Sông Seine chảy lững lờ trước cửa nhà tôi, mặt nước phẳng lặng, phẳng phới dướI ánh nắng ban mai rực rỡ. Đó là một dòng bạc rộng lớn, thảnh thơi và đẹp đẽ, điểm xuyết những ánh đỏ đây đó; bên kia sông là những hàng cây cao vút phủ kín cả bờ bằng một bức tường xanh ngắt một màu.
Cảm giác về sự sống được đổi mới mỗi ngày, về một cuộc đời tươi trẻ, hạnh phúc và đầy ắp tình yêu đang run rẩy trong từng chiếc lá, phập phồng trong không gian và được phản chiếu trên mặt nước.
Người đưa thư vừa mang báo đến cho tôi, và tôi thong thả ra bờ sông để đọc chúng.
Ngay trên tờ báo đầu tiên mở ra, tôi chú ý đến dòng tít: "Thống kê các vụ tự sát", và tôi đọc được rằng có hơn 8.500 người đã tự kết liễu đời mình trong năm đó.
Chỉ trong chốc lát, hình ảnh họ hiện lên trước mắt tôi! Tôi thấy cuộc tàn sát tự nguyện và ghê rợn này của những kẻ tuyệt vọng đã chán ngấy cuộc đời. Tôi thấy những người đàn ông đầm đìa máu me, hàm gãy nát, đầu vỡ toác, ngực thủng một lỗ đạn, đang chết dần chết mòn một mình trong căn phòng nhỏ ở khách sạn, chẳng màng gì đến vết thương mà chỉ nghĩ đến những bất hạnh của đời mình.
Tôi thấy những kẻ khác ngồi trước một cái cốc đựng diêm đang ngâm nước, hoặc trước một lọ thuốc nhỏ dán nhãn đỏ.
Họ cứ trân trân nhìn nó không động đậy; rồi họ uống và chờ đợi kết quả; sau đó những cơn co thắt làm biến dạng má và siết chặt môi họ; đôi mắt họ trố lên vì kinh hãi, bởi họ đâu biết rằng cái chết sẽ bị dằn vặt bởi ngần ấy nỗi đớn đau.
Họ chồm dậy, khựng lại, ngã quỵ xuống và hai tay ôm chặt lấy bụng, họ cảm nhận lục phủ ngũ tạng như đang bốc cháy, ruột gan bị thiêu đốt bởi thứ chất lỏng hừng hực ấy, trước khi ý thức bắt đầu mờ dần đi.
Tôi thấy những người khác treo lơ lửng trên một chiếc đinh đóng tường, trên chốt cửa sổ, trên móc trần nhà, trên xà gác mái, trên cành cây giữa cơn mưa chiều. Và tôi mường tượng ra tất cả những gì đã xảy ra trước khi họ bất động treo đó, với chiếc lưỡi thè dài ra ngoài miệng. Tôi tưởng tượng sự quằn quại trong tim họ, sự do dự cuối cùng, những nỗ lực buộc dây, xác định xem nó đã chắc chắn chưa, rồi quàng thòng lọng vào cổ và buông mình rơi xuống.
Tôi thấy những người khác nằm trên những chiếc giường rách nát, những người mẹ bên đứa con thơ dại, những cụ già chết đói, những thiếu nữ chết vì tình, tất cả đều cứng đờ, ngạt thở, trong khi giữa phòng chiếc lò sủa vẫn tỏa khói than hồng.
Và tôi thấy những kẻ khác lang thang trong đêm trên những cây cầu vắng ngắt. Đó là những kẻ ảm đạm nhất. Nước chảy dưới các vòm cầu phát ra tiếng động trầm đục. Họ không nhìn thấy nó... mà chỉ cảm nhận qua hơi thở lạnh ngát của nó! Họ khao khát nó mà cũng sợ hãi nó. Họ không dám làm! Thế mà, họ buộc phải làm. Một tiếng đồng hồ từ xa vọng lại và, đột nhiên, giữa không gian mênh mông tĩnh mịch của đêm đen, vang lên tiếng một thân thể rơi tõm xuống sông, một hai tiếng thét, tiếng khua nước, rồi tất cả chìm vào tĩnh lặng.
Thậm chí có khi chỉ có tiếng thân thể rơi xuống khi họ đã tự trói tay hoặc buộc một hòn đá vào chân. Ồ, những sinh linh tội nghiệp, tội nghiệp làm sao, nỗi thống khổ của họ thấm sâu vào tôi biết bao, cái chết của họ cũng chính là cái chết của tôi! Tôi đã trải qua tất cả sự khốn cùng của họ; tôi đã gánh chịu mọi nỗi đớn đau chỉ trong một giờ. Tôi thấu hiểu mọi nỗi sầu muộn đã đẩy họ đến bước đường này, bởi tôi quá rõ bộ mặt gian trá đê hèn của cuộc đời, và chẳng ai thấm thía điều đó hơn tôi.
Làm sao tôi lại không hiểu họ cho được, những kẻ yếu đuối, bị vùi dập bởi bất hạnh, mất đi những người thân yêu, bừng tỉnh sau giấc mộng về một sự bù đắp muộn màng, sau ảo tưởng về một cõi khác nơi Thượng đế cuối cùng cũng sẽ công minh sau khi đã quá tàn nhẫn, và khi tâm trí họ đã vỡ mộng trước những ảo ảnh hạnh phúc, họ từ bỏ cuộc chiến và mong muốn chấm dứt bi kịch biền biệt này, hay vở hài kịch đáng hổ thẹn này.
Tự sát ư? Chà, đó là sức mạnh của những kẻ đã cạn kiệt sức lực, là hy vọng của những kẻ không còn niềm tin, là lòng dũng cảm cao cả của những kẻ bại trận! Phải, dẫu sao vẫn còn ít nhất một cánh cửa của cuộc đời này mà ta luôn có thể mở ra và bước sang bên kia. Tự nhiên vẫn còn chút lòng trắc ẩn; Người không nhốt chúng ta trong ngục tối. Hãy khoan dung cho những kẻ tuyệt vọng!
Còn với những ai đơn thuần chỉ là vỡ mộng, hãy cứ bước tiếp với tâm hồn thanh thản và trái tim bình yên. Họ chẳng có gì phải sợ hãi bởi họ hoàn toàn có quyền ra đi; vì đằng sau họ luôn có cánh cửa ấy, thứ mà các vị thần của những ảo ảnh không tài nào khóa lại nổi.
Tôi nghĩ về đám đông những kẻ tự sát ấy: hơn tám nghìn rưỡi người trong vòng một năm. Và tôi có cảm giác như họ đã hợp sức lại để gửi tới thế gian một lời cầu nguyện, cất lên tiếng kêu cứu, đòi hỏi một điều gì đó sẽ có hiệu lực về sau khi chúng ta thấu hiểu sự đời hơn. Tôi có cảm giác như tất cả những nạn nhân ấy, kẻ bị cắt cổ, kẻ trúng độc, treo cổ, ngạt thở hay chết đuối, tất cả đều tụ họp lại thành một bầy đàn kinh hãi, giống như những cử nhân đi bỏ phiếu, để nói với xã hội rằng:
"Xin hãy ban cho chúng tôi ít nhất một cái chết êm ái! Hãy giúp chúng tôi chết, hỡi các người, những kẻ không chịu giúp chúng tôi sống! Nhìn kìa, chúng tôi rất đông, chúng tôi có quyền lên tiếng trong những ngày tự do, độc lập triết học và phổ thông đầu phiếu này. Hãy ban cho những người từ bỏ cuộc đời lòng bác ái của một cái chết không ghê rợn và không kinh hoàng."
Tôi bắt đầu mơ màng, để trí tưởng tượng mặc sức bay bổng theo những ngả đường kỳ lạ và huyền bí xoay quanh chủ đề này.
Thoắt cái, tôi thấy mình đang ở trong một thành phố vô cùng xinh đẹp. Đó là Paris; nhưng vào thời kỳ nào nhỉ? Tôi thong thả đi dọc các con phố, ngắm nhìn những ngôi nhà, nhà hát, các công trình công cộng, và chẳng mấy chốc thấy mình đứng ở một quảng trường nơi tôi chú ý đến một tòa nhà lớn; rất khang trang, xinh xắn và thu hút. Tôi không khỏi ngạc nhiên khi đọc thấy dòng chữ dát vàng trên mặt tiền: "Cục Tự Sát".
Ồ, sự kỳ dị của những giấc mơ khi tâm hồn bay bổng vào thế giới của những điều phi thực tế và đầy ắp khả năng! Chẳng có gì làm ta ngạc nhiên, chẳng có gì khiến ta sốc nổi; và trí tưởng tượng cuồng nhiệt không phân biệt nổi ranh giới giữa hài kịch và bi kịch.
Tôi bước đến tòa nhà nơi những tên hầu mặc quần cộc ngang gối đang ngồi ở tiền sảnh trước phòng gửi đồ giống như lối vào của một câu lạc bộ.
Vì tò mò, tôi bước vào. Một trong những người đàn ông đứng lên và nói:
"Ông muốn dùng việc gì ạ?"
"Tôi muốn biết đây là tòa nhà gì."
"Không có gì hơn thế sao ạ?"
"À, không."
"Vậy ông có muốn tôi dẫn vào gặp Thư ký của Cục không?"
Tôi chần chừ, rồi hỏi:
"Nhưng làm vậy có phiền ông ấy không?"
"Ồ, thưa không, ông ấy ở đây là để tiếp những ai muốn tìm hiểu thông tin mà."
"Được rồi, dẫn đường đi."
Anh ta dẫn tôi qua những hành lang nơi các ông già đang trò chuyện, và cuối cùng đưa tôi vào một phòng làm việc đẹp đẽ, hơi u tịch, được bài trí toàn bằng gỗ mun. Một thanh niên mập mạp có chiếc bụng phệ đang viết thư vừa hút xì gà, mùi hương tỏa ra đủ thấy đó là loại thượng hạng.
Anh ta đứng dậy. Chúng tôi chào nhau, và ngay khi người hầu lui ra, anh ta hỏi:
"Tôi có thể giúp gì cho ông?"
"Thưa ông," tôi đáp, "xin hãy tha lỗi cho sự tò mò của tôi. Tôi chưa từng thấy cơ sở này bao giờ. Vài dòng chữ khắc trên mặt tiền khiến tôi vô cùng ngạc nhiên, và tôi muốn biết điều gì đang diễn ra ở đây."
Anh ta mỉm cười trước khi trả lời, rồi cất giọng trầm trầm với vẻ điềm tĩnh:
"Chúa ơi, thưa ông, chúng tôi giúp những ai muốn chết được ra đi một cách sạch sẽ và nhẹ nhàng—tôi không dám dùng từ dễ chịu."
Tôi không cảm thấy bị sốc lắm, bởi thực sự điều đó đối với tôi có vẻ rất tự nhiên và hợp lý. Điều khiến tôi ngạc nhiên nhất là trên hành tinh này, với những lý tưởng thấp kém mang tính vị lợi, nhân đạo, ích kỷ và kìm hãm mọi tự do đích thực, lại có ai đó dám dấn thân vào một dự án tương tự, vốn xứng đáng với một nhân loại đã được giải phóng.
"Làm thế nào mà anh nảy ra ý tưởng này?" tôi hỏi.
"Thưa ông," anh ta đáp, "số lượng các vụ tự sát tăng vọt đến mức khủng khiếp trong năm năm sau cuộc triển lãm thế giới năm 1889 khiến người ta buộc phải cấp bách đưa ra các biện pháp. Người ta tự sát trên đường phố, trong các lễ hội, nhà hàng, nhà hát, trên toa tàu hỏa, tại các buổi tiệc chiêu đãi của Tổng thống Cộng hòa, ở khắp mọi nơi. Đó không chỉ là cảnh tượng kinh khủng đối với những ai yêu cuộc sống như tôi, mà còn là một tấm gương xấu cho trẻ em. Do đó, việc tập trung hóa các vụ tự sát trở thành điều tất yếu."
"Nguyên nhân nào gây ra dịch tự sát này?"
"Tôi không rõ. Thực tình tôi tin rằng thế giới đang già đi. Con người bắt đầu nhìn nhận mọi thứ rõ ràng hơn và họ đâm ra chán ngán. Thời đại ngày nay với định mệnh cũng giống như với chính quyền vậy, chúng ta đã thấu hiểu bản chất của nó; người ta nhận ra mình bị lừa phỉnh trên mọi mặt trận, thế là họ quất ngựa truy phong. Khi người ta phát hiện ra rằng Đấng Tối Cao cũng nói dối, bịp bợm, cướp bóc, lừa gạt con người hệt như một gã Dân biểu lừa gạt các cử tri của mình, người ta đâm ra nổi giận, và vì không thể bầu ra một vị Thần Mới ba tháng một lần như cách chúng ta làm với những đại biểu đặc quyền của mình, người ta liền quăng quật tất cả để tháo lui, một quyết định quả thực tồi tệ."
"Thật vậy sao!"
"Ồ, còn với tôi, tôi chẳng có gì phàn nàn."
"Anh có thể cho biết các anh vận hành cơ sở này thế nào không?"
"Rất hân hạnh. Ông có thể gia nhập làm thành viên bất cứ lúc nào ông muốn. Đây là một câu lạc bộ."
"Một câu lạc bộ!"
"Vâng, thưa ông, do những nhân vật lỗi lạc nhất trong nước thành lập, bởi những bộ óc uyên bác và trí tuệ sáng láng nhất. Và," anh ta nói thêm, cười vang sảng khoái, "tôi xin thề với ông là ai nấy đều tận hưởng niềm vui lớn lao từ đó."
"Ngay tại nơi này ư?"
"Vâng, ngay tại nơi này."
"Anh làm tôi ngạc nhiên đấy."
"Chúa ơi, họ vui vẻ bởi vì họ không mang nỗi sợ hãi cái chết, thứ vốn là kẻ phá bĩnh vĩ đại trong mọi niềm vui chốn trần thế của chúng ta."
"Nhưng sao họ lại phải gia nhập câu lạc bộ này nếu họ không tự sát?"
"Người ta có thể là hội viên của câu lạc bộ mà không bắt buộc phải vì lý do đó mà tự sát."
"Nhưng thế thì?"
"Tôi xin giải thích. Trước sự gia tăng chóng mặt của các vụ tự sát, và trước cảnh tượng ghê rợn mà chúng bày ra, một hội từ thiện thuần túy đã được thành lập để bảo vệ những kẻ tuyệt vọng, cung cấp cho họ các điều kiện để có một cái chết bình yên, không đau đớn, dẫu có thể không phải là bất ngờ."
"Ai lại có thể cho phép lập ra một cơ quan như vậy cơ chứ?"
"Tướng Boulanger trong khoảng thời gian ngắn nắm quyền. Ông ta chẳng bao giờ từ chối điều gì. Dù sao thì đó cũng là điều tốt đẹp duy nhất ông ta làm. Thế là, một hội nhóm gồm những kẻ hoài nghi sáng suốt, vỡ mộng được thành lập nhằm dựng lên giữa lòng Paris một dạng đền thờ tôn vinh sự khinh miệt cái chết. Nơi này trước kia từng là một vùng đất đáng sợ mà chẳng ai dám bén mảng tới. Rồi những người sáng lập, tụ họp lại nơi đây, đã tổ chức một buổi tiệc khai trương hoành tráng với sự hiện diện của các bà Sarah Bernhardt, Judic, Theo, Granier cùng hai mươi vị khác, và bà de Reske, Coquelin, Mounet-Sully, Paulus, v.v., tiếp nối bằng các buổi hòa nhạc, các vở hài kịch của Dumas, Meilhac, Halevy và Sardou. Chúng tôi chỉ gặp một hạt sạn duy nhất là vở kịch của Becque tuy có vẻ buồn rầu nhưng sau đó lại đạt thành công vang dội tại Comedie-Francaise. Thực ra toàn bộ Paris đã kéo đến. Thế là dự án chính thức ra mắt."
"Giữa lúc tiệc tùng tưng bừng! Thật là một trò đùa mang màu sắc tang tóc!"
"Hoàn toàn không. Cái chết đâu cần phải buồn rầu, nó phải là một điều dửng dưng. Chúng tôi biến cái chết thành niềm vui, đội vòng hoa cho nó, ướp nước hoa cho nó, làm cho nó trở nên dễ dàng. Người ta học cách giúp đỡ người khác thông qua gương sáng; người ta có thể thấy rằng đó chẳng là gì cả."
"Tôi hoàn toàn hiểu rằng họ có thể đến dự các buổi tiệc tùng; nhưng còn việc đến để... Chết thì sao?"
"Lúc đầu thì không; họ sợ."
"Và sau đó?"
"Họ đã đến."
"Đông lắm không?"
"Đông như nêm. Đã có lúc chúng tôi tiếp đón hơn bốn mươi người trong một ngày. Giờ thì người ta hầu như chẳng còn vớt được xác chết nào dưới sông Seine nữa."
"Ai là người đầu tiên thế?"
"Một thành viên câu lạc bộ."
"Như một sự hy sinh vì đại cục ư?"
"Tôi không nghĩ vậy. Một gã đã chán ngấy mọi thứ, một kẻ 'tay trắng' thua cháy túi bài baccarat suốt ba tháng."
"Thật vậy sao?"
"Người thứ hai là một người Anh, một kẻ kỳ cục. Sau đó chúng tôi quảng cáo trên báo chí, tường thuật về các phương pháp của mình, bịa ra vài trường hợp hấp dẫn. Nhưng cú hích lớn nhất lại đến từ những người nghèo."
"Các anh tiến hành thế nào?"
"Ông muốn tận mắt chứng kiến chứ? Tôi có thể giải thích luôn thể."
"Được chứ, rất sẵn lòng."
Anh ta đội mũ, mở cửa, ra hiệu cho tôi đi trước, và chúng tôi bước vào một phòng đánh bài, nơi mọi người đang ngồi chơi hệt như ở bất kỳ sòng bạc nào. Họ đang trò chuyện vui vẻ, rôm rả. Hiếm khi tôi thấy một câu lạc bộ nào náo nhiệt, sống động và vui tươi đến thế.
Thấy tôi có vẻ ngạc nhiên, viên thư ký liền nói:
"Ồ, cơ sở này có một uy tín lừng lẫy chưa từng thấy. Tất cả những người thượng lưu trên khắp thế giới đều gia nhập để tỏ ra rằng họ coi thường cái chết. Rồi một khi đã đến đây, họ cảm thấy có nghĩa vụ phải vui vẻ để không bị coi là sợ hãi. Thế là họ đùa giỡn, cười cợt và trò chuyện một cách cợt nhả, họ tỏ ra hóm hỉnh và dần trở nên hóm hỉnh thật. Hiện tại đây chắc chắn là nơi đông khách nhất và giải trí nhất ở Paris. Các quý bà thậm chí đang tính chuyện xây riêng một tòa nhà phụ cho họ cơ đấy."
"Và bất chấp tất cả những điều đó, các anh vẫn có rất nhiều vụ tự sát ngay trong nhà sao?"
"Như tôi đã nói, khoảng bốn mươi hoặc năm mươi vụ một ngày. Giới thượng lưu thì hiếm, nhưng những kẻ khốn cùng thì vô số. Tầng lớp trung lưu cũng chiếm một lượng đông đảo."
"Và họ... tự sát bằng cách nào?"
"Họ bị ngạt... rất từ từ."
"Bằng cách nào vậy?"
"Một loại khí do chính chúng tôi phát minh ra. Chúng tôi nắm giữ bằng độc quyền. Phía bên kia tòa nhà là các lối vào công cộng—ba cánh cửa nhỏ mở ra những con phố nhỏ. Khi một người đàn ông hoặc đàn bà xuất hiện, họ sẽ được thẩm vấn. Sau đó họ được đề nghị giúp đỡ, cứu trợ, bảo vệ. Nếu khách hàng chấp nhận, các cuộc điều tra sẽ được tiến hành; và đôi khi chúng tôi đã cứu sống được họ."
"Lấy đâu ra tiền mà duy trì?"
"Chúng tôi có rất nhiều tiền. Có rất đông cổ đông. Hơn nữa, việc đóng góp cho cơ sở này đang là mốt thời thượng. Tên của những nhà tài trợ được đăng trên tờ Figaro. Thêm vào đó, cái chết của mỗi người giàu có sẽ tốn một nghìn quan. Và trông họ cứ như đang nằm quàn trong nghi lễ quốc tang vậy. Còn người nghèo thì hoàn toàn miễn phí."
"Làm sao các anh phân biệt được ai là người nghèo?"
"Ôi chao, thưa ông, chúng tôi thừa sức đoán được! Hơn nữa, họ phải mang theo giấy chứng nhận nghèo khó do đồn cảnh sát khu vực cấp. Nếu ông biết cảnh họ kéo đến mới thảm hại làm sao! Tôi mới chỉ ghé thăm khu vực của họ một lần duy nhất, và sẽ không bao giờ bén mảng tới lần thứ hai. Bản thân nơi đó cũng gần như tốt đẹp không kém khu này, gần như sang trọng và thoải mái không kém; nhưng còn bản thân họ... chính bản thân họ cơ chứ!!! Giá mà ông được chứng kiến cảnh họ kéo đến, những ông già rách rưới đến để chết; những con người đã oằn mình chết mòn vì khốn khổ suốt nhiều tháng trời, nhặt nhạnh thức ăn bên lề đường như những con chó hoang; những người phụ nữ rách rưới, hốc hác, bệnh tật, tê liệt, không có khả năng kiếm sống, những người sau khi kể lể xong bèn nói với chúng tôi rằng: 'Ông thấy đấy, mọi chuyện không thể cứ tiếp tục thế này được nữa, vì tôi không thể làm việc hay kiếm ra tiền được nữa.' Tôi từng thấy một cụ bà tám mươi bảy tuổi đã mất hết con cháu, và suốt sáu tuần nay phải ngủ ngoài trời. Nghe kể thôi đã khiến tôi phát bệnh rồi. Ngoài ra chúng tôi còn vô số trường hợp khác nhau, chưa kể những kẻ chẳng thốt một lời mà chỉ cỏi cọc hỏi: 'Nó ở đâu?' Những kẻ đó được nhận vào ngay lập tức và mọi chuyện kết thúc chỉ trong nháy mắt."
Với một nỗi quặn thắt trong tim, tôi lặp lại:
"Và... nó ở đâu?"
"Ở đây," vừa nói anh ta vừa mở một cửa phòng, và bồi thêm:
"Mời ông vào; đây là khu vực dành riêng cho các hội viên câu lạc bộ, và là nơi ít được sử dụng nhất. Cho đến nay chúng tôi mới chỉ thực hiện mười một vụ tiêu hủy ở đây thôi."
"A! Anh gọi đó là một... vụ tiêu hủy cơ à!"
"Vâng, thưa ông. Xin mời vào."
Tôi chần chừ. Cuối cùng tôi cũng bước vào. Đó là một hành lang rộng, một kiểu nhà kính nơi những tấm kính màu xanh nhạt, hồng dịu và xanh lá mạ mang lại vẻ đẹp nên thơ của những bức tranh phong cảnh cho các bức tường bao quanh. Trong gian phòng xinh xắn này có những chiếc ghế bành dài, những khóm cọ lộng lẫy, hoa tươi, đặc biệt là những đóa hồng tỏa hương ngào ngạt, sách đặt trên bàn, tờ Revue des Deux Mondes, xì gà trong những chiếc hộp mang nhãn hiệu quốc gia, và điều khiến tôi ngạc nhiên nhất là những viên kẹo ngậm Vichy trong một chiếc hộp đựng kẹo.
Khi tôi bày tỏ sự ngạc nhiên, người dẫn đường liền nói:
"Ồ, họ thường xuyên lui tới đây để trò chuyện." Anh ta nói tiếp: "Các hành lang công cộng cũng tương tự như vậy, nhưng được bài trí đơn giản hơn."
Đáp lại câu hỏi của tôi, anh ta chỉ tay về phía chiếc ghế dài được bọc lụa crepe de Chine màu kem thêu hoa văn trắng, nằm dưới một tán cây lớn không rõ giống gì mà dưới gốc của nó là một luống hoa xuyến thảo hình tròn.
Viên thư ký hạ thấp giọng nói thêm:
"Chúng tôi thay đổi loài hoa và hương thơm tùy ý, bởi vì loại khí của chúng tôi, hoàn toàn không màu không mùi, sẽ ban cho cái chết hương thơm của loài hoa mà kẻ tự sát yêu thích nhất. Nó được làm bay hơi cùng các loại tinh dầu. Ông có muốn hít thử nó một giây không?"
"Không, cảm ơn anh," tôi vội vã đáp, "chưa đâu..."
Anh ta bật cười.
"Ồ, thưa ông, chẳng có nguy hiểm gì đâu. Bản thân tôi đã thử nó vài lần rồi."
Tôi sợ anh ta nghĩ mình là kẻ hèn nhát, bèn lên tiếng:
"Thôi được, tôi sẽ thử."
"Hãy nằm duỗi người lên chiếc 'ghế ru ngủ' này đi."
Hơi bất an, tôi ngồi lên chiếc ghế dài thấp bọc lụa crepe de Chine, ngả người duỗi thẳng toàn thân, và ngay lập tức được bao bọc trong hương thơm ngào ngạt tuyệt diệu của hoa xuyến thảo. Tôi hé miệng để hít lấy hít để, bởi tâm trí tôi lúc bấy giờ đã trở nên đờ đẫn, quên đi quá khứ và rơi vào cạm bẫy của giai đoạn ngạt thở đầu tiên, đắm chìm trong sự say sưa đầy mê hoặc của một thứ thuốc phiện ma thuật hủy diệt.
Ai đó lay mạnh cánh tay tôi.
"Ôi chao, thưa ông," viên thư ký vừa cười vừa nói, "trông có vẻ như ông sắp bị tóm đến nơi rồi đấy."
Nhưng một giọng nói, một giọng nói thực sự, chứ không còn là giọng vọng trong mơ nữa, đã chào tôi bằng chất giọng rặt nhà quê:
"Chào buổi sáng, thưa ngài. Dạo này thế nào rồi?"
Giấc mơ của tôi đã tan biến. Tôi nhìn thấy rõ mồn một dòng sông Seine dưới ánh nắng mặt trời, và đang tiến lại gần dọc theo con đường mòn là viên cảnh sát tuần tra của vùng, người đang giơ tay phải chào chiếc mũ kepi viền bạc của mình. Tôi đáp lời:
"Chào buổi sáng, Marinel. Anh định đi đâu thế?"
"Tôi đang đi xem cái xác chết đuối vừa được vớt lên gần đoạn Morillons đây. Lại thêm một kẻ gieo mình xuống nồi canh rồi. Hắn thậm chí còn cởi cả quần ra để lấy đó trói chân lại cơ đấy."