Xác ướp xanh

Lượt đọc: 110 | 0 Đánh giá: 0/10 Sao
★★★★★★★★★★
★★★★★★★★★★
« Lùi Tiến »
Chương 14
Điều bất ngờ xảy ra

❊ ❊ ❊

Bất chấp báo chí, thư từ, máy điện báo và những phương tiện hỗ trợ lan truyền tin tức nhanh chóng tương tự, tin tức ở các ngôi làng vẫn lan nhanh hơn so với ở thành phố. Tin truyền miệng có thể phát tán chuyện tầm phào với tốc độ đáng kinh ngạc trong những cộng đồng thưa dân cư, vì hiển nhiên là ở những nơi như vậy, ai nấy đều biết rõ tường tận về nhau — theo cách nói ví von — đến tận chân tơ kẽ tóc. Ở bất kỳ ngôi làng nào của nước Anh, những bức tường cũng có tai và khung cửa sổ cũng có mắt, khiến cho mỗi ngôi nhà nhỏ đều là một ổ ổ tin đồn nhảm, và điều gì một người biết thì chỉ trong vòng một giờ, những người khác cũng sẽ biết. Ngay cả nhân sư Sphinx cũng không thể giữ kín bí mật của mình lâu ở một nơi như vậy.

Gartley có thể duy trì danh tiếng của mình về mặt này sánh ngang với những nơi xuất sắc nhất, do đó chẳng có gì lấy làm ngạc nhiên khi vào sáng sớm hôm sau, mọi người đều biết rằng Giáo sư Braddock đã tìm thấy xác ướp thất lạc từ lâu của mình ở khu vườn của Mrs. Jasher, và đã chuyển nó đến Pyramids mà không chậm trễ thêm chút nào nữa. Lúc đó trời không quá muộn khi chiếc xe tay kéo với món hàng kỳ quái ấy đi qua con đường độc đạo của thị trấn, và một vài người đã bước ra từ quán trọ Warrior bề ngoài là để ngỏ ý giúp đỡ, nhưng thực chất là để tìm hiểu xem vị chủ nhân kỳ quặc của ngôi nhà lớn đang làm gì. Braddock cộc cằn từ chối những lời đề nghị đó; nhưng chiếc quan tài xác ướp có hình thù kỳ lạ, được nhuộm màu xanh lá, đã bị nhìn thấy, nên những ai vô tình bắt gặp nó chẳng cần tốn nhiều trí tuệ cũng có thể suy luận ra vấn đề, nhất là khi vật thể kỳ quái ấy đã được mô tả tại cuộc điều tra tử thi và đã được bàn tán xôn xao từ đó đến nay ở mọi ngôi nhà. Và vì người ta thấy chiếc xe kéo đi ra từ khu vườn của góa phụ, nên cư dân làng tự nhiên cho rằng Mrs. Jasher đã che giấu xác ướp. Chẳng mấy chốc, lời đồn lan rộng rằng bà ta cũng đã sát hại Bolton, vì nếu không làm thế, thì chắc chắn — theo logic của làng xã — bà ta không thể nào sở hữu được món chiến lợi phẩm đó.

Cuối cùng, vì cửa ra vào và cửa sổ nhà Mrs. Jasher đều nhỏ mà chiếc xác ướp lại khá cồng kềnh, nên thật dễ hiểu khi cho rằng bà đã giấu nó trong vườn. Lời đồn kể rằng bà đã chôn nó xuống đất và vừa kịp đào lên thì bị chính chủ nhân hợp pháp của nó tóm gọn. Từ đó có thể thấy rằng chuyện đồn thổi không phải lúc nào cũng chính xác.

Dù thế nào đi nữa, tin tức về vận may của Giáo sư Braddock chẳng mấy chốc đã đến tai Don Pedro thông qua người chủ nhà trọ. Nhờ bà tiết lộ những điều nghe được vào buổi sáng, quý ông người Peru đã tránh được một đêm mất ngủ. Nhưng ngay khi biết được sự thật — vốn đủ gây ngạc nhiên bởi tính bất ngờ của nó — ông vội vã ăn nhanh bữa sáng và phóng đến Pyramids. Ban đầu, ông chưa có ý định gặp Braddock nhanh đến vậy, hoặc ít nhất là cho đến khi ông thu thập thêm thông tin ở Pierside, nhưng tin tức rằng Braddock đang nắm giữ tổ tiên hoàng tộc của dòng họ De Gayangoses đã đưa ông bước thẳng vào bảo tàng. Ông chào Giáo sư bằng thái độ trang nghiêm và nhã nhặn quen thuộc của mình, và không ai có thể đoán được từ sự điềm tĩnh vốn có rằng tin tức bất ngờ về sự xuất hiện của Braddock, cùng thông tin thậm chí còn bất ngờ hơn về xác ướp xanh, đã khiến ông ngạc nhiên đến tột cùng. Vốn mang chút ít tư tưởng mê tín, Don Pedro cũng chợt nghĩ rằng sự trùng hợp này mang lại may mắn cho ông trong việc tìm lại người tổ tiên đã thất lạc từ lâu của mình.

Braddock, vốn đã biết rất nhiều về Don Pedro từ Lucy và Archie Hope, cảm thấy vô cùng vui mừng khi gặp quý ông người Peru, với hy vọng tìm thấy ở ông một người cùng chí hướng. Cho đến lúc đó, Giáo sư vẫn chưa biết gì về nội dung của bản thảo tiếng Latinh cổ — thứ đã tiết lộ sự thật về những viên ngọc lục bảo được giấu kín, vì Hope đã quyết định để cho người Peru tự mình truyền đạt thông tin đó. Archie thừa hiểu rằng Don Pedro — như ông đã tuyên bố rõ ràng — muốn mua lại chiếc xác ướp, và Braddock có quyền được biết mình đang bán cái gì. Nhưng Hope đã quên mất một sự thật quan trọng, có lẽ do cách kể chuyện đầy sơ suất của Don Pedro — rằng Giáo sư, xét ở một mức độ nào đó, cũng là người tiêu thụ tài sản do trộm cắp mà có. Do đó, rất có khả năng quý ông người Peru sẽ đòi quyền sở hữu chiếc xác ướp. Tuy nhiên, trong trường hợp đó, ông ta sẽ phải chứng minh quyền sở hữu của mình, và điều đó không hề dễ dàng.

Vị giáo sư tròn trịa nhỏ con vẫn chưa mở niêm phong chiếc quan tài, và khi Don Pedro bước vào, ông đang đứng trước nó, xoa hai bàn tay mập mạp với vẻ mặt đầy đắc ý. Tuy nhiên, do Cockatoo đã mang danh thiếp của người Peru vào từ trước, Braddock đã chuẩn bị tinh thần đón tiếp vị khách và xoay người đối mặt với ông.

“Anh khỏe không, thưa ngài?” Braddock nói, chìa tay ra. “Tôi rất vui được gặp ngài, vì tôi nghe nói ngài biết rõ về chiếc xác ướp của Inca Caxas này.”

“Vâng, tôi có biết,” De Gayangos đáp, ngồi xuống chiếc ghế mà chủ nhà vừa đẩy tới. “Nhưng tôi có thể hỏi ai đã nói với ngài rằng chiếc xác ướp này là của vị Inca cuối cùng không?”

Braddock bóp chiếc cằm mũm mĩm của mình và đáp lại một cách sẵn sàng.

“Chính xác là thế, Don Pedro. Tôi muốn tìm hiểu sự khác biệt trong nghi thức ướp xác giữa người Ai Cập và người Peru cổ đại, nên đã tìm kiếm một thi thể từ Nam Mỹ. Thật bất ngờ, tôi thấy trên vài tờ báo châu Âu và hai tờ báo Anh rằng một xác ướp xanh của người Peru đang được rao bán ở Malta với giá một nghìn bảng. Tôi đã cử trợ lý của mình, Sidney Bolton, đi mua nó, và cậu ta đã xoay sở mua được cả quan tài lẫn xác ướp với giá chín trăm bảng. Khi còn ở Malta, và trước khi lên con tàu The Diver để trở về cùng xác ướp, cậu ta đã viết cho tôi một bản tường thuật về giao dịch đó. Kẻ bán — là con trai của một nhà sưu tầm người Malta — nói với Bolton rằng cha anh ta đã vớ được chiếc xác ướp ở Paris từ hơn hai mươi năm trước. Tôi tin rằng nó xuất phát từ Lima khoảng ba mươi năm trước, và theo nhà sưu tầm ở Paris, đó là thi thể của Inca Caxas. Đó là toàn bộ câu chuyện.”

Don Pedro nghiêm nghị gật đầu.

“Có bản thảo tiếng Latinh nào được giao kèm theo xác ướp không?” ông hỏi.

Mắt Braddock trợn tròn.

“Không, thưa ngài. Xác ướp được chuyển từ Lima đến Paris ba mươi năm trước. Nó lọt vào tay nhà sưu tầm người Malta cách đây hai mươi năm, và con trai ông ta đã bán nó cho tôi vài tháng trước. Tôi chưa từng nghe nói về bất kỳ bản thảo nào cả.”

“Vậy ra Mr. Hope đã không nhắc lại với ngài những gì tôi nói với anh ta tối hôm trước sao?”

Vị Giáo sư ngồi xuống và khóe miệng nhướng lên vẻ bướng bỉnh.

“Mr. Hope có kể lại một câu chuyện nào đó mà ngài đã nói với anh ta và những người khác rằng chiếc xác ướp này đã bị đánh cắp từ ngài.”

“Từ cha tôi,” vị người Peru sửa lại với vẻ mặt không chút biểu cảm, đồng thời chăm chú quan sát chủ nhà; “đó mới thực sự là trường hợp xảy ra. Inca Caxas là, hoặc đã từng là, tổ tiên của tôi, và bản thảo này” — Don Pedro lấy nó ra từ túi áo trong — “miêu tả chi tiết các nghi lễ tang ma.”

“Thật thú vị; vô cùng thú vị,” Braddock lật đật thốt lên, vươn tay ra. “Tôi có thể xem nó được không?”

“Ngài đọc được tiếng Latinh cơ mà,” Don Pedro nhận xét, trao lại bản thảo.

Braddock nhướng mày.

“Dĩ nhiên rồi,” ông nói một cách giản dị, “bất kỳ người có học thức nào cũng đọc được tiếng Latinh, hoặc đáng lẽ ra phải đọc được. Chờ đã, thưa ngài, để tôi lướt qua tài liệu này.”

“Khoan đã,” Don Pedro nói khi vị Giáo sư bắt đầu ngấu nghiến đọc trang giấy đã ngả màu. “Chắc chắn ngài đã biết từ Hope rằng làm thế nào mà tôi tình cờ tìm thấy tài sản của chính mình ở châu Âu chứ?”

Braddock, mắt vẫn dán vào bản thảo, lầm bầm:

“Tài sản của chính ngài. Phải rồi: phải rồi.”

“Ngài thừa nhận điều đó. Vậy thì không còn nghi ngờ gì nữa, ngài sẽ trả lại chiếc xác ướp cho tôi chứ.”

Đến lúc này, ý đồ trong những lời nói của Don Pedro đã hoàn toàn lọt vào nhận thức của vị nhà khoa học, và ông buông tài liệu đang đọc dở để vùng đứng phắt dậy.

“Trả lại chiếc xác ướp cho ngài!” ông há hốc mồm kêu lên. “Trời ạ, nó là của tôi cơ mà.”

“Xin lỗi ngài,” vị người Peru nói, vẫn điềm tĩnh nhưng vô cùng quả quyết, “ngài vừa thừa nhận rằng nó thuộc về tôi đấy thôi.”

Khuôn mặt Braddock đỏ bừng lên một cách giận dữ.

“Tôi có biết mình đang nói gì đâu,” ông phản đối. “Làm sao tôi có thể nói đó là tài sản của ngài khi tôi đã bỏ ra chín trăm bảng để mua nó chứ?”

“Đó là tài sản bị đánh cắp.”

“Điều đó còn phải được chứng minh cái đã,” Braddock nói với giọng cay độc.

Don Pedro đứng dậy, trông còn ra dáng Don Quixote hơn bao giờ hết.

“Tôi xin lấy danh dự của mình ra để đảm bảo và—”

“Vâng, vâng. Thôi được rồi. Tôi không hề có ý hoài nghi danh dự của ngài.”

“Tốt nhất là không nên,” người kia lạnh lùng nhưng cứng rắn đáp lại.

“Dẫu vậy, ngài khó có thể mong đợi tôi từ bỏ một vật có giá trị nhường này,” Braddock vẫy tay về phía chiếc quan tài, “mà không tiến hành điều tra kỹ lưỡng các tình tiết sự việc. Và hơn nữa, thưa ngài, ngay cả khi ngài thành công trong việc chứng minh quyền sở hữu, tôi cũng chẳng có ý định trả lại chiếc xác ướp cho ngài một cách tay không đâu.”

“Nhưng đó là tài sản bị đánh cắp mà ngài đang giữ của tôi.”

“Tôi không biết gì về chuyện đó cả: Tôi chỉ có mỗi lời nói suông của ngài rằng sự việc là như vậy, Don Pedro. Tất cả những gì tôi biết là tôi đã trả chín trăm bảng cho chiếc xác ướp và tốn thêm gần một trăm bảng nữa để đưa nó đến nước Anh. Của gì nằm trong tay tôi, thì tôi giữ lấy.”

“Giống như cách quốc gia của ngài hành xử vậy,” vị người Peru mỉa mai nói.

“Chính xác,” vị Giáo sư ngọt nhạt đáp lại. “Mọi người Anh đều có sự kiên trì lì lợm như chó sục trong mụcích của mình. ‘Khoác lác là chó khôn, thưa Don Pedro, nhưng ‘Giữ chặt’ mới là con chó giỏi hơn.”

“Vậy tôi hiểu rằng,” vị người Peru nói, vươn tay nhặt bản thảo vừa rơi xuống đất, “ngài sẽ khăng khăng giữ lại chiếc xác ướp.”

“Dĩ nhiên rồi,” Braddock điềm tĩnh nói, “vì tôi đã trả tiền mua nó mà. Hơn nữa, tôi cũng sẽ giữ lại cả số trang sức, mà theo bản thảo cho tôi biết — qua cái nhìn lướt qua lúc nãy — đã được chôn cùng với nó.”

“Số trang sức duy nhất được chôn theo là hai viên ngọc lục bảo lớn mà chiếc xác ướp đang cầm trong tay,” Don Pedro giải thích, đút lại bản thảo vào túi, “và tôi muốn lấy lại chúng để có tiền khôi phục cơ nghiệp của gia đình.”

“Không! Không! Không!” Braddock quả quyết nói. “Tôi đã mua cả xác ướp lẫn số trang sức đi kèm. Chúng sẽ được bán để cung cấp tài chính cho chuyến thám hiểm lăng mộ Nữ hoàng Tahoser của tôi.”

“Tôi sẽ tranh chấp quyền lợi với ngài,” De Gayangos thét lên, đánh mất cả sự điềm tĩnh vốn có.

Braddock xua tay với vẻ thỏa mãn tột cùng.

“Tôi có thể cho ngài địa chỉ luật sư của tôi,” ông đáp trả; “bất kỳ bước đi nào ngài chọn làm cũng chỉ chuốc lấy thất bại mà thôi, và qua những gì ngài bóng gió thì tôi không nghĩ ngài có nhiều tiền để theo đuổi kiện tụng đâu.”

Don Pedro cắn môi, và nhận ra rằng việc bắt Braddock phải nhả ra món chiến lợi phẩm của hắn quả thực là một nhiệm vụ khó khăn hơn nhiều so với dự tính ban đầu của ông.

“Nếu ngài ở Lima,” ông lầm bầm, nói bằng tiếng Tây Ban Nha trong cơn kích động, “ngài sẽ biết rằng tôi nói sự thật.”

“Tôi không nghi ngờ tính chân thực của ngài,” vị Giáo sư đáp bằng chính thứ ngôn ngữ đó.

De Gayangos xoay người đối mặt với chủ nhà, vô cùng ngạc nhiên.

“Ngài nói được tiếng của tôi sao, thưa ngài?” ông gặng hỏi.

Braddock gật đầu.

“Tôi từng đến Tây Ban Nha, và tôi cũng từng đến Peru,” ông đáp một cách khô khan, “thế nên tôi biết tiếng Tây Ban Nha cổ điển và các phương ngữ thuộc địa của nó. Còn việc ở Lima, tôi đã từng ở đó, và tôi không muốn quay lại đó lần nào nữa, vì tôi đã quá đủ ngấy những vùng đất kém văn minh ấy từ ba mươi năm trước, khi đất nước chìm trong hỗn loạn sau cuộc nội chiến của các ngài.”

“Ngài đã ở Lima ba mươi năm trước,” Don Pedro nhắc lại lời; “vậy ra ngài có mặt ở đó khi Vasa đánh cắp chiếc xác ướp này.”

“Tôi không biết ai đã đánh cắp nó, hay thậm chí nó có thực sự bị đánh cắp hay không,” vị Giáo sư bướng bỉnh nói, “và tôi cũng chẳng biết cái tên Vasa là gì. À, giờ thì tôi nhớ ra rồi. Cậu thanh niên Hope có nhắc đến một thủy thủ người Thụy Điển nào đó mà ngài nói là kẻ đã đánh cắp chiếc xác ướp.”

“Chính Vasa đã làm thế, và mang nó sang châu Âu để bán — có lẽ cho gã ở Paris đó, kẻ sau này đã bán nó lại cho nhà sưu tầm người Malta của ngài.”

“Chắc chắn là vậy rồi,” Braddock điềm nhiên đáp; “nhưng tất cả những chuyện đó thì liên quan gì đến tôi, hả Don Pedro?”

“Tôi muốn lấy lại xác ướp của mình,” vị kia nổi giận lôi đình, trừng mắt ra điều nguy hiểm.

“Thế thì ngài đừng hòng lấy lại được,” Braddock đáp trả với thái độ nghênh chiến và hoàn toàn bình thản. “Chiếc xác ướp này đã gây ra cái chết của một người rồi đấy, Don Pedro, và nhìn vẻ mặt ngài thì tôi đoán ngài hẳn rất muốn nó gây ra cái chết thứ hai.”

“Ngài không thể sống cho đàng hoàng được sao?”

“Tôi sẽ đấm gãy cổ ngài nếu dám mang sự chính trực của tôi ra hoài nghi đấy,” vị Giáo sư hét lên, đứng nhón gót lên như một con gà chọi. “Cách tốt nhất là đưa vụ việc ra tòa đi. Khi đó pháp luật sẽ phán quyết, và tôi chẳng mảy may nghi ngờ rằng nó sẽ nghiêng về phía tôi.”

Người đàn ông Anh và người đàn ông Peru trừng trừng nhìn nhau, còn Cockatoo, đang co ro dưới sàn nhà, đảo mắt nhìn khuôn mặt giận dữ của từng người. Hắn đoán rằng hai người đàn ông da trắng đang cãi vã và có lẽ sắp dùng đến vũ lực. Đúng lúc ấy, có tiếng gõ cửa vang lên, và một phút sau Archie bước vào. Braddock liếc nhìn cậu ta, và đưa ra một quyết định táo bạo khi bước tới trước.

“Hope, cậu đến đúng lúc lắm,” ông tuyên bố. “Don Pedro khẳng định chiếc xác ướp thuộc về ông ấy, còn tôi thì quả quyết rằng mình đã mua nó. Bọn tôi sẽ bầu cậu làm trọng tài. Ông ấy muốn nó: Tôi cũng muốn nó. Bây giờ phải làm sao đây?”

“Chiếc xác ướp chính là da thịt xương máu của tổ tiên tôi, thưa Mr. Hope,” Don Pedro nói.

“Chẳng có mấy chút xương máu hay da thịt nào trên đó đâu,” Braddock khinh khỉnh nói.

Archie kéo xoay một chiếc ghế và dang hai chân dài kẹp lấy nó, hai tay gác lên lưng ghế. Bộ óc nhanh nhạy của cậu đã nhanh chóng thấu suốt tình hình, và vì đã quen thuộc với cả hai phía của vấn đề, việc đưa ra quyết định không phải là điều khó khăn. Thật bất công nếu Don Pedro phải mất đi xác ướp của tổ tiên mình, thì cũng bất công không kém nếu Braddock — hay đúng hơn là chính cậu — phải mất đi số tiền mua xác ướp, xét thấy khoản tiền đó đã được trả một cách thiện chí cho người bán ở Malta đối với một vật thể thoạt nhìn có nguồn gốc hoàn toàn hợp pháp. Dựa trên những tiền đề đó, vị Thẩm phán trẻ tuổi bắt đầu đưa ra phán quyết.

“Tôi hiểu rồi,” cậu phán đoán, “rằng Don Pedro đã bị mất cắp chiếc xác ướp từ ba mươi năm trước, và ngài Giáo sư đây đã mua nó với ấn tượng rằng người chủ sở hữu ở Malta có quyền sở hữu nó.”

“Đúng thế,” Braddock cộc lốc ngắt lời, “và tôi dám cá là người chủ ở Malta cũng nghĩ vậy, vì ông ta đã mua nó từ nhà sưu tầm ở Paris cơ mà.”

Hope gật đầu.

“Và nếu Vasa đã bán nó cho gã ở Paris,” cậu điềm tĩnh nói, “hắn chắc chắn sẽ không đời nào nói với người mua rằng hắn đã cướp phá chiếc xác ướp ở Lima, và người tội nghiệp kia sẽ chẳng thể biết rằng mình đang nhận tài sản trộm cắp. Có phải vậy không, Don Pedro?”

“Đúng vậy, thưa ngài,” vị người Peru đáp, lúc này đã lấy lại được bình tĩnh và vẻ trang nghiêm; “nhưng tôi long trọng tuyên bố rằng chiếc xác ướp đã bị đánh cắp từ cha tôi và nó phải thuộc về tôi.”

“Không ai tranh cãi điều đó cả,” Archie vui vẻ nói; “nhưng nó cũng phải thuộc về vị Giáo sư nữa, vì ông ấy đã bỏ tiền mua nó. Giờ thì, vì nó không thể nào thuộc về cùng lúc hai người, chúng ta phải chia đôi sự khác biệt. Ngài, thưa Giáo sư, phải bán lại chiếc xác ướp cho Don Pedro bằng đúng số tiền ngài đã mua nó, và rồi, Don Pedro, ngài phải bồi thường cho Giáo sư Braddock vì tổn thất của ông ấy.”

“Tôi không có nhiều tiền lắm,” Don Pedro nghiêm nghị nói; “dù vậy, tôi sẵn lòng làm theo lời cậu.”

“Tôi không biết là mình có muốn thế hay không đấy,” Braddock lớn tiếng phản đối. “Còn hai viên ngọc lục bảo có giá trị vô cùng lớn, như Don Pedro đã nói, và chúng thuộc về tôi, vì chiếc xác ướp là tài sản của tôi cơ mà.”

“Thưa Giáo sư,” Archie nghiêm trang nói, “ngài phải làm điều đúng đắn, ngay cả khi phải chịu thiệt thòi vì nó. Tôi tin câu chuyện của Senor De Gayangos; và chiếc xác ướp cùng số trang sức của nó thuộc về ông ấy. Hơn nữa, ngài chỉ muốn xem cách người Inca ướp xác người chết thế nào thôi mà. Vậy thì, hãy mở gói xác ướp ngay tại đây trước mặt Don Pedro đi. Khi ngài đã thỏa mãn sự tò mò của mình, và khi Senor De Gayangos ký một tấm séc trị giá một nghìn bảng, ông ấy có thể mang thi thể đó đi. Ngài đã gặp quá nhiều rắc rối với nó rồi, tôi lấy làm lạ là ngài lại không mong muốn tống khứ nó đi cho khuất mắt đấy.”

“Nhưng những viên ngọc lục bảo đó có thể bán được rất nhiều tiền và sẽ trang trải cho chi phí chuyến thám hiểm lăng mộ Nữ hoàng đó ở Ai Cập của tôi.”

“Tôi được Lucy cho biết rằng Mrs. Jasher có ý định tài trợ cho chuyến thám hiểm đó khi bà ấy trở thành vợ ngài mà.”

“Hừm!” Braddock lầm bầm, vuốt ve chiếc cằm mập mạp. “Tôi đã nói vài câu ngốc nghếch với cô ấy tối qua lúc đang nóng giận. Cô ấy có thể sẽ không tha thứ cho tôi đâu, Hope.”

“Phụ nữ sẽ tha thứ mọi thứ cho người đàn ông cô ấy yêu,” Archie nói.

Braddock không phải là kẻ ngốc, và không khỏi liếc nhìn vóc dáng tròn vo của mình đang phản chiếu trong tấm gương gần đó. Thật khó tin rằng Mrs. Jasher lại có thể yêu ông vì ngoại hình, và thực tế là có ngày ông có thể trở thành một nam tước cũng chẳng phải là điều khiến ông bận tâm vào lúc này. Dù vậy, ông cũng lường trước được những rắc rối và tốn kém nếu Don Pedro kiện ra tòa, như ông ta có vẻ quyết tâm làm. Cân nhắc mọi bề, Braddock thấy rằng phán quyết của Archie là một phán quyết hay, và đành nhượng bộ.

“Thôi được,” ông nói sau một hồi suy ngẫm, “chúng ta thỏa thuận vậy đi. Tôi sẽ mở chiếc quan tài và kiểm tra xác ướp, rốt cuộc thì đó cũng là lý do tại sao tôi mua nó. Khi tôi đã thỏa mãn về sự khác biệt giữa các phương pháp ướp xác, Don Pedro có thể đưa cho tôi một tấm séc và mang xác ướp đi. Tôi chỉ mong là ông ấy sẽ gặp ít rắc rối với nó hơn tôi,” và nói xong, Braddock ra hiệu cho Cockatoo mang tất cả các dụng cụ cần thiết đến, rồi đặt tay lên chiếc quan tài.

“Tôi đồng ý,” Don Pedro ngắn gọn nói, rồi ngồi xuống chiếc ghế bên cạnh vị ‘quan tòa’ trẻ tuổi vừa đưa ra phán quyết.

Hope ngỏ ý phụ giúp vị Giáo sư mở quan tài, nhưng bị từ chối thẳng thừng.

“Dù tôi rất vui vì cậu có mặt để chứng kiến việc mở xác ướp,” Braddock vừa cạy nắp quan tài vừa nói, “vì nhỡ số ngọc lục bảo có biến mất, Don Pedro lại có thể buộc tội tôi ăn cắp chúng thì sao.”

“Sao ngọc lục bảo lại có thể mất được chứ?” Hope nhanh nhảu hỏi.

Braddock nhún vai.

“Sidney Bolton đã bị sát hại,” ông nói với giọng trầm thấp, “và chẳng đời nào có chuyện ai đó lại đi phạm tội giết người chỉ vì chiếc xác ướp này, rồi lại vứt lăn lóc nó trong khu vườn của Mrs. Jasher cả. Tôi có hoài nghi về sự an toàn của những viên ngọc lục bảo đấy chứ, bằng không thì tôi đã chẳng đời nào đồng ý bán lại nó.”

Nói xong câu nói thành thật đó, vị Giáo sư hăng hái tấn công phần nắp quan tài, cắm một dụng cụ bằng thép vào các khe nứt để nạy lớp vỏ bọc lên. Nắp quan tài được chốt bằng các chốt gỗ theo kiểu cổ xưa nhưng cực kỳ chắc chắn, và có vẻ như chưa từng bị mở ra kể từ khi vị Inca quá cố được an nghỉ ở đó từ hàng trăm năm trước giữa những dãy núi Andean. Don Pedro nhăn mặt trước hành động xúc phạm người chết này, nhưng vì đã đồng ý từ trước, ông chẳng còn cách nào khác ngoài việc ngậm đắng nuốt cay chịu đựng. Chỉ trong một khoảng thời gian ngắn đến ngạc nhiên, xét đến sự khéo léo của tay nghề thợ mộc và độ bám dính chắc chắn của các chốt gỗ, chiếc nắp đã được tháo ra. Lúc bấy giờ, bốn người có mặt mới nhận ra rằng chiếc xác ướp đã bị kẻ nào đó động tay động chân vào. Được quấn trong lớp len lông cừu không màu xanh lá, nó nằm cứng đờ trong chiếc quan tài. Nhưng các lớp vải quấn đã bị cắt rách; hai bàn tay nhô ra và những viên ngọc lục bảo đã biến mất — bị giật phăng một cách thô bạo khỏi cái nắm chặt của người chết.

Nguồn: Gutenberg
Được bạn: Mọt Sách đưa lên
vào ngày: 23 tháng 8 năm 2026

« Lùi Tiến »

💬 Thảo luận

Chưa có bình luận nào — hãy là người đầu tiên chia sẻ cảm nhận của bạn!

Đăng nhập để tham gia bình luận.