.
Cậu thầm ngưỡng mộ bản thân. Trông mình sao mà bảnh bao và hợp cảnh hợp cảnh làm sao trong bộ vest dạ hội. Cậu bước ra sảnh rồi chờ đợi ở đầu cầu thang, vì cậu nghe thấy tiếng bước chân đang đến gần. Đó là Isabelle, và từ chùm tóc tỏa sáng cho đến đôi giày vàng nhỏ xíu, chưa bao giờ cô trông xinh đẹp đến thế.
"Isabelle!" cậu khẽ gọi, gần như bất giác, và dang rộng vòng tay. Hệt như trong truyện cổ tích, cô lao vào vòng tay ấy, và trong nửa phút đó, khi đôi môi họ chạm nhau lần đầu tiên, chính là đỉnh cao của sự kiêu hãnh, là đỉnh chóp của cái tôi tuổi trẻ.