Vụ án bí ẩn ở Styles

Lượt đọc: 181 | 0 Đánh giá: 0/10 Sao
★★★★★★★★★★
★★★★★★★★★★
« Lùi Tiến »
Chương 4
Poirot điều tra

❊ ❊ ❊

Ngôi nhà mà hai người Bỉ ở trong làng nằm sát ngay cổng công viên. Người ta có thể tiết kiệm thời gian bằng cách đi theo lối mòn hẹp xuyên qua bãi cỏ dài, thay vì phải đi đường vòng theo lối xe chạy quanh co. Thế là tôi bèn đi theo lối đó. Tôi vừa đến gần nhà gác cổng thì bắt gặp một người đàn ông đang chạy về phía mình. Đó chính là ông Inglethorp. Ông ta vừa ở đâu về? Ông ta định giải thích thế nào về sự vắng mặt của mình?

Ông ta hồ hởi bước đến chỗ tôi.

“Chúa tôi! Thật là khủng khiếp! Người vợ tội nghiệp của tôi! Tôi vừa mới nghe tin.”

“Anh đã đi đâu thế?” tôi hỏi.

“Denby giữ tôi lại đến khuya hôm qua. Mãi tới một giờ chúng tôi mới xong việc. Sau đó tôi nhận ra mình lại quên chìa khóa cửa. Tôi không muốn đánh thức cả nhà dậy, nên Denby đã cho tôi ngủ nhờ một phòng.”

“Anh nghe tin tức bằng cách nào vậy?” tôi hỏi.

“Wilkins đã gọi Denby dậy để báo tin. Emily tội nghiệp của tôi! Bà ấy thật là người biết hy sinh—một nhân cách cao quý. Bà ấy đã vắt kiệt sức lực của mình.”

Một làn sóng ghê tởm trào dâng trong tôi. Quả là một kẻ đạo đức giả hoàn hảo!

“Tôi phải đi nhanh đây,” tôi nói, thấy thật may vì ông ta không hỏi tôi định đi đâu.

Chỉ vài phút sau, tôi đã gõ cửa ngôi nhà Leastways Cottage.

Không thấy ai trả lời, tôi bèn gõ cửa thêm lần nữa với vẻ sốt ruột. Một khung cửa sổ phía trên tôi từ từ mở ra, và chính Poirot thò đầu ra ngoài.

Ông thốt lên đầy kinh ngạc khi nhìn thấy tôi. Chỉ bằng vài lời ngắn gọn, tôi giải thích về thảm kịch vừa xảy ra và rằng tôi muốn sự giúp đỡ của ông.

“Đợi đã, bạn tôi ơi, tôi sẽ mở cửa cho anh, và anh hãy kể lại câu chuyện cho tôi nghe trong lúc tôi thay quần áo.”

Chẳng mấy chốc ông đã mở then cửa, và tôi theo ông lên phòng. Tại đó, ông xếp cho tôi ngồi vào ghế, rồi tôi kể lại toàn bộ câu chuyện, không giấu giếm điều gì, không bỏ sót một tình tiết nào dù là nhỏ nhất, trong lúc bản thân ông thì thong thả và cẩn thận chải chuốt.

Tôi kể cho ông nghe về lúc tôi thức giấc, những lời trăn trối của bà Inglethorp, sự vắng mặt của chồng bà, trận cãi vã ngày hôm trước, mẩu đối thoại giữa Mary và mẹ chồng mà tôi nghe lõm bõm được, trận cãi vã trước đó giữa bà Inglethorp và Evelyn Howard, cũng như những lời ám chỉ của bà ta.

Tôi kể không được rành mạch cho lắm. Tôi lặp đi lặp lại vài lần và thỉnh thoảng phải quay lại một chi tiết nào đó mà mình đã quên. Poirot mỉm cười hiền từ nhìn tôi.

“Trí óc đang rối bời phải không? Phải vậy không nào? Cứ thong thả thôi, mon ami. Anh đang bấn loạn, anh đang kích động—điều đó cũng là tự nhiên thôi. Lát nữa, khi chúng ta bình tĩnh hơn, chúng ta sẽ sắp xếp các sự kiện lại, thật ngăn nắp, mỗi cái đúng vị trí của nó. Chúng ta sẽ xem xét—và loại bỏ. Những gì quan trọng, chúng ta sẽ để sang một bên; những gì không quan trọng, phì!”—ông nhăn mặt lại như một thiên thần nhỏ, và thở ra một cái thật ngộ nghĩnh—“thổi bay chúng đi!”

“Nói thế thì dễ lắm,” tôi phản bác, “nhưng anh sẽ quyết định thế nào là quan trọng và thế nào là không quan trọng bằng cách nào? Đó luôn là điều khó khăn đối với tôi.”

Poirot kiên quyết lắc đầu. Lúc này ông đang trau chuốt bộ ria mép với sự tỉ mỉ tuyệt đối.

“Không phải vậy. Voyons! Sự kiện này dẫn đến sự kiện khác—chúng ta cứ thế tiếp tục. Sự kiện tiếp theo có khớp với sự kiện đó không? A merveille! Tốt lắm! Chúng ta có thể tiến hành. Còn sự kiện nhỏ tiếp theo này—không! À, điều đó thật kỳ lạ! Có cái gì đó còn thiếu—một mắt xích trong chuỗi sự việc không có ở đó. Chúng ta kiểm tra. Chúng ta tìm kiếm. Và cái chi tiết nhỏ kỳ lạ đó, cái chi tiết có vẻ tầm thường nhỏ nhặt không khớp ấy, chúng ta đặt nó vào đây!” Ông làm một cử chỉ phóng đại bằng tay. “Nó thật có ý nghĩa! Nó thật lớn lao!”

“V—âng……”

“À!” Poirot giơ ngón tay trỏ ra dọa tôi dữ dội đến mức tôi phải co rúm người lại. “Hãy cẩn thận! Thảm họa sẽ giáng xuống vị thám tử nào nói rằng: ‘Nó quá nhỏ nhặt—không quan trọng đâu. Nó không khớp á? Tôi sẽ quên nó đi.’ Con đường đó dẫn đến sự hỗn độn đấy! Mọi thứ đều quan trọng.”

“Tôi biết chứ. Anh vẫn luôn nói với tôi điều đó. Đó là lý do tại sao tôi đã đi sâu vào mọi chi tiết của vụ việc này, dù chúng có vẻ liên quan hay không.”

“Và tôi rất hài lòng về anh. Anh có trí nhớ tốt, và anh đã cung cấp cho tôi các sự kiện một cách trung thực. Về thứ tự mà anh trình bày chúng, tôi không nói gì cả—thật tình mà nói, nó thật tệ hại! Nhưng tôi châm chước cho anh—anh đang quẫn trí. Tôi quy điều đó cho hoàn cảnh là anh đã bỏ sót một sự kiện có tầm quan trọng tối thượng.”

“Đó là gì vậy?” tôi hỏi.

“Anh chưa nói cho tôi biết tối qua bà Inglethorp có ăn ngon miệng không.”

Tôi trân trân nhìn ông. Chắc chắn là chiến tranh đã làm bộ óc của người đàn ông nhỏ bé này có vấn đề rồi. Ông đang chăm chú chải chiếc áo khoác trước khi mặc vào, và tỏ ra hoàn toàn bị cuốn hút vào công việc đó.

“Tôi không nhớ,” tôi nói. “Và dù sao đi nữa, tôi cũng không thấy……”

“Anh không thấy sao? Nhưng nó lại có tầm quan trọng hàng đầu đấy.”

“Tôi không hiểu tại sao,” tôi nói, có chút bực bội. “Theo như tôi nhớ, bà ấy chẳng ăn mấy. Rõ ràng là bà ấy đang buồn bực, và điều đó khiến bà ấy mất cảm giác thèm ăn. Đó là điều hiển nhiên mà.”

“Đúng vậy,” Poirot trầm ngâm nói, “đó là điều hiển nhiên.”

Ông mở một ngăn kéo, lấy ra một chiếc cặp tài liệu nhỏ, rồi quay lại nhìn tôi.

“Bây giờ tôi đã sẵn sàng. Chúng ta sẽ đến lâu đài và nghiên cứu sự việc tại hiện trường. Xin lỗi nhé, mon ami, anh mặc quần áo vội vàng quá nên chiếc cà vạt bị lệch sang một bên rồi. Cho phép tôi nhé.” Với một cử chỉ khéo léo, ông chỉnh lại nó cho tôi.

“Ça y est! Nào, chúng ta xuất phát chứ?”

Chúng tôi vội vã đi lên làng, rẽ vào cổng nhà gác. Poirot dừng lại một thoáng, buồn bã ngắm nhìn khung cảnh công viên rộng lớn xinh đẹp vẫn đang lấp lánh những giọt sương mai.

“Thật xinh đẹp, thật xinh đẹp biết bao, thế mà gia đình tội nghiệp ấy lại rơi vào cảnh tang tóc, gục ngã vì đau thương.”

Ông nhìn thẳng vào tôi khi nói, và tôi nhận thức được rằng mặt mình đã đỏ bừng lên dưới cái nhìn lâu của ông.

Liệu gia đình đó có gục ngã vì đau thương không? Nỗi buồn trước cái chết của bà Inglethorp có lớn đến thế không? Tôi nhận ra rằng có sự thiếu hụt về mặt cảm xúc trong không khí lúc bấy giờ. Người phụ nữ đã khuất không có khả năng thu phục tình cảm của người khác. Cái chết của bà là một cú sốc và sự phiền muộn, nhưng mọi người sẽ không đến mức đau xót khôn nguôi.

Poirot dường như đọc được suy nghĩ của tôi. Ông nghiêm nghị gật đầu.

“Không, anh nói đúng,” ông nói, “sự việc không giống như có quan hệ máu mủ. Bà ấy đã tử tế và hào phóng với những người nhà Cavendish này, nhưng bà ấy không phải là mẹ đẻ của họ. Máu chảy ruột mềm—hãy luôn ghi nhớ điều đó—máu mủ ruột rà vẫn hơn.”

“Poirot,” tôi nói, “tôi ước gì anh nói cho tôi biết tại sao anh lại muốn biết tối qua bà Inglethorp có ăn ngon miệng không? Tôi cứ ngẫm nghĩ mãi về điều đó, nhưng không tài nào hiểu được nó liên quan gì đến vụ việc này?”

Ông im lặng một phút hoặc lâu hơn trong lúc chúng tôi bước đi, nhưng cuối cùng ông nói:

“Tôi không ngại nói cho anh biết đâu—mặc dù, như anh biết đấy, tôi không có thói quen giải thích cho đến khi đi đến kết cục cuối cùng. Lập luận hiện tại là bà Inglethorp chết vì ngộ độc strychnine, phỏng đoán là được bỏ vào tách cà phê của bà.”

“Và?”

“Chà, cà phê được dọn lên lúc mấy giờ?”

“Khoảng tám giờ.”

“Do đó, bà ấy đã uống nó vào khoảng thời gian đó cho đến tám giờ rưỡi—chắc chắn là không muộn hơn nhiều. Mà này, strychnine là một chất độc tác dụng khá nhanh. Tác dụng của nó sẽ được cảm nhận rất sớm, có lẽ trong khoảng một giờ. Thế mà, trong trường hợp của bà Inglethorp, các triệu chứng lại không bộc lộ ra cho đến tận năm giờ sáng hôm sau: chín tiếng đồng hồ! Nhưng một bữa ăn thị soạn, được dung nạp vào khoảng thời gian cùng lúc với chất độc, có thể làm chậm tác dụng của nó, dù khó có thể kéo dài đến mức độ đó. Dù sao thì, đó cũng là một khả năng cần phải được tính đến. Nhưng, theo như anh kể, bà ấy ăn rất ít bữa tối, thế mà các triệu chứng lại không phát phát cho đến tận rạng sáng hôm sau! Giờ thì đó là một tình tiết kỳ lạ đấy, bạn tôi ạ. Có điều gì đó có thể phát sinh tại cuộc khám nghiệm tử thi để giải thích điều này. Trong lúc này, hãy ghi nhớ điều đó.”

Khi chúng tôi đến gần ngôi nhà, John bước ra đón chúng tôi. Gương mặt anh trông mệt mỏi và phờ phạc.

“Đây thực sự là một chuyện vô cùng tồi tệ, Monsieur Poirot,” anh nói. “Hastings đã giải thích cho anh biết rằng chúng tôi không muốn làm lớn chuyện hay gây chú ý với công chúng chứ?”

“Tôi hoàn toàn hiểu rõ.”

“Anh thấy đấy, cho đến giờ thì đây mới chỉ là nghi ngờ thôi. Chúng ta chẳng có căn cứ gì cả.”

“Chính xác. Đây chỉ là vấn đề đề phòng mà thôi.”

John quay sang tôi, lấy hộp thuốc lá ra và châm một điếu thuốc.

“Anh biết gã Inglethorp đã quay lại rồi chứ?”

“Rồi. Tôi đã gặp hắn.”

John ném que diêm vào luống hoa bên cạnh, một hành động khiến Poirot không thể chịu đựng nổi. Ông nhặt nó lên và chôn xuống đất một cách ngăn nắp.

“Thật sự rất khó xử khi phải đối xử với hắn ra sao.”

“Sự khó khăn đó sẽ không kéo dài lâu đâu,” Poirot điềm tĩnh tuyên bố.

John tỏ ra bối rối, không hoàn toàn hiểu được ý nghĩa sâu xa của câu nói ẩn ý này. Anh đưa hai chiếc chìa khóa mà Tiến sĩ Bauerstein đã giao cho anh cho tôi.

“Hãy cho Monsieur Poirot xem tất cả những gì anh ấy muốn xem.”

“Các căn phòng đều đã bị khóa lại sao?” Poirot hỏi.

“Tiến sĩ Bauerstein cho rằng điều đó là cần thiết.”

Poirot trầm ngâm gật đầu.

“Vậy thì ông ấy rất chắc chắn. Chà, điều đó làm cho mọi việc của chúng ta trở nên đơn giản hơn.”

Chúng tôi cùng nhau đi lên căn phòng xảy ra thảm kịch. Để tiện theo dõi, tôi xin đính kèm sơ đồ căn phòng và các món đồ nội thất chính trong đó.

Poirot khóa cửa lại từ bên trong, và tiến hành kiểm tra tỉ mỉ căn phòng. Ông lao từ vật này sang vật khác với sự nhanh nhẹn của một con cào cào. Tôi đứng cạnh cửa vì sợ làm xóa mất bất kỳ dấu vết nào. Tuy nhiên, Poirot có vẻ không hề biết ơn sự kiềm chế của tôi.

“Anh làm sao thế, bạn tôi ơi,” ông kêu lên, “mà cứ đứng lì ra đó giống như—anh gọi là gì nhỉ?—à đúng rồi, giống như một con heo bị chọc tiết thế?”

Tôi giải thích rằng tôi sợ làm xóa mất những dấu chân.

“Dấu chân ư? Thật là một ý nghĩ ngớ ngẩn! Đã có cả một tiểu đội xông vào căn phòng này rồi còn gì! Chúng ta có thể tìm thấy dấu chân nào nữa chứ? Không, lại đây giúp tôi tìm kiếm nào. Tôi sẽ đặt chiếc cặp nhỏ của mình xuống đây cho đến khi cần dùng đến nó.”

Ông làm đúng như vậy, đặt nó lên chiếc bàn tròn cạnh cửa sổ, nhưng đó lại là một hành động thiếu khôn ngoan; bởi vì mặt bàn bị lỏng nên nó đã lật nghiêng đi, làm chiếc cặp tài liệu rơi thẳng xuống sàn nhà.

“Eh voilà une table!” Poirot kêu lên. “À, bạn tôi ơi, người ta có thể sống trong một ngôi nhà lớn mà chẳng có lấy nổi một chút thoải mái.”

Sau màn triết lý đó, ông lại tiếp tục công việc tìm kiếm của mình.

Một chiếc cặp tài liệu nhỏ màu tím, có cắm sẵn chìa khóa ở ổ khóa, nằm trên bàn viết, đã thu hút sự chú ý của ông trong một lúc lâu. Ông rút chìa khóa ra khỏi ổ và đưa cho tôi xem xét. Tuy nhiên, tôi chẳng thấy có gì đặc biệt cả. Đó là một chiếc chìa khóa kiểu Yale thông thường, với một đoạn dây thép xoắn xuyên qua khoen cầm.

Tiếp theo, ông kiểm tra khung của cánh cửa mà chúng tôi đã phá vào, đảm bảo chắc chắn rằng chốt cửa đã thực sự được cài. Sau đó, ông đi đến cánh cửa đối diện dẫn vào phòng của Cynthia. Cánh cửa đó cũng đã được cài chốt, như tôi đã trình bày. Tuy nhiên, ông còn cẩn thận tháo chốt, mở và đóng nó lại mấy lần; ông làm việc này với sự cẩn trọng tối đa để không gây ra bất kỳ tiếng động nào. Đột nhiên, có cái gì đó ở chính cái chốt cửa đã thu hút hoàn toàn sự chú ý của ông. Ông kiểm tra nó một cách kỹ lưỡng, rồi nhanh nhẹn rút ra một cặp kẹp nhỏ từ trong hộp dụng cụ của mình, gắp lấy một hạt bụi nhỏ xíu rồi cẩn thận niêm phong nó vào trong một chiếc phong bì tí xíu.

Trên tủ đựng đồ có một cái khay đặt đèn cồn và một chiếc quánh nhỏ. Một ít chất lỏng màu sẫm vẫn còn đọng lại trong quánh, và một chiếc tách cùng đĩa lót đã uống dở nằm ở gần đó.

Tôi tự hỏi làm sao mình lại có thể vô tâm đến mức bỏ sót thứ này. Đây quả là một manh mối đáng giá. Poirot tinh tế nhúng ngón tay vào chất lỏng và nếm thử một cách thận trọng. Ông nhăn mặt lại.

“Ca cao—pha với—tôi nghĩ là—có cả rượu rum nữa.”

Ông chuyển sang đống đổ nát trên sàn nhà, nơi chiếc bàn cạnh giường ngủ đã bị lật ngửa. Một chiếc đèn đọc sách, vài cuốn sách, diêm, một chùm chìa khóa, và những mảnh vỡ nát của một tách cà phê vương vãi khắp nơi.

“À, thật là kỳ lạ,” Poirot nói.

“Tôi phải thú nhận rằng tôi chẳng thấy có gì đặc biệt kỳ lạ ở đây cả.”

“Anh không thấy sao? Hãy quan sát chiếc đèn đi—chao đèn đã bị gãy làm đôi, chúng nằm ngay ở đó như khi chúng rơi xuống. Nhưng hãy nhìn xem, tách cà phê đã vỡ vụn thành bột.”

“Chà,” tôi mệt mỏi nói, “tôi đoán chắc ai đó đã dẫm phải nó.”

“Chính xác,” Poirot cất giọng lạ lùng nói. “Ai đó đã dẫm lên nó.”

Ông đứng dậy khỏi đầu gối, chậm rãi bước qua lò sưởi, nơi ông đứng thẫn thờ nghịch mấy món đồ trang trí và nắn chỉnh lại chúng—đó là thói quen của ông mỗi khi bị kích động.

“Mon ami,” ông vừa nói vừa quay sang tôi, “ai đó đã dẫm lên chiếc tách đó, nghiền nát nó thành bột, và lý do họ làm như vậy hoặc là vì nó có chứa strychnine hoặc—điều này còn nghiêm trọng hơn nhiều—vì nó không hề chứa strychnine!”

Tôi không đáp lại. Tôi cảm thấy hoang mang khôn tả, nhưng tôi thừa biết việc nài nỉ ông giải thích lúc này cũng chẳng ích gì. Chỉ một lát sau, ông lấy lại tinh thần và tiếp tục cuộc điều tra. Ông nhặt chùm chìa khóa dưới sàn lên, xoay tròn chúng trong tay và cuối cùng chọn ra một chiếc rất sáng bóng, đem thử vào ổ khóa của chiếc cặp tài liệu màu tím. Nó vừa khít, và ông mở chiếc hộp ra, nhưng chỉ sau một thoáng do dự, ông lại đóng và khóa nó lại, rồi nhét chùm chìa khóa cũng như chiếc chìa khóa ban đầu cắm trong ổ vào túi áo của chính mình.

“Tôi không có thẩm quyền lục lọi những giấy tờ này. Nhưng việc đó phải được làm—ngay lập tức!”

Sau đó, ông tiến hành kiểm tra rất kỹ lưỡng các ngăn kéo của bàn rửa mặt. Đi băng qua căn phòng về phía cửa sổ bên trái, một vết ố tròn, hầu như không thể nhìn thấy trên tấm thảm màu nâu sẫm, dường như thu hút sự quan tâm đặc biệt của ông. Ông quỳ hẳn xuống đất, kiểm tra nó đến từng chi tiết—thậm chí còn rướn người lại gần để ngửi thử.

Cuối cùng, ông đổ vài giọt ca cao vào một ống nghiệm và cẩn thận niêm phong nó lại. Việc tiếp theo của ông là lấy ra một cuốn sổ tay nhỏ.

“Chúng ta đã tìm thấy trong căn phòng này,” ông vừa viết tấp nập vừa nói, “sáu điểm đáng chú ý. Tôi liệt kê ra nhé, hay anh làm việc đó?”

“Ồ, anh đi,” tôi vội vàng đáp.

“Rất sẵn lòng. Một, một chiếc tách cà phê đã bị nghiền nát thành bột; hai, một chiếc cặp tài liệu có chìa khóa cắm sẵn trong ổ; ba, một vết ố trên sàn nhà.”

“Vết đó có thể đã có từ trước đó rồi,” tôi ngắt lời.

“Không, vì nó vẫn còn ẩm một cách rõ rệt và có mùi ca cao. Bốn, một mảnh vải màu xanh sẫm—chỉ một hoặc hai sợi thôi, nhưng vẫn nhận dạng được.”

“A!” tôi kêu lên. “Đó là thứ mà anh đã niêm phong trong phong bì phải không.”

“Đúng vậy. Nó có thể hóa ra là một mảnh vải từ chiếc váy của chính bà Inglethorp, và hoàn toàn không quan trọng. Chúng ta hãy chờ xem. Năm, cái này!” Với một cử chỉ đầy kịch tính, ông chỉ vào một vệt mỡ nến lớn trên sàn nhà cạnh bàn viết. “Nó chắc chắn phải được làm ra từ ngày hôm qua, nếu không thì một người hầu phòng giỏi giang đã lập tức dùng giấy thấm và bàn ủi nóng để lau sạch nó rồi. Đã có lần một trong những chiếc mũ đẹp nhất của tôi—nhưng chuyện đó không liên quan đến đây.”

“Rất có thể nó được làm ra vào tối qua. Chúng ta đã rất hoảng loạn. Hoặc có lẽ chính bà Inglethorp đã làm rơi nến của bà ấy.”

“Anh chỉ mang có một cây nến vào phòng này thôi phải không?”

“Đúng vậy. Lawrence Cavendish là người cầm nó. Nhưng cậu ấy rất quẫn trí. Cậu ấy dường như nhìn thấy cái gì đó ở ngay góc này”—tôi chỉ về phía lò sưởi—“thứ khiến cậu ấy hoàn toàn chết lặng.”

“Điều đó thật thú vị,” Poirot nhanh chóng nói. “Đúng vậy, nó gợi mở nhiều điều”—ánh mắt ông quét dọc theo toàn bộ chiều dài bức tường—“nhưng không phải cây nến của cậu ta đã tạo ra vết bẩn lớn này, vì anh có thể nhận thấy đây là mỡ nến trắng; trong khi cây nến của Monsieur Lawrence, hiện vẫn đang nằm trên bàn trang điểm, lại có màu hồng. Mặt khác, bà Inglethorp không hề có chân nến nào trong phòng, mà chỉ có một chiếc đèn đọc sách.”

“Vậy thì,” tôi nói, “anh suy luận ra được điều gì?”

Đáp lại câu hỏi của tôi, bạn tôi chỉ đưa ra một câu trả lời có phần khó chịu, giục tôi hãy tự vận dụng năng lực tự nhiên của mình.

“Còn điểm thứ sáu thì sao?” tôi hỏi. “Tôi đoán đó chính là mẫu ca cao phải không.”

“Không,” Poirot trầm ngâm đáp. “Lẽ ra tôi có thể gộp nó vào sáu điểm đó, nhưng tôi đã không làm vậy. Không, điểm thứ sáu tôi sẽ giữ cho riêng mình vào lúc này.”

Ông đưa mắt nhìn quanh phòng một lượt thật nhanh. “Chẳng còn gì để làm ở đây nữa, tôi nghĩ vậy, trừ khi—” ông đăm đăm nhìn lâu vào đống tro tàn đã lạnh ngắt trong lò sưởi. “Ngọn lửa vẫn cháy—và nó thiêu rụi mọi thứ. Nhưng tình cờ—có thể sẽ có—để chúng ta xem nào!”

Một cách khéo léo, anh quỳ gối bắt đầu lọc đống tro từ lò sưởi ra chắn lò, xử lý chúng với sự cẩn trọng cao độ. Đột nhiên, ông thốt lên một tiếng kêu nhỏ.

“Cái kẹp, Hastings!”

Tôi vội vàng đưa nó cho ông, và bằng sự khéo léo của mình, ông gắp ra một mẩu giấy nhỏ cháy dở một nửa.

“Kia kìa, mon ami!” ông kêu lên. “Anh nghĩ sao về cái này?”

Tôi săm soi mảnh giấy. Đây là bản sao chính xác của nó:

Tôi cảm thấy bối rối. Nó dày bất thường, hoàn toàn không giống giấy viết thư thông thường. Đột nhiên một ý nghĩ lóe lên trong đầu tôi.

“Poirot!” tôi kêu lên. “Đây là một mảnh của bản di chúc!”

“Chính xác.”

Tôi sắc bén nhìn lên ông.

“Anh không ngạc nhiên sao?”

“Không,” ông nghiêm nghị đáp, “tôi đã đoán trước được điều đó.”

Tôi buông mảnh giấy ra, và nhìn ông cất nó vào cặp với sự cẩn thận có phương pháp như đối với mọi thứ khác. Bộ não tôi quay cuồng. Sự phức tạp của bản di chúc này là gì? Ai đã hủy hoại nó? Kẻ đã để lại vết mỡ nến trên sàn nhà ư? Hiển nhiên là thế rồi. Nhưng làm thế nào mà ai đó có thể lẻn vào được? Tất cả các cánh cửa đều đã được cài chốt từ bên trong.

“Bây giờ, bạn tôi ơi,” Poirot rổn rảng nói, “chúng ta đi thôi. Tôi muốn hỏi cô hầu phòng một vài câu—Dorcas, tên cô ấy là thế phải không nhỉ?”

Chúng tôi đi qua phòng của Alfred Inglethorp, và Poirot nán lại đủ lâu để thực hiện một cuộc kiểm tra ngắn gọn nhưng khá toàn diện về căn phòng đó. Chúng tôi bước ra ngoài bằng cánh cửa đó, khóa cả cửa đó lại lẫn cửa phòng của bà Inglethorp như trước.

Tôi dẫn ông xuống căn phòng khách nhỏ (boudoir) mà ông đã bày tỏ mong muốn được tận mắt chứng kiến, còn bản thân thì đi tìm Dorcas.

Tuy nhiên, khi tôi quay lại cùng cô ấy thì căn phòng khách lại trống không.

“Poirot,” tôi kêu lên, “anh ở đâu thế?”

“Tôi ở đây, bạn tôi ơi.”

Ông đã bước ra ngoài cửa sổ kiểu Pháp, và đang đứng đó, có vẻ như hoàn toàn đắm chìm trong sự ngưỡng mộ trước những luồng hoa đủ hình thù.

“Thật đáng ngưỡng mộ!” ông thì thầm. “Thật đáng ngưỡng mộ làm sao! Thật cân đối biết bao! Hãy quan sát hình bán nguyệt kia kìa; và những luống hoa hình kim cương đó—sự ngăn nắp của chúng làm nức lòng người ngắm. Khoảng cách giữa các cây cũng hoàn hảo tuyệt đối. Chúng mới được làm gần đây phải không?”

“Vâng, tôi tin là họ đã làm chúng vào chiều hôm qua đấy. Nhưng vào trong đi—Dorcas ở đây này.”

“Eh bien, eh bien! Đừng có tiếc rẻ của tôi một thoáng thỏa mãn thị giác chứ.”

“Vâng, nhưng vụ việc này còn quan trọng hơn nhiều.”

“Và làm sao anh biết rằng mấy bông hoa thu hải đường xinh đẹp này lại không quan trọng tương đương cơ chứ?”

Tôi nhún vai. Thật sự chẳng thể nào tranh cãi nổi với ông nếu ông đã chọn đi theo hướng đó.

“Anh không đồng ý à? Nhưng những chuyện như thế vẫn thường xảy ra mà. Thôi được, chúng ta sẽ vào trong và phỏng vấn cô Dorcas dũng cảm nào.”

Dorcas đang đứng trong phòng khách nhỏ, hai tay đan vào nhau trước ngực, mái tóc điểm bạc chải bồng lên thành những nếp cứng ngắc dưới chiếc mũ trùm đầu màu trắng. Cô chính là hình mẫu và bức tranh chuẩn mực của một người hầu trung thành kiểu cũ.

Trong thái độ đối với Poirot, cô có vẻ hoài nghi, nhưng ông đã sớm phá vỡ được sự phòng thủ đó. Ông kéo một chiếc ghế ra.

“Xin mời ngồi, mademoiselle.”

“Cảm ơn ông.”

“Cô đã làm việc với bà chủ của mình nhiều năm rồi phải không?”

“Mười năm rồi thưa ông.”

“Đó là một khoảng thời gian dài, và là sự phục vụ rất trung thành. Cô rất gắn bó với bà ấy phải không?”

“Bà ấy là một người chủ rất tốt với tôi, thưa ông.”

“Vậy thì cô sẽ không ngại trả lời vài câu hỏi chứ. Tôi đặt ra chúng với sự cho phép hoàn toàn của ông Cavendish.”

“Ồ, chắc chắn rồi thưa ông.”

“Vậy thì tôi sẽ bắt đầu bằng việc hỏi cô về các sự kiện chiều hôm qua. Bà chủ của cô đã có một trận cãi vã phải không?”

“Vâng, thưa ông. Nhưng tôi không biết liệu mình có nên……” Dorcas do dự.

Poirot sắc bén nhìn cô.

“Dorcas tốt bụng của tôi ạ, tôi cần phải biết mọi chi tiết của trận cãi vã đó một cách đầy đủ nhất có thể. Đừng nghĩ rằng cô đang phản bội bí mật của bà chủ mình. Bà chủ của cô đã qua đời rồi, và chúng ta cần phải biết tất cả—nếu chúng ta muốn rửa hận cho bà ấy. Không gì có thể đưa bà ấy sống lại được, nhưng chúng ta thực sự hy vọng, nếu có tội ác xảy ra, sẽ đưa kẻ sát nhân ra trước công lý.”

“Xin amen cho điều đó,” Dorcas phẫn nộ nói. “Và không tiện nêu tên ai, có một kẻ trong cái nhà này mà tất cả chúng tôi chẳng đời nào ưa nổi! Và đó là một ngày tồi tệ khi lần đầu tiên hắn đặt chân qua ngưỡng cửa này.”

Poirot chờ cho cơn phẫn nộ của cô dịu xuống, rồi tiếp tục với giọng điệu công việc của mình, ông hỏi:

“Bây giờ, về trận cãi vã này thì sao? Điều đầu tiên cô nghe được là gì?”

“Chà, thưa ông, hôm qua lúc tôi đang đi dọc theo hành lang bên ngoài……”

“Lúc đó là mấy giờ?”

“Tôi không dám chắc chính xác giờ đâu thưa ông, nhưng còn lâu mới đến giờ uống trà. Có lẽ khoảng bốn giờ—hoặc cũng có thể muộn hơn một chút. Chà, thưa ông, như tôi đã nói, lúc tôi đang đi ngang qua thì nghe thấy tiếng cãi vã to tiếng và tức giận phát ra từ trong này. Tôi không hề có ý định nghe lén đâu, nhưng—chà, sự việc là thế đấy. Tôi đã dừng lại. Cửa đóng kín, nhưng bà chủ nói rất sắc bén và rõ ràng, và tôi nghe thấy những gì bà ấy nói khá rõ. ‘Anh đã nói dối tôi, và lừa gạt tôi,’ bà ấy nói. Tôi không nghe thấy ông Inglethorp đáp lại gì cả. Ông ấy nói nhỏ hơn bà ấy khá nhiều—nhưng bà ấy đáp lại: ‘Sao anh dám chứ? Tôi đã nuôi dưỡng anh, mặc quần áo cho anh và cho anh ăn! Anh nợ tôi tất cả mọi thứ! Và đây là cách anh đền đáp tôi sao! Bằng cách mang lại sự nhục nhã cho tên tuổi của chúng ta!’ Một lần nữa tôi không nghe thấy ông ấy nói gì, nhưng bà ấy tiếp tục: ‘Anh có nói gì đi nữa cũng chẳng thay đổi được gì đâu. Tôi thấy rõ trách nhiệm của mình. Tôi đã quyết định rồi. Anh đừng tưởng rằng bất kỳ nỗi sợ hãi về tiếng tăm hay vụ bê bối giữa vợ chồng sẽ ngăn cản được tôi.’ Lúc đó tôi ngỡ như họ sắp bước ra ngoài, nên tôi vội vã bỏ đi.”

“Cô chắc chắn đó là giọng của ông Inglethorp chứ?”

“Ồ, vâng thưa ông, còn có thể là giọng của ai được nữa chứ?”

“Chà, chuyện gì xảy ra tiếp theo?”

“Lát sau, tôi quay lại sảnh; nhưng mọi thứ đã yên ắng. Đến năm giờ, bà Inglethorp rung chuông và bảo tôi mang cho bà ấy một tách trà—không có gì ăn kèm cả—vào phòng khách nhỏ. Trông bà ấy vô cùng khủng khiếp—quá nhợt nhạt và bấn loạn. ‘Dorcas,’ bà ấy nói, ‘ta vừa phải chịu một cú sốc lớn.’ ‘Tôi rất tiếc vì điều đó, thưa phu nhân,’ tôi nói. ‘Bà sẽ thấy khá hơn sau một tách trà nóng ngon lành đấy ạ.’ Bà ấy cầm thứ gì đó trên tay. Tôi không biết đó là một bức thư hay chỉ là một mẩu giấy, nhưng trên đó có chữ viết, và bà ấy cứ trân trân nhìn vào nó, hầu như không thể tin nổi những gì được viết ở đó. Bà ấy lẩm bẩm một mình, như thể quên mất là có tôi ở đó: ‘Chỉ vài từ này thôi—mà mọi thứ đã thay đổi.’ Và rồi bà ấy bảo tôi: ‘Đừng bao giờ tin tưởng đàn ông, Dorcas, chúng chẳng đáng tin đâu!’ Tôi vội vã đi pha cho bà ấy một tách trà thật đậm đà, và bà ấy đã cảm ơn tôi, nói rằng bà sẽ thấy khá hơn sau khi uống nó. ‘Ta không biết phải làm gì nữa,’ bà ấy nói. ‘Vụ bê bối giữa vợ chồng là một điều khủng khiếp, Dorcas ạ. Ta thà ém nhẹm nó đi nếu có thể.’ Lúc đó cô Cavendish bước vào, nên bà ấy không nói gì thêm nữa.”

“Bà ấy vẫn cầm bức thư, hay bất cứ thứ gì đó, trên tay chứ?”

“Vâng, thưa ông.”

“Sau đó thì có khả năng bà ấy sẽ làm gì với nó?”

“Chà, tôi không biết thưa ông, tôi đoán là bà ấy sẽ cất nó vào cái cặp màu tím đó của mình.”

“Đó có phải là nơi bà ấy thường cất giữ những giấy tờ quan trọng không?”

“Vâng, thưa ông. Bà ấy mang nó xuống cùng mỗi buổi sáng, và mang lên lầu mỗi tối.”

“Bà ấy làm mất chìa khóa của nó khi nào?”

“Bà ấy phát hiện mất nó vào giờ ăn trưa hôm qua, thưa ông, và bảo tôi tìm kỹ lại. Bà ấy rất bực bội về chuyện đó.”

“Nhưng bà ấy có chìa khóa dự phòng chứ?”

“Ồ, vâng thưa ông.”

Dorcas đang nhìn ông với vẻ vô cùng tò mò, và phải thú thật là tôi cũng vậy. Tất cả chuyện này về chiếc chìa khóa bị mất là thế nào? Poirot mỉm cười.

“Đừng bận tâm, Dorcas, việc của tôi là phải biết mọi thứ. Có phải đây là chiếc chìa khóa đã bị mất không?” Ông rút từ trong túi ra chiếc chìa khóa mà ông đã tìm thấy trong ổ khóa của chiếc cặp tài liệu trên lầu.

Đôi mắt của Dorcas như muốn lồi cả ra ngoài tròng.

“Đúng nó rồi thưa ông, chuẩn xác luôn. Nhưng ông tìm thấy nó ở đâu vậy? Tôi đã tìm khắp mọi nơi.”

“À, nhưng cô thấy đấy, hôm qua nó không nằm ở cùng một chỗ giống như ngày hôm nay đâu. Giờ thì chuyển sang một chủ đề khác, bà chủ của cô có chiếc váy màu xanh đậm nào trong tủ quần áo không?”

Dorcas có chút giật mình trước câu hỏi bất ngờ đó.

“Không có đâu thưa ông.”

“Cô chắc chắn chứ?”

“Ồ, vâng thưa ông.”

“Có ai khác trong nhà có chiếc váy màu xanh lá không?”

Dorcas ngẫm nghĩ.

“Cô Cynthia có một chiếc váy dạ hội màu xanh lá cây.”

“Xanh nhạt hay xanh đậm?”

“Một màu xanh nhạt thưa ông; một loại vải voan chiffon gì đó, người ta gọi thế ạ.”

“À, đó không phải là thứ tôi cần tìm. Và không ai khác có bất cứ thứ gì màu xanh sao?”

“Không thưa ông—tôi không biết là có.”

Khuôn mặt của Poirot không hề lộ ra một chút dấu hiệu nào cho thấy ông thất vọng hay vui mừng. Ông chỉ bình phẩm:

“Tốt lắm, chúng ta sẽ gác chuyện đó lại và tiếp tục. Cô có lý do nào để tin rằng bà chủ của mình có khả năng dùng thuốc bột ngủ vào tối qua không?”

“Tối qua thì không đâu thưa ông, tôi biết là bà ấy không dùng.”

“Sao cô lại biết chắc chắn như vậy?”

“Bởi vì chiếc hộp đã trống không. Bà ấy đã uống liều cuối cùng vào hai ngày trước, và bà ấy không lấy thêm thuốc nữa.”

“Cô chắc chắn về điều đó chứ?”

“Chắc chắn thưa ông.”

“Thế thì đã rõ ràng! Nhân tiện đây, bà chủ của cô không nhờ cô ký vào bất kỳ giấy tờ nào ngày hôm qua chứ?”

“Ký giấy á? Không đâu thưa ông.”

“Khi ông Hastings và ông Lawrence bước vào tối qua, họ thấy bà chủ của cô đang bận viết thư. Tôi đoán là cô không thể cho tôi biết những bức thư đó được gửi cho ai chứ?”

“E rằng tôi không biết thưa ông. Tôi đã ra ngoài vào buổi tối. Có lẽ Annie có thể nói cho ông biết, mặc dù con bé đó là đứa bất cẩn. Tối qua nó chẳng thèm dọn mấy tách cà phê đi. Chuyện đó vẫn thường xảy ra khi tôi không có nhà để quản lý mọi việc đấy ạ.”

Poirot giơ tay lên ngăn lại.

“Vì chúng chưa được dọn đi, Dorcas, xin hãy cứ để chúng ở đó thêm một lát nữa nhé. Tôi muốn kiểm tra chúng.”

“Vâng, thưa ông.”

“Tối qua cô ra ngoài lúc mấy giờ?”

“Khoảng sáu giờ, thưa ông.”

“Cảm ơn cô, Dorcas, tôi chỉ hỏi bấy nhiêu thôi.” Ông đứng dậy và thong thả đi về phía cửa sổ. “Tôi đang ngắm những luống hoa này đấy. Nhân tiện, ở đây có bao nhiêu người làm vườn?”

“Bây giờ chỉ có ba người thôi thưa ông. Trước chiến tranh chúng tôi có tới năm người, khi dinh cơ này được duy trì đúng chuẩn mực của một gia đình quý tộc. Ước gì ông được nhìn thấy nó vào lúc đó thưa ông. Trông đẹp tuyệt vời. Nhưng bây giờ thì chỉ còn có lão Manning, cậu William trẻ tuổi, và một mụ phụ nữ làm vườn theo mốt mới mặc quần dài các thứ. Chà, đúng là những thời buổi tồi tệ!”

“Thời gian tốt đẹp rồi sẽ quay lại thôi, Dorcas. Ít nhất thì chúng ta cũng hy vọng như vậy. Nào, cô có thể bảo Annie đến gặp tôi ở đây được chứ?”

“Vâng, thưa ông. Cảm ơn ông.”

“Sao anh biết bà Inglethorp dùng thuốc bột ngủ vậy?” tôi hỏi với sự tò mò sống động ngay khi Dorcas vừa bước ra khỏi phòng. “Và cả chuyện chiếc chìa khóa bị mất với chiếc chìa khóa dự phòng nữa?”

“Từng việc một thôi. Còn về thuốc bột ngủ, tôi biết được nhờ cái này.” Ông đột nhiên rút ra một chiếc hộp các tông nhỏ, loại mà các dược sĩ thường dùng đựng thuốc bột.

“Anh tìm thấy nó ở đâu thế?”

“Trong ngăn kéo bàn rửa mặt ở phòng ngủ của bà Inglethorp. Nó chính là Điểm Số Sáu trong danh mục của tôi.”

“Nhưng tôi cho rằng, vì liều thuốc bột cuối cùng đã được uống từ hai ngày trước, thì nó cũng không quan trọng lắm đâu nhỉ?”

“Có lẽ vậy, nhưng anh có nhận thấy điều gì khiến anh thấy lạ ở chiếc hộp này không?”

Tôi săm soi nó một cách kỹ lưỡng.

“Không, tôi không thấy có gì cả.”

“Hãy nhìn vào cái nhãn xem.”

Tôi đọc kỹ chiếc nhãn: “‘Dùng một gói trước khi đi ngủ, khi cần thiết. Bà Inglethorp.’ Không, tôi chẳng thấy có gì bất thường cả.”

“Không có chuyện không hề có tên hiệu của tiệm thuốc nào sao?”

“À!” tôi thốt lên. “Đúng là, điều đó thật kỳ lạ!”

“Anh đã từng thấy dược sĩ nào phát hành một chiếc hộp thế này mà không in tên của họ lên đó chưa?”

“Không, tôi chưa từng thấy.”

Tôi bắt đầu cảm thấy vô cùng hào hứng, nhưng Poirot đã dập tắt sự hăng hái của tôi bằng cách nhận xét:

“Thế nhưng lời giải thích lại rất đơn giản. Cho nên đừng có tự làm mình tò mò nữa, bạn tôi ơi.”

Tiếng kẽo kẹt có thể nghe rõ báo hiệu sự xuất hiện của Annie, thế nên tôi không có thời gian để đáp lời.

Annie là một cô gái cao lớn, vạm vỡ, và rõ ràng đang chịu đựng một sự kích động dữ dội, pha lẫn với một chút sự thích thú rùng rợn đối với thảm kịch vừa xảy ra.

Poirot đi thẳng vào vấn đề với sự nhanh nhẹn chuẩn mực của công việc.

“Tôi gọi cô tới đây, Annie, vì tôi nghĩ cô có thể kể cho tôi nghe vài điều về những bức thư mà bà Inglethorp đã viết tối qua. Có bao nhiêu bức thư tất cả? Và cô có thể cho tôi biết tên tuổi hay địa chỉ nào không?”

Annie trầm ngâm suy nghĩ.

“Có bốn bức thư thưa ông. Một bức gửi cô Howard, một bức gửi ông luật sư Wells, và hai bức còn lại thì cháu không nhớ rõ lắm thưa ông—à đúng rồi, một bức gửi cửa hàng cung cấp thực phẩm Ross’s ở Tadminster. Bức còn lại thì cháu không nhớ.”

“Hãy nghĩ lại đi,” Poirot giục giã.

Annie vắt óc suy nghĩ trong vô vọng.

“Cháu xin lỗi thưa ông, nhưng nó trôi sạch khỏi đầu cháu rồi. Cháu nghĩ chắc là mình đã không để ý đến nó.”

“Không sao đâu,” Poirot nói, không hề lộ ra một chút dấu hiệu thất vọng nào. “Bây giờ tôi muốn hỏi cô về chuyện khác. Có một cái quánh trong phòng của bà Inglethorp đựng một ít ca cao. Có phải đêm nào bà ấy cũng uống món đó không?”

“Vâng thưa ông, nó được mang vào phòng bà ấy mỗi tối, và bà ấy hâm nóng lại vào ban đêm—bất cứ khi nào bà ấy thèm.”

“Đó là món gì vậy? Ca cao nguyên chất à?”

“Vâng thưa ông, được pha với sữa, cho thêm một thìa cà phê đường và hai thìa cà phê rượu rum vào đó.”

“Ai là người mang nó vào phòng cho bà ấy?”

“Cháu ạ, thưa ông.”

“Lúc nào cũng vậy sao?”

“Vâng thưa ông.”

“Vào lúc mấy giờ?”

“Khi cháu đi kéo rèm cửa, thường là vậy thưa ông.”

“Thế cô có mang thẳng nó từ dưới bếp lên luôn không?”

“Không thưa ông, ông biết đấy trên bếp ga không có nhiều chỗ lắm, nên bác đầu bếp thường pha nó từ sớm, trước khi bắc rau cho bữa tối lên luộc. Sau đó cháu mang lên, đặt nó lên cái bàn cạnh cửa lắc, rồi lát sau mới mang vào phòng bà ấy.”

“Cửa lắc nằm ở cánh bên trái phải không?”

“Vâng thưa ông.”

“Và cái bàn đó, nó nằm ở phía này của cánh cửa, hay ở phía bên kia—phía của người hầu?”

“Nó ở phía bên này thưa ông.”

“Tối qua cô mang nó lên lúc mấy giờ?”

“Khoảng bảy giờ rà kém mười lăm thì phải, thưa ông.”

“Và khi nào thì cô mang nó vào phòng của bà Inglethorp?”

“Lúc cháu đi đóng cửa nhà cửa tối thưa ông. Khoảng tám giờ. Bà Inglethorp đi lên phòng ngủ trước khi cháu làm xong việc.”

“Vậy là, khoảng từ bảy giờ rưỡi kém mười lăm đến tám giờ, bình ca cao đã đứng trên chiếc bàn ở cánh bên trái phải không?”

“Vâng thưa ông.” Mặt Annie ngày càng đỏ lựng lên, và giờ thì cô thốt ra một cách bất ngờ:.

“Và nếu có muối trong đó thưa ông, thì không phải do cháu đâu nhé. Cháu chưa bao giờ bén mảng đến chỗ có muối cả.”

“Điều gì khiến cô nghĩ rằng trong đó có muối vậy?” Poirot hỏi.

“Cháu nhìn thấy nó trên khay thưa ông.”

“Cô nhìn thấy một ít muối trên khay ư?”

“Vâng. Trông nó giống như muối hột dùng trong nhà bếp ấy. Lúc mang khay lên cháu không để ý, nhưng khi mang vào phòng bà chủ thì cháu nhìn thấy ngay lập tức, và lẽ ra cháu nên mang xuống dưới và bảo đầu bếp pha lại mẻ khác. Nhưng cháu đang vội vì cô Dorcas đi vắng, và cháu nghĩ có lẽ bản thân cốc ca cao vẫn ổn, còn muối chỉ rơi vãi trên khay thôi. Thế là cháu lấy tạp dề phủi nó đi rồi mang vào luôn.”

Tôi phải vô cùng khó khăn mới kìm chế được sự phấn khích của mình. Không một chút hay biết, Annie đã cung cấp cho chúng ta một manh mối vô cùng quan trọng. Con bé sẽ há hốc miệng kinh ngạc biết bao nếu nó nhận ra rằng “muối hột nhà bếp” của nó thực chất là strychnine, một trong những chất độc chết người nhất mà nhân loại từng biết đến. Tôi kinh ngạc trước sự điềm tĩnh của Poirot. Sự tự chủ của ông thật đáng kinh ngạc. Tôi hồi hộp chờ đợi câu hỏi tiếp theo của ông, nhưng nó lại khiến tôi thất vọng.

“Khi cô bước vào phòng của bà Inglethorp, cánh cửa dẫn sang phòng của cô Cynthia có được cài chốt không?”

“Ồ! Có chứ thưa ông; lúc nào nó chả thế. Nó chưa từng được mở ra mà.”

“Còn cánh cửa dẫn vào phòng ông Inglethorp thì sao? Cô có để ý thấy nó có được cài chốt không?”

Annie do dự.

“Cháu không dám chắc nữa thưa ông; cửa đóng nhưng cháu không biết là có chốt hay không.”

“Khi cô cuối cùng rời khỏi phòng, bà Inglethorp có cài chốt cửa lại sau lưng cô không?”

“Không thưa ông, lúc đó thì không, nhưng cháu đoán là sau đó bà ấy có làm. Thường thì ban đêm bà ấy vẫn khóa cửa lại. Ý cháu là cánh cửa dẫn ra hành lang ấy.”

“Cô có để ý thấy vệt mỡ nến nào trên sàn nhà khi cô dọn dẹp phòng ngày hôm qua không?”

“Mỡ nến á? Ồ, không đâu thưa ông. Bà Inglethorp không dùng nến, bà ấy chỉ dùng đèn đọc sách thôi.”

“Vậy thì, nếu có một vệt mỡ nến lớn trên sàn nhà, cô nghĩ chắc chắn mình phải nhìn thấy nó chứ?”

“Vâng thưa ông, và cháu đã dùng một mảnh giấy thấm và bàn là nóng để làm sạch nó rồi.”

Rồi Poirot lặp lại câu hỏi mà ông đã đặt ra cho Dorcas:

“Bà chủ của cô đã từng có chiếc váy màu xanh lá nào chưa?”

“Không có đâu thưa ông.”

“Cả khăn choàng, áo khoác ngắn, hay một dạng—người ta gọi là gì nhỉ?—áo khoác thể thao nào không?”

“Không có màu xanh đâu thưa ông.”

“Hay bất kỳ ai khác trong nhà?”

Annie ngẫm nghĩ.

“Không có thưa ông.”

“Cô chắc chứ?”

“Chắc chắn ạ.”

“Bien! Đó là tất cả những gì tôi muốn biết. Cảm ơn cô rất nhiều.”

Với một tiếng cười khúc khích đầy căng thẳng, Annie cọt kẹt bước ra khỏi phòng. Sự phấn khích bị nén lại bấy lâu nay của tôi bùng nổ.

“Poirot,” tôi kêu lên, “tôi chúc mừng anh! Đây là một phát hiện lớn.”

“Cái gì là phát hiện lớn cơ chứ?”

“Thì là ca cao chứ không phải cà phê đã bị bỏ độc. Điều đó giải thích mọi thứ! Tất nhiên là nó chưa phát huy tác dụng cho đến tận rạng sáng, vì ca cao chỉ được uống vào giữa đêm mà.”

“Vậy anh nghĩ rằng cốc ca cao—hãy ghi nhớ kỹ những gì tôi nói, Hastings, cốc ca cao—có chứa strychnine ư?”

“Tất nhiên rồi! Số muối trên khay đó, thì còn có thể là gì khác được nữa chứ?”

“Rất có thể đó là muối thật đấy chứ,” Poirot thản nhiên đáp.

Tôi nhún vai. Nếu ông ấy cứ khăng khăng theo cái cách đó, thì tranh cãi với ông ấy cũng chẳng ích gì. Ý nghĩ đó thoáng qua trong đầu tôi, không phải là lần đầu tiên, rằng tội nghiệp thám tử già Poirot đang dần già đi rồi. Riêng tôi nghĩ thật may mắn vì ông đã kết hợp với một người có tư duy cởi mở hơn.

Poirot đang quan sát tôi với đôi mắt lấp lánh nụ cười điềm tĩnh.

“Anh không hài lòng với tôi sao, mon ami?”

“Bày tỏ thân mến của tôi,” tôi lạnh lùng nói, “tôi không phải là người ra lệnh cho anh. Anh có quyền giữ ý kiến của riêng mình, cũng giống như tôi có quyền giữ ý kiến của tôi vậy.”

“Một quan điểm thật đáng ngưỡng mộ,” Poirot nhận xét, rồi nhanh nhẹn đứng phắt dậy. “Bây giờ tôi đã xong việc với căn phòng này rồi. Nhân tiện, chiếc bàn làm việc nhỏ ở góc phòng là của ai thế?”

“Của ông Inglethorp.”

“À!” Ông dùng thử nắp cuộn của chiếc bàn. “Bị khóa rồi. Nhưng có lẽ một trong những chiếc chìa khóa của bà Inglethorp có thể mở được nó.” Ông thử vài chiếc, vặn vẹo chúng bằng một bàn tay quen thuộc, và cuối cùng thốt lên một tiếng mãn nguyện. “Voilà! Không phải chìa khóa gốc đâu, nhưng nó vẫn mở được trong tình thế cấp bách đấy.” Ông kéo lướt nắp cuộn lên, và đảo mắt nhanh qua những xấp giấy tờ được kẹp ngăn nắp. Đáng ngạc nhiên là ông không kiểm tra chúng, mà chỉ lẩm bẩm khen ngợi khi khóa bàn lại: “Quả quyết là một người có phương pháp, gã Inglethorp này đấy!”

Một “người có phương pháp”, theo sự đánh giá của Poirot, là lời khen ngợi cao quý nhất có thể dành cho bất kỳ cá nhân nào.

Tôi cảm thấy người bạn của mình không còn phong độ như trước nữa khi ông cứ lải nhải không đầu không đuôi:

“Không có con tem nào trong bàn làm việc của hắn cả, nhưng nhỡ đâu lại có thì sao, phải không mon ami? Nhỡ đâu lại có thì sao? Phải”—đôi mắt ông đảo quanh căn phòng—“căn phòng khách nhỏ này không còn gì để nói với chúng ta nữa rồi. Nó chẳng thu được gì nhiều. Chỉ có cái này thôi.”

Ông rút một chiếc phong bì nhàu nát từ trong túi ra, và ném nó về phía tôi. Đó quả là một tài liệu khá kỳ lạ. Một chiếc phong bì cũ kỹ trông đơn giản và bẩn thỉu với vài chữ nguệch ngoạc ngang qua, có vẻ như được viết một cách ngẫu nhiên. Dưới đây là bản sao chính xác của nó:

Nguồn: Việt Nam Thư Quán dịch từ Project Gutenberg
Được bạn: Mọt Sách đưa lên
vào ngày: 19 tháng 10 năm 2026

« Lùi Tiến »

💬 Thảo luận

Chưa có bình luận nào — hãy là người đầu tiên chia sẻ cảm nhận của bạn!

Đăng nhập để tham gia bình luận.