Vụ án bí ẩn ở Styles

Lượt đọc: 156 | 0 Đánh giá: 0/10 Sao
★★★★★★★★★★
★★★★★★★★★★
« Lùi Tiến »
Chương 13
Poirot giải thích

❊ ❊ ❊

– Poirot, đồ cáo già ạ, – tôi nói, – tôi chỉ muốn bóp cổ anh cho rồi! Anh có ý gì khi đánh lừa tôi như vậy chứ?

Chúng tôi đang ngồi trong thư viện. Vài ngày căng thẳng vừa mới trôi qua ở đằng sau. Ở căn phòng phía dưới, John và Mary đã đoàn tụ bên nhau một lần nữa, trong khi Alfred Inglethorp và cô Howard đang bị tạm giam. Giờ đây, cuối cùng tôi cũng có được Poirot cho riêng mình, và có thể thỏa sự tò mò vẫn đang sôi sục trong lòng.

Poirot không đáp lại tôi ngay lập tức, nhưng cuối cùng ông nói:

– Tôi đâu có lừa anh, mon ami. Nhiều lắm là tôi chỉ để mặc anh tự lừa chính mình mà thôi.

– Ừ, nhưng tại sao chứ?

– Chà, thật khó mà giải thích. Anh thấy đấy, bạn tôi ơi, anh có một bản tính quá đỗi thành thực, và một gương mặt thì lại quá ư minh bạch, đến nỗi... enfin, che giấu cảm xúc của mình là điều bất khả thi! Nếu tôi nói cho anh biết những ý định của mình, ngay từ lần đầu tiên anh nhìn thấy ông Alfred Inglethorp, vị quý ông sắc sảo đó sẽ – theo cái thành ngữ rất đổi biểu cảm của các anh – “ đánh hơi thấy mùi”! Và khi ấy, bonjour với những cơ hội tóm cổ hắn của chúng ta nhé!

– Tôi nghĩ mình có nhiều sự ngoại giao hơn mức anh đánh giá đấy.

– Bạn tôi ơi, – Poirot khẩn khoản, – tôi cầu xin anh, đừng nổi giận! Sự giúp đỡ của anh vô cùng quý giá. Chỉ vì bản tính quá ư tốt đẹp của anh mới khiến tôi phải chần chừ thôi.

– Thôi được, – tôi lầm bầm, lòng dạ cũng dịu đi đôi chút. – Tôi vẫn nghĩ lẽ ra anh nên cho tôi một chút gợi ý chứ.

– Nhưng tôi có mà, bạn tôi. Vài gợi ý liền. Anh đã không chịu nắm bắt chúng đấy chứ. Thử nghĩ xem, có bao giờ tôi nói với anh rằng tôi tin John Cavendish có tội không? Nào phải chăng trái lại, tôi đã nói với anh rằng hầu như chắc chắn hắn sẽ được tha bổng hay sao?

– Ừ, nhưng mà...——

– Và ngay sau đó, chẳng phải tôi đã nói về những khó khăn trong việc đưa kẻ sát nhân ra trước công lý hay sao? Chẳng lẽ anh không thấy rõ là tôi đang nhắc đến hai con người hoàn toàn khác nhau hay sao?

– Không, – tôi đáp, – tôi chẳng thấy rõ điều gì cả!

– Thế thì, – Poirot tiếp lời, – ngay từ lúc đầu, chẳng phải tôi đã lặp lại với anh mấy lần rằng tôi chưa muốn ông Inglethorp bị bắt vào lúc đó hay sao? Điều đó đáng lẽ phải ngầm báo cho anh biết điều gì chứ.

– Ý anh muốn nói là anh đã nghi ngờ hắn từ lâu thế rồi ư?

– Vâng. Trước hết, bất kỳ ai khác có thể hưởng lợi từ cái chết của bà Inglethorp, thì chồng bà vẫn là người hưởng lợi nhiều nhất. Không thể chối cãi được điều đó. Khi tôi cùng anh đến Styles vào ngày đầu tiên ấy, tôi chẳng hề có chút manh mối nào về cách thức tội ác đã được thực hiện, nhưng từ những gì tôi biết về ông Inglethorp, tôi linh cảm rằng sẽ rất khó để tìm ra bất cứ thứ gì liên kết hắn với vụ án. Khi đến trang viên, tôi nhận ra ngay lập tức rằng chính bà Inglethorp đã đốt di chúc; và nhân tiện đây, anh không thể trách tôi được đâu, bạn tôi ơi, vì tôi đã cố hết sức để ép anh nhận ra tầm quan trọng của ngọn lửa trong phòng ngủ vào giữa mùa hè ấy.

– Ừ, ừ, – tôi nói vẻ sốt ruột. – Nói tiếp đi.

– Vâng, bạn tôi ơi, như tôi đã nói, những quan điểm của tôi về tội lỗi của ông Inglethorp đã lung lay dữ dội. Thực tế là có quá nhiều bằng chứng chống lại hắn đến mức tôi đâm ra nghiêng về ý nghĩ rằng hắn không phải là kẻ ra tay.

– Khi nào thì anh thay đổi ý kiến?

– Khi tôi nhận ra rằng tôi càng cố gắng minh oan cho hắn bao nhiêu, thì hắn lại càng nỗ lực bấy nhiêu để khiến mình bị bắt. Sau đó, khi tôi phát hiện ra ông Inglethorp chẳng dính líu gì đến cô Raikes và thực chất chính John Cavendish mới là kẻ có tình ý ở hướng đó, thì tôi đã hoàn toàn chắc chắn.

– Nhưng tại sao?

– Đơn giản thế này thôi. Nếu chính Inglethorp mới là kẻ đang tằng tịu với cô Raikes, thì sự im lặng của hắn hoàn toàn có thể hiểu được. Thế nhưng, khi tôi phát hiện ra cả ngôi làng đều biết rằng chính John mới là kẻ bị thu hút bởi người vợ xinh đẹp của người tá viên, thì sự im lặng của hắn lại mang một ý nghĩa hoàn toàn khác. Thật vô lý khi giả vờ rằng hắn sợ tai tiếng, bởi vì chẳng có tai tiếng nào có thể dính líu vào người hắn cả. Thái độ này của hắn khiến tôi phải suy nghĩ nát óc, và tôi dần bị đẩy đến kết luận rằng Alfred Inglethorp đang muốn bị bắt. Eh bien! Kể từ khoảnh khắc đó, tôi cũng hạ quyết tâm rằng hắn không được phép bị bắt.

– Đợi một phút đã. Tôi không hiểu tại sao hắn lại muốn bị bắt chứ?

– Bởi vì, mon ami, luật pháp đất nước các anh quy định rằng một khi đã được tha bổng thì một người không bao giờ có thể bị xét xử lần thứ hai vì cùng một tội danh nữa. Aha! Ý tưởng của hắn mới tinh vi làm sao! Chắc chắn rồi, hắn là một kẻ có phương pháp. Nhìn xem, hắn thừa biết rằng ở vị trí của mình thì thể nào hắn cũng bị nghi ngờ, thế nên hắn đã nảy ra ý tưởng cực kỳ xảo quyệt là chuẩn bị sẵn một loạt bằng chứng giả mạo chống lại chính mình. Hắn muốn bị bắt. Sau đó hắn sẽ đưa ra bằng ngoại phạm hoàn hảo của mình – và chà, presto, hắn được an toàn suốt đời!

– Nhưng tôi vẫn không hiểu làm thế nào mà hắn xoay sở để chứng minh bằng ngoại phạm, mà vẫn đến hiệu thuốc được chứ?

Poirot trân trân nhìn tôi đầy ngạc nhiên.

– Có thể thế được sao? Người bạn tội nghiệp của tôi ơi! Anh vẫn chưa nhận ra rằng chính cô Howard mới là người đã đến hiệu thuốc hay sao?

– Cô Howard á?

– Nhưng chắc chắn là thế rồi. Còn ai vào đây nữa? Điều đó quá dễ dàng đối với cô ấy. Cô ấy có chiều cao tốt, giọng nói trầm và nam tính; hơn nữa, hãy nhớ rằng, cô ấy và Inglethorp là họ hàng, và giữa họ có sự giống nhau rõ rệt, đặc biệt là ở dáng đi và phong thái. Mọi chuyện đơn giản như đan rổ. Họ là một cặp đôi ranh ma!

– Tôi vẫn còn hơi mơ hồ về việc chính xác thì vụ brom được thực hiện như thế nào, – tôi nhận xét.

– Bon! Tôi sẽ tái dựng lại cho anh trong khả năng có thể. Tôi nghiêng về ý nghĩ rằng cô Howard chính là bộ óc chủ mưu trong vụ việc đó. Anh còn nhớ có lần cô ấy nhắc đến việc cha mình là bác sĩ chứ? Rất có thể cô ấy từng pha chế thuốc cho ông cụ, hoặc cô ấy đã chớp lấy ý tưởng từ một trong số rất nhiều cuốn sách nằm vung vãi khi tiểu thư Cynthia đang ôn thi. Dù thế nào đi nữa, cô ấy cũng quen thuộc với thực tế rằng việc cho thêm brom vào một hỗn hợp chứa strychnine sẽ gây ra hiện tượng kết tủa chất sau. Có lẽ ý tưởng ấy đến với cô ấy một cách khá bất ngờ. Bà Inglethorp có một hộp bột brom, thỉnh thoảng bà vẫn uống vào ban đêm. Còn gì dễ dàng hơn việc lén lút hòa tan một hoặc nhiều gói bột đó vào chai thuốc cỡ lớn của bà Inglethorp khi nó được mang từ hiệu thuốc của Coot về? Rủi ro thực tế bằng không. Thảm kịch sẽ không diễn ra cho đến gần hai tuần sau đó. Nếu có ai nhìn thấy một trong hai người họ chạm vào chai thuốc, thì họ cũng đã quên bén đi mất vào thời điểm đó rồi. Cô Howard sẽ dàn dựng một trận cãi vã, rồi rời khỏi nhà. Sự trôi qua của thời gian, cùng sự vắng mặt của cô ấy, sẽ đánh gục mọi sự nghi ngờ. Vâng, đó là một ý tưởng thông minh! Nếu họ cứ để mặc nó thì biết đâu tội ác đã không bao giờ bị phanh phui. Nhưng họ không thỏa mãn. Họ cố tỏ ra quá thông minh – và đó chính là sự tiêu đời của họ.

Poirot rít một hơi từ điếu thuốc nhỏ xíu của mình, đôi mắt dán chặt lên trần nhà.

– Họ đã sắp đặt một kế hoạch để đổ tội cho John Cavendish, bằng cách mua strychnine ở hiệu thuốc trong làng, và ký tên vào sổ đăng ký bằng chữ viết tay của anh ta.

Vào ngày Thứ Hai, bà Inglethorp sẽ uống liều thuốc cuối cùng của mình. Do đó, vào ngày Thứ Hai, lúc sáu giờ, Alfred Inglethorp sắp xếp để được nhìn thấy bởi một số người ở một địa điểm cách xa ngôi làng. Cô Howard trước đó đã bịa ra một câu chuyện nhảm nhí về anh ta và cô Raikes để biện minh cho việc tại sao sau đó hắn phải ngậm miệng lại. Vào lúc sáu giờ, cô Howard, cải trang thành Alfred Inglethorp, bước vào hiệu thuốc, với câu chuyện về một con chó, lấy số strychnine, và viết tên của Alfred Inglethorp bằng nét chữ của John mà cô ta đã nghiên cứu kỹ lưỡng trước đó.

Nhưng, sẽ là hỏng bét nếu cả John cũng có thể chứng minh được bằng ngoại phạm, thế nên cô ta viết cho anh ta một bức thư nặc danh – vẫn sao chép chữ viết của John – dẫn dụ anh ta đến một nơi hẻo lánh nơi cực kỳ khó có ai nhìn thấy anh ta.

Cho đến nay, mọi chuyện vẫn suôn sẻ. Cô Howard trở lại Middlingham. Alfred Inglethorp quay về Styles. Chẳng có gì có thể làm tổn hại đến hắn theo bất kỳ cách nào, vì chính cô Howard mới là người giữ strychnine, mà rốt cuộc, thứ đó chỉ nhằm làm vỏ bọc để hướng sự nghi ngờ về phía John Cavendish.

Nhưng rồi một trở ngại xảy ra. Bà Inglethorp không uống thuốc vào đêm hôm đó. Cái chuông bị hỏng, sự vắng mặt của Cynthia – do Inglethorp sắp đặt thông qua vợ mình – tất cả những điều đó đều đổ sông đổ biển. Và rồi – hắn đã sơ hở.

Bà Inglethorp đi vắng, và hắn ngồi xuống viết thư cho đồng phạm, kẻ mà hắn lo sợ có thể đang hoảng loạn vì kế hoạch không thành công. Có khả năng bà Inglethorp đã về sớm hơn hắn tưởng. Bị bắt quả tang và có phần bối rối, hắn vội vã đóng và khóa bàn giấy lại. Hắn sợ rằng nếu mình cứ ở lại trong phòng thì có thể sẽ phải mở nó ra lần nữa, và bà Inglethorp có thể bắt gặp bức thư trước khi hắn kịp vớ lấy nó. Thế nên hắn bước ra ngoài và đi dạo trong rừng, chẳng mảy may mơ rằng bà Inglethorp sẽ mở bàn giấy của hắn ra và phát hiện ra tài liệu bất lợi ấy.

Nhưng điều này, như chúng ta đã biết, là những gì đã xảy ra. Bà Inglethorp đọc nó, và nhận ra sự bội bạc của chồng mình cùng Evelyn Howard, mặc dù, thật không may, câu văn về chất brom chẳng mang lại chút cảnh báo nào cho tâm trí bà. Bà biết mình đang gặp nguy hiểm – nhưng lại mù tịt về việc hiểm họa nằm ở đâu. Bà quyết định không nói gì với chồng, mà ngồi xuống viết thư cho luật sư của mình, yêu cầu ông ấy đến vào ngày hôm sau, và bà cũng quả quyết sẽ tiêu hủy ngay lập tức bản di chúc mà bà vừa mới lập. Bà giữ lại bức thư chết chóc ấy.

– Vậy chính vì để tìm bức thư đó mà chồng bà đã cạy ổ khóa của chiếc cặp tài liệu phải không?

– Vâng, và từ rủi ro cực lớn mà hắn phải gánh chịu, chúng ta có thể thấy hắn đã nhận thức rõ đến mức nào về tầm quan trọng của nó. Ngoại trừ bức thư đó, hoàn toàn chẳng có gì khác liên kết hắn với tội ác cả.

– Chỉ có một điều tôi không tài nào hiểu nổi, tại sao hắn không tiêu hủy nó ngay lập tức khi đã cầm được nó trong tay?

– Bởi vì hắn không dám mạo hiểm rủi ro lớn nhất trong tất cả – đó là giữ nó trên người mình.

– Tôi không hiểu.

– Hãy nhìn nhận từ quan điểm của hắn. Tôi đã phát hiện ra rằng chỉ có đúng năm phút ngắn ngủi để hắn có thể lấy nó – năm phút ngay trước khi chúng ta đến hiện trường, vì trước khoảng thời gian đó Annie đang quét dọn cầu thang và thể nào cũng nhìn thấy bất kỳ ai qua lại đi về phía cánh nhà bên phải. Hãy tưởng tượng khung cảnh ấy xem! Hắn bước vào phòng, mở khóa cửa bằng một trong những chiếc chìa khóa cửa khác – tất cả chúng đều rất giống nhau. Hắn vội vã lao đến chiếc cặp tài liệu – nó bị khóa, và chìa khóa thì chẳng thấy đâu. Đó là một đòn giáng chí mạng đối với hắn, bởi vì điều đó có nghĩa là sự hiện diện của hắn trong phòng không thể bị che giấu như hắn đã hy vọng. Nhưng hắn thấy rõ rằng mọi thứ phải được đánh đổi vì lợi ích của mảnh bằng chứng chết người đó. Rất nhanh, hắn cạy ổ khóa bằng một con dao dọc giấy, và lật qua các tờ giấy cho đến khi tìm thấy thứ mình đang kiếm.

Nhưng giờ đây một tình thế tiến thoái lưỡng nan mới lại phát sinh: hắn không dám giữ mảnh giấy đó trên người. Hắn có thể bị bắt gặp khi rời khỏi phòng – hắn có thể bị khám xét. Nếu mảnh giấy bị tìm thấy trên người hắn, thì đó là án tử chắc chắn. Có lẽ, vào phút này đây, hắn cũng nghe thấy những âm thanh ở phía dưới của ông Wells và John đang rời khỏi phòng khách nhỏ. Hắn phải hành động nhanh chóng. Hắn có thể giấu mảnh giấy chết tiệt này ở đâu? Nội dung trong giọt sọt đựng giấy vụn đều được giữ lại và dù thế nào đi nữa, chắc chắn sẽ bị kiểm tra. Chẳng có cách nào để tiêu hủy nó cả; và hắn thì không dám giữ nó lại. Hắn đảo mắt nhìn quanh, và hắn nhìn thấy – anh đoán xem là gì, mon ami?

Tôi lắc đầu.

– Chỉ trong nháy mắt, hắn đã xé bức thư thành những dải dài mỏng, và cuộn tròn chúng lại thành những ống giấy rồi nhét vội vã chúng vào giữa những ống giấy khác trong chiếc bình trên lò sưởi.

Tôi thốt lên một tiếng kinh ngạc.

– Sẽ chẳng có ai nghĩ đến việc tìm kiếm ở đó cả, – Poirot tiếp tục. – Và hắn sẽ có thể thong thả quay lại và tiêu hủy mảnh bằng chứng đơn độc chống lại mình này.

– Thế hóa ra từ trước đến nay, nó nằm trong chiếc bình đựng ống giấy ở phòng ngủ của bà Inglethorp, ngay dưới mũi chúng ta sao? – tôi kêu lên.

Poirot gật đầu.

– Vâng, bạn tôi ơi. Đó là nơi tôi đã phát hiện ra “mắt xích cuối cùng” của mình, và tôi nợ phát hiện vô cùng may mắn đó chính là ở anh.

– Ở tôi á?

– Vâng. Anh có nhớ đã bảo với tôi rằng tay tôi run run khi tôi đang chỉnh lại mấy món đồ trang trí trên bệ lò sưởi không?

– Có, nhưng tôi chẳng hiểu...——

– Không, nhưng tôi thì có. Anh có biết không, bạn tôi ơi, tôi nhớ lại rằng vào đầu buổi sáng hôm đó, khi chúng ta cùng ở đó, tôi đã chỉnh lại tất cả các vật dụng trên bệ lò sưởi rồi. Và nếu chúng đã được chỉnh ngay ngắn rồi, thì sẽ chẳng cần phải chỉnh lại lần nữa đâu, trừ khi trong khoảng thời gian đó, có ai khác đã chạm vào chúng.

– Trời ạ, – tôi lầm bầm, – hóa ra đó là lời giải thích cho hành vi kỳ lạ của anh sao. Anh đã lao vội xuống Styles và thấy nó vẫn ở đó chứ?

– Vâng, và đó là một cuộc chạy đua với thời gian.

– Nhưng tôi vẫn không thể hiểu tại sao Inglethorp lại ngốc nghếch đến mức bỏ lại nó ở đó trong khi hắn có thừa cơ hội để tiêu hủy nó chứ?

– À, nhưng hắn chẳng có cơ hội nào cả. Tôi đã lo việc đó rồi.

– Anh á?

– Vâng. Anh còn nhớ đã quở trách tôi vì tội lôi kéo cả nhà vào cuộc chứ?

– Có chứ.

– Chà, bạn tôi ơi, tôi thấy chỉ có đúng một cơ hội. Lúc đó tôi không chắc Inglethorp có phải là thủ phạm hay không, nhưng nếu hắn là thủ phạm thì tôi suy luận rằng hắn sẽ không giữ bức thư trên người, mà sẽ giấu nó ở đâu đó, và bằng cách tranh thủ sự đồng cảm của người trong nhà, tôi có thể ngăn chặn hiệu quả việc hắn tiêu hủy nó. Hắn đã bị nghi ngờ từ trước, và bằng cách công khai mọi chuyện, tôi đã huy động được sự phục vụ của khoảng mười thám tử nghiệp dư, những kẻ sẽ canh chừng hắn không ngừng nghỉ, và bản thân nhận thức được sự theo dõi đó nên hắn sẽ không dám tìm cách tiêu hủy tài liệu nữa. Do đó, hắn buộc phải rời khỏi nhà mà đành để mặc nó trong chiếc bình cắm ống giấy.

– Nhưng chắc chắn cô Howard có thừa cơ hội để giúp hắn chứ.

– Vâng, nhưng cô Howard lại không hề hay biết về sự tồn tại của bức thư. Theo kế hoạch đã được sắp xếp từ trước của họ, cô ấy chưa bao giờ nói chuyện với Alfred Inglethorp. Họ bị coi là kẻ thù không đội trời chung, và cho đến khi John Cavendish bị kết án an toàn thì cả hai người họ chẳng ai dám mạo hiểm gặp gỡ. Dĩ nhiên tôi vẫn cho người giám sát ông Inglethorp, với hy vọng sớm muộn gì hắn cũng dẫn tôi đến chỗ giấu. Nhưng hắn quá khôn ngoan để chuốc lấy bất kỳ rủi ro nào. Bức thư được an toàn ở nơi nó vốn đứng; vì chẳng ai nghĩ đến việc tìm kiếm ở đó trong tuần đầu tiên, nên khả năng cao là họ cũng chẳng làm thế sau đó. Trừ câu nói may mắn của anh, có lẽ chúng ta đã chẳng bao giờ có thể đưa hắn ra trước công lý.

– Bây giờ thì tôi hiểu rồi; nhưng từ khi nào mà anh bắt đầu nghi ngờ cô Howard vậy?

– Khi tôi phát hiện ra cô ấy đã nói dối tại cuộc điều tra về bức thư mà cô ấy nhận được từ bà Inglethorp.

– Ơ kìa, có gì mà phải nói dối chứ?

– Anh có thấy bức thư đó không? Anh có nhớ diện mạo chung của nó không?

– Có – ít nhiều thì có.

– Thế thì anh sẽ nhớ rằng bà Inglethorp viết một nét chữ rất đặc trưng, và để lại những khoảng trống lớn rõ ràng giữa các từ của bà. Nhưng nếu anh nhìn vào ngày tháng ở đầu bức thư, anh sẽ nhận thấy “Ngày 17 tháng 7” hoàn toàn khác biệt về điểm này. Anh có hiểu ý tôi không?

– Không, – tôi thú nhận, – tôi không hiểu.

– Anh không thấy rằng bức thư đó không phải được viết vào ngày 17, mà là vào ngày 7 – một ngày sau khi cô Howard rời đi hay sao? Số “1” đã được viết thêm vào trước số “7” để biến nó thành “ngày 17”.

– Nhưng tại sao lại thế?

– Đó chính xác là điều tôi đã tự hỏi mình. Tại sao cô Howard lại giấu nhẹm bức thư viết ngày 17 đi, thay vào đó lại đưa ra bức thư bị làm giả này? Bởi vì cô ấy không muốn bày ra bức thư ngày 17. Tại sao lại thế, nữa chứ? Và ngay lập tức một mối nghi ngờ lóe lên trong tâm trí tôi. Anh sẽ nhớ là tôi từng nói rằng thật khôn ngoan khi phải cảnh giác với những kẻ không nói sự thật với anh.

– Thế mà, – tôi phẫn nộ kêu lên, – sau đó, anh lại đưa ra cho tôi hai lý do tại sao cô Howard không thể thực hiện vụ án mạng cơ mà!

– Và đó cũng là những lý do rất xác đáng đấy chứ, – Poirot đáp. – Trong một thời gian dài, chúng là một vật cản đường đối với tôi cho đến khi tôi nhớ ra một chi tiết vô cùng quan trọng: rằng cô ấy và Alfred Inglethorp là họ hàng. Cô ấy không thể một tay thực hiện vụ án, nhưng những lý do chống lại điều đó không hề ngăn cản cô ấy sắm vai đồng phạm. Và rồi, còn có cái vẻ thù hận có phần thái quá kia nữa! Nó che giấu một cảm xúc hoàn toàn ngược lại. Không còn nghi ngờ gì nữa, giữa họ đã có một mối dây liên kết đam mê từ lâu trước khi hắn đặt chân đến Styles. Họ đã sớm vạch sẵn âm mưu đê tiện của mình – rằng hắn sẽ kết hôn với người phụ nữ lớn tuổi giàu có nhưng có phần khờ khạo này, xúi giục bà lập di chúc để lại toàn bộ gia tài cho hắn, và rồi đạt được mục đích thông qua một tội ác được vạch kế hoạch cực kỳ tinh vi. Nếu mọi chuyện diễn ra đúng như dự tính, có lẽ họ đã rời khỏi Anh quốc và sống cùng nhau trên đống tiền của người nạn nhân tội nghiệp.

Họ là một cặp đôi cực kỳ xảo quyệt và vô lương tâm. Trong khi sự nghi ngờ đổ dồn về phía hắn, thì cô ta sẽ âm thầm chuẩn bị cho một cái kết hoàn toàn khác. Cô ta đến từ Middlingham mang theo toàn bộ những món đồ thỏa hiệp trong tay. Không có sự nghi ngờ nào bủa vây cô ta. Không ai để ý đến việc cô ta ra vào ngôi nhà. Cô ta giấu strychnine và những chiếc ly trong phòng của John. Cô ta đặt bộ râu giả lên gác mái. Cô ta sẽ đảm bảo rằng sớm muộn gì chúng cũng sẽ bị phát hiện theo đúng quy trình.

– Tôi không hiểu rõ tại sao họ lại cố gắng đổ tội cho John, – tôi nhận xét. – Sẽ dễ dàng hơn cho họ rất nhiều nếu tống tội lên đầu Lawrence.

– Vâng, nhưng đó chỉ là tình cờ thuần túy. Tất cả bằng chứng chống lại anh ta đều bắt nguồn từ một tai nạn hoàn toàn. Thực tế là, điều đó hẳn phải khiến cặp đôi chủ mưu vô cùng bực mình.

– Thái độ của anh ta thật kém may mắn, – tôi trầm ngâm nhận xét.

– Vâng. Dĩ nhiên là anh nhận ra điều gì đứng đằng sau chuyện đó chứ?

– Không.

– Anh không hiểu rằng anh ta tin tiểu thư Cynthia có tội trong vụ án này sao?

– Không, – tôi kinh ngạc thốt lên. – Không thể nào!

– Hoàn toàn có thể chứ. Bản thân tôi suýt nữa cũng có suy nghĩ y hệt. Nó vẫn vẩn vơ trong đầu tôi khi tôi hỏi ông Wells câu hỏi đầu tiên về bản di chúc. Rồi còn có những gói thuốc bột brom mà cô ấy đã tự tay pha chế, cùng những màn giả nam giới khéo léo của cô ấy, như Dorcas đã kể lại cho chúng ta nghe. Thực sự có nhiều bằng chứng chống lại cô ấy hơn bất kỳ ai khác.

– Anh đang đùa đấy à, Poirot!

– Không. Tôi có nên kể cho anh nghe điều gì khiến ông Lawrence tái mặt đi khi lần đầu tiên bước vào phòng mẹ mình trong đêm định mệnh ấy không? Đó là bởi vì, trong lúc mẹ anh nằm đó, rõ ràng là đã bị đầu độc, anh ta nhìn qua vai anh thấy cánh cửa thông sang phòng tiểu thư Cynthia không hề được chốt lại.

– Nhưng anh ta quả quyết rằng mình nhìn thấy nó được chốt cơ mà! – tôi kêu lên.

– Chính xác, – Poirot đáp một cách khô khan. – Và đó chính là điều củng cố sự nghi ngờ của tôi rằng thực ra nó không hề được chốt. Anh ta đang che chở cho tiểu thư Cynthia.

– Nhưng tại sao anh ta phải che chở cho cô ấy chứ?

– Bởi vì anh ta đem lòng yêu cô ấy.

Tôi phì cười.

– Chỗ này thì anh nhầm to rồi, Poirot ạ! Tôi tình cờ biết một thực tế rằng, phải trái ngược với việc yêu đương, anh ta thậm chí còn ghét cay ghét đắng cô ấy cơ.

– Ai đã nói với anh điều đó thế, mon ami?

– Chính Cynthia.

– La pauvre petite! Và cô bé có bận tâm không?

– Cô ấy bảo rằng cô ấy chẳng bận tâm chút nào cả.

– Thế thì chắc chắn là cô bé rất bận tâm rồi, – Poirot nhận xét. – Bọn họ là thế đấy – les femmes!

– Những điều anh nói về Lawrence thực sự là một bất ngờ lớn đối với tôi, – tôi nói.

– Nhưng tại sao chứ? Nó quá ư hiển nhiên mà. Chẳng phải ông Lawrence cứ làm cái mặt chua chát mỗi lần tiểu thư Cynthia nói cười với anh trai mình hay sao? Anh ta đã nhét phăng vào cái đầu lâu ngoằn ngoèo của mình ý nghĩ rằng tiểu thư Cynthia đang say đắm ông John. Khi bước vào phòng mẹ và thấy bà rõ ràng bị đầu độc, anh ta vội vã đi đến kết luận rằng tiểu thư Cynthia biết điều gì đó về vụ việc này. Anh ta gần như phát điên lên được. Đầu tiên anh ta nghiền nát chiếc tách cà phê thành bột dưới chân mình, nhớ ra rằng cô ấy đã lên lầu cùng mẹ vào đêm hôm trước, và anh ta quả quyết rằng sẽ không có cơ hội nào để đem nội dung trong tách đi xét nghiệm cả. Kể từ đó, anh ta kiên quyết, và hoàn toàn vô ích, bảo vệ giả thuyết “Chết vì nguyên nhân tự nhiên”.

– Thế còn “chiếc tách cà phê thừa” thì sao?

– Tôi khá chắc chắn rằng chính bà Cavendish đã giấu nó đi, nhưng tôi buộc phải chắc chắn hoàn toàn. Ông Lawrence hoàn toàn không hiểu tôi đang ám chỉ điều gì; nhưng ngẫm nghĩ lại, anh ta đi đến kết luận rằng nếu tìm được một chiếc tách cà phê thừa ở đâu đó thì người trong mộng của anh ta sẽ được rửa sạch nghi ngờ. Và anh ta hoàn toàn đúng.

– Còn một chuyện nữa. Những lời trăn trối lúc lâm chung của bà Inglethorp có ý nghĩa gì?

– Dĩ nhiên chúng là lời cáo buộc nhằm vào chồng bà.

– Trời ạ, Poirot, – tôi thở dài nói, – tôi nghĩ anh đã giải thích mọi thứ rồi. Tôi rất vui vì mọi chuyện đã kết thúc tốt đẹp như vậy. Ngay cả John và vợ anh ấy cũng đã làm lành.

– Nhờ có tôi đấy.

– Ý anh là sao – nhờ có anh ư?

– Bạn thân mến của tôi ơi, chẳng lẽ anh không nhận ra rằng chính vụ án và chỉ duy nhất vụ án mới đưa họ lại gần nhau một lần nữa hay sao? Rằng John Cavendish vẫn yêu vợ mình, tôi hoàn toàn bị thuyết phục. Thêm nữa, rằng cô ấy cũng yêu anh ấy không kém. Chỉ là họ đã trôi dạt ra xa nhau quá. Tất cả xuất phát từ một sự hiểu lầm. Cô ấy kết hôn với anh không vì tình yêu. Anh biết điều đó. Anh ấy là một người sống nội tâm theo cách của riêng mình, anh sẽ không ép buộc cô ấy nếu cô ấy không muốn anh. Và khi anh lùi bước, tình yêu trong cô trỗi dậy. Nhưng cả hai người họ đều kiêu hãnh một cách bất thường, và chính sự kiêu hãnh ấy đã khiến họ xa cách nhau không mảy may khoan nhượng. Anh vướng vào mối tình vướng bận với cô Raikes, còn cô thì cố ý vun đắp tình bạn với tiến sĩ Bauerstein. Anh có nhớ ngày John Cavendish bị bắt, khi anh thấy tôi đang đắn đo suy tính về một quyết định lớn không?

– Có, tôi hoàn toàn hiểu được nỗi thống khổ của anh.

– Xin lỗi anh nhé, mon ami, nhưng anh chẳng hiểu chút nào cả. Tôi đang cố quyết định xem có nên minh oan cho John Cavendish ngay lập tức hay không. Tôi có thể đã minh oan cho anh ấy – mặc dù điều đó có thể đồng nghĩa với việc thất bại trong việc kết án những kẻ thủ ác thực sự. Cho đến tận giây phút cuối cùng, chúng vẫn hoàn toàn mù tịt về thái độ thực sự của tôi – điều đó phần nào lý giải cho thành công của tôi.

– Ý anh là anh đã có thể cứu John Cavendish khỏi việc bị đưa ra xét xử ư?

– Vâng, bạn tôi. Nhưng cuối cùng tôi đã quyết định chọn “hạnh phúc của một người phụ nữ”. Không gì ngoài hiểm họa to lớn mà họ vừa trải qua mới có thể kéo hai tâm hồn kiêu hãnh ấy lại gần nhau một lần nữa.

Tôi lặng lẽ nhìn Poirot trong sự kinh ngạc. Sự mặt dày tột cùng của gã đàn ông lùn tịt này! Trên cõi đời này ngoài Poirot ra thì còn ai dám nghĩ đến một phiên tòa xét xử tội mưu sát như là một liều thuốc khôi phục hạnh phúc lứa đôi cơ chứ!

– Tôi nhận ra những suy nghĩ của anh rồi đấy, mon ami, – Poirot mỉm cười nhìn tôi nói. – Chẳng có ai ngoài Hercule Poirot dám thử làm một chuyện như thế! Và anh đã sai khi lên án nó. Hạnh phúc của một người đàn ông và một người phụ nữ là điều vĩ đại nhất trên toàn thế giới này.

Những lời của ông đưa tôi trở lại với những sự kiện trước đó. Tôi nhớ lại Mary khi cô nằm tái nhợt và kiệt sức trên chiếc ghế dài, lắng tai nghe, lắng tai nghe. Tiếng chuông vang lên ở phía dưới. Cô giật mình vùng dậy. Poirot đã mở cửa, và chạm mắt vào ánh mắt đau đớn của cô, ông nhẹ nhàng gật đầu. – Vâng, thưa madame, – ông nói. – Tôi đã đưa anh ấy trở lại với cô rồi đây. – Ông đứng tránh sang một bên, và khi tôi bước ra ngoài, tôi đã nhìn thấy ánh mắt trong ngập tràn cảm xúc của Mary, khi John Cavendish ôm chầm lấy vợ mình vào lòng.

– Có lẽ anh đúng, Poirot, – tôi dịu dàng nói. – Vâng, đó là điều vĩ đại nhất trên thế giới này.

Bất chợt, có tiếng gõ cửa, và Cynthia thò đầu vào.

– Em... em chỉ...——

– Vào đây đi, – tôi đứng phắt dậy nói.

Cô bé bước vào, nhưng không ngồi xuống.

– Em... em chỉ muốn nói với các anh một chuyện...——

– Sao thế?

Cynthia thẫn thờ mân mê chiếc tua rua nhỏ trong chốc lát, rồi bất ngờ thốt lên: “Các anh thật đáng yêu!” hôn chộp lấy tôi trước rồi đến Poirot, và lùi bước chạy vụt ra khỏi phòng.

– Trò này có nghĩa là gì thế hả trời? – tôi ngạc nhiên hỏi.

Được Cynthia hôn thì rất tuyệt đấy, nhưng màn chào hỏi công khai đó lại làm giảm đi chút ít niềm vui.

– Nó có nghĩa là cô bé đã phát hiện ra ông Lawrence không hề ghét mình nhiều như cô bé tưởng, – Poirot triết lý đáp.

– Nhưng mà...——

– Kìa anh ta đến rồi kìa.

Lawrence lúc đó vừa bước ngang qua cửa.

– Chà! Monsieur Lawrence, – Poirot cất tiếng gọi. – Chúng tôi phải chúc mừng anh chứ, phải không nào?

Lawrence đỏ mặt, rồi cười ngượng ngùng. Một gã đàn ông đang yêu quả là một cảnh tượng thảm hại. Lúc nãy Cynthia trông mới duyên dáng làm sao.

Tôi thở dài.

– Có chuyện gì thế, mon ami?

– Không có gì, – tôi buồn bã đáp. – Họ là hai người phụ nữ tuyệt vời!

– Và không ai trong số họ dành cho anh cả ư? – Poirot bồi thêm. – Đừng bận tâm. Tự an ủi mình đi, bạn tôi ơi. Biết đâu chúng ta lại cùng nhau săn lùng một lần nữa thì sao? Và rồi...——

Nguồn: Việt Nam Thư Quán dịch từ Project Gutenberg
Được bạn: Mọt Sách đưa lên
vào ngày: 19 tháng 10 năm 2026

« Lùi Tiến »

💬 Thảo luận

Chưa có bình luận nào — hãy là người đầu tiên chia sẻ cảm nhận của bạn!

Đăng nhập để tham gia bình luận.